Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Cuộc chiến không gian vũ trul 2.0

Leave a Comment

 Cuộc chiến không gian 2.0

Gần 7h sáng ngày 11/4 con gái từ Mỹ gọi về. Tôi vội bật chế độ video và thắc mắc không biết có việc gì lại gọi vào giờ này. Thì ra con gửi đường link, thông báo sự kiện truyền hình trực tiếp con tàu Orion trong chương trình Artemis 2 sắp trở về trái đất. Sự kiện này không chỉ thu hút người dân Mỹ, giới khoa học mà còn thu hút sự quan tâm của giới quan sát chính trị quốc tế.
Với tôi, người đã nhiều năm quan tâm về Quan hệ Quốc tế, từng tìm hiểu cuộc đua lên mặt trăng giữa hai siêu cường Liên Xô và Mỹ trong chiến tranh Lạnh từ cuối thập niên 1950 đến đầu thập niên 1970, nay lại bắt đầu “mục sở thị” một cuộc chạy đua mới giành ưu thế không gian mới giữa Mỹ và Trung Quốc, một siêu cường đang cố giữ vị thế số 1 với một siêu cường đầy tham vọng thay thế trật tự thống trị của Mỹ. Cuộc chiến giữa hai cường quốc này được các nhà quan sát quốc tế gọi là phiên bản Cuộc chiến không gian 2.0.
Phản ứng với sự kiện Sputnic 1 (vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới do Liên Xô chế tạo và phóng lên không gian), Tổng thống JohnF. Kennedy phát động Chương trình Apollo (phiên bản Cuộc chiến không gian 1.0). Phản ứng với sự phát triển của Trung Quốc, chương trình lần này, Chương trình Artemis (phiên bản cuộc chiến không gian 2.0) do Tổng thống Donald Trump phát động vào tháng 12 năm 2017 trong nhiệm kỳ đầu. Nội dung Chương trình Artemis bao gồm những điểm gì?
Trong thần thoại Hy Lạp, Artemis là nữ thần Mặt Trăng. Bà là chị em song sinh với Apollo (vị thần Mặt Trời). Việc NASA đặt tên Artemis mang tính biểu tượng cao: Nếu như chương trình Apollo những năm 1960 - 1970 đã đưa những người đàn ông đầu tiên của Mỹ lên Mặt Trăng thế kỷ 20, thì Artemis được xem là những "người chị em" tiếp nối sứ mệnh đó trong thế kỷ 21.
Chương trình Artemis là một chiến dịch thám hiểm mặt trăng đa quốc gia do Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) dẫn đầu, với sự hợp tác của các đối tác quốc tế như châu Âu, Nhật Bản và Canada. Chương trình này cạnh tranh đối đầu với Chương trình Hằng Nga của Trung Quốc, bao gồm các thành phần công nghệ cốt lõi: Tàu vũ trụ Orion: Nơi phi hành đoàn sinh sống và làm việc trong không gian; Hệ thống Phóng Không gian: Tên lửa mạnh nhất thế giới hiện nay để đẩy tàu Orion ra khỏi quỹ đạo Trái Đất; Trạm Gateway: Một trạm vũ trụ nhỏ quay quanh Mặt Trăng, đóng vai trò như một "trạm trung chuyển" cho các phi hành gia trước khi đáp xuống bề mặt mặt trăng.
Mục đích sâu xa của chương trình Artemis không chỉ dừng lại ở việc cắm cờ hay để lại dấu chân như thời Apollo, Artemis mang những mục tiêu chiến lược và dài hạn là xây dựng sự hiện diện bền vững:
(i) Mục tiêu ngắn hạn là đưa con người trở lại Mặt Trăng vào năm 2028 (bao gồm việc đưa người phụ nữ đầu tiên và người da màu đầu tiên) để thiết lập một căn cứ lưu trú lâu dài;
(ii) Khai thác tài nguyên ngoài Trái Đất: Mặt Trăng chứa đựng những nguồn tài nguyên quý giá, đặc biệt là nước đá ở các hố đen vĩnh cửu tại cực Nam. Nước có thể được tách thành oxy để thở và hydro để làm nhiên liệu tên lửa. Đây là chìa khóa để con người không còn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung cấp từ Trái Đất;
(iii) Xây dựng "Bàn đạp" tới Sao Hỏa (Đây là mục đích cốt lõi nhất. NASA coi Mặt Trăng là một phòng thí nghiệm sống. Tất cả những công nghệ về hệ thống hỗ trợ sự sống, bảo vệ chống bức xạ và vận hành thiết bị trên địa hình khắc nghiệt sẽ được thử nghiệm tại đây;
(iv) Khẳng định vị thế và kinh tế không gian.
Ngoài ra Artemis còn nhằm thiết lập một khung pháp lý quốc tế (Hiệp định Artemis) về việc khai thác không gian hòa bình. Nó thúc đẩy nền kinh tế không gian mới, nơi một số công ty tư nhân Mỹ (như SpaceX hay Blue Origin) cùng tham gia vận chuyển và xây dựng hạ tầng, mở ra kỷ nguyên thương mại hóa vũ trụ.
Tôi còn nhớ, cuộc đua lên Mặt Trăng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1950 trước đây không chỉ là một cuộc cạnh tranh về khoa học kỹ thuật, mà còn là một cuộc đối đầu về ý thức hệ, tầm ảnh hưởng chính trị và sức mạnh quân sự trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Tiếng súng khởi đầu từ sự kiện Sputnik năm 1957 khi Liên Xô phóng thành công Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên, gây chấn động nước Mỹ. Nước Mỹ không còn an toàn với hai đại dương bảo vệ là Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Người Mỹ bàng hoàng nhận thông tin trên, gọi đây là Sự kiện "Sputnik Crisis". Tiếp theo năm 1961 Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên bay vào không gian. Liên Xô trở thành người đi tiên phong thám hiểm không gian vũ trụ và giành ưu thế phóng đầu đạn hạt nhân bằng tên lửa (trước là phương tiện máy bay).
Trong bối cảnh đó Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy đã tuyên bố trước Quốc hội Mỹ rằng Hoa Kỳ sẽ đưa người lên Mặt Trăng và trở về an toàn trước khi thập kỷ 1960 kết thúc. Cuộc chạy đua kéo dài hơn một thập kỷ. Cuộc đổi đầu đã đảo chiều vào giữa thập niên 1960 do một số yếu tố nội tại thuộc Liên Xô. Kế hoạch của Liên Xô bị trì trệ, phá hủy hy vọng đưa người lên Mặt Trăng trước Mỹ. Chương trình Apollo 11 (20/7/1969) của NASA đã đưa Neil Armstrong và Buzz Aldrin đặt chân lên Mặt Trăng.
Phiên bản 1.0 được coi là chiến thắng quyết định của người Mỹ trong cuộc đua giữa hai siêu cường trong trật tự hai cực Ianta. Việc làm chủ không gian được xem là bằng chứng cho sự ưu việt của hệ thống chính trị và trình độ khoa học của mỗi quốc gia. Cuộc đua đã thúc đẩy những tiến bộ vượt bậc về máy tính, vật liệu chịu nhiệt, viễn thông và y học không gian mà chúng ta đang hưởng lợi ngày nay.
Bước sang thế kỷ thứ 21 Trung Quốc phát triển trở thành một thách thức với Mỹ. Họ đã vươn lên trở thành một thế lực vũ trụ hàng đầu với những bước tiến thần tốc, đi sau nhưng đang dần bắt kịp và thậm chí dẫn đầu trong một số lĩnh vực cụ thể. Khác với cuộc đua mang tính đối đầu thời Chiến tranh Lạnh, chương trình của Trung Quốc được đánh giá là mang tính kế hoạch dài hạn và kiên định, chương trình của một quốc gia là công xưởng thế giới, thặng dư thương mại hơn một nghìn tỷ USD với dự trữ quốc gia lớn nhất thế giới.
Đầu tiên là Chương trình Thám hiểm Mặt Trăng (Hằng Nga). Đây là chương trình Trung Quốc đạt được nhiều "kỳ tích" nhất, khiến thế giới phải kinh ngạc. Với chương trình Hằng Nga 4 (2019), Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên và duy nhất tính đến nay hạ cánh thành công tàu thăm dò xuống phía xa của Mặt Trăng (phía tối), nơi sóng vô tuyến từ Trái Đất không thể tới trực tiếp. Với chương trình Hằng Nga 5 (2020), Trung Quốc lấy thành công mẫu đất đá từ Mặt Trăng mang về Trái Đất, đưa Trung Quốc trở thành nước thứ ba làm được điều này (sau Mỹ và Liên Xô).
Đặc biệt là chương trình Hằng Nga 6 (2024), Trung Quốc Ghi dấu ấn lịch sử khi lần đầu tiên con người thu thập được mẫu vật từ phía xa của Mặt Trăng và đưa về Trái Đất an toàn. Các mẫu vật này hiện đang giúp các nhà khoa học giải mã sự khác biệt địa chất giữa hai mặt của mặt trăng. Và chương trình Hằng Nga 7 (Dự kiến 2026) sẽ được triển khai nhằm tìm kiếm nước đá tại cực Nam Mặt Trăng, một tài nguyên thiết yếu cho việc xây dựng trạm nghiên cứu lâu dài.
Trong khi Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) đang dần lão hóa, Trung Quốc đã xây dựng thành công trạm vũ trụ riêng của mình, trạm vũ trụ Thiên cung. Họ đang hoàn thiện cấu trúc với 3 mô-đun chính (Thiên Hà, Vấn Thiên, Mộng Thiên). Thiên Cung trở thành một "phòng thí nghiệm bay" hiện đại nhất thế giới. Họ đã duy trì luân phiên các đội phi hành gia (Thần Châu) sống và làm việc liên tục trên trạm; đồng thời kéo theo một số nước châu Á tham gia.
Hơn thế Trung Quốc cũng bắt đầu chinh phục Sao Hỏa. Họ đã làm nên lịch sử khi ngay trong lần đầu tiên tới Sao Hỏa đã thực hiện thành công cả 3 bước: bay quanh quỹ đạo, hạ cánh và triển khai xe tự hành (Chúc Dung). Các sứ mệnh tiếp theo (Thiên Vấn 3 và 4) đang hướng tới việc lấy mẫu đất Sao Hỏa mang về và thám hiểm hệ thống các mặt trăng của Sao Mộc.
Có vẻ người Trung quốc đi nhanh hơn người Mỹ. Mục tiêu 2030 họ quyết định đưa người lên Mặt Trăng. Họ đã có kế hoạch đưa người và robot làm việc trong các hang động núi lửa để tránh bức xạ, xây dựng một số thành phố trong lòng Mặt Trăng. Người đứng đầu Chương trình Hằng Nga trả lời các phóng viên tại Bắc Kinh về mục tiêu của Chương trình Hằng Nga, ngoài những mục tiêu gần giống như của Mỹ ông còn không che dấu tham vọng xây dựng Mặt Trăng trở thành một căn cứ quân sự đảm bảo có thể phá hủy tất cả các hệ thống vệ tinh ngoài trái đất nếu Trung Quốc bị đe dọa. Điều quan trọng nhất là họ có đủ tiền và ý chí quyết tâm trong việc đối đầu với Mỹ.
Nếu cuộc đua thế kỷ trước là cuộc chạy đua nước rút để "cắm cờ", thì thành tựu của Trung Quốc hiện nay cho thấy họ đang xây dựng một "con đường tơ lụa" trên không gian – bài bản, vững chắc và nhắm tới việc đảm bảo an ninh, khai thác tài nguyên lâu dài. Tôi cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc trong lĩnh vực không gian vũ trụ đang tạo ra "Cuộc đua không gian 2.0" đầy thú vị nhưng cũng đầy thách thức. Ai thắng ai trong cuộc đua này sẽ trở thành cường quốc số 1 trong trật tự quốc tế mới.
Cuộc đua này đã chạm đúng vào một trong những vấn đề địa chính trị nóng bỏng nhất hiện nay. Thực tế, giới quan sát quốc tế đã bắt đầu gọi giai đoạn này là "Chiến tranh Lạnh 2.0 trong không gian". Tuy nhiên, cuộc đua hiện nay giữa Mỹ và liên minh Trung - Nga có những đặc điểm rất khác so với cuộc đua giữa Mỹ và Liên Xô thế kỷ trước.
Cuộc đối đầu lần này dẫn tới sự hình thành hai "Khối" đối lập. Thay vì là cuộc đua giữa các quốc gia đơn lẻ, thế giới đang chia thành hai phe với hai tầm nhìn khác nhau về cách quản lý và khai thác vũ trụ: Khối Artemis (do Mỹ dẫn đầu): Bao gồm Mỹ và hơn 40 quốc gia (như Nhật Bản, Anh, Canada, và gần đây là các nước Đông Nam Á, châu Âu). Khối này dựa trên Hiệp định Artemis, thiết lập các quy tắc khai thác tài nguyên và tạo ra các "vùng an toàn" trên Mặt Trăng. Khối Trung Quốc và Nga: Hai nước đã ký kết xây dựng Trạm Nghiên cứu Mặt Trăng Quốc tế (ILRS) kéo theo một số nước châu Á tham gia.. Đây là đối trọng trực tiếp với Mỹ, tập trung vào việc xây dựng hạ tầng cố định trên bề mặt Mặt Trăng vào khoảng năm 2030-2035.
Lý do cuộc đua này trở nên gay gắt là vì cả hai bên đều nhìn thấy giá trị thực tiễn thay vì chỉ là biểu tượng: Cực Nam Mặt Trăng là "bất động sản" quý giá nhất vì có băng nước. Bên nào chiếm lĩnh được các vị trí có nước trước sẽ có lợi thế tuyệt đối trong việc duy trì sự sống và sản xuất nhiên liệu tại chỗ. Mặt Trăng được coi là "lục địa thứ 8" mở rộng không gian sinh tồn. Việc kiểm soát các tuyến đường lên Mặt Trăng và các điểm dừng chân trên quỹ đạo (như trạm Gateway của Mỹ) giúp một quốc gia kiểm soát được nền kinh tế vũ trụ trong tương lai. Và mục đích tối thượng là đến sao Hỏa, mục đích cuối cùng của quyền lực.
Mỹ hiện đang dẫn đầu về kinh nghiệm thám hiểm Sao Hỏa (với các xe tự hành như Perseverance), nhưng Trung Quốc đang tăng tốc thần tốc với mục tiêu lấy mẫu đất đá từ Sao Hỏa về Trái Đất trước Mỹ. Việc chinh phục Sao Hỏa không chỉ là khoa học, mà là lời khẳng định về năng lực vận tải hạng nặng và công nghệ tự chủ ở khoảng cách hàng triệu km – một biểu tượng cao nhất của quyền lực quốc gia.
Khi Tổng thống Trump đã phát động cuộc chiến thương mại, đã và đang ra tay với hai đối thủ Nga-Trung ở Venezuela và Iran thì cuộc chiến không gian 2.0 bước vào giai đoạn tăng tốc. Nguy cơ Quân sự hóa (Militarization) không gian bắt đầu hiện rõ. Trong Chiến tranh Lạnh, các nước Thường trực Bảo an Liên hợp quốc như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp đều tăng cường phát triển vũ khí giết người hàng loạt. Số lượng vũ khí trong các kho chứa theo tính toán của các nhà khoa học đủ để hủy diệt trái đất 16 lần. Hiện nay họ lại đang chạy đua bổ sung phát triển các công nghệ có thể gây xung đột trong không gian: Vũ khí chống vệ tinh có khả năng phá hủy hệ thống định vị GPS, GLONASS, Bắc Đẩu) của đối phương. Vệ tinh "vệ sĩ" và "sát thủ" của các bên có khả năng tiếp cận và vô hiệu hóa hệ thống vệ tinh đối phương.
Trong thế kỷ 21 ai làm chủ được không gian sẽ có ưu thế tuyệt đối trong các cuộc chiến tranh dưới mặt đất (thông tin liên lạc, dẫn đường tên lửa). Cuộc chiến ở Ucraine, ở Iran đã chứng minh điều đó. Liệu có khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh trong không gian thời gian tới? Và nếu xảy ra thì nhân loại sẽ đi đến đâu?
Khác với thời kỳ 1960, nền kinh tế của Mỹ và Trung Quốc hiện nay có sự ràng buộc sâu sắc. Tuy nhiên, trong không gian, sự thiếu vắng một bộ luật quốc tế được tất cả các bên thừa nhận đang tạo ra một khoảng trống. Mối lo ngại lớn nhất của giới quan sát không phải là một cuộc đấu súng trên Mặt Trăng, mà là việc hình thành các "vùng cấm" do một bên áp đặt, ngăn cản bên kia tiếp cận các nguồn tài nguyên quan trọng, từ đó dẫn đến sự đóng băng quan hệ và chạy đua vũ trang ngoài tầm kiểm soát. Một cuộc chiến mới đã bắt đầu, nhân loại một lần nữa lại chia phe để chinh phục những chân trời mới thay vì đi cùng nhau.
Tôi đã theo dõi 8 phút nghẹt thở khi con tàu Orion trở về trái đất, đáp xuống biển Thái Bình Dương thuộc bang California. Bốn phi hành gia trên con tàu đều là những người anh hùng. Với ưu thế người đi đầu, nước Mỹ đã ghi thêm điểm trên hành trình lần thứ hai đưa con người lên mặt trăng vào năm 2028. Còn Trung Quốc và Nga sẽ còn nhiều việc phải làm để đưa con người lần đầu tiên tới mặt trăng vào năm 2030. Dù còn rất nhiều khó khăn thách thức, tôi tin rằng họ sẽ thành công trong những năm tới. Điều tôi e ngại là luật pháp quốc tế hiện đang bị chà đạp, những chuẩn mực đạo đức nhân loại đã băng hoại, cuộc chiến không gian 2.0 có khả năng sẽ mở đầu kỷ nguyên hủy diệt nền văn minh nhân loại.
Ẩn bớt
Read More

Tam Đảo ngày trở về

Leave a Comment

 Tam Đảo ngày trở về

Năm mươi năm, thời gian đủ để biến một chàng thanh niên thành một ông già, khoảng thời gian đủ để thời thế đổi thay và lưu lại trong đời người không ít dấu tích. Với chúng tôi, thị trấn Tam Đảo bình yên nên thơ trong sương mù ngày ấy nay đã trở thành một địa danh nổi tiếng. Sau nhiều lần hò hẹn, cuối cùng thì nhóm bạn ngày xưa đã ấn định thời gian cùng trở lại Tam Đảo để tìm lại một phần tuổi trẻ, tình yêu; đồng thời cũng tìm lại ký ức thầm yêu trộm nhớ và những câu chuyện riêng tư dang dở thời bút mực. bởi sau chuyến đi đó, theo sự phân công của tổ chức, chúng tôi biền biệt mỗi người mỗi ngả.
Chúng tôi không còn là những người háo hức đeo sau lưng chiếc ba lô hay xách chiếc vali, náo nức khám phá thiên nhiên, khám phá chính bản thân mình, mà là những người đi tìm lại kỷ ức trong không khí còn se lạnh của mùa xuân. Chuyến đi khởi hành sớm từ mái trường Sư phạm, tổ ấm của bao thế hệ nhà giáo. Đường lên Tam Đảo bây giờ không còn những khúc cua gấp khúc tay áo. Càng lên cao, tiếng còi xe dường như càng nhường chỗ cho tiếng gió thổi phần phật qua tán lá rừng.
Tam Đảo chào đón chúng tôi với những màn sương giăng mờ ảo như một tấm màn hơi đang dần được vén lên. Nó mang một vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Nét đặc trưng nhất chính là sự giao thoa giữa mây, sương và sức sống tràn trề của hoa lá bừng lên từ mặt đất cho đến những cánh rừng ngút ngát đồi núi nhấp nhô. 8h30 mà những dải sương mù trắng vẫn còn đậm đặc như sữa quấn quýt quanh những đỉnh núi và những ngôi nhà. Sương len lỏi qua từng ô cửa sổ, tràn xuống mặt đường. Đưa tay ra người ta cảm nhận như có thể chạm vào làn hơi nước, cảm nhận được cái thanh tĩnh nhẹ nhàng của mùa xuân vùng cao.
Chúng tôi lặng lẽ ngắm nhìn sắc màu rực rỡ của một vườn hoa đào chuông, một loại hoa thuộc họ đỗ quyên. Những nụ hoa nhỏ xíu, hồng hồng như những chiếc chuông nhỏ treo lơ lửng. Phía sau khu vườn là những cánh rừng, những mầm chè, rừng trúc, đồi thông và cả những tán su su khoác lên phố thị một lớp áo màu xanh mướt mát. Hương thơm của bao loài hoa đan xen thoang thoảng, khiến người ta trở nên thư thái với bao liên tưởng khi lần đầu đến với rừng núi…
Điểm đến đầu tiên, Thác Bạc vẫn lưu bao dấu vết thời gian thủa nào. Chúng tôi vẫn còn nhớ cảm giác hăm hở, leo lên bước xuống từng bậc đá cheo leo. Cặp nào cặp nấy bồi hồi nắm tay nhau, nhìn ngắm cảm nhận vẻ đẹp hoang sơ của đất trời… Con đường nay dường như đã được "chải chuốt" hơn, nhưng sự hiểm trở và vẻ đẹp nguyên sơ vẫn còn đó.
Từng đám nam thanh nữ tú cười nói ồn ào vượt lên cánh “ông bà” chậm rãi dìu nhau lần bước theo từng bậc đá. Tiếng nước đổ ào ào từ trên cao xuống khe, tạo nên "tiếng ồn trắng" sống động. Âm thanh vang vọng của dòng thác như linh hồn rừng núi, âm thanh bất biến giữa dòng đời đổi thay. Thác nước từ trên cao chót vót đổ xuống, tung bọt trắng xóa. Nhưng dường như dòng chảy mùa này dịu dàng hơn, trầm tĩnh hơn. Chúng tôi ngồi dưới chân thác, hít thở mùi ẩm ướt thoáng chút ô nhiễm và lắng nghe tiếng nước trào dâng hòa cùng những tiếng hót hối hả của đám chim rừng gọi bạn như bản giao hưởng bất tận của núi rừng.
Mùa hè năm mươi năm trước, cánh con trai chúng tôi đã cùng hòa mình trong làn nước mát lạnh, sảng khoái. Giờ đây không một ai còn dám tắm. Kể cả mùa hè, thì cũng không ai dám tắm. Ngày đó rất vắng khách, chỉ có một mình nhóm chúng tôi với dòng nước. Thời của chúng tôi đã đi qua. Bao hy vọng, đam mê cũng đã đi qua. Sức khỏe dần sa sút. Ai nấy đều cảm thấy mỏi gối, chồn chân, thậm chí đau nhức. Chúng tôi thường xuyên phải dừng chân nghỉ ở một quán xá tiện nghi nào đó trên đường. Tôi cảm nhận cảnh vật bây giờ cũng mang một vẻ trầm tĩnh, suy tư.
Tiếp tục hành trình xe đưa chúng tôi đến với Quán Gió. Quán nằm chênh vênh trên đỉnh. Quán ngày trước chỉ đơn thuần là một góc nhỏ. Bên một lối mòn nhỏ cheo leo, nơi người ta tìm đến để vãng cảnh, ngắm nhìn thung lũng. Giờ đây, khu vực này đã trở thành một tổ hợp kiến trúc ấn tượng, mà trung tâm là hình ảnh những ngôi biệt thự tráng lệ, mang phong cách châu Âu cổ điển.
Ngồi ở một góc ban công lộng gió, nhấp ngụm cà phê nóng, chúng tôi thấy mình như đang đứng giữa ranh giới của hai thế giới. Phía trên là những công trình hiện đại, sầm uất; phía dưới là những thung lũng nhấp nhô xanh mướt, mây sà xuống quyện vào nhau. Quán Gió vẫn giữ cái tên ban đầu, vẫn lộng gió, nhưng cái "hồn" của nó đã thêm vào sự kiêu sa, lộng lẫy. Nét đáng chú ý nhất ở Quán Gió chính là gió. Gió ở đây như một thực thể sống, nó luồn lách, thì thầm, vuốt ve. Tôi đặt tách cà phê xuống bàn chỉ vào khoảng trống bên đường:
- Bạn còn nhớ bà già bán nước chè xanh ngày ấy ở bên kia đường không?
- Đã có thời em muốn quên đi nhưng không thể!
Bà già ở xóm núi cách đó vài cây số. Lưng bà còng như gập xuống, tóc bạc trắng, khuôn mặt xô đầy nhằng nhịt nếp nhăn. Bà vừa trao bát nước vừa hỏi ngày tháng năm sinh chúng tôi. Hình như bà định nói điều gì đó, nhưng sau một lúc im lặng bà chỉ khẽ khàng: “Cô, cậu đẹp quá”. Tôi nhớ đôi mắt ngời sáng lấp lánh của bạn trên khuôn mặt ửng hồng… Cả hai chúng tôi đều mường tượng lại cái thời không năm mươi năm trước. Gần đó có một số móng nhà bằng đá bỏ hoang trơ trọi, người Pháp rút chạy chưa kịp xây biệt thự.
Chúng tôi cùng nhau tìm và thăm lại cái nền móng rêu phong, bám màu thời gian trên từng phiến đá. Ở đó chúng tôi đã ngồi chuyện trò, tâm sự những gì mà giờ đây chỉ còn nhớ loáng thoáng. Nhưng chắc chắn lúc đó vào buổi chiều muộn. Hoàng hôn buông rơi trên đỉnh núi. Cô bạn tôi vận chiếc áo màu gụ và chiếc quần nhung ôm lấy thân hình, một vẻ đẹp thanh tao, kín đáo, quyến rũ và huyền bí… Nửa thế kỷ đã để lại nhiều sợi tóc bạc, những nếp chân chim nơi khóe mắt. Ngoài 70 nhưng cử chỉ vẫn nhẹ nhàng, tinh tế. Nét quý phái vẫn hiện hữu trong bộ áo dài màu tím sẫm ôm gọn tấm thân dong dỏng, gợi lên trong tôi vẻ đẹp của một phụ nữ luống tuổi Hà Thành.
Trên cái nền móng cũ, người ta đã xây dựng nên một tòa “Lâu đài” (Chaateau De Tamdao) tọa lạc tại khu vực đồi Toàn Quyền, một công trình mang đậm phong cách Phục hưng. Bên trong lâu đài trưng bày một số tượng thần Hy Lạp, La Mã được chế tác từ đá cẩm thạch nguyên khối, tinh xảo. Chẳng hạn như tượng thần Venus, nữ thần sắc đẹp; tượng thần Cupid, thần tình yêu; tượng thần Mars, thần chiến tranh… Chúng tôi mải mê thưởng lãm và lững thững thăm phòng hòa nhạc, phòng dạ hội, bể bơi lộng lẫy sang trọng. Từ lâu đài này chúng tôi ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Tam Đảo… Thật tuyệt! Giá mà được trở lại ngày ấy! Tòa Lâu Đài bây giờ sừng sững đứng đó, như nhân chứng im lặng cho những câu chuyện tình ngọt ngào. Không biết có bao nhiêu người đã từng ngồi trên cái nền móng tường ngày ấy, nuối tiếc về số phận không trọn vẹn của họ?
Mục tiêu của chúng tôi đặt ra trước chuyến đi, dù thế nào cũng phải đến Cổng Trời, điểm cao nhất của Tam Đảo. Ngày trước không có xe, chúng tôi cuốc bộ. Bây giờ xe đỗ gần sát cột mốc. Con đường lên Cổng Trời giờ đây đã được cải tạo lại, trải nhựa, bớt hiểm trở heo hút, nhưng cũng vì thế mà bớt thi vị hơn. Không còn cái cảnh dung dăng dung dẻ, không còn cái cảnh bước đi mệt nhọc vượt dôc cao trong đêm trăng sáng vằng vặc của những đôi lứa…
Ngồi nghỉ, ăn uống trên tòa nhà cao nhất khu vực, cùng nhau chụp ảnh, ôn lại bao chuyện vui buồn là những giờ phút vô cùng ấm áp. Chúng tôi cảm thấy gần gũi nhau hơn. Nhất là ở vườn tiểu cảnh cùng nhau nhìn xuống biển mây cuồn cuộn dưới chân, cảm thấy đời người như “bóng ngựa câu qua cửa sổ”. Và con người ta thật nhỏ bé trong cái bao la của đất trời.... Chúng tôi đã hứa với nhau thỉnh thoảng cố gắng dã ngoại đến một điểm xa xa có ý nghĩa nào đó.
Trên đường về chúng tôi ghé thăm một số địa điểm đã từng đặt chân đến trong chuyến đi hai ngày một đêm thủa ấy. Đặc biệt thăm một điểm người ta gọi là Cầu Mây. Cầu Mây là công trình mới, một biểu tượng của Tam Đảo thời hiện đại. Đây là điểm đến yêu thích của lớp trẻ, điểm đến yêu thích để những "người săn ảnh" thỏa sức sáng tạo nên những bức ảnh đẹp. Dù là công trình nhân tạo, nhưng Cầu Mây đã khéo tận dụng khung cảnh "thung mây" tuyệt đẹp, biến nó thành một điểm nhấn rất hấp dẫn.
Giữa hai vách núi, nhà thiết kế tạo ra một cây cầu treo bằng gỗ quanh co, vắt vẻo như một chiếc thang bắc qua vực sâu. Trên cầu, người ta có cảm giác như đang bước đi trên tầng mây xốp trắng, mờ ảo, siêu thực. Mỗi bước đi cơ thể chao đảo nhẹ theo từng cơn gió, xung quanh chỉ có mây và sương, dưới là vực sâu. Thật sự là một trải nghiệm "lơ lửng". Nó không chỉ là một công trình thơ mộng với một số tượng đài tình yêu, tạo ra cảm giác mà còn là một bài kiểm tra về lòng can đảm và sự tin tưởng vào sự vững chãi của chính bản thân mình. Thú vị là cái cảm giác đó biến mất khi người ta nương tựa vào nhau.
Nhiều đôi bạn trẻ lách qua chúng tôi. Có một cặp đến từ miền Trung, khoảng ngoài 20, hỏi đường: “Từ Cầu Mây lên Cổng trời còn xa không ông bà, Quán gió còn xa không ông bà”? Cô bạn tôi mỉm cười ý nhị:
- Bà nghĩ càng xa càng tốt!
- Sao lại như vậy bà?
- Bà đọc một đoạn thơ nhé: “Anh đưa em lên với trời/ Để mắt em gắn với nền xanh ngắt/ Để tay anh chạm hồn em trong vắt/ Để ánh ngày chớp mắt hóa màn đêm/ Để tóc em thêu dệt áng mây mềm…”
- Ôi hay quá! Bà đọc lại cả bài thơ cho chúng cháu ghi âm nhé!
Dưới ánh nắng nhạt hòa trong làn sương chiều, đôi bạn trẻ trên Cầu Mây hiện lên như một nét vẽ thanh tú giữa đất trời. Chàng trai có vóc dáng cao, vững chãi trong bộ áo phông sẫm màu, đôi mắt ánh lên vẻ đắm đuối. Cô gái nhỏ nhắn, thướt tha trong bộ áo dài trắng như một bông hoa tuyết với làn tóc bay nhẹ trong gió, đôi gò má cô ửng hồng rạng rỡ. Họ chụp ảnh, trao nhau những cử chỉ âu yếm, tình tứ ở cung đường hoa cúc vàng rực. Chàng trai bỗng nhẹ nhàng vòng tay ôm eo, kéo cô gái xích lại gần để chắn một cơn gió lạnh. Họ khẽ thì thầm điều gì đó rồi cùng mỉm cười. Tôi ngắm nhìn họ, ngắm nhìn từng cặp, từng cặp trước sau trên chiếc cầu. Họ có thể nên vợ nên chồng. Họ cũng có thể xa nhau nếu không đủ duyên phận.
Ở cái tuổi U75, nếu phải phán xét, dù hoàn cảnh có trớ trêu thế nào đi chăng nữa thì tình yêu đâu có lỗi. Nói như một nhà thơ Nga: “Lũ trẻ tiếp theo ta/ Lại nhắc vị ngọt ngào thủa trước/ Vẫn sóng Ne-va, vẫn chiều sông nước/ Nghĩ cho cùng, họ có lỗi đâu anh”. Giữa khung cảnh này, chúng tôi cảm nhận tình yêu có những quy luật chung, một sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại…
Một ngày xuân đã khép lại. Trở lại nơi đây sau 50 năm, chúng tôi thấy rất vui vì nơi này đã phát triển ngoài sức tưởng tượng. Trong chúng tôi có người tiếc nuối vẻ tĩnh lặng, hoài cổ của những ngày xưa, nhưng sự thay đổi của Tam Đảo là điều tất yếu. Tam Đảo giờ đây mang vẻ đẹp vừa hiện đại, lộng lẫy, lại vừa giữ được khí hậu trong lành và sương khói mộng mơ của núi rừng. Nơi đây vẫn sẽ là nơi để người ta tìm về để thưởng ngoạn, để hưởng thụ, để "sống chậm" lại giữa cái guồng quay hối hả của cuộc sống. Với chúng tôi, quan trọng hơn là để nhận ra rằng: Có những thứ đổi thay, nhưng vẻ đẹp của thiên nhiên cùng với những cảm xúc, những kỷ niệm thì vẫn mãi mãi trường tồn, vẹn nguyên.
Read More

Một vài cảm nghĩ về Đài Loan

Leave a Comment

 Một vài cảm nghĩ về vấn đề Đài Loan

Tôi và mấy anh chị em trong gia đình tham gia chuyến đi Đài loan ngay sau khi kết thúc Cuộc tập trận Sứ mệnh Công lý quy mô lớn phong tỏa Đài Loan của quân đội Trung Quốc. Thật may mắn vì khi mua vé từ mấy tháng trước chúng tôi không lường trước xảy ra sự kiện này. Tôi đã lo lắng, sợ có sự cố gì bất thường xảy ra.
Tôi biết chính quyền Trung Quốc từ bao nhiêu năm nay vẫn luôn coi Đài Loan là một vùng lãnh thổ thuộc Đại lục. Họ buộc các nước trên thế giới phải công nhận chỉ có một đất nước Trung Quốc, không được quan hệ với Đài Loan như một thực thể chính trị. Vì thể diện và vì Đài Loan giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong bản đồ địa chính trị, kinh tế của khu vực Đông Bắc Á nên Trung Quốc sẵn sàng dùng vũ lực để “giải phóng” vùng lãnh thổ này bất chấp nguyện vọng của người dân và dư luận quốc tế.
Đài Loan là một hòn đảo nằm ở phía Tây Bắc Thái Bình Dương, diện tích hơn 36,000 km vuông và dân số khoảng 24 triệu người. Hòn đảo này được coi là điểm giao thoa giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, cách Trung Quốc khoảng 160–180 km qua eo biển Đài Loan.
Có thể nói Đài Loan là mắt xích trung tâm của "Chuỗi đảo thứ nhất". Trong chiến lược quân sự và an ninh. Nó được ví như một "tàu sân bay không thể đánh chìm" nằm ngay giữa Chuỗi đảo thứ nhất (kéo dài từ Nhật Bản qua Đài Loan đến Philippines), án ngữ và kiểm soát con đường ra biển mở từ Đông Á tiến ra Thái Bình Dương. Vị trí này khiến Đài Loan trở thành vùng đệm chiến lược quan trọng giữa các cường quốc, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh của cả Nhật Bản cũng như Hàn Quốc. Đài Loan còn nằm trên một trong những tuyến đường huyết mạch giao thương. Phần lớn hàng hóa và năng lượng (dầu mỏ) cung cấp cho Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc phải đi ngang qua eo biển Đài Loan hoặc vùng biển lân cận.
Đài loan còn là "Con rồng kinh tế" Đông Bắc Á. Bên cạnh Nhật Bản và Hàn Quốc, Đài Loan là một trong những thực thể kinh tế phát triển nhất khu vực, là trung tâm sản xuất bán dẫn (chips) hàng đầu thế giới; đóng vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu mà các quốc gia Đông Bắc Á khác, kể cả một số nước phương Tây phụ thuộc chặt chẽ. Trong bối cảnh cạnh tranh đối đầu Mỹ-Trung ngày một gay gắt, Bắc kinh càng mong muốn thu hồi Đài Loan để giành lấy vị thế mới về công nghệ.
Cuộc tập trận quy mô lớn nhất của Trung Quốc xung quanh Đài Loan với mật danh "Sứ mệnh Công lý" không chỉ đơn thuần là hoạt động quân sự định kỳ của Bắc Kinh mà còn mang những mục đích chiến lược và chính trị rất cụ thể: (1) Cuộc tập trận là phản ứng chính trị và ngoại giao đáp trả thương vụ bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan. Cuộc tập trận diễn ra ngay sau khi Mỹ công bố gói bán vũ khí kỷ lục trị giá hơn 11,1 tỷ USD cho Đài Loan. Bắc Kinh coi đây là hành động vi phạm "lằn ranh đỏ" và dung biện pháp quân sự để bày tỏ sự phản đối quyết liệt. Cuộc tập trận cũng răn đe các tuyên bố của Nhật Bản gần đây có những phát biểu về việc bảo vệ Đài Loan. (2) Về Quân sự và Tác chiến, cuộc tập trận nhằm mô phỏng phong tỏa toàn diện Đài Loan. Trọng tâm là bao vây các cảng nước sâu quan trọng như Cơ Long (phía Bắc) và Cao Hùng (phía Nam). Điều này nhằm chứng minh cho thế giới biết Trung Quốc có khả năng cắt đứt hoàn toàn nguồn cung năng lượng và thương mại của hòn đảo; đồng thời tập trung vào khả năng tấn công liên hợp cường độ cao (lục quân, hải quân, không quân, tên lửa) nhằm làm tê liệt hệ thống phòng thủ của Đài Loan trước khi lực lượng bên ngoài kịp can thiệp. (3) Cuộc tập trận còn thực hiện đòn chiến tranh tâm lý, gây áp lực để gửi thông điệp tới người dân và chính quyền Đài Loan rằng cái giá của việc theo đuổi độc lập hoặc thắt chặt quan hệ với Mỹ sẽ là sự bất ổn về an ninh và kinh tế. (4) Cuộc tập trận một lần nữa khẳng định chủ quyền, thông qua việc duy trì sự hiện diện quân sự thường xuyên và ngày càng áp sát, Trung Quốc muốn tạo ra hiện trạng bình thường hóa việc quân đội của họ hoạt động sát hòn đảo, từ đó dần xóa bỏ khái niệm "đường trung tuyến" ở eo biển Đài Loan… Tóm lại mục đích của Trung Quốc là tạo ra một "gọng kìm" vừa để răn đe chính trị, vừa chuẩn bị sẵn sàng các phương án quân sự cho kịch bản thu hồi Đài Loan trong thời gian tới.
Nhiều năm theo dõi qua các tài liệu tôi được biết tâm lý chung của người dân Đài Loan đối với chính sách "thu hồi" hay tái thống nhất của Trung Quốc hiện nay là một bức tranh đa sắc thái, nhưng xu hướng chủ đạo là duy trì sự khác biệt và phản đối việc thống nhất cưỡng ép bằng vũ lực. Dựa trên các cuộc thăm dò dư luận mới nhất từ Quỹ Ý kiến Công chúng Đài Loan và các tổ chức nghiên cứu chiến lược, tâm lý người dân có thể chia thành các nhóm chính sau:
Một là xu hướng "Ưu tiên Độc lập" và "Duy trì Hiện trạng" hiện tại. Đây là nhóm chiếm đa số tuyệt đối trong xã hội Đài Loan. Khoảng 52% người dân mong muốn Đài Loan trở thành một quốc gia độc lập hoàn toàn trong tương lai. Nhóm này coi đây là phương án an toàn nhất để tránh xung đột quân sự mà vẫn giữ được lối sống dân chủ.
Hai là xu hướng phản đối mạnh mẽ đối với chính sách "Một quốc gia, Hai chế độ". Hầu hết người dân Đài Loan, bất kể xu hướng chính trị nào, đều bày tỏ sự e ngại và bác bỏ mô hình "Một quốc gia, Hai chế độ" mà Bắc Kinh đề xuất. Bài học từ Hồng Kông và những biến động tại Hồng Kông trong vài năm qua đã khiến người dân Đài Loan mất niềm tin vào lời hứa về quyền tự trị của Chính quyền Trung Quốc. Người dân Đài Loan coi trọng nền dân chủ, tự do ngôn luận và hệ thống pháp luật hiện tại của họ, những thứ mà họ tin rằng sẽ biến mất nếu thống nhất dưới sự quản lý của Chính quyền Trung Quốc.
Ba là thái độ đối với các biện pháp đe dọa quân sự như cuộc tập trận "Sứ mệnh Công lý" đã gây ra những phản ứng tâm lý trái chiều cũng như sự cảnh giác và lo âu: Một bộ phận người dân cảm thấy căng thẳng hơn về nguy cơ chiến tranh, dẫn đến việc ủng hộ tăng ngân sách quốc phòng (dự kiến đạt 3% GDP). Nhưng đa số đã "miễn nhiễm" tâm lý sau nhiều thập kỷ sống dưới sự đe dọa, nhiều người dân đã hình thành tâm lý bình thản, tiếp tục cuộc sống thường nhật và không dễ dàng thay đổi quan điểm chính trị chỉ vì các cuộc tập trận.
Bốn là đa số giới trẻ, thế hệ "tự nhiên độc lập", bao gồm người sinh sau năm 1990 có sự gắn kết về bản sắc với Đài Loan rất mạnh mẽ. Khoảng 65% đến 70% người trong độ tuổi 25-34 ủng hộ độc lập. Họ tự xem mình là "người Đài Loan" thay vì là "người Trung Quốc". Vì vậy Trung Quốc đe dọa nếu Đài Loan Trưng cầu dân ý về độc lập thì lập tức Trung Quốc sẽ tiến hành “giải phóng” bằng vũ lực.
Để hiểu về thực tế, trong chuyến đi, hễ có dịp tiếp xúc với người Đài loan các giới tôi chăm chăm đề cập đến vấn đề này, đặc biệt là với những hướng dẫn viên du lịch người Đài Loan, người Việt ở Đài Loan lâu năm. Một cô hướng dẫn viên du lịch người Đài Loan trả lời câu hỏi của tôi, người có tuổi, tầng lớp trung lưu và người giàu rất sợ những phong trào, những cuộc cách mạng Trung Quốc phát động như Đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc. Tầng lớp trí thức, sinh viên thì rất bất mãn với cuộc đàn áp dã man sinh viên bằng xe tăng như ở Thiên An môn. Người theo Công giáo, Hồi giáo, theo đạo Phật thì rất sợ bị truy bức như trường hợp Đức Lạt Ma và các nhà sư ở Tây Tạng hay người theo đạo Hồi ở Tân Cương. Đặc biệt người thực hành tập Pháp luân công (có tới hàng triệu người ở Đài loan) thì rất sợ về với Đại lục sẽ bị cấm đoán, bị tù đày, bị mổ cướp nội tạng. Có một cô hướng dẫn viên người Việt lấy chồng là kỹ sư Đài Loan cho tôi biết, chồng cô và gia đình nhà chồng đều muốn Đài Loan được độc lập. Nếu Trung Quốc giành Đài loan bằng vũ lực thì họ dự định sẽ di cư sang Mỹ. Cô nói “ Riêng chồng cháu đã mua một căn nhà ở quê cháu, nếu có biến ở Đài Loan, cái gia đình nhỏ của cháu sẽ về Việt Nam ở”…
Các em tôi thấy tôi quan tâm thái quá về cái đề tài nhạy cảm tại những địa điểm như ở Đài Bắc, Đài Trung, Cao Hùng đã góp ý “Anh quan tâm đến chính trị của đất nước họ làm cái gì”. Tôi im lặng, không tranh luận. Có điều các em tôi không biết, một số tướng lĩnh PLA đã công khai xây dựng kế hoạch chiến lược về 7 cuộc chiến tranh Trung Quốc sẽ tiến hành trong tương lai. Chiến tranh giành lại Đài loan là cuộc chiến đầu tiên mà họ phải hoàn thành trước năm 2030, Và cuộc chiến tranh thứ 2 tiếp theo là cuộc chiến tranh giành lại toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Là người Việt chớ có ai mang bất kể hy vọng gì vào những kẻ bành trướng Đại Hán. Nếu nói là công việc của người ta mặc kệ họ thì cũng không sai, nhưng việc của người ta xong rồi thì sớm muộn cũng đến việc của đất nước mình. Người Việt ai có thể không quan tâm và không cảnh giác với giấc mộng siêu cường luôn âm mưu chiếm trọn Biển Đông?
Read More
Leave a Comment

 CĂN NHÀ TÌNH NGHĨA VÀ LINH HỒN NGƯỜI CHIẾN SĨ THÉP

Bắt đầu đầu tháng Chạp, khi tiết trời miền Bắc se lạnh cũng là lúc trong lòng chúng tôi ùa về bao ký ức ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và về một thời hoa lửa. Năm nay chúng tôi cùng nhau trở về xã Ngọc Thiện, lòng rưng rưng khi chứng kiến một cuộc hội ngộ đặc biệt. Không chỉ là cuộc hội ngộ của những người đang sống, mà là hành trình trở về của hơn 50 con người U80, mái đầu bạc trắng với một người đồng đội đã nằm lại ở tuổi 22 – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Dương Quang Bổ.
Lịch sử Trung đoàn 3, Lịch sử Sư đoàn 324 vẫn còn ghi tạc cái tên Dương Quang Bổ. Chàng trai quê Tân Yên (Bắc Giang cũ) nhập ngũ khi tuổi đời mới 18. Cũng như hàng triệu thanh niên theo tiếng gọi chống Mỹ cứu nước của Tổ quốc anh đã tình nguyện lên đường hòa mình vào dòng thác cách mạng tại chiến trường Trị - Thiên ác liệt. Những trận đánh tại các địa danh như Tam Tánh, A Dơi, Cooc Bai, hay Đường 9 - Nam Lào từng in dấu chân kiên cường của bao người lính. Anh em vẫn thường nhắc về anh với biệt danh "Chiến sĩ thép". Cái tên ấy không phải dễ dàng tức thời tự nhiên mà đến. Nó là kết quả rèn luyện, chiến đấu không sợ hi sinh gian khổ, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua. 5 Huân chương chiến công, đặc biệt là 7 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, diệt xe tăng, bắn rơi máy bay trực thăng là phần thưởng xứng đáng cho người chiến sĩ tiêu biểu.
Từ một chiến sĩ luôn gương mẫu, luôn xung phong tiến lên phía trước, nhận về mình phần khó khăn gian khổ để đồng đội được bình an, anh được các cấp tin yêu bổ nhiệm làm cán bộ tiểu đội, trung đội rồi đại đội sau mỗi một năm. Ở cương vị nào anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đại tá Đào Quang Đới, Phó trưởng đoàn cựu chiến binh Trung đoàn 3 cho biết, vào trung tuần tháng 4 năm 1972, theo quyết định của Quân khu Trị Thiên, Sư đoàn 324 phối hợp với chiến trường Quảng Trị mở nhiều chiến dịch. Trung đoàn 3 được lệnh vây lấn, đánh chiếm Động Tranh, vị trí cửa ngõ để quân ta triển khai xuống đồng bằng, uy hiếp thành phố Huế. Chỉ hơn một tuần quân ngụy đã bị quét sach khỏi Động Tranh. Một đại đội thuộc Trung đoàn Trâu Điên được đổ bộ xuống đánh chiếm giữ điểm cao Sơn Đào hòng chia cắt hướng chi viện của ta lên Động Tranh, làm bàn đạp chuẩn bị tái chiếm lại. Đại đội 1 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 3 được giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt đại đội ngụy. Sau khi hỏa lực pháo cối trung đoàn cấp tập vào trận địa địch, Anh Đới và anh Bổ mỗi người chỉ huy một đại đội vận động tiến công điểm cao. Hướng của tôi rất bất lợi, anh Đới kể, phía trước là một khoảng trống chạy dài lên cao điểm. Máy bay trực thăng, phi pháo địch bắn xuống xối xả. Một số cán bộ chiến sĩ đã bị thương vong. Tôi thầm nghĩ anh em chắc sẽ thương vong nhiều. Chính vào lúc đó, để hỗ trợ cho hướng của tôi anh Bổ đã ra lệnh cho đại đội đồng loạt nổ súng. Quân địch tập trung toàn bộ hỏa lực về hướng đại đội của anh. Tranh thủ thời cơ tôi chỉ huy đại đội xung phong, nổ súng chiếm lĩnh trận địa. Anh Bổ và 8 chiến sĩ đã hy sinh thay cho chúng tôi vào ngày 8/5/1972, tại điểm cao 101 núi Sơn Đào. Anh đã ngã xuống trong tư thế dẫn đầu một mũi xung phong lên điểm cao. Thật đau xót khi mất đi một cán bộ quả cảm đầy triển vọng. Ngày hôm đó cũng chính là ngày Nhà nước ký quyết định phong tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Anh Phi người đồng đội thân thiết gắn bó với anh Bổ từ năm 1968 đến tháng năm năm 1972. Nằm trên giường bệnh anh nghẹn ngào nói với chúng tôi trước lúc đoàn lên đường: “Thương Bổ lắm! Bổ khổ từ nhỏ. Anh lấy đơn vị làm gia đình, là niềm vui. Trước ngày vào chiến dịch cả đại đội hàng tuần chỉ ăn cháo với rau môn thục. Không có một hột cơm. Anh em tăng gia được 1kg gạo nấu cơm trước khi vào trận đánh. Anh nhường anh em đồng đội nhất định không ăn, với lý do sau chiến dịch anh được điều ra ngoài Bắc báo cáo thành tích, sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi. Còn anh em ở trong này thì còn khó khăn lắm.” Anh Phi xúc động: “Vậy mà không ngờ… Anh em hãy mang cho mình thẻ hương cùng ít tiền trong chiếc phong bì này, đặt lên giường thờ Anh Bổ, nói hộ mình, hãy tha lỗi cho mình ốm đau quá không đến nhà được…”
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến tranh đã lùi xa nhưng nỗi đau về những người con "không có may mắn trở về" vẫn đau đáu trong lòng những người ở lại. Năm 2005, hài cốt anh đã được gia đình và đồng đội đưa từ Nghĩa trang liệt sĩ Hương Điền trở về lại đất mẹ. Thế nhưng, nhìn cảnh ngôi nhà thờ tự anh dột nát, cha mẹ anh đã khuất núi, chỉ còn người cháu trông nom trong cảnh nghèo khó, anh em Trung đoàn 3 không khỏi xót xa. Đã có nhiều bài báo, đã có nhiều bức ảnh đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng ngôi nhà xuống cấp vẫn đứng im lìm hàng chục năm. Trong một lần về thăm gần đây, Anh Phạm Huỳnh Công, Trưởng ban liên lạc Hội cựu Chiến binh Trung đoàn 3 cùng một số anh em đã kết nối những nhịp cầu nhân ái, đề nghị chính quyền các cấp và những nhà hảo tâm cùng xây dựng ngôi nhà tình nghĩa.
Ngôi nhà 50 m vuông khang trang, trị giá 160 triệu đồng đã được xây dựng chính trên mảnh đất một sào của gia đình anh Bổ. Nhưng cái "tình" không chỉ nằm ở những viên gạch, bao xi măng. Đó còn là số tiền hơn 20 triệu đồng mà anh em đồng đội gom góp, chắt chiu từ đồng lương hưu ít ỏi để mua sắm bàn thờ, đồ lễ thật trang trọng. Mọi người đều muốn người "Chiến sĩ thép" năm nào có một chốn đi về ấm áp, thắm thiết nghĩa tình.
Hôm nay, ngày khánh thành và cũng là dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hơn 50 CCB từ Bắc chí Nam, từ Hà Nội, Hải Phòng đến tận thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị xa xôi đã tụ hội về đây. Có những người là thương binh, bệnh binh bước chân tập tễnh đã chậm chạp, những mái đầu trắng xóa, và cả những người vợ liệt sĩ cũng lặn lội về quê hương anh. Giây phút dâng hương tại nghĩa trang liệt sĩ xã và tại ngôi nhà mới thật trang nghiêm và cảm động. Không gian như đọng lại. Khói hương trầm quyện tỏa, nhòe trong mắt những người lính già. Họ vẫn như ngày nào thực hiện nghi lễ linh thiêng tiễn biệt đồng đội sau trận đánh. Không chỉ dâng hương cúng tế một người anh hùng, họ đang trò chuyện với một phần tuổi trẻ của chính mình. Những bàn tay khẳng khiu lau tấm bia mộ, những bàn tay nhăn nheo, thô ráp chạm vào bàn thờ mới, những lời thăm hỏi ân cần dành cho thân nhân liệt sĩ... tất cả tạo nên một bức tranh nhân văn rạng ngời.
Chiến tranh có thể tàn phá tất cả, có thể cướp đi rất nhiều, rất nhiều cán bộ chiến sĩ nhưng không thể quật ngã được tình đồng chí, đồng đội. Ngôi nhà tình nghĩa tại Ngọc Thiện hôm nay không chỉ là nơi hương khói cho Anh hùng liệt sĩ Dương Quang Bổ, mà còn là một cột mốc của lòng tri ân. Anh nằm đó, giữa tình yêu của gia đình, làng xóm và vòng tay của những người đồng đội chưa bao giờ quên anh. Đất nước hôm nay tươi đẹp thế này, chính là nhờ những "chiến sĩ thép" đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Và chúng tôi, những người ở lại, vẫn sẽ tiếp tục hành trình đi tìm đồng đội, tiếp tục sưởi ấm những ngôi nhà còn đơn sơ, để nghĩa tình người lính mãi mãi vẹn tròn.
Read More

50 năm, một chuyến đò trở về trong mưa bụi

Leave a Comment

 

50 Năm, một chuyến đò trở về trong mưa bụi

 Buổi sáng đầu tháng 11, Hà Nội đón chúng tôi bằng một màu xám đục nhuốm hơi sương. Những hạt mưa lất phất mang theo cái lạnh se sắt đặc trưng cuối thu chớm đông của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đã bao ngày rồi mà mưa vẫn chùng chình không dứt. Dù thời tiết bất lợi, không ai trong chúng tôi muốn trì hoãn cuộc gặp mặt này.

 Hành trình của tôi bắt đầu qua con đường quen thuộc: Trường Chinh, Minh Khai, rồi đến Cầu Mai Động để đón bạn Cầu. Mỗi đoạn đường đi qua là một lát cắt của ký ức một thời. Gần 8 giờ sáng, hai chúng tôi có mặt tại nhà bạn Kha, bên cạnh đình Ô Cách cổ kính. Không khí bắt đầu rộn ràng. Những nụ cười nở bừng trên những gương mặt đã nhuốm màu thời gian. Những cái bắt tay siết chặt. Những thăm hỏi vồn vã chân tình như thể bù đắp cho nửa thế kỷ xa cách.

 Trong không khí đầm ấm, thân mật ấy, tôi có một món quà nho nhỏ, mong muốn chia sẻ cùng với các bạn. Món quà được ấp ủ trong khoảng 15 năm qua, cuốn sách "Từ rừng săng lẻ đến rừng sồi" tôi vừa xuất bản, tập hợp 64 câu chuyện thường ngày không hư cấu. Đó là những trải nghiệm, góc nhìn mà tôi ghi chép lại khi tuổi đã xế chiều. Những câu chuyện từ nhà đến chuyện làng nước, từ miền quê đồng bằng đến miền núi; từ quá khứ đến hiện tại; từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục… Mỗi câu chuyện là một lát cắt từ thực tế liên quan đến hành trình cá tôi đã đi qua. Tôi không muốn làm ảnh hưởng đến chương trình chung của lớp, chỉ hy vọng rằng món quà tinh thần này sẽ là chiếc cầu nối, giúp chia sẻ những suy tư, chiêm nghiệm ở cái tuổi mà tất cả những cái đẹp đã lùi lại sau lưng.

 Từ nhà bạn Kha, chiếc xe buýt lăn bánh, đưa hơn hai chục bạn đồng môn đến Đồng Đò, Sóc Sơn, một khu du lịch sinh thái tôi biết rất đẹp với đồi núi trập trùng và hồ nước mênh mông hữu tình. Trên đường đi, một phép màu đã xảy ra trên chiếc xe ấy. Ở cái tuổi các cụ xưa nay hiếm, tóc bạc không còn một sợi đen, chúng tôi vẫn say mê ca hát. Hát cá nhân, hát tập thể. Những bài ca quen thuộc ở cái tuổi mười tám đôi mươi ngày nào hát ở nội trú, hát ở nhà bạn Hà chuẩn bị cho hội diễn văn nghệ. Giờ đây lại hát vang lên đầy cảm xúc, vượt qua mọi sự e dè của tuổi tác…

 Tôi lặng lẽ lắng nghe. Tôi thích nghe bạn Nga, Tính, Dung, Bình, Thúy hát hơn cả những ca sĩ chuyên nghiệp, bởi đó không chỉ là âm nhạc, mà là tiếng lòng chân thật, không tô vẽ của những người đã qua cái tuổi thất thập. Tôi cũng góp vui một bài thơ tình được in và phổ nhạc vào những năm 1980… Quá khứ hiện tại dường như chập chờn đan xen trong từng nốt nhạc. Có niềm vui hội ngộ, có cả nỗi khắc khoải nhớ thương một thời, có cả những dự cảm định mệnh ngày mai.

 Tôi chợt nhớ đến giọng ca vàng của lớp, bạn Hảo. Sau khi ra trường anh thường xuyên qua lại nhà tôi, phần vì công việc mưu sinh làm ăn “chân trong chân ngoài”. Vào thời gian ấy căn nhà năm gian của gia đình tôi chưa trát vữa hai gian buồng, anh lấy tiền lãi của cả một năm cho tôi mượn để mua năm tạ vôi và một xe cát. Cứ mỗi sáng sớm chủ nhật hai chúng tôi đánh một cối vữa, một mình anh vừa là thợ chính vừa là thợ phụ trát dần trong khi tôi dệt khăn mặt, khăn tắm. Bốn ngày nghỉ cuối tuần trong một tháng anh trát xong. Hoàn công anh cười rất tươi với câu bông đùa “Coi như đây là quà đám cưới mừng đám anh”…

 Chúng tôi thân nhau còn vì cùng tham gia học lớp viết văn của Trường Viết văn Nguyễn Du thuộc Hội Nhà văn, cùng tham gia Hội Văn nghệ Hà Nội. Anh là người đầu tiên trong lớp có thơ và truyện ngắn giới thiệu trên Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, và là người đầu tiên có thơ và truyện ngắn in trên báo Văn nghệ, tạp chí Người Hà Nội, báo Người Giáo viên nhân dân từ cuối những năm 1970. Nhưng ấn tượng nhất về anh là chất giọng mùi mẫn khi hát về những ca khúc Tiền chiến. Bài tủ của anh là bài Nửa hồn thương đau của nhạc sĩ Phạm đình Chương. Chỉ cần anh ngân nga mấy câu trong giai điệu trầm lắng “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa/Cho tôi về đường cũ nên thơ/Cho tôi gặp người xưa ước mơ” cũng đã đủ hút hồn người nghe. Giá mà chúng tôi được nghe anh hát hôm nay! Vậy mà anh đã xa chúng tôi chục năm rồi.      

 Theo quy luật đào thải và tự đào thải khắc nghiệt của thời gian như Đại sư Lý Hồng Chí từng giảng, vũ trụ có thành trụ hoại diệt, con người có sinh lão bệnh tử. Có thể các nhà trường đã “đào thải” chúng tôi, có thể xã hội đang dần “đào thải” chúng tôi, có thể sắp tới những người thân quen và cả gia đình rồi cũng sẽ “đào thải” chúng tôi. Nhưng điều đó không quan trọng. Chúng tôi vẫn đang tồn tại, đang sống chân thành, thiện lương và kiên nhẫn theo đặc tính và quy luật của đất trời với niềm vui riêng của mình.

 Năm mươi năm đã trôi qua. Một số người bạn thân yêu đã ra đi. Sự vắng bóng ấy khiến cho những giây phút chúng tôi được ngồi bên nhau càng trở nên quý giá và thiêng liêng hơn. Mỗi khoảnh khắc nhìn nhau là một lời nhắc nhở về sự hữu hạn mà chúng tôi cần phải trân trọng.

 Đồng Đò đón chúng tôi ở một hội trường xinh xắn ven hồ, xung quanh là khung cảnh nên thơ với hoa nở trong mưa nhỏ li ti, gần như vô hình, chỉ đủ làm ướt nhẹ mái tóc và đọng lại từng giọt, từng giọt trên nền cỏ bắt đầu úa vàng. Đây là cái khoảnh khắc giao mùa mơ hồ, dịu dàng khi đất trời chuẩn bị chìm vào giấc ngủ đông.

 Lần này chúng tôi bỏ qua mọi nghi thức. Chỉ một tấm phông màu với dòng chữ một thời để nhớ. Chúng tôi dành nhiều thời gian để chụp ảnh lưu niệm. Chúng tôi xem lại những bức ảnh tập thể, cá nhân khi mới bắt đầu vào trường. cùng nhau ôn lại bao kỷ niệm 50 năm qua: Từ những ngày đầu bỡ ngỡ vào trường, những khó khăn khi mới ra trường, ba đến bốn mươi năm đứng trên bục giảng. Rồi chuyện nhà cửa. con cái, và cả những trăn trở lúc xế chiều…

 Tiệc liên hoan diễn ra trong không khí vừa vui vẻ, vừa lắng đọng. Vừa ngắm nhìn đất trời mênh mông, chúng tôi vừa tiếp tục chia sẻ những tâm tình. Đặc biệt, có những câu chuyện, những mối tình thầm yêu trộm nhớ ngày xưa, những điều chưa bao giờ dám nói, nay mới được kể ra trong tiếng cười và cả những giọt nước mắt rưng rưng. Tất cả đều đong đầy cảm xúc và lưu luyến. 50 năm không làm phai nhạt tình bạn, mà chỉ tô thêm sâu sắc, thêm quý giá.

 Chúng tôi tạm biệt nhau khi trời vẫn mưa, mưa rơi lây phây tạo thành tấm màn giăng phủ khắp phố phường. Mưa như níu giữ chúng tôi nán lại ở bên nhau tại nhà bạn Kha trước khi chia tay. Hy vọng ngày này sang năm chúng tôi lại sẽ gặp nhau, không vắng bóng một ai! Đó không chỉ là lời hứa mà là niềm mong ước tha thiết  của những người bạn tri kỷ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.