Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Một số cảm nhận về cuốn hồi ký Trung đoàn một thời chiến trận

Leave a Comment
Cuốn hồi ký “Trung đoàn một thời chiến trận” của Đại tá– Lương y Hồ Hữu Lạn để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Là cán bộ thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 324 từ ngày thành lập đến nay, Đại tá Hồ Hữu Lạn đã trải qua một chặng đường dài trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình. Nhận định về Trung đoàn 3 và cá nhân đồng chí Hồ Hữu Lạn, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu có viết lời giới thiệu cuốn hồi ký như sau: “Dải đất Trị Thiên là một chiến trường đầy ác liệt, gian khổ và chói lọi vinh quang. Trải qua hàng chục năm chiến đấu quyết liệt, trên dải đất này đã hun đúc, đào luyện nên nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu xuất sắc, trong đó có Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 là một tập thể anh hùng; đồng chí Hồ Hữu Lạn là một cán bộ chỉ huy chiến đấu xuất sắc”. Tôi nghĩ nhận xét này đã ghi nhận đầy đủ những điều cần nói về một trung đoàn, về một con người.
Tôi xin không nhắc lại những lời nhận xét về con người, về nội dung nghệ thuật cuốn hồi ký mà nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, các sỹ quan cùng với các cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 đã viết và được dẫn trong cuốn hồi ký. Trong khuôn khổ một bài viết, tôi chỉ xin nêu những cảm nhận cá nhân sau khi đã đọc đến lần thứ 4 vào những ngày đầu xuân Canh Tý này. Có thể nói cuốn hồi ký đã phản ánh xác thực cuộc sống gian khổ, đầy hy sinh của cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 3 qua bao chiến dịch, qua bao trận chiến khốc liệt từ ngày thành lập đến năm 1977.
Cuốn hồi ký thu hút tôi ngay từ trang đầu. 575 trang sách tôi đọc gần như liên tục ba ngày đêm. Đó là một khối lượng đồ sộ những sự kiện bắt đầu từ ngày thành lập Trung đoàn 3. Anh Hồ Hữu Lạn là một nhân chứng sống, dẫn dắt người đọc từ khi Trung đoàn 3 đi làm nhiệm vụ quốc tế ở chiến trường Lào, tham gia chiến trường Bắc Quảng Trị, chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại thành phố Huế, chiến dịch Đồi A Bia 1969, điểm cao 935- Cốc Bai Tây Trị Thiên 1970, chiến dịch Đường 9 Nam Lào 1971, Chiến dịch Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972, đến giải phóng Chi khu Quận lỵ Đắk Pét Tây Nguyên, Chiến dịch Thượng Đức Quảng 1974, Chiến dịch Tổng Tấn công 1975 với tư cách là trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng.
Tất cả những trải nghiệm thực tế, những sự kiện lịch sử của trung đoàn đều được anh Hồ Hữu Lạn tái hiện một cách sinh động. Đó là một chuỗi những cuộc chiến đấu theo hai nghĩa, với kẻ thù và với chính bản thân anh cũng như với các cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3. Đó là tinh thần chiến đấu ngoan cường, mưu trí, chủ động, sáng tạo và quyết đoán. Đó là những chiếncông lừng lẫy và sự hy sinh lớn lao của cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3. Cuốn sách có giá trị lịch sử cao, một tư liệu quý giá cho những nhà nghiên cứu lịch sử, cho các trường sỹ quan, cho các đơn vị quân đội học tập, nghiên cứu và huấn luyện, cho những nhà văn, nhà viết kịch bản, cho những đạo diễn viết và dựng phim về đề tài chiến tranh…
Đọc chương 2, Trung đoàn 3 đi làm nhiệm vụ quốc tế, tôi liên tưởng đến bài thơ Tây tiến nổi tiếng của nhà thơ Quang Dũng: “Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Bài Thơ Tây tiến của Quang Dũng đã tạo nên hình tượng người chiến sỹ Trung đoàn Tây tiến không thể nào quên trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ở Thượng Lào cũng như miền tây bắc Bắc Bộ với cảm hứng lãng mạn và bi tráng. Cuộc sống của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, đầy hy sinh: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ, Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Tuy vậy, họ vẫn lạc quan, vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh. Họ giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, yêu đời và rất lãng mạn. Tưởng như lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ còn lặp lại một thời lãng mạn, hào hùng đến nhường ấy, nhưng tôi đã nhầm. Trung đoàn 3 trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt cũng tương tự như hoàn cảnh của Trung đoàn Tây tiến năm xưa. 200 chiến sỹ thiếu đói, thiếu thuốc men đã hy sinh vì sốt rét. Vậy mà cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 3 vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu cùng với Bộ đội Pa Thét Lào.
Nếu như nhà thơ Quang Dũng đã tạo nên hình tượng người chiến sỹ bất hủ qua bài thơ Tây tiến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp thì Đại tá Hồ Hữu Lan đã khắc họa được hình ảnh tập thể cán bộ chiến sỹ bất tử, hy sinh làm nhiệm vụ quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chỉ tiếc là người chiến sỹ trong bài thơ Tây tiến đã được xây dựng tượng đài ở Mộc Châu, Sơn La còn người chiến sỹ Trung đoàn 3 kể từ 1965 làm nhiệm vụ Quốc tế, và suốt những năm lập công vang dội trong thời gian hơn một chục năm trên chiến trường Trị- Thiên, Tây nguyên, Quảng nam thì chưa được xây dựng tượng đài ở nơi nào.
Sự cuốn hút, cái hay của cuốn hồi ký Trung đoàn một thời chiến trận là trong mỗi chiến dịch, mỗi trận đánh, tác giả đều đặt nó trong bối cảnh lịch sử chung của chiến trường miền Nam. Thậm chí trong nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh tác giả còn khái quát nghị quyết, nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, nghị quyết, nhiệm vụ của Quân khu Trị Thiên, của Sư đoàn 324, vì vậy người đọc thấy được bối cảnh chung, hoàn cảnh riêng của từng chiến dịch, của từng trận đánh. Sự việc người đọc đã biết, sự việc người đọc chưa biết, sự việc người đọc đợi chờ, tất cả cứ kéo người đọc không dứt khỏi trang sách. Điều này thể hiện rất rõ qua chương ba “Trung đoàn ra quân đánh Mỹ năm 1967”, chương bốn “Xuân Mậu Thân 1968 tiến công nổi dậy, anh dũng kiên cường”, chương năm “Động A Bia mùa hè năm 1969”, chương 6 “Điểm cao 935-Cốc Bai mùa thu 1970 chiến công vang dội, nối thế ba vùng”.
Với chương 5 và chương 6, tôi đã đọc không dưới một chục lần. Tôi rất cảm ơn Đại tá Hồ Hữu Lạn về cuốn hồi ký “Trung đoàn một thời chiến trận”. Nếu không đọc kỹ chương 5 và chương 6 của anh, tôi không biết phải dịch hai cuốn “Đồi Thịt băm” và “Đại bàng gào thét trong vòng vây” của các tác giả Mỹ như thế nào cho sát với thực tế trận chiến. Tôi đọc kỹ hai chương này còn vì tôi nhận ra hai ngọn lửa, một ngọn lửa khốc liệt của hai trận chiến, một ngọn lửa mãnh liệt trong tâm hồn ẩn sau những dòng hồi ký trong con người anh.
Ở ngọn lửa thứ nhất, trận đánh trên Động A Bia, người Mỹ gọi là Đồi Thịt băm, trận đánh trên điểm cao 935, người Mỹ gọi là Ripcord. Hai trận đánh này được người Mỹ gọi là hai trận đánh kinh điển trong năm trận đánh kinh điển (ba trận khác là trận Ia- Drăng, trận Đắc Tô-Tân Cảnh, trận Khe sanh- Tà cơn) của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Trung đoàn 3 và Trung đoàn 1 Sư 324 đều trực tiếp tham gia hai trận đánh này. Các sỹ quan và binh sỹ Mỹ không thể lý giải vì sao chúng ta lại thắng trong hai trận đánh, mà theo người Mỹ họ cho là “dữ dội nhất, khủng khiếp nhất, kinh hoàng nhất và đẫm máu nhất”. Chỉ khi đọc kỹ hai chương trong cuốn hồi ký tôi mới hiểu thật sự nghĩa đen cũng như nghĩa bóng của những cụm từ: “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, “Ý chí quyết chiến quyết thắng”, mới hiểu vì sao mỗi quả đồi, mỗi điểm cao phải chịu hàng ngàn tấn bom các loại, hàng vạn quả đạn pháo, cối các loại và trải qua hàng chục cuộc tấn công có sự hỗ trợ của máy bay trực thăng vũ trang với bom cháy, đạn hóa học, các loại vũ khí hiện đại có sức công phá tưởng như không còn một loài sinh vật nào có thể sống sót, vậy mà các chiến sỹ Trung đoàn 3, Trung đoàn 1 vẫn trụ vững. Chỉ khi đọc kỹ hai chương trên tôi mới thật thấu hiểu thế nào là “vận động tiến công kết hợp chốt, chốt để vận động tiến công”, chỉ khi đọc kỹ hai chương tôi mới thấu hiểu thế nào là “quyết, vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt”, bảy phương châm tác chiến trong vây điểm diệt viện, tiến tới diệt điểm.
Ở ngọn lửa thứ hai, từng câu chữ, từng hình ảnh, từng chi tiết, từng con người, từng sự việc, tất cả đều hừng hực khí thế, đều thấm đẫm xương máu của biết bao cán bộ chiến sỹ mưu trí dũng cảm, cùng đồng cam cộng khổ, biết lợi dụng địa hình địa vật, biết tạo ra địa hình địa vật và chướng ngại vật, cùng vào sinh ra tử để chiến thắng kẻ thù.
Ở hai chương này, tác giả còn tham khảo và trích dẫn một số tư liệu người Mỹ viết. Họ nguyên là sử gia, sỹ quan, binh lính, tham gia hai trận đánh. Vì vậy người viết có cái nhìn hai chiều, làm cho người đọc thấy rõ hơn giá trị của các trận đánh. Mặc dù hai trận đánh chỉ ở mức độ quy mô trung đoàn, lại diễn ra trong một thời gian không dài, ở một không gian không quá rộng, nhưng hai trận đánh trên đồi A Bia và trên điểm cao 935 lại mang một ý nghĩa chiến lược to lớn, làm chấn động nước Mỹ, gây chia rẽ và bất hòa sâu sắc trong chính quyền Mỹ, làm giấy lên làn sóng biểu tình đông đảo của hàng vạn người Mỹ. Hai trận đánh này đã tạo ra một cuộc “chiến tranh Việt Nam trong lòng nước Mỹ”, buộc chính quyền Mỹ phải tìm cách nhanh chóng kết thúc chiến tranh, nhanh chóng rút quân về nước.
Trong một lần về thăm chiến trường xưa, tôi có hỏi Đại tá Phan Đân, nguyên chính ủy Sư đoàn 324, nguyên cán bộ đại đội chỉ huy trận đánh trên Động A Bia, trên ngọn núi Cô Pung và Cốc Bai: “yếu tố nào Thủ trưởng cho rằng ta tránh được thương vong khi bom đạn địch ngày đêm giội xuống”? Ông trả lời: “Bộ đội ta biết đánh và biết tránh, có công sự, hầm hào kiên cố, có đường cơ động, chướng ngại, biết đánh mìn, phát huy mọi loại vũ khi để diệt địch. Trong trận A Bia, Đại đội Công binh của anh Lạn đóng một vai trò không nhỏ”.
Nguyên là một sỹ quan công binh, nhưng tại sao đồng chí Hồ Hữu Lạn lại được cấp trên tin tưởng giao cho nhiệm vụ chỉ huy đại đội bộ binh đánh địch có hiệu quả trên đường 12 Động Tranh- Bình điền vào năm 1968? Đặc biệt khi Đại đội 3, Tiểu đoàn 7 gặp khó khăn đồng chí Lạn lại được điều về đại đội chỉ huy chiến đấu? Ngoài yếu tố tinh thần, ngoài việc xả thân vì nhiệm vụ, ngoài việc gương mẫu trước chiến sỹ, ngoài việc chấp nhận gian khổ hy sinh thì khả năng của một cán bộ chỉ huy bộ binh là yếu tố quyết định để các cấp và đồng đội tin tưởng. Không một cán bộ cấp trên nào, không một chiến sỹ nào lại chấp nhận việc đem xương máu, tính mạng đồng đội giao cho một người không chứng minh được bản thân ở chiến trường. Đồng chí Hồ Hữu Lạn đã vận dụng năng lực sử dụng các loại vũ khí bộ binh và công binh như mìn để đánh bộ binh Mỹ, đánh xe tăng và hạ máy bay trực thăng Mỹ khi chúng đổ quân; vận dụng năng lực sử dụng công sự hầm hào và khả năng chỉ huy trong quá trình chỉ huy bộ binh đánh địch. Chính vì thế mà anh hạn chế được việc bộ binh thương vong và hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao phó.
Cuối năm 1970, Đảng ủy Trung đoàn 3 đã giao cho đồng chí Hồ Hữu Lạn làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 sau một quá trình thử thách. Đồng chí Lạn đã nhận nhiệm vụ và coi đó là một trọng trách. Bắt đầu từ đó, đồng chí Lạn có ý thức vươn lên học tập từ thực tế chiến trường, học tập từ cấp trên, từ đồng nghiệp, bạn bè, học tập qua các đợt diễn tập, học tập qua các đợt tập huấn, học tập và nghiên cứu sâu cách đánh địch, rồi tiến tới học công tác tham mưu trung đoàn, lập kế hoạch tác chiến hợp đồng binh hỏa lực để vận dụng vào thực tế chiến đấu… Không phụ lòng tin yêu của các cấp và đồng đội, đồng chí Hồ Hữu Lạn đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ Trung đoàn 3 giao cho với trí thông minh, tinh thần dũng cảm và quyết đoán. Điều này được thể hiện rõ qua chương bảy, chương tám, chương chin. Cả ba chương đầy ắp những sự kiện với biết bao con người trong chiến dịch Nam Lào năm 1971, chiến dịch Trị Thiên năm 1972, Tây Thừa Thiên Huế năm 1973.
Trên dưới 50 năm đã trôi qua, nhiều anh em cựu chiến binh chúng tôi khi đọc lại những chương trên đều thấy sống dậy trong mình nhiều kỷ niệm: Từ việc sinh hoạt tư tưởng, tăng gia sản xuất, huấn luyện và diễn tập thực binh chiến đấu, đặc biệt là các trận đánh, các chiến dịch. Có người nói còn thiếu cái này, còn thiếu cái kia, nhưng vì là một cuốn hồi ký không thể ghi đầy đủ, lột tả hết mọi chi tiết trong cuộc chiến trải dài qua thời gian và không gian rộng lớn. Khác với các sử gia và các nhà nghiên cứu lịch sử, người viết hồi ký chỉ tái hiện phần hiện thực thường nằm trong trí nhớ và tầm nhìn của mình, ghi lại những ấn tượng và hồi ức của bản thân mình nên không thể đem tất cả các sự kiện trong cuộc chiến vào tác phẩm. Tuy nhiên tất cả anh em cựu chiến binh vẫn thấy bóng dáng mình ở trong cuốn sách. Vì vậy không phải ngẫu nhiên tác phẩm của anh đã được đọc, được trích dẫn nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Đầu tháng 8 năm 1973 đồng chí Hồ Hữu Lạn được giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trungđoàn 3. Sau đó được cử vào chiến trường Tây Nguyên. Sự kiện này đã ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc cả về mặt thực tiễn, lý luận và năng lực chỉ huy của anh; đồng thời cũng là thử thách mới với anh. Chiến trường hoàn toàn mới, địa hình mới, kẻ địch mới, cách đánh cũng mới. Trung đoàn 3 đã trải qua hàng trăm trận chiến, tiêu diệt hàng nghìn tên địch trong những năm 1967 đến 1973 nhưng đó là ở chiến trường Trị Thiên. “Đem chuông đi đánh xứ người” sẽ hoàn toàn khác. Nhưng anh Lạn vẫn được Quân khu Trị Thiên và Sư đoàn 324 tin tưởng giao nhiệm vụ vào chiến trường bạn, cùng các đơn vị bạn đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Đắk Pét và chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức.
Hai chương áp chót “Đắc Pét tháng 5 năm 1974”, “Thượng Đức tháng 7 năm 1974” là hai chương được Đại tá Hồ Hữu Lạn viết kỹ nhất. Và cũng là hai chương tôi thích nhất. Sức cuốn hút của nó vẫn bắt nguồn từ hai ngọn lửa, ngọn lửa ác liệt của chiến trường, nhất là việc đánh bại Sư Dù ở Thượng Đức và ngọn lửa ẩn sâu trong con người vị chỉ huy trung đoàn, ẩn sau những dòng chữ, những hình ảnh, những sự kiện mà giá trị của nó mang tầm chiến lược.
Từ khâu chuẩn bị, hành quân vào Tây Nguyên, làm quen với Bộ chỉ huy chiến dịch, ổn định tư tưởng, tổ chức đến việc quán triệt nhiệm vụ, nhanh chóng nắm chắc tình hình chiến trường mới, địa bàn địa hình mới, tổ chức công tác trinh sát, xây dựng phương án chiến đấu, tổ chức chiến đấu, Trung đoàn 3 đều hoàn thành nhiệm vụ; nhiệm vụ đánh chiếm một loạt cứ điểm, giải phóng một số lượng lớn dân cư ở chi khu quân sự Quân lỵ Đắc Pét với tổn thất thấp nhất. Trung đoàn 3 đã phát huy cao độ truyền thống phòng ngự, chốt chặn, chốt kết hợp tiến công trong những năm 1965- 1973. Trung đoàn còn học tập được kinh nghiệm của các đơn vị ở Tây nguyên, hoàn thiện các hình thức tiến công địch trong công sự và đánh địch dã ngoại. Dưới sự lãnh đạo của tập thể cán bộ, đứng đầu là anh Hồ Hữu Lạn, Trung đoàn 3 trong chiến dịch Đắk Pét xứng đáng được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.
Theo cá nhân tôi, vai trò và nãng lực của tập thể cán bộ Trung đoàn 3 trong giai đoạn năm 1973, 1974 thể hiện rõ nét nhất ở trong Chiến dịch Thượng Đức. Cùng với Sư đoàn 304 và các lựclượng địa phương, Trung đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc việc đánh chiếm một loạt các căn cứ của địch ở Ba khe, Hà sống, đánh bại Sư đoàn 3 ngụy và Liên đoàn 14 Biệt động quân tấn công giải tỏaThượng Đức, chia cắt và bao vây địch từ phía đông chi khu quận lỵ Thượng Đức theo kế hoạch của Bộ tư lệnh chiến dịch, góp phần rất quan trọng cùng với Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 giải phóng Thượng Đức vào 8h ngày 7/8/1974. Cánh cửa thép phòng thủ của địch phía tây nam Đà nẵng đã được mở toang. Tổng thống Nguyễn VănThiệu buộc phải đưa Sư Dù, lực lượng Tổng dự bị chiến lược vào phản kích tái chiếm Thượng Đức.
Tổng thống Thiệu tin tưởng Sư Dù sẽ tái chiếm được Thượng Đức. Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh Sư Dù huyênh hoang tuyên bố trong 20 ngày sẽ chiếm lại Thượng Đức. Trung đoàn 3 tuy mới đánh chiếm Hà nha, Hà sống, Bàn tân song đã chủ động chuyển vào phòng ngự, đón đánh Sư Dù tiến công vào trận địa. Từ giữa tháng 8, đến đầu tháng 10/1974, Sư Dù bị thất bại, mất tiền lệ át chủ bài đi chữa cháy, giải quyết chiến trường như ở Phước Long và Quảng Trị 1972. Tháng 10/1974 Sư đoàn 304 đưa Trung đoàn 24, Trung đoàn 66 vào cùng Trung đoàn 3 dồn lên phòng ngự vững chắc, đánh bại Sư Dù giữ vững vùng giải phóng Thượng Đức. Cuộc hành quân tiến công lần thứ 3 của Sư Dù bị thất bại, xương sống ngụy quân bị đập gãy từ đây. Tình thế chiến lược mới đã xuất hiện. Chủ lực của ta đã mạnh hơn chủ lực của kẻ địch (nhận định của Quân ủy Trung ương). Chính điều này đã tạo điều kiện, thời cơ cho các chiến trường khác mở các chiến dịch, sau đó phát triển tiến công, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Chiến dịch Thượng Đức không chỉ chứng tỏ khả năng của Trung đoàn 3 trong đánh công kiên, đánh dã ngoại, Trung đoàn còn phát huy đến đỉnh cao khi chuyển sang phòng ngự bảo vệ vùng giải phóng Thượng Đức trước Sư đoàn Dù, nhất là trong 45 ngày đầu chiến dịch phòng ngự. Sư Dù, tổng dự bị, con át chủ bài, sư đoàn “con cưng” của nền Cộng hòa đối đầu với Trung đoàn 3 bị thất bại thảm hại.
Sau các cuộc tiến công quân số thiếu hụt, với lực lượng mỏng dàn trải trên cả một vùng rộng lớn từ điểm cao 1062, đồi 700, sân bay An định, điểm cao 383, chốt T2, điểm cao 109, 126 đến Hà Nha, Hà Sống, Làng Lâm Phụng, Bàn Tân, đồi Ba khe, Trung đoàn phải đương đầu với cả ba lữ đoàn dù trong thời gian dài rất ác liệt. Tập thể cán bộ trung đoàn đã bàn bạc cách đánh phòng ngự, chốt theo chiều sâu truyền thống vốn trở thành thương hiệu, không để hở sườn. Tất cả các đơn vị chủ động, tích cực đánh địch trước chốt và hỗ trợ chốt bạn chiến đấu. Trung đoàn sử dụng độc chiêu huy động tối đa hỏa lực các loại như 12.7 ly, ĐKZ, cối 82ly, 120ly, bắn lướt sườn, bắn vào các mục tiêu có địch tập trung; sử dụng cách đánh gần, kiên cường bám trụ, phản kích tại chỗ.
Khi mất chốt, các chốt lân cận hai bên, các chốt phía sau thực hiện bao vây chia cắt đánh địch cả phía trước, phía sau không để địch tăng quân củng cố,và tổ chức phản kích chiếm lại chốt ngay. Đó là một thế trận có các trận địa liên hoàn vững chắc, có cách đánh kiên quyết mưu trí sáng tạo nên ngay từ ngày đầu Sư Dù đã bị bất ngờ, thua trận giảm nhuệ khí chiến đấu, bị động lúng túng đối phó. Tuy Sư Dù tập trung tối đa binh, hỏa lực vào từng điểm chốt, chúng cũng không thể đánh chiếm được trận địa của Trung đoàn 3.
Trên thực tế, Sư Dù ngụy đã thua Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 tại mặt trận Thượng Đức ngay từ ngày đầu. Nếu Trung đoàn 3 không đánh bại Sư Dù trong 45 ngày đầu chiến dịch phòng ngự thì việc giữ vững Thương Đức, thu hút giam chân đánh bại Sư Dù, giữ vững vùng giải phóng Thượng Đức khó diễn ra có kết quả. Có thể thấy cuộc chiến của Trung đoàn 3 ở chiến trường Thượng Đưc, tiến công cũng như phòng ngự, người chỉ huy đều tạo thế, lập thế trước, chủ động đưa địch vào trận đia, đánh theo thế trận bày sẵn của mình (như đi cờ thế) nên đơn vị ngụy quân Sài gòn nổi tiếng bị bất ngờ thua trận. Tôi được biết Chiến dịch phòng ngự Thượng Đức đã trở thành tài liệu sách giáo khoa của các học viện, nhà trường trong Quân đội ta.
Gần 90 trang viết về Thượng Đức của Đại tá Hồ Hữu Lạn là một khúc tráng ca hào hùng, thể hiện tất cả phẩm chất anh hùng, bất khuất, tinh thần kiên cường, sự mưu trí, sáng tạo của tập thể cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3 trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Không người đọc nào có thể quên được chốt T2, chốt chịu 12 lần máy bay A-37 ném các loại bom xuyên, phá, hàng nghìn quả đạn pháo khoan săm soi dày đặc trong một ngày, Đại đội 6 Tiểu đoàn 8 kiên cường đánh bật hết đợt phản công này đến đợt phản công khác. Tiểu đoàn Dù lì lợm bám dũi theo cách đánh “càng cua, hoa thị”, cố gắng tái chiếm bằng được Thượng Đức. Khi kẻ địch tràn được lên chốt, Chính trị viên Trần Quang Diễn đã ra lệnh cho các chiến sỹ rút xuống hầm, yêu cầu Trung đoàn trưởng bắn hỏa lực trùm lên chốt. Sau vài giây suy tính và quan sát, anh Lạn ra lệnh cho các loại hỏa lực cối 120mm, cối 82mm, DKZ, Pháo 37 ly đồng loạt giội bão lửa trùm lên trận địa. Kẻ thù bị xóa sổ. 14 chiến sỹ đại đội 6 từ hầm moi tiếp tục lên giữ chốt. Khoảnh khắc căng thẳng nhất trong đời chỉ huy của Trung đoàn trưởng đã qua… Chốt thép T2 vẫn giữ vững thế liên hoàn của toàn trận địa.
Nhìn lại chiến dịch Thượng Đức, cá nhân tôi cho rằng Trung đoàn 3 có công lớn trong việc đánh địch, chia cắt chiến dịch cho Trung đoàn 66 dứt điểm cụm căn cứ Thượng Đức. Trung đoàn đã lập công đầu xuất sắc đánh bại Sư Dù điên cuồng phản kích tái chiếm; xây dựng được thế trận đầy giá trị trong chiến dịch phòng ngự. Cùng với Sư đoàn 304, Trung đoàn 3 đã giam chân đánh bại Sư Dù, đập gãy xương sống ngụy quân để đến đầu năm 1975, khiến chúng mất vai trò tổng dự bị…
Chương 12 của cuốn hồi ký viết về vai trò Trung đoàn 3 trong năm 1975, là một trang sử “thủy chung” với Cố đô Huế. Chiến công nối tiếp chiến công, ngày 5/3/1975 trung đoàn từ mặt trận Thượng Đức về Nam Đông nhận nhiệm vụ giải phóng Thành phố Huế. Được tăng cường Đại đội 4 xe tăng của đơn vị đồng chí Bùi Quang Thận, đơn vị đã tổ chức chiến đấu từ núi Bông, núi Nghệ, La Sơn, thọc sâu đánh chiếm thành phố Huế trưa ngày 25/3/1975 và giải phóng Cảng Thuận An chiều cùng ngày (10 ngày đêm liên tục hành quân tổ chức chiến đấu). Trung đoàn 3 tiếp tục được giao nhiệm vụ cùng Trung đoàn 9 Sư đoàn 304, Lữ 203 Tăng, thiết giáp trên hướng chủ yếu của Quân đoàn 2 từ Động Đen tây bắc Đà Nẵng tiến công chiếm Bộ tham mưu Quân đoàn 1 Ngụy sáng ngày 29/3/1975. Sau đó Trung đoàn 3 làm lực lượng dự bị trực tiếp của Quân đoàn 2 cùng tiến vào thành phố Hồ Chí Minh...
Như vậy là Trung đoàn 3 trong suốt cả năm 1974, sang năm 1975 liên tục chiến đấu không ngừng nghỉ, luôn luôn chủ động sẵn sàng trong mọi nhiệm vụ, không bỏ lỡ mọi thời cơ chiến đấu, luôn hiểu rõ nhiệm vụ, có lệnh là chấp hành, chiến đấu thắng lợi. Trong suốt thời gian năm 1974, 1975 ở đâu có trung đoàn 3, ở đó có chiến công. Xuyên suốt cuốn hồi ký, cá nhân tôi còn nhận thấy ở Trung đoàn 3, vào những thời điểm khi đơn vị gặp khó khăn, cấp trên đều rất cân nhắc giao nhiệm vụ cho các cán bộ có năng lực, trong đó có anh Lạn. Ví dụ năm 1968 anh Lạn được đưa về C3/D7 làm Đại đội trưởng, năm 1970 được giao Tiểu đoàn trưởng chỉ huy Tiểu đoàn 9. Đăc biệt năm 1974 anh được Quân khu Trị- Thiên và Sư đoàn 324 giao nhiệm vụ đưa trung đoàn đi chiến đấu ở Đắk Pét và Thượng Đức. Đó là những chiến trường xa lạ, khó khăn ác liệt nhưng tập thể cán bộ và anh Lạn đều nhận nhiệm vụ và vượt qua mọi thử thách. Đúng như nhận định của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “ Trung đoàn 3 sư 324 là một tập thể anh hùng” và “ đồng chí Hồ Hữu Lạn là một cán bộ chỉ huy chiến đấu xuất sắc”.
Cũng như nhiều cuốn sách khác, cuốn hồi ký Trung đoàn một thời chiến trận của Đại tá Hồ Hữu Lạn còn một số khiếm khuyết về nội dung và hình thức, nhưng điều đó đối với tôi và nhiều cựu chiến binh Sư đoàn 324 không phải là vần đề cần quan tâm. Tác giả đã giãi bày: “Xuất phát từ sự tri ân, tưởng nhớ đồng đội, trân trọng lịch sử, truyền thống anh hùng của trung đoàn, sư đoàn và sự hy sinh của quân dân những địa phương đã cùng đơn vị chiến đấu lập công mà viết. Tôi viết về những việc tôi làm, tôi biết”. Đúng vậy, cuốn hồi ký đã lột tả được cuộc sống, tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự hy sinh anh dũng của biết bao cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3 anh hùng, Sư đoàn 324 anh hùng. Có đồng chí cựu chiến binh đã nói trong buổi phát hành sách: “Không viết cuốn hồi ký này, Đại tá Hồ Hữu Lạn còn mắc nợ với đồng chí, đồng đội và nhân dân đã cùng sát cánh trong chiến đấu”. Đúng vậy, cuốn hồi ký là nén hương lòng tri ân trong tâm anh, là nén tâm nhang gửi tới hơn 13 ngàn anh hùng liệt sỹ Sư đoàn 324 đã ngã xuống trên các chiến trường, là lời tri ân gửi tới bạn bè, đồng đội và quân dân các địa phương đã cùng sát cánh chiến đấu với trung đoàn. Chính vì vậy, cuốn sách sẽ còn sống mãi trong tâm trí người đọc, đúng như tên gọi cuốn sách “Trung đoàn một thời chiến trận”.
Read More

Trung Quốc đang gia tăng áp lực với tất cả các nước ASEAN có tranh chấp trên biển Đông

Leave a Comment
Trung Quốc đang gia tăng áp lực với tất cả các nước ASEAN có tranh chấp trên Biển Đông
Trong 10 sự kiện thế giới nổi bật năm 2019 do TTXVN bình chọn, tôi nghĩ sự kiện thứ 2 được nhiều người dân trong khu vực ASEAN đặc biệt quan tâm. Đó là việc Trung Quốc chủ động mở rộng tranh chấp trên biển khiến “Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, gây lo ngại cho cộng đồng quốc tế”. Giới quan sát quốc tế đã đặt ra câu hỏi, trong lúc cuộc chiến thương mại Mỹ -Trung diễn ra rất căng thẳng, tình hình nội bộ Trung Quốc có nhiều vấn đề, tai sao họ vẫn tăng cường gây áp lực với tất cả các nước có tranh chấp trên Biển Đông. Vậy thì Bắc Kinh muốn gì? Liệu tình hình căng thẳng có còn tiếp diễn trong năm 2020 và những năm sau đó?
Trung Quốc đã làm gì ở Biển Đông trong năm 2019?
Trung Quốc đã liên tục gây hấn với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và hung hăng tuyên bố Tàu Sân bay Sơn Đông, con tàu sân bay "nội địa" đầu tiên của nước này tự đóng sẽ tập trung vào nhiệm vụ ở Biển Đông trong năm 2020 nhằm kiểm soát các vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền. Có nghĩa là Bắc kinh sẵn sàng chà đạp lên luật pháp quốc tê ở Biển Đông bằng vũ lực. Đây là hành động leo thang căng thẳng nguy hiểm, ảnh hưởng tới việc duy trì hòa bình ổn định, an ninh trật tự, thượng tôn pháp luật ở khu vực Biển Đông; đi ngược với mục tiêu, lợi ích, nguyện vọng và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế.
Cụ thể ngày vào 4/7/2019, Trung Quốc đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 cùng các tàu hộ tống vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Mặc dù Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm phản đối, mặc dù phía Việt Nam đã kiên quyết đấu tranh trong các diễn đàn song phương và đa phương nhưng Bắc Kinh vẫn trơ lì, ngựa quen đường cũ ở vùng biển Việt Nam trong suốt mấy tháng.
Các tàu khảo sát, hải cảnh, tàu đánh cá của Trung Quốc cũng nhiều lần xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và cản trở các hoạt động dầu khí hợp pháp của một số quốc gia ven Biển Đông khác như Philippines và Malaysia. Vấn đề bất đồng, lời qua tiếng lại về chủ quyền lãnh thổ giữa Trung Quốc với hai nước trên vẫn là một vấn đề nhức nhối.
Chỉ huy quân đội và các quan chức trong chính quyền Philippines đã cập nhật báo cáo về những hoạt động xâm phạm của các tàu tuần duyên, hải cảnh Trung Quốc tại bãi cạn Second Thomas, nơi thủy quân lục chiến Philippines vẫn theo dõi mọi hoạt động của tàu Trung Quốc. Tuy nhiên suốt các tháng cuối năm 2019, tàu thuyền của họ vẫn ra vào vùng hải phận của Philippines như vùng biển của Trung Quốc.
Chưa hết ngày 17/12/2019, Bắc Kinh còn gây áp lực với Malaysia, trơ tráo khẳng định yêu cầu của Kuala Lumpur với Liên Hợp Quốc về thềm lục địa là vi phạm nghiêm trọng đến chủ quyền, các quyền và quyền tài phán của Trung Quốc. Trong thư gửi đến tổng thư ký Antonio Guterres, phái đoàn thường trực của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc ngang ngược tuyên bố “Trung Quốc có vùng nội thủy, lãnh hải và một vùng tiếp giáp lãnh hải căn cứ vào các đảo ở Biển Đông”. Bắc Kinh yêu cầu “Ủy ban về giới hạn thềm lục địa Liên Hợp Quốc không xem xét hồ sơ của Malaysia”. Ngoại trưởng Malaysia Saifuddin Abdullah đã đáp trả tuyên bố về đường chín đoạn của Trung Quốc là một tuyên bố “nực cười”.
Cả thế giới đều biết Philippines đã kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye năm 2016 không thừa nhận các đòi hỏi chủ quyền theo yêu sách đường 9 đoạn. Trung Quốc vẫn mặt dày phủ nhận phán quyết của tòa án quốc tế. Họ rắp tâm chiếm hầu hết Biển Đông dựa trên những thực thể đá, bãi ngầm xâm chiếm và kiểm soát. Đã vậy Bắc kinh còn ngụy biện mình như là một nạn nhân "bị bắt nạt", vừa ăn cướp vừa la làng.
Với Indonesia cũng vậy. Sau nhiều lần Trung Quốc xâm nhập vùng biển xung quanh chuỗi đảo Natura, hai nước đã kín đáo xử lý các vụ việc. Nhưng vào cuối tháng 12/2019, Jakarta không thể nín nhịn, đã gửi công hàm phản đối chính thức tới Bắc Kinh ngày 30/12/2019 để phản ứng việc vi phạm lãnh thổ của 3 tàu hải cảnh Trung Quốc và 63 tàu cá ở vùng đặc quyền kinh tế của họ. Các tàu cảnh sát biển Trung Quốc đã bị tàu của hải quân Indonesia truy đuổi ra khỏi vùng biển Indonesia.
Trung Quốc phản ứng lại bằng công hàm rằng hai bên cùng bình tĩnh vì đại cục, cùng ngồi thương lượng về vụ việc. Tuy nhiên Indonesia thẳng thừng từ chối thương lượng. Ngày 12/1, Indonesia cho biết 3 tàu hải quân của nước này tiếp tục phát hiện nhiều tàu hải cảnh và tàu cá của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế. Indonesia phản ứng gay gắt với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Indonesia đã tái khẳng định, Indonesia không có yêu sách chồng chéo với Trung Quốc, không có gì phải thương lượng và Indonesia sẽ không bao giờ công nhận yêu sách "đường 9 đoạn" của Trung Quốc, vốn không phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) cũng như tinh thần phán quyết của toà án quốc tế năm 2016.
Phản ứng của Indonesia đối với hành vi bất hợp pháp của Trung Quốc tại Biển Đông có ý nghĩa lớn. Indonesia là nước có lực lượng vũ trang lớn nhất Đông Nam Á. Họ có đủ đòn đáp trả ngoại giao hoặc quân sự để ngăn chặn Trung Quốc. Quốc hội Indonesia đã đề xuất một số hành động mạnh mẽ để có thể ngăn chặn Trung Quốc như xem xét lại cả hợp tác song phương và đa phương với Trung Quốc, bao gồm hợp tác về Sáng kiến Vành đai Con đường và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực, cũng như cùng tham gia với các quốc gia Đông Nam Á khác đang đối mặt với những thách thức lãnh thổ tương tự để cân nhắc lại về thương mại và đầu tư của ASEAN với Trung Quốc (theo tôi đây có thể là bài học cho các nước).
Như vậy là Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia liên tiếp bị Trung Quốc xâm phạm chủ quyền. Tất cả đều nằm trong toan tính của Bắc Kinh. Cả 4 nước cùng với cộng đồng quốc tế như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Australia, Ấn Độ, Liên minh châu Âu đã phê phán các hành động đơn phương của Trung Quốc, làm xói mòn lòng tin, gây tổn hại đến hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực. Tuy nhiên Bắc Kinh như kẻ điếc bẩm sinh, không những trơ lì mà còn lớn tiếng đe dọa rằng Tàu sân bay Sơn Đông với 39 phản lực J-15 cùng với đội tàu hộ tống hiện đại sẽ đi vào thực chiến tại Biển Đông trong năm 2020 để bảo vệ “chủ quyền” của họ.
Trung Quốc muốn gì?
Trung Quốc muốn chiếm tài nguyên và vị trí chiến lược Biển Đông. Hàng nghìn tỷ thùng dầu, khối lượng băng cháy, khoáng sản khổng lồ dưới đáy biển, hàng triệu tấn cá mỗi năm cùng với tuyến đường vận chuyển huyết mạch của thế giới khống chế nhiều nước ở Tây Thái Bình Dương đã làm mờ mắt Trung Nam Hải. Tôi đã viết trong bài “Tàu rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam” rằng: Người Tàu đang nuôi giấc mộng siêu cường, tranh giành vị thế với Hoa Kỳ. Họ sẽ không bao giờ từ bỏ dã tâm chiến lược độc chiếm Biển Đông, đẩy các cường quốc khác ra ngoài khu vực, để vươn sức mạnh ra toàn cầu. Kể từ năm 1989 trở đi, họ không chiếm thêm các đảo ở Biển Đông (vì nhiều lý do và cũng không thể chiếm được nữa). Tàu quay ra củng cố, biến các đảo đã chiếm trái phép thành các căn cứ hậu cần, quân sự để tiến hành một loại tranh chấp khác, tranh chấp chủ quyền trên biển với các nước ven Biển Đông nhằm hiện thực hóa hóa đường chín đoạn (lưỡi bò) tưởng tượng.
Trong tương lai chắc chắn Tàu sẽ còn dùng các loại tàu mang danh nghĩa khoa học, tàu đánh cá được hộ tống bằng nhiều tàu cảnh sát, hải cảnh, tàu kiểm lâm, tàu dân binh vào Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia để tranh giành lãnh hải, vốn trước đó không có tranh chấp, vốn trước đó là vùng biển của các quốc gia ven Biển Đông. Nghĩa là Tàu đang tạo ra tranh chấp trên biển với các nước, một thủ đoạn chiến tranh, loại hình chiến tranh mới trên biển để hiện thực hóa dã tâm chiến lược của họ.
Trong khi chưa chiếm được hoàn toàn Biển Đông, Tàu đang đặt ra mục tiêu phải ký được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông trong vòng 3 năm. Tên tiếng Anh của nó là “Code of Conduct”, viết tắt là COC. Bắc kinh muốn các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam không được cùng khai thác với các nước ngoài khu vực, không được tập trận với các nước ngoài khu vực. Họ cho rằng chỉ họ mới có cái quyền đó. Vì vậy họ đã ép các công ty của Anh, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Mỹ và các nước bên ngoài không được hợp tác với các nước ASEAN, phải rời khỏi khu vực thăm dò và khai dầu khí trên vùng đặc quyền và thềm lục địa của các nước với lý do “khu vực đang tranh chấp” do Tàu cố tình ngụy tạo.
Trung Quốc sẽ gây áp lực với các nước tranh chấp đến bao giờ?
Từ nay cho đến năm 2021, ASEAN sẽ phải chịu sức ép rất lớn, đặc biệt là với Việt Nam và Philippines. Bắc Kinh có thể thỏa hiệp với Malaysia và Indonesia một phần nào đó. Họ sẽ dùng các nước khác trong khối không có tranh chấp với họ để ép các nước mệt mỏi mà ký cho xong. Họ là bậc thầy “chia để trị”. Nếu các nước không chịu khuất phục thì họ còn sử dụng mọi thủ đoạn gây áp lực cả về chính trị, kinh tế, quân sự và gây áp lực trên thực địa. Nếu các nước ký theo tinh thần của họ thì sẽ rơi vào bẫy mà Đặng Tiểu Bình đã đặt ra “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”. Nhưng vế trước của câu nói là “Chủ quyền thuộc về ta (Trung Quốc)”. Mọi người cứ hình dung khi mà giàn khoan và lá cờ của Tàu bay trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước có tranh chấp thì coi như các nước đã mất chủ quyền.
Họ muốn gạt tất cả các cường quốc khác ra khỏi cuộc chơi ở Biển Đông nhằm chiếm giữ tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất của thế giới để phục vụ cho sự “phục hưng đế chế Trung Hoa”. Điều này chắc Mỹ không muốn. Nhật Bản không muốn. Ấn Độ không muốn. Australia không muốn. Hàn Quốc không muốn. Thậm chí cả Nga cũng không muốn. Biển Đông hôm nay và ngày mai chắc chắn sẽ là đấu trường của các nước lớn. Theo cá nhân tôi, một số nước ASEAN, đặc biệt là các nước tranh chấp với Trung Quốc không muốn “chọn phe” thì vẫn phải nương vào dòng chảy địa chính trị chung để bảo vệ lợi ích chính đáng của dân tộc, không thể thật cân bằng "đánh đu" quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ cùng với phương Tây.
Trước hết ASEAN phải đoàn kết không để Trung Quốc lợi dụng, chia rẽ; phải hết sức cẩn trọng đến loại hình chiến tranh giành lãnh hải trên biển, nơi chỉ có mặt nước với sóng biển, nơi Trung Quốc có tàu sân bay và lực lượng hải quân áp đảo so với 10 nước ASEAN cộng lại. Nó hoàn toàn khác với cuộc chiến tranh trên đất liền, nơi mà các nước, nói theo sách quân sự của Việt Nam còn có ba vùng chiến lược: vùng đồng bằng, vùng rừng núi và đô thị. Cuộc chiến trên biển sẽ cực kỳ gay go, gian khổ và phức tạp.
Ngoài thế trận chiến tranh nhân dân trên biển, các nước nằm trong tầm ngắm của Bắc Kinh cần phải có một lực lượng hải quân, không quân biển đủ mạnh. Phải biết cùng hợp tác với nhau để đối phó với kẻ thù chung. Cũng cần phải phát triển các ngành công nghệ cao quân sự như tàu lặn, tàu ngầm, máy bay không người lái, công nghệ tàng hình, công nghệ thông tin, áp chế điện tử để chống kẻ thù tiếp cận, chống kẻ thù xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Và đặc biệt phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại (Mỹ, Nhật, Ấn Độ, EU…) để chống lại tham vọng của Trung Nam Hải.
Read More

Chủ nghĩa dân tộc qua một bộ phận học giả, tướng lĩnh và chính trị gia Trung Quốc

Leave a Comment
Sau 40 năm cải cách mở cửa hòa nhập vào thế giới tư bản, Trung Quốc đã có những bước phát triển thần kỳ. Từ một nước nghèo nàn lạc hậu thuộc thế giới thứ ba, họ đã vươn lên trở thành một nền kinh tế lớn thứ hai sau Mỹ. Thực tế Trung Quốc là một cường quốc mới trỗi dậy đáng chú ý nhất trong số các cường quốc. Họ vượt xa năng lực của các nước trong nhóm G20, nhóm BRICs. Ở một số lĩnh vực họ vượt qua các cường quốc đàn anh bậc trung như Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản. Ở nhiều phương diện, vị trí cường quốc thứ hai sau Mỹ là điều mà nhiều nhà phân tích quốc tế đã công nhận. Và thực sự họ đã trở thành một cực chi phối trong quan hệ quốc tế.
Trong khoảng gần 10 năm trở lại đây, bắt đầu từ khi Tập Cân Bình được lựa chọn làm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Bắc Kinh bắt đầu tỏ ra ngày càng tham vọng và quyết đoán trong các vấn đề quốc tế. Họ theo đuổi vai trò lãnh đạo trong các cơ quan Liên Hợp Quốc. Không chấp nhận vai trò của mình với các định chế tài chính quốc tế, năm 2015 họ thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Họ đưa ra Sáng kiến Vành đai Con đường. Vừa là để thoát khỏi xiềng xích cầm tù của vị trí địa chiến lược, vừa để vươn sức mạnh ra toàn cầu. Điều đáng chú ý nhất là họ đầu tư, chi tiêu cho quốc phòng mỗi năm một tăng (năm 2018 lên tới 250 tỷ USD), chỉ đứng sau Mỹ. Đặc biệt là họ đã, đang quân sự hóa, đưa vũ khí, khí tài ra các hòn đảo xâm chiếm của Việt Nam trên Biển Đông. Dư luận quốc tế và nhiều nước trong khối ASEAN không thể không lo ngại.
Trong nước, một mặt Bắc Kinh thường xuyên nhắc tới thế kỷ tủi nhục, khơi dậy chủ nghĩa dân tộc. Họ kêu gọi “phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại”, một siêu cường trong quá khứ có lãnh thổ rộng hơn hiện tại rất nhiều. Không ít học giả, tướng lĩnh, chính trị gia Trung quốc đang cổ súy cho một thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh, bành trướng. Một mặt họ tăng cường Hán hóa các dân tộc. Tài liệu mới nhất của chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bị tiết lộ cho biết họ đang giam cầm hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ Hồi giáo trong các trại cải tạo tập trung ở Tân Cương. Cũng như vậy họ tăng cường kiểm soát khiến hàng nghìn nhà sư ở Tây Tạng phải rời khỏi các tu viện. Hàng trăm người đã tự thiêu trong thời gian qua để bảo vệ phong tục, tập quán của người Tạng. Đối với người Mông ở Khu tự trị Nội Mông, người Choang ở khu tự trị Choang cũng diễn ra tình trạng tương tự… Bắc Kinh tin rằng dân tộc Hoa Hạ là độc đáo, là trung tâm của nền văn minh Trung Quốc, là trung tâm của nền văn minh châu Á, thậm chí của cả nhân loại. Họ đang làm sống dậy học thuyết Khổng Tử từ gần nửa thiên kỷ trước công nguyên để cổ súy tinh thần “trung quân ái quốc” cho gần một tỷ tư người. Họ thực sự đã quên những bài học trong suốt chiều dài lịch sử, trong những thế kỷ gần đây. Họ đang đi theo vết xe đổ của các nước thực dân phương Tây, đi theo vết xe đổ của người Mỹ từ đầu thế kỷ 19 với học thuyết Monroe cấm không cho các cường quốc châu Âu được đặt chân đến châu Mỹ. Họ cũng đang đi theo vết xe đổ của phát xít Đức cực đoan chủng tộc dân tộc, đòi hỏi không gian sinh tồn cho người Đức. Họ cũng đang đi theo vết xe đổ của phát xít Nhật tự tôn dân tộc với thuyết Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á… Chính thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh bành trướng đã dẫn đến những cuộc chiến tranh, thảm khốc nhất là hai cuộc chiến tranh thế giới dẫn tới hàng trăm triệu người bị giết hại. Họ quên rằng kẻ thất bại nhất chính là những kẻ gây chiến.
Bắc Kinh biện hộ việc phát triển quân sự là cần thiết để bảo vệ đất nước chống lại mưu đồ của Mỹ, phương Tây và các nước láng giềng thù địch, để bảo vệ “những quyền lợi hợp pháp của họ ở nước ngoài”. Họ vừa gây căng thẳng với các nước láng giềng như Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam… Họ vừa hứa “sẽ trỗi dậy một cách hòa bình”. Liệu người ta có thể tin vào những gì Bắc Kinh nói với những gì Bắc Kinh đã làm. Họ đưa ra những khái niệm không có trong luật pháp quốc tế và đã bị Tòa Trọng tài Quốc tế bác bỏ năm 2016 như “quyền lịch sử, vùng biển lịch sử, sự hiện diện lịch sử” mơ hồ để đổi trắng thay đen, để độc chiếm Biển Đông, để vẽ lại bản đồ thế giới.
Theo dõi tờ China New gần đây, người ta thật sự kinh ngạc khi Trung Nam Hải đã cho đăng nhiều bài sặc mùi dân tộc chủ nghĩa, thể hiện quan điểm diều hâu của bộ phận trong giới tinh hoa Hoa Hạ. Đáng chú ý nhất là bài “Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc”. Người viết xin lược thuật lại một số nội dung chủ yếu. Họ cho rằng dân tộc Hoa Hạ là một dân tộc lớn nhưng chưa thống nhất. Đó là nỗi hổ thẹn của con cháu “Viêm Hoàng”. Vì vậy mục tiêu đầu tiên của Trung Quốc là phải phát động cuộc chiến tranh giải phóng Đài Loan vào thời điểm từ năm 2020 đến năm 2025. Cuộc chiến tiếp theo thứ hai là cuộc chiến với các nước Đông Nam Á nhằm thu hồi các đảo tại Biển Đông trong đó có Quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Cuộc chiến này dự định diễn ra vào năm 2025 đến năm 2030. Cuộc chiến thứ ba là cuộc chiến với Ấn Độ để thu hồi Nam Tây Tạng. Cuộc chiến này dự định diễn ra vào năm 2035 đến năm 2040. Cuộc chiến thứ tư là cuộc chiến với Nhật Bản thu hồi đảo Điếu Ngư. Cuộc chiến thứ năm là cuộc chiến thu hồi Nội Mông. Cuộc chiến thứ sáu là cuộc chiến với Nga thu hồi những vùng đất Nga Hoàng đã thôn tính trong quá khứ. Cuộc chiến cuối cùng dự định sẽ kết thúc vào năm 2060. Lý do cho tất cả những cuộc chiến tranh trên đều được giải thích đó là “quyền lịch sử của Trung Quốc”, một khái niệm cực kỳ nguy hiểm để biện minh cho tham vọng chiến lược bành trướng lãnh thổ. Họ cho rằng chỉ sau khi thực hiện được các mục tiêu nêu trên thì Trung Quốc mới tạm yên tâm cùng Mỹ, Liên minh châu Âu, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản thiết lập một một trật tự thế giới mới… Có nghĩa là Đông Nam Á trong đó có Việt Nam phải quy thuận Trung Quốc nếu muốn tồn tại.
Cho đến ngày hôm nay, nhiều học giả lạc quan cho rằng thế giới này dù nhiều biến động nhưng vẫn là thế giới toàn cầu hóa, đang nhất thể hóa nền kinh tế, thế giới của cuộc cách mạng 4.0, các nước trên thế giới dù lớn nhỏ đều đang phụ thuộc lẫn nhau. Vậy mà vẫn có không ít học giả, tướng lĩnh và chính trị gia Trung Quốc còn hoài niệm về một nhà nước Đại Hán thủa nào. Cái nhà nước ấy bao trùm gần hết Đông Nam Á, trong đó có lãnh thổ Việt Nam (ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, ảnh hưởng của cái tư tưởng này, Mao Trạch Đông, người cầm lái vĩ đại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã để lại một di sản tư tưởng là phải chiếm lấy khu vực Đông Nam Á để làm chỗ đứng) . Họ lấy làm tiếc tại sao tổ tiên họ đã đô hộ Việt Nam gần 1000 năm rồi mà lại để tuột tay mất, để đến bây giờ vấn đề Biển Đông gặp quá nhiều trở ngại và giấc mộng "Trung Hoa vĩ đại" không biết sau 50 năm nữa có hoàn thành được không?
Riêng đối với Việt Nam, những cái đầu theo chủ nghĩa dân tộc bành trướng này đã tổng kết và phê phán tổ tiên họ: i, Tổ tiên họ tập trung quá nhiều nguồn lực lên hướng Bắc, sao lãng hướng Nam. ii, Tổ tiên họ không nhất quán trong đường lối cai trị, giáo hóa người Việt. iii, Chính quyền trung ương luôn luôn sa vào tình trạng tranh giành quyền lực, trong khi đó Việt Nam lại ở quá xa, không quản lý được những viên quan tham lam vô độ, không có tầm nhìn địa chính trị.iiii, Cuối cùng là tổ tiên họ quá nhân từ không mạnh tay đàn áp. Nói như cách nói của Tập Cận Bình đe dọa người Đài Loan và Hồng Kông là “kẻ nào muốn ly khai thì sẽ tan xương nát thịt”...
Nói tóm lại là những kiến giải của họ đều mang nặng tư tưởng thiên hạ là của họ nên không hiểu rằng chính ý thức dân tộc tự lực, tự cường của người Việt, chính sự khác biệt về văn hóa, chính chính sách cai trị và đồng hóa hà khắc, dã man, tàn độc như Nguyễn Trãi viết trong bài Cáo bình Ngô: “chặt hết trúc Lam Sơn không ghi hết tội, Tát cạn nước Đông hải không rửa hết mùi” đã khiến dân tộc Việt phải vùng lên đấu tranh trong suốt gần một thiên kỷ, để đến năm 938 vua Ngô Quyền chính thức mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt.
Trung Quốc không áp đặt được sự thống trị của họ ở Việt Nam bởi vì họ là kẻ xâm lược, phi nghĩa. Tổ tiên họ đã vấp phải một dân tộc biết đoàn kết, kiên cường. Họ hoàn toàn nhầm lẫn, không phải tổ tiên họ đã để vuột mất Việt Nam mà họ không thể biến Việt Nam thành một quận huyện của họ được. Không biết bao nhiêu lần Trung Quốc đã tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Không một triều đại nào, không một chính thể nào của Trung Quốc không xâm lựợc Việt Nam. Tàu Tần, Tàu Hán, Tàu Tống, Tàu Nguyên, Tàu Minh, Tàu Thanh, Tàu Tưởng, Tàu Mao đều đã xâm lược Việt Nam nhưng họ đều không nuốt nổi mảnh đất hình chữ S. Tổ tiên họ, cha ông họ ngày trước đã như vậy, bây giờ và tương lai cũng vẫn sẽ như vậy.
Mong rằng các học giả, tướng lĩnh, các chính trị gia mang nặng tư tưởng Đại Hán Trung Quốc hãy chịu khó đọc lại lịch sử của chính dân tộc mình và lịch sử của nhân loại, nên suy ngẫm bài học trong quá khứ để tương lai nhân dân hai nước Việt-Trung luôn được sống trong hòa bình.
Read More

Mỹ đã làm gì để giữ ngôi vị siêu cường

Leave a Comment
Trong thế giới đầy biến động, ở ngôi vị bá chủ/siêu cường, Đế quốc Mỹ luôn phải cạnh tranh với các đối thủ. Đó là quy luật trong quan hệ quốc tế từ xưa đến nay. Người Mỹ đã giữ ngôi vị của mình như thế nào sau khi giành ngôi vị bá chủ từ Đế quốc Anh, đế quốc từng có lãnh thổ thuộc địa trải rộng khắp thế giới với niềm tự hào là mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ của họ.
Vào những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Liên Xô đã vươn lên trở thành một siêu cường toàn cầu. Một loại hình chiến tranh mới, Chiến tranh Lạnh bắt đầu phôi thai (1946-1989). Thuật ngữ chiến tranh Lạnh nhằm chỉ tình trạng luôn luôn bên miệng hố chiến tranh, tình trạng xung đột chính trị, căng thẳng quân sự, cạnh tranh về kinh tế giữa Liên Xô cùng các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa và Mỹ cùng với các nước tư bản phương Tây. Tuy nhiên Liên Xô và Mỹ không chính thức xung đột vũ trang. Cả hai đều thông qua các liên minh quân sự, chạy đua vũ trang, vũ trang hạt nhân, chạy đua khoa học công nghệ, thúc đẩy các cuộc chiến tranh ủy nhiệm…
Mỹ đã đề ra chiến lược ngăn chặn Liên Xô trên tất cả các phương diện, nhưng tránh đối đầu trực tiếp, đảm bảo an ninh lâu dài cho nước Mỹ. Họ tin rằng, cùng với thời gian, sức mạnh của Liên Xô sẽ tự tiêu tan do những khiếm khuyết nội tại trong hệ thống xã hội. Chiến lược ngăn chặn của Mỹ vừa là điều kiện cần, vừa là điều kiện đủ. Và đúng như người Mỹ dự đoán, Liên Xô đã thất bại trong cuộc chạy đua đường dài, sụp đổ vào năm 1991, vì Liên Xô chỉ là một siêu cường về mặt quân sự.
Vào những năm 1980, người ta từng đưa ra dự báo về một Nhật Bản sẽ vươn lên nắm giữ vị trí hàng đầu và gia nhập vào câu lạc bộ siêu cường. Cuối cùng sau 30 mươi năm tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, tốc độ phát triển kinh tế của họ chững lại ở con số 0 đến con số 1 trong nhiều thập niên. Nhật chỉ là một cường quốc về kinh tế. Người Mỹ không phải đầu tư nguồn lực để đối phó với Nhật.
Vào lúc giao thời của hai thiên kỷ, một số chuyên gia nhận định Liên minh châu Âu (liên minh của 28 quốc gia thành viên) đang được củng cố và mở rộng, nổi lên như một siêu cường toàn cầu, có khả năng trở thành một cực trong hệ thống quan hệ quốc tế. Mỹ đã bắt đầu thi hành một số chính sách để kiềm chế EU. Đặc biệt ngăn cản khối này thành lập lực lượng quân sự riêng. Đến thời điểm hiện tại, EU đã chứng tỏ sự bất lực, chưa thể hợp nhất về chính trị thành một siêu nhà nước. EU tỏ ra không có khả năng giải quyết các thách thức trong nội bộ cũng như các thách thức toàn cầu. Họ không thể đoạt được ngôi vị của Mỹ.
Còn tay hai tay chơi mới, Trung Quốc bắt đầu từ những năm 2000, Nga bắt đầu từ những năm 2010, cả hai đang tỏ ra đầy tham vọng về mặt kinh tế, chính trị và quân sự. Họ cho rằng Mỹ đã bắt đầu suy yếu. Thế giới hiện tại là thế giới đa cực và họ đang cạnh tranh để trở thành những siêu cường trong tương lại gần.
Lịch sử chứng minh Đế quốc Mỹ đã từng hạ gục nhiều đối thủ như Anh (bằng cuộc chiến tranh giành độc lập và bằng ngoại giao), như Tây Ban Nha (bằng chiến tranh và bằng việc mua lại lãnh thổ của Tây Ban Nha trên chính đất Mỹ), như Pháp (bằng việc mua lại lãnh thổ thuộc địa của Pháp tương đương với 5 bang hiện nay trên chính đất Mỹ và bằng ngoại giao), như Liên Xô (bằng cuộc chiến tranh Lạnh). Người Mỹ giữ được ngôi vị bá chủ thế giới bằng chính nội lực của họ, bằng sức mạnh tổng hợp quốc gia, bằng tất cả những thủ đoạn kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao…
Hiện tại, đối thủ trước mắt của Mỹ là Trung Quốc, là Nga (trong chiến lược an ninh quốc gia năm 2018, Mỹ đã xác định Trung Quốc và Nga là hai quốc gia xét lại, đang muốn thay đổi trật tự thế giới, là đối thủ chiến lược). Liệu người Mỹ có thể vượt qua hai ngọn núi cao này? Trong chuyên luận này và một số bài viết sau tôi chỉ đề cập đến Mỹ và Trung Quốc. Thời gian tới tôi sẽ đề cập đến Mỹ và Nga.
Xét trên thế động, Trung Quốc đang tìm mọi cách vượt lên những khiếm khuyết, những thách thức để tăng cường năng lực nội tại, nhằm hiện thực hóa tham vọng trở thành sức mạnh toàn cầu. Nhưng không may cho Trung Quốc, nước Mỹ không muốn đánh mất cái ngôi vị siêu cường “number one”. Người Trung Quốc vốn có truyền thống thích “Đại” và họ đã có được nhiều cái “Đại” (Đại mỹ nhân, đại tửu lầu, đại lễ đường, đại nhảy vọt, đại công nghiệp)... Người Mỹ vốn có truyền thống thích “Siêu” (siêu mẫu, siêu nhân, siêu cúp, siêu thị, siêu cường)… và họ đã có được nhiều cái “Siêu”. Ngẫm kỹ nhiều cái đại vẫn chỉ là số lượng. Siêu mới là chất của sự vật. Theo quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chất mới là cái quyết định phát triển sự vật.
Ngay khi mối đe dọa Trung Quốc xuất hiện, vào những năm 2010 người Mỹ đã xoay trục về châu Á-Thái Bình Dương. 60% tiềm lực quân sự của Mỹ được huy động cho chiến lược ngăn chặn Trung Quốc. Họ đã ném sức mạnh quân sự của mình lên bàn cân có tính chất quyết định cho một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất trong thế kỉ 21. Khi Donald Trump trúng cử tổng thống, ông ta đã điều chỉnh Chiến lược xoay trục về châu Á-Thái Bình Dương bằng Chiến lược Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương rộng mở và tự do. Mục đích của chiến lược này là để kiềm chế Trung Quốc một cách hữu hiệu hơn.
Không nói đến sức mạnh vượt trội của hải quân, không quân và các phương tiện tên lửa từ các căn cứ của Mỹ ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippine và Australia bao quanh Trung Quốc và ở khắp các đại dương cùng với hàng trăm căn cứ quân sự khắp nơi trên thế giới, như bài trước tôi đã viết, chỉ cần với 5/16 chiếc tầu ngầm hạt nhân lớp Ohio đang hoạt động tự do như tại sân nhà ở Biển Đông và Hoa Đông mà Trung Quốc không phát hiện được cũng đã đủ hủy diệt toàn bộ Trung Quốc (Tầu ngầm hạt nhân lớp Ohio có 4 máy phóng ngư lôi cỡ 533 mm và tên lửa liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân Trident 2 đặt trong hệ thống ống phóng thẳng đứng. Mỗi tầu ngầm được trang bị hệ thống tác chiến điện tử hiện đại nhất thế giới. Gần như không có phương tiện quân sự tiên tiến nào theo dõi được. Với tốc độ 17 hải lí/h, ở độ sâu dưới biển 550 m, một tàu ngầm có thể phóng 154 tên lửa Tomahowk và 18 đầu đạn hạt nhân cùng một lúc trong khoảng thời gian 5 phút. Tổng cộng Mỹ có 16 chiếc tầu ngầm như vậy ở các đại dương không nằm trong biên chế của các hạm đội).
Song song với kế hoạch chiến lược quân sự, vào những năm 2010 Mỹ cũng đã ráo riết hoàn tất Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 12 quốc gia nhằm đạt được thỏa thuận thương mại tự do, với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương không có Trung Quốc. Sau hàng thập niên WTO thất bại trong các vòng đàm phán tự do thương mại, Mỹ và một số nước đã lập ra một sân chơi mới để đối phó với Trung Quốc về mặt kinh tế. Đó là những thỏa thuận toàn diện, bao quát tất cả các khía cạnh chính về thương mại tự do từ xuất nhập khẩu đến đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. TPP dự định hoàn tất vào cuối năm 2015 và đi vào thực tế năm 2018. Với những tính toán về quân sự và kinh tế như vậy, trong tương lai Mỹ vẫn có thể kiềm chế Trung Quốc kéo dài đến mức gây tổn thất khiến đối thủ không thể chịu đựng được. Rất đáng tiếc Donald Trump bước chân vào nhiệm sở đã vứt bỏ TPP, một cái cốt vật chất mà người tiền nhiệm Barack Obama đã dày công xây dựng.
Thay cho việc ký kết TTP, Tổng thống Trump đã phát động cuộc chiến tranh thương mại từ ngày 23/3 năm 2018 đến nay. Chính quyền Mỹ đã sử dụng đòn bẩy kinh tế như một công cụ chính sách để cắt giảm dòng tiền thương mại với Trung quốc, ngăn chặn gian lận thương mại, ngăn chặn nạn ăn cắp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Chính quyền Mỹ cũng bắt đầu ngăn cản các công ty công nghệ cao Mỹ hợp tác đầu tư với các công ty công nghệ cao Trung Quốc. Nhiều công ty của Mỹ đã chọn Trung Quốc là trung tâm của Châu Á và bây giờ họ đang thức tỉnh hành động rời khỏi Trung Quốc. Trung Quốc nhập khẩu từ Mỹ 200 tỷ đô la, trong khi xuất trên 500 tỉ đô la giá trị hàng hóa sang Mỹ mỗi năm. Chính dòng chảy thương mại Mỹ hình thành nên nền tảng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Người Mỹ đang ngăn chặn dòng tiền này. Hàng nghìn xí nghiệp của Trung Quốc đã phải đóng cửa. Hàng chục triệu người đã bị thất nghiệp. Tốc độ tăng trưởng suy giảm nghiêm trọng. Nếu như Mỹ ký Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương trước đó, thì chắc chắn Mỹ có thể đưa nền kinh tế của Trung Quốc đến bên bờ vực thẳm.
Vào đầu những năm 2000, tôi theo học môn Hoa Kỳ học với một chuyên gia, một giáo sư lịch sử Mỹ, ông đã trình bày trong lớp học “Mô hình hành vi Bismarck”, một tài năng chính trị vĩ đại nhất thế kỉ 19. Sau khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh với Đan Mạch, Áo, Pháp, ông đã thống nhất các bang của Đức trở thành Đế quốc Đức thống nhất hùng mạnh. Ông đã hình thành nên cục diện “cân bằng quyền lực”, trật tự Bismarck nổi tiếng, gìn giữ thành công nền hòa bình ở châu Âu từ năm 1871 đến 1914.
Ngay từ thời kỳ đó, Bismarck đã nhận thức được nước Đức có thể hủy diệt từng nước riêng biệt, nhưng nước Đức không thể làm như vậy với tất cả các đối thủ. Công thức của ông là: “Toàn bộ môn chính trị có thể quy thành công thức, hãy cố gắng đứng trong hàng ngũ 3 nước trên thế giới khi có một cán cân mong manh của 5 cường quốc đang chi phối thế giới (3/5). Đó là việc làm cần thiết để bảo vệ mình nhằm chống lại việc lập ra những liên minh thù địch”. Người Mỹ đã triệt để áp dụng công thức Bismarck. Theo Bismarck nếu cường quốc nào không làm theo được công thức trên thì khó mà tránh được sự tổn thương và dẫn đến thất bại.
Về lí thuyết, hiện nay có 5 nước ủy viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đang nắm quyền chi phối thế giới. Đó là Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Trung Quốc. Trên thực tế người ta thường nói đến 5 trung tâm quyền lực: Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nga, Trung Quốc, Nhật Bản. Theo công thức của Bismarck, Mỹ đã thực hiện vượt quá cái yêu cầu công thức đề ra. Còn Trung Quốc không biết sẽ cố gắng nằm ở đâu trong số 3 cường quốc và 3 trung tâm quyền lực trên. Thậm chí nằm trong số 2 nước liên minh với Trung Quốc, Trung Quốc cũng không thể thực hiện được, vì Trung Quốc không thể làm đồng minh với Nga. Tuyên bố gần đây nhất của Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov đã khẳng định “Nga và Trung Quốc không lập và sẽ không bao giờ lập đồng minh”.
Ở cấp châu lục, xét theo quan điểm địa chính trị của Bismarck, có 4 quốc gia và một tổ chức có ảnh hưởng, có thể nắm quyền chi phối khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Đó là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc và ASEAN. Không biết Trung Quốc nằm ở đâu trong số 3 trung tâm quyền lực ở khu vực này. Thậm chí nằm trong số hai nước liên minh với Trung Quốc, họ cũng không thể làm được.
Do lịch sử để lại, nước Mỹ là siêu cường còn lại duy nhất, chẳng cần phải cố gắng gì cũng nằm trong số 3 và 4 quốc gia có quan hệ liên minh tự nhiên từ trước đó. Phần lớn các cường quốc cấp toàn cầu cũng như cấp khu vực đều cần tới Mỹ, bằng cách này hay cách khác để đảm bảo khi phải chống lại một nước láng giềng mạnh nếu nước đó bước lên con đường tự khẳng định mình bằng sức mạnh cơ bắp.
Có một thực tế hiện nay là Mỹ có mối quan hệ với Nga (ngoại trừ vấn đề Ucraina), Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN tốt hơn mối quan hệ giữa các nước trên với nhau. Trong tương lai Mỹ có nhiều khả năng hơn bất cứ nước nào để làm cho các lực lượng trên thế giới cần đến Mỹ như một đối trọng với các nước láng giềng. Nhiều chuyên gia đã đặt câu hỏi không biết đến bao giờ Trung Quốc mới làm được điều tương tự như Mỹ?
Để duy trì vị trí đứng đầu, Mỹ thường ủng hộ một cường quốc “hạng hai” để kìm hãm sự vươn lên của những nước hàng đầu trong khu vực, để gây trở ngại cho sự bứt phá của các nước này dưới hình thức giống như liên minh với một nước để chống lại nước có tham vọng kiểm soát khu vực. Điều này vẫn đang xảy ra. Ở Tây Âu, Mỹ luôn ủng hộ nước Anh chống lại nước đứng đầu EU là nước Đức. Ở Đông Á Mỹ duy trì liên minh quân sự và kinh tế với Nhật Bản; ủng hộ Nhật Bản diễn giải hiến pháp, được quyền đưa quân ra nước ngoài, được xuất khẩu vũ khí để chống lại tham vọng của Trung Quốc. Mỹ cũng làm điều tương tự như vậy với Hàn Quốc để kiềm chế Trung Quốc. Ở Đông Âu Mỹ dẫn dắt NATO và vẫn đang ủng hộ Ucraina, Ba Lan bằng cách đó ngăn cản nước Nga trở thành nước đứng đầu khu vực. Ở Trung Đông, Mỹ ủng hộ Arab Saudi như một đối trọng với Iran… Riêng để đối phó với một Trung Quốc hung hăng, Mỹ còn có sự lựa chọn thêm Ấn Độ (nước có dân số xấp xỉ với Trung Quốc, nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới hiện nay, nước bắt đầu tăng cường quan hệ và vừa ký kết sử dụng chung cơ sở hậu cần quân đội với Mỹ), thậm chỉ cả một số nước Đông Nam Á để hình thành vòng “kim cô” từ Hàn Quốc qua Nhật Bản, Philippines, Australia đến Ấn Độ, để xiết chặt cái đầu nóng của Bắc Kinh nếu họ hành động vẽ lại bản đồ thế giới.
Đúng là nước Mỹ đang suy giảm sức mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự sau hai cuộc chiến kéo dài ở Afganistan và Iraq, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, nhưng nước Mỹ vẫn là một thách thức với tất cả các cường quốc trong đó có Trung Quốc. Kể cả khi Trung Quốc có xây dựng thành công cái mà họ gọi là “Chủ nghĩa xã hội đặc sắc” thì tôi vẫn không tin họ bước qua được vị trí của nước Mỹ trong vòng vài thập niên tới. Cái xã hội của họ cần phải tự lột xác nhiều lần. Hiện tại Mỹ là siêu cường ổn định, đi đầu trong nhiều lĩnh vực, vẫn chứng tỏ được vị thế của một một siêu cường, đang dẫn dắt quá trình phát triển của nhân loại, chứ không phải là Trung Quốc, một xã hội còn nghèo và lạc hậu, chưa đủ lông đủ cánh đã rắp tâm đi theo vết xe đổ bành trướng của chủ nghĩa thực dân…
Read More

Bài viết gửi Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện A Lưới

Leave a Comment
Tháng 7, tháng tri ân các anh hùng liệt sỹ đã khép lại. Tôi vẫn không thể nào quên mảnh đất A Sầu, A Lưới thấm đẫm máu xương của hàng nghìn, hàng vạn liệt sỹ trong suốt những năm tháng chống Mỹ cứu nước. Nhân dip này tôi xin được gửi một bài viết tới Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện A Lưới nhân kỷ niệm 50 năm trận đánh A Bia như một nén tâm nhang tri ân những người đã ngã xuống trên mảnh đất này.
A Bia, theo quan điểm của người Mỹ, là một trận đánh đã làm thay đổi cục diện chiến trường
Vài nét về địa bàn diễn ra các trận đánh thuộc huyện A Lưới
A lưới là một huyện miền núi phía Tây tỉnh Thừa Thiên, là quê hương của một số dân tộc thiểu số, là căn cứ cách mạng của tỉnh và của cả nước trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. A Lưới được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Những chiến công vang dội đi cùng năm tháng của Quân đội nhân dân Việt Nam trên vùng rừng núi thiên thời địa lợi rất giàu truyền thống cách mạng này không thể tách rời sự đóng góp của đồng bào các dân tộc miền núi.
Riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân nơi đây đã phải đương đầu với 3 sư đoàn thiện chiến nhất của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ: Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Sư đoàn Kỵ binh bay số 1, Sư đoàn Dù 101. Huyện A Lưới đã đóng góp hàng chục ngàn tấn lương thực, thực phẩm, hàng chục ngàn dân công hỏa tuyến, hàng triệu ngày công phục vụ hỏa tuyến. Nơi đây cũng đã cống hiến cho Tổ quốc 577 liệt sỹ, 1086 thương binh, 12 bà mẹ Việt Nam anh hùng , 19 tập thể anh hùng. Nơi đây cũng sản sinh ra nhiều cá nhân anh hùng như Anh hùng liệt sỹ A Vầu, Anh hùng liệt sỹ Ca Lối, Anh hùng Cu Trip, Hồ Vai, Kan Lịch, Kan Đơm, Bùi Hồ Dục, Hồ A Nun…
Non song đất nước sẽ mãi mãi ghi nhớ về vùng đất này. Lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi ghi nhớ về vùng đất này. Những ai đã từng trong quân ngũ, vượt Trường Sơn đi cứu nước sẽ không bao giờ quên được vùng đất này, bởi vùng đất này, người dân nơi này đã từng nuôi dưỡng họ, đùm bọc họ, che chở họ, rèn rũa họ trong những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nếu các tướng tá Mỹ hiểu rõ về vùng đất này, hiểu rõ về người dân nơi đâychắc họ sẽ có câu trả lời tại sao họ lại là kẻ thua cuộc, thua trong nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh, đặc biệt là trận đánh trên Động A Bia, trận mà người Mỹ gọi đó là Đồi Thịt băm, khi mà họ đã sử dụng tất cả sức mạnh hỏa lực của không quân, lục quân và hải quân, trút xuống hàng vạn tấn bom đạn tưởng như không một sinh vật nào có thể còn sống sót.
Đánh giá của phía Việt Nam và người Mỹ về trận A Bia thuộc A lưới
Với người Mỹ, trong lịch sử chiến tranh Việt Nam có 5 trận đánh kinh điển đi vào sử sách mà họ không thể nào quên . Đó là trận chiến Ia Drăng, trận Đắc Tô, Trận Khe Sanh, trận A Bia và trận trên điểm cao 935 hay còn gọi là Ripcord. Trên dưới 50 năm đã trôi qua, chúng ta có đủ thời gian để khẳng định lại tầm quan trọng của các trận đánh trên trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.
Tôi đã mua vài cuốn sách ở Mỹ viết về trận đánh trên Động A Bia mà người Mỹ gọi là “Đồi Thịt băm” (Humburger Hill) để tặng Sư đoàn 324 và tặng Trung đoàn 3 Sư 324, sư đoàn và trung đoàn đã làm nên hai chiến thắng lừng lẫy vào trung tuần tháng năm 1969. Tác giả của cuốn Đồi Thịt băm là Samuel Zafiri. Ông nguyên là lính bộ binh thuộc Sư đoàn Bộ binh số 1, sư đoàn nổi tiếng với tên gọi Anh cả Đỏ (The famed Big Red) trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Hiện ông sống ở Bloomington bang Illinois.
Zaffiri là người am hiểu tình hình thực tế chiến trường, làm việc rất nghiêm túc với nhiều sỹ quan, binh sỹ tham gia trực tiếp Chiến dịch Tuyết rơi trên đỉnh Apatche, một chiến dịch đánh lên Động A Bia thuộc huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên. Chuẩn bị viết cuốn Đồi Thịt băm, Zafiri đã tiếp cận với một kho dữ liệu về các cuộc chiến đấu ở Mặt trận Trị Thiên trong Thư viện của Học viện Lịch sử Chiến tranh Quân đội Hoa kì cùng với hàng trăm cuốn sách, báo cáo viết về chiến tranh Việt Nam của các tướng tá Mỹ. Vì vậy, khi viết cuốn sách này, ông đã đi sâu mô tả một cách sinh động, xác thực cuộc đọ sức vô cùng quyết liệt trên Động A Bia giữa Lữ đoàn Dù 3 khét tiếng thuộc Sư đoàn Dù số 101 thiện chiến của Mỹ với Trung đoàn 3 anh hùng thuộc Sư đoàn 324 anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Qua nghiên cứu một số tài liệu Lịch sử quân đội, Lịch sử Sư đoàn 324 và các cuốn hồi ký của các tướng tá, cá nhân tôi thấy phía Việt Nam lại không đánh giá cao giá trị trận chiến trên Đồi A Bia như phía Mỹ, cả ở mục tiêu cũng như ý nghĩa của trận đánh. Trận A Bia không được xếp vào trận đánh lớn có ý nghĩa cấp chiến dịch. Lần lại 50 năm trước, mặc dầu xác định quyết tâm và tầm quan trọng của trận đánh nhưng Quân khu Trị Thiên và Sư đoàn 324 cũng chỉ huy động lực lượng đánh A Bia ở mức trung đoàn.
Trung đoàn 3 Sư 324 vào trận A Bia với phương án vận động tấn công kết hợp chốt, tạo dựng cụm chốt liên hoàn, thu hút quân Mỹ vào sâu để tạo điều kiện cho các đại đội, tiểu đoàn cơ động tấn công, tập kích vào quân Mỹ đóng dã ngoại và quân ứng cứu. Mục đích của Sư đoàn 324 củng chỉ dừng lại ở mức tiêu diệt nhiều Mỹ, ngụy để hỗ trợ cho cơ sở cách mạng ở vùng đồng bằng, củng cố lòng tin đối với chủ lực ta đang đánh địch ở vùng rừng núi… Tổng kết chiến thắng A Bia Quân khu Trị Thiên cũng chỉ đánh giá trận đánh đạt hiệu suất cao, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, mở đầu cho giai đoạn khôi phục lại thế trận xuống đồng bằng…
Theo quan điểm của người Mỹ, trận A Bia là “một trận chiến đấu ác liệt nhất, khủng khiết nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam”, một cuộc chiến đấu đã gây chia rẽ sâu sắc giới Chính quyền Mỹ, làm rung động giới truyền thông và người dân Mỹ, làm giấy lên sự phản kháng dữ dội tại Thượng viện Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nó được ví có ảnh hưởng như cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu thân năm 1968 đối với nước Mỹ.
Rõ ràng phía quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam có cái nhìn rất khác nhau về trận đánh này.
Bối cảnh dẫn đến trận chiến trên Động A Bia
Zaffiri đã đề cập đến toàn bộ bối cảnh, các kế hoạch tác chiến, những trận chiến đấu và chiến dịch lớn từ đẩu từ những năm 1960 đến đầu năm những 1970. Mục tiêu của tất cả các kế hoạch, những trận chiến đấu của Mỹ, ngụy ở A Lưới là phải kiểm soát được Thung lũng A Sầu, một thung lũng có ý nghĩa chiến lược với cả hai phía. Chân dung lực lượng Thủy quân lục chiến, Sư đoàn kỵ binh bay, Sư đoàn Dù lần lượt xuất hiện trên chiến trường Trị Thiên, đặc biệt là ở thung lũng A Sầu, A Lưới với kế hoạch giải cứu quân ngụy ở ba căn cứ tại Tà Bạt, A Sầu và một làng ở A Lưới cùng với nhiều chiến dịch đánh vào A Sầu, A Lưới với mục tiêu tìm diệt lực lượng quân giải phóng, phá hủy toàn bộ hệ thống kho tàng hậu cần, cắt đứt con đường chiến lược vận chuyển vào sâu phía nam.
Cuộc chiến giữa quân Mỹ và lực lương quân giải phóng thực sự bắt đầu vào tháng 12 năm 1965 ở A Lưới. Quân giải phóng đã bao vây ba căn cứ trên với những cuộc tấn công bằng bộ binh, kết hợp với sự yểm trợ bằng hoả lực cối. Quân ngụy đã buộc phải bỏ hai căn cứ, chỉ còn cố thủ ở một căn cứ tại A Sầu do các cố vấn Mỹ chỉ huy. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1966, quân giải phóng mở hàng rào dây thép gai và công kích. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Hai bên giành giật từng tấc đất. Sau hai ngày tấn công liên tục, vành đai phòng thủ của quân ngụy bị chọc thủng và chúng phải tháo chạy.
Quân Mỹ, ngụy đã tranh giành nhau lên trực thăng di tản một cách hỗn loạn. Để thoát thân, cố vấn Mỹ đã dùng súng tiểu liên bắn vào đám tàn quân ngụy để lên máy bay. Ngay từ trận quyết chiến đó, người Mỹ đã nhận xét “Không có một khu vực chiến sự nào khác trên đất nước này làm cho người ta đông máu lại giống như ở Thung lũng A Sầu”.
Theo người Mỹ, sau khi quân giải phóng tiêu diệt ba căn cứ trên địa bàn A Lưới, không có một căn cứ nào được xây dựng ở Thung lũng A Sầu. Về cơ bản quân Mỹ, ngụy đã không “để ý” đến A Sầu trong hai năm (thực chất là không thể kiểm soát được A Sầu). Chúng chỉ sử dụng lực lượng không kích và dùng phi pháo tầm xa để khống chế lực lượng “Cộng sản”.
Quân giải phóng đã biến khu vực này thành một cơ sở hậu cần khổng lồ. Mặc dầu thám báo và trinh sát trên không đã phát hiện ra việc quân giải phóng mở rộng hệ thống mạng lưới đường mòn, phát hiện những đoàn xe di chuyển trên những con đường chưa được ngụy trang, các hang động cất dấu vật liệu quân sự, các kho quân nhu, các vị trí chiến đấu trên núi cao… tuy nhiên Tướng Wesmoreland không nhận thấy những gì rất nghiêm trọng xảy ra ở Thung lũng A Sầu (thực ra là biết được điều đó nhưng không thể làm được gì khác). Vị chỉ huy sân khấu chiến trường của Mỹ ở miền Nam tin tưởng rằng các đô thị và vùng đồng bằng ven biển đã nằm trong tầm kiểm soát với các chiến dịch tìm diệt và bình định. Ông ta bắt đầu âm thầm chuẩn bị mở các chiến dịch lên các thành trì của đối phương nơi rừng núi như A Sầu thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đã nổ ra.
Sau tết Mậu Thân, Wesmoreland tập trung tấn công vào A Lưới, A Sầu để trả thù cho những thất bại trong năm 1968. Nhiệm vụ của quân Mỹ là phá hủy các căn cứ hậu cần quan trọng của quân giải phóng, đẩy lực lượng quân giải phóng sang bên kia biên giới Lào, ngăn chặn quân giải phóng có thể mở một cuộc tấn công tương lai vào Huế như năm 1968. Nhiệm vụ này được giao cho Sư đoàn Kỵ binh bay số 1, sau đó là Sư đoàn Dù.
Trong số hai sư đoàn Thủy quân lục chiến và bảy sư đoàn bộ binh tham chiến ở miền Nam Việt Nam thì Sư đoàn Thủy quân lục chiến đã nếm đòn thất bại ở A Sầu. Wesmoreland đã cân nhắc, đặt niềm tin vào Sư đoàn Kỵ binh bay, sau đó là Sư đoàn Dù 101, hai sư đoàn là niềm kiêu hãnh của quân đội Mỹ. Cả hai sư đoàn này đều trực tiếp tiến hành các chiến dịch ở miền tây Thừa Thiên nhằm thực hiện ý đồ chiến lược của tổng chỉ huy lực lượng quân đội viễn chinh Mỹ, nhưng quân Mỹ đều bị sa lầy A Sầu, A Lưới và các huyện miền núi phía tây tỉnh Thừa Thiên.
Sau khi được thông qua kế hoạch, các lực lượng tác chiến của Sư đoàn Kỵ binh bay Mỹ bắt đầu vào chiến dịch với năm ngày liên tục không kích, kể cả việc sử dụng máy bay ném bom chiến lược B52. Hai tiểu đoàn tấn công hàng đầu của Sư đoàn Kỵ binh bay đã đổ bộ xuống khu vực A Sầu vào ngày 19 tháng Tư năm 1968. Cuộc tấn công mang mật danh Chiến dịch Delaware.
Đợt đổ bộ đầu tiên của quân Mỹ không gặp nhiều khó khăn, nhưng các đợt tiếp theo, khi máy bay trực thăng bay xuyên qua những đám mây thấp, súng máy các loại, đặc biệt là 12,7 ly, kể cả súng phòng không 37 của quân giải phóng bắn trả dữ dội. Mười chiếc trực thăng bị bắn rơi, hai mươi ba chiếc bị hư hỏng nặng. Người Mỹ phải thừa nhận “Không có một chiến dịch nào trước đó (quân đội Mỹ) phải trải qua lưới lửa phòng không của đối phương mạnh như vậy”. Tướng năm sao Wesmoreland phải vội vàng áp đặt tình trạng phong tỏa thông tin về chiến dịch Delaware để che dấu thất bại.
Mặc dầu lùng sục khắp thung lũng A Sầu với hai lữ đoàn và một trung đoàn biệt phái từ Sư đoàn bộ binh số 1 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nhưng chiến dịch thọc sâu với những cuộc tấn công của Mỹ, ngụy đã chấm dứt sau 28 ngày mà không thu được kết quả “như mong muốn”. Thực tế đó là một thất bại. Quân Mỹ, ngụy không nắm được quyền kiểm soát Thung lũng A Sầu. Chúng thừa nhận “hỏa lực phòng không của quân giải phóng quá hiệu quả. Thời tiết miền núi lại quá xấu… đối phương nhanh chóng xuất hiện từ trong các hang động hoặc lặng lẽ di chuyển từ bên kia biên giới Lào để giành lại Thung lũng A Sầu”.
Trận chiến ở A Sầu và Động A Bia của Sư đoàn Dù Mỹ
Bước tiếp theo ngay sau đó, Sư đoàn Dù 101 được lệnh chuẩn bị đánh chiếm A Sầu. Vào tháng Tám năm 1968, Tướng Creighton W. Abraham, người thay thế Tướng 5 sao Wesmoreland làm tổng chỉ huy chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam, ông ta đã ra lệnh cho Sư đoàn Dù Mỹ tiến hành cuộc tấn công tiếp tục chặn đứng “quân Bắc Việt” sau chiến dịch Delaware.
Theo Zaffiri, lần này Tướng Stilwell, Tư lệnh quân đoàn 24 đã xây dựng một kế hoạch đầy tham vọng bao gồm 4 chiến dịch (Dewey Canyon, Masachusetts Striker, Apatche Snow, Montgomery Rendezvours), trong đó chiến dịch then chốt Tuyết rơi trên đỉnh Apatche (Apatche Snow) đánh lên Động A Bia nhằm kiểm soát thung lũng A Sầu, nhằm thực hiện các kế hoạch đã đề ra từ trước đó là phá hủy hệ thống kho hậu cần, cắt đứt tuyến đường hậu cần tiếp tế vào nam, đẩy lực lượng quân giải phóng sang bên kia biên giới Lào, ngăn chặn từ xa đề phòng một Mậu Thân 1968 tiếp theo.
Với kế hoạch này, chúng cho rằng “điều cần thiết bảo vệ thung lũng A Sầu là một lực lượng thường trực. Với những mối hiểm nguy khi tiếp tế bằng đường hàng không, điều cần thiết để duy trì một lực lượng thường trực là một con đường đi lại trong mọi thời tiết” từ căn cứ hậu cần của chúng tới A Sầu. Và chúng đã xây dựng một con đường từ hậu cứ của chúng tới chân những ngọn đồi trong thung lũng. Stilwell đã tung vào khu vực hầu hết lực lượng của 2 sư đoàn, Sư đoàn Thủy quân lục chiến và Sư đoàn Dù cùng với nhiều đơn vị không quân, pháo binh với sự hỗ trợ trên quy mô lớn nhất về hỏa lực, kể cả sử dụng nhiều máy bay ném bom chiến lược B52.
Theo Zafiri, Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn Dù đã đi sâu vào A Sầu vào ngày 12 tháng Ba năm 1969. Trước đó đã diễn ra một số trận đánh rất ác liệt. Cả hai bên đều thể hiện rõ quyết tâm của mình. Khác với những trận chiến trước đó, quân giải phóng thường rút lui bảo toàn lực lượng. Lần này “quân Bắc Việt” đã trụ lại và chiến đấu với quân Mỹ.
Để gây thêm áp lực, hai ngày sau, Lữ đoàn 3 thuộc Sư Dù Mỹ tiếp tục tiến quân vào A Sầu. Quân Mỹ lại tiếp tục thực hiện những cuộc không kích trên quy mô rộng lớn trước khi bắt đầu chiến dịch Tuyết rơi trên đỉnh núi nhằm cắt đứt đường rút lui của đối phương trong thung lũng. Một tiểu đoàn Mỹ đã tìm thấy Trung đoàn 3 Sư 324 đã đào hầm hào trên một điểm cao trong khu rừng rậm giữa núi rừng phía tây A Sầu. Điểm cao này theo người Mỹ, nó “được biết đến với cái tên là Động A Bia, và được đánh dấu là đồi 937 trên bản đò địa hình, chiều cao của nó biểu thị bằng màu sắc cao hàng trăm mét trên mực nước biển”.
Trong chiến dịch Tuyết rơi trên đỉnh Apatche, hai tiểu đoàn Mỹ, một tiểu đoàn Ngụy trực tiếp tấn công lên Động A Bia với sự huy động tối đa về hỏa lực. Chỉ tính từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 13 tháng 5 năm 1969, tức có 4 ngày, chi viện riêng cho một tiểu đoàn, Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 187 của Mỹ, quân Mỹ đã nhận được sự hỗ trợ ngày đêm của 4 trận địa pháo: Một trận địa pháo 105mm, một trận địa pháo 155mm, một trận địa pháo 175, một trận địa pháo kích 8 inch với hàng vạn quả đạn, cộng với 271 cuộc không kích với hàng ngàn tấn bom quân Mỹ giội xuống Đồi A Bia. Quân Mỹ cho rằng sẽ không thể có một sinh vật nào còn sống sót trên và xung quanh quả đồi. Đất đá tơi vụn như bột tới gần nửa mét, thế nhưng quân Mỹ vẫn không thể nào “tiến lên được ngọn núi”.
Hai tiểu đoàn Mỹ đã phải đi qua cái cối xay thịt để đánh chiếm một quả đồi. Bảy cuộc tấn công từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 5, trong đó sáu cuộc tấn công thất bại… Sự tổn thất nặng nề trong trận chiến trên Đồi A Bia đã làm cho quốc hội Mỹ náo loạn, bất hòa, chia rẽ, buộc Lầu Năm Góc phải định hình lại cách chỉ đạo toàn bộ cuộc chiến tranh trên bộ của quân Mỹ ở Việt Nam. “Quân đội hiểu phải theo đuổi cuộc chiến đấu sau trận chiến trên trên Động A Bia là giảm thiểu tổn thất lính Mỹ còn quan trọng hơn so với việc đến gần kẻ địch”.
Đó là giá trị cực kỳ to lớn của Trận chiến đấu của Trung đoàn 3 trên Đông A Bia. Qua trận chiến này, chiến lược gây áp lực tối đa cộng với việc sử dụng hỏa lực tối đa của Mỹ từ khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam đã chính thức thất bại. Nó là cột mốc để Chính quyền Mỹ nhanh chóng thúc đẩy việc thực hiện Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, nhanh chonhs rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Kể cả sau khi các đơn vị quân giải phóng rút đi, quân Mỹ chiếm được Động A Bia, nhưng chỉ chưa đầy một tháng sau, quân Mỹ vẫn phải rút quân khỏi A Sầu, buộc phải thừa nhận “Quyền kiểm soát Thung lũng A Sầu thuộc về Bắc Việt”. Và trên thực tế, quân đồng minh chưa bao giờ thực sự nắm được quyền kiểm soát Thung lung A Sầu. “Giấc mơ” của hai đời Tổng Tư lệnh quân đội Viễn chinh Mỹ ở Việt Nam là Wesmoreland và Abrams nhằm kiểm soát Thung lũng A Sầu mãi mãi chỉ là “một giấc mơ”. Trung đoàn 3, Sư đoàn 324 chốt giữ A Bia đã góp phần quyết định để làm nên chiến thắng lịch sử này.
Kết luận
Đánh giá về trận A Bia người Mỹ có rất nhiều cuộc tranh cãi. Tác giả cuốn Đồi Thịt Băm đã viết: “Tranh cãi về trận Hamburger Hill đã dẫn đến một đánh giá lại về chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Như một kết quả trực tiếp để giữ thương vong không cao quá mức, Tướng Abram ngừng chính sách gây áp lực tối đa chống lại quân giải phóng. Trong lúc đó Tổng thống Nixon đẩy mạnh thực hiện chiến lược mới là Việt Nam hóa chiến tranh và tuyên bố đợt đợt rút quân viễn chinh đầu tiên. Mặc dầu trận đánh chỉ thiệt hại ở mức tiểu đoàn, song nó đã trở thành một bước ngoặt trong chiến tranh Việt Nam.
Có thể nói trong cuốn Đồi Thịt băm về mặt khách quan, đã phản ánh sự thất bại của các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, đặc biệt là sự phá sản của Chiến lược Chiến tranh đặc biệt, Chiến lược Chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Việt Nam. Trong đó, trận chiến trên động A Bia là dấu chấm hết cho Chiến lược Chiến tranh cục bộ, chuyển sang giai đoạn Mỹ thực hiện Chiến lược Việt Nam hóa Chiến tranh và mở rộng cuộc chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Lầu năm góc, các tướng lĩnh Mỹ và người Mỹ thừa nhận và ngầm hiều cái Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, chiến lược “thay đổi màu da xác chết” chẳng qua là để kéo dài thời gian, cứu vớt danh dự cho quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam. Như vậy là Quân và dân huyện A Lưới, Sư đoàn 324 đã góp phần quyết định làm nên cái kỳ tích mà người Mỹ đã thừa nhận trong cuốn sách Đồi Thịt băm.
50 đã trôi qua, tôi nghĩ đã đến lúc giới nghiên cứu lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, giới sử học, các tướng lĩnh cần nhìn nhận lại tầm vóc của trận đánh A Bia. Người Mỹ đã viết khá nhiều về trận A Bia, một trong 5 trận đánh kinh điển trong chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ đã viết một cuốn sách dày gần 400 trang về trận đánh A Bia, cuốn Humburger Hill (Đồi Thịt băm). Người Mỹ cũng đã dựng một bộ phim dài về trận đánh A Bia. Còn phía Việt Nam thì quá khiêm tốn với trận chiến này.
Tôi đề nghị quân đội, các cấp chính quyền tỉnh Thừa Thiên, huyện A Lưới nên xây dựng tượng đài chiến thắng A Bia trên Đồi A Bia để vinh danh một chiến thắng có ý nghĩa to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, để tưởng nhớ công lao to lớn của quân và dân huyện A Lưới, của hàng ngàn anh hùng liệt sỹ , trong đó có các anh hùng liệt sỹ Sư đoàn 324 và giáo dục truyền thống anh hùng bất khuất của quân và dân ta cho các thế hệ mai sau.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.