Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Tam Đảo ngày trở về

Leave a Comment

 Tam Đảo ngày trở về

Năm mươi năm, thời gian đủ để biến một chàng thanh niên thành một ông già, khoảng thời gian đủ để thời thế đổi thay và lưu lại trong đời người không ít dấu tích. Với chúng tôi, thị trấn Tam Đảo bình yên nên thơ trong sương mù ngày ấy nay đã trở thành một địa danh nổi tiếng. Sau nhiều lần hò hẹn, cuối cùng thì nhóm bạn ngày xưa đã ấn định thời gian cùng trở lại Tam Đảo để tìm lại một phần tuổi trẻ, tình yêu; đồng thời cũng tìm lại ký ức thầm yêu trộm nhớ và những câu chuyện riêng tư dang dở thời bút mực. bởi sau chuyến đi đó, theo sự phân công của tổ chức, chúng tôi biền biệt mỗi người mỗi ngả.
Chúng tôi không còn là những người háo hức đeo sau lưng chiếc ba lô hay xách chiếc vali, náo nức khám phá thiên nhiên, khám phá chính bản thân mình, mà là những người đi tìm lại kỷ ức trong không khí còn se lạnh của mùa xuân. Chuyến đi khởi hành sớm từ mái trường Sư phạm, tổ ấm của bao thế hệ nhà giáo. Đường lên Tam Đảo bây giờ không còn những khúc cua gấp khúc tay áo. Càng lên cao, tiếng còi xe dường như càng nhường chỗ cho tiếng gió thổi phần phật qua tán lá rừng.
Tam Đảo chào đón chúng tôi với những màn sương giăng mờ ảo như một tấm màn hơi đang dần được vén lên. Nó mang một vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Nét đặc trưng nhất chính là sự giao thoa giữa mây, sương và sức sống tràn trề của hoa lá bừng lên từ mặt đất cho đến những cánh rừng ngút ngát đồi núi nhấp nhô. 8h30 mà những dải sương mù trắng vẫn còn đậm đặc như sữa quấn quýt quanh những đỉnh núi và những ngôi nhà. Sương len lỏi qua từng ô cửa sổ, tràn xuống mặt đường. Đưa tay ra người ta cảm nhận như có thể chạm vào làn hơi nước, cảm nhận được cái thanh tĩnh nhẹ nhàng của mùa xuân vùng cao.
Chúng tôi lặng lẽ ngắm nhìn sắc màu rực rỡ của một vườn hoa đào chuông, một loại hoa thuộc họ đỗ quyên. Những nụ hoa nhỏ xíu, hồng hồng như những chiếc chuông nhỏ treo lơ lửng. Phía sau khu vườn là những cánh rừng, những mầm chè, rừng trúc, đồi thông và cả những tán su su khoác lên phố thị một lớp áo màu xanh mướt mát. Hương thơm của bao loài hoa đan xen thoang thoảng, khiến người ta trở nên thư thái với bao liên tưởng khi lần đầu đến với rừng núi…
Điểm đến đầu tiên, Thác Bạc vẫn lưu bao dấu vết thời gian thủa nào. Chúng tôi vẫn còn nhớ cảm giác hăm hở, leo lên bước xuống từng bậc đá cheo leo. Cặp nào cặp nấy bồi hồi nắm tay nhau, nhìn ngắm cảm nhận vẻ đẹp hoang sơ của đất trời… Con đường nay dường như đã được "chải chuốt" hơn, nhưng sự hiểm trở và vẻ đẹp nguyên sơ vẫn còn đó.
Từng đám nam thanh nữ tú cười nói ồn ào vượt lên cánh “ông bà” chậm rãi dìu nhau lần bước theo từng bậc đá. Tiếng nước đổ ào ào từ trên cao xuống khe, tạo nên "tiếng ồn trắng" sống động. Âm thanh vang vọng của dòng thác như linh hồn rừng núi, âm thanh bất biến giữa dòng đời đổi thay. Thác nước từ trên cao chót vót đổ xuống, tung bọt trắng xóa. Nhưng dường như dòng chảy mùa này dịu dàng hơn, trầm tĩnh hơn. Chúng tôi ngồi dưới chân thác, hít thở mùi ẩm ướt thoáng chút ô nhiễm và lắng nghe tiếng nước trào dâng hòa cùng những tiếng hót hối hả của đám chim rừng gọi bạn như bản giao hưởng bất tận của núi rừng.
Mùa hè năm mươi năm trước, cánh con trai chúng tôi đã cùng hòa mình trong làn nước mát lạnh, sảng khoái. Giờ đây không một ai còn dám tắm. Kể cả mùa hè, thì cũng không ai dám tắm. Ngày đó rất vắng khách, chỉ có một mình nhóm chúng tôi với dòng nước. Thời của chúng tôi đã đi qua. Bao hy vọng, đam mê cũng đã đi qua. Sức khỏe dần sa sút. Ai nấy đều cảm thấy mỏi gối, chồn chân, thậm chí đau nhức. Chúng tôi thường xuyên phải dừng chân nghỉ ở một quán xá tiện nghi nào đó trên đường. Tôi cảm nhận cảnh vật bây giờ cũng mang một vẻ trầm tĩnh, suy tư.
Tiếp tục hành trình xe đưa chúng tôi đến với Quán Gió. Quán nằm chênh vênh trên đỉnh. Quán ngày trước chỉ đơn thuần là một góc nhỏ. Bên một lối mòn nhỏ cheo leo, nơi người ta tìm đến để vãng cảnh, ngắm nhìn thung lũng. Giờ đây, khu vực này đã trở thành một tổ hợp kiến trúc ấn tượng, mà trung tâm là hình ảnh những ngôi biệt thự tráng lệ, mang phong cách châu Âu cổ điển.
Ngồi ở một góc ban công lộng gió, nhấp ngụm cà phê nóng, chúng tôi thấy mình như đang đứng giữa ranh giới của hai thế giới. Phía trên là những công trình hiện đại, sầm uất; phía dưới là những thung lũng nhấp nhô xanh mướt, mây sà xuống quyện vào nhau. Quán Gió vẫn giữ cái tên ban đầu, vẫn lộng gió, nhưng cái "hồn" của nó đã thêm vào sự kiêu sa, lộng lẫy. Nét đáng chú ý nhất ở Quán Gió chính là gió. Gió ở đây như một thực thể sống, nó luồn lách, thì thầm, vuốt ve. Tôi đặt tách cà phê xuống bàn chỉ vào khoảng trống bên đường:
- Bạn còn nhớ bà già bán nước chè xanh ngày ấy ở bên kia đường không?
- Đã có thời em muốn quên đi nhưng không thể!
Bà già ở xóm núi cách đó vài cây số. Lưng bà còng như gập xuống, tóc bạc trắng, khuôn mặt xô đầy nhằng nhịt nếp nhăn. Bà vừa trao bát nước vừa hỏi ngày tháng năm sinh chúng tôi. Hình như bà định nói điều gì đó, nhưng sau một lúc im lặng bà chỉ khẽ khàng: “Cô, cậu đẹp quá”. Tôi nhớ đôi mắt ngời sáng lấp lánh của bạn trên khuôn mặt ửng hồng… Cả hai chúng tôi đều mường tượng lại cái thời không năm mươi năm trước. Gần đó có một số móng nhà bằng đá bỏ hoang trơ trọi, người Pháp rút chạy chưa kịp xây biệt thự.
Chúng tôi cùng nhau tìm và thăm lại cái nền móng rêu phong, bám màu thời gian trên từng phiến đá. Ở đó chúng tôi đã ngồi chuyện trò, tâm sự những gì mà giờ đây chỉ còn nhớ loáng thoáng. Nhưng chắc chắn lúc đó vào buổi chiều muộn. Hoàng hôn buông rơi trên đỉnh núi. Cô bạn tôi vận chiếc áo màu gụ và chiếc quần nhung ôm lấy thân hình, một vẻ đẹp thanh tao, kín đáo, quyến rũ và huyền bí… Nửa thế kỷ đã để lại nhiều sợi tóc bạc, những nếp chân chim nơi khóe mắt. Ngoài 70 nhưng cử chỉ vẫn nhẹ nhàng, tinh tế. Nét quý phái vẫn hiện hữu trong bộ áo dài màu tím sẫm ôm gọn tấm thân dong dỏng, gợi lên trong tôi vẻ đẹp của một phụ nữ luống tuổi Hà Thành.
Trên cái nền móng cũ, người ta đã xây dựng nên một tòa “Lâu đài” (Chaateau De Tamdao) tọa lạc tại khu vực đồi Toàn Quyền, một công trình mang đậm phong cách Phục hưng. Bên trong lâu đài trưng bày một số tượng thần Hy Lạp, La Mã được chế tác từ đá cẩm thạch nguyên khối, tinh xảo. Chẳng hạn như tượng thần Venus, nữ thần sắc đẹp; tượng thần Cupid, thần tình yêu; tượng thần Mars, thần chiến tranh… Chúng tôi mải mê thưởng lãm và lững thững thăm phòng hòa nhạc, phòng dạ hội, bể bơi lộng lẫy sang trọng. Từ lâu đài này chúng tôi ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Tam Đảo… Thật tuyệt! Giá mà được trở lại ngày ấy! Tòa Lâu Đài bây giờ sừng sững đứng đó, như nhân chứng im lặng cho những câu chuyện tình ngọt ngào. Không biết có bao nhiêu người đã từng ngồi trên cái nền móng tường ngày ấy, nuối tiếc về số phận không trọn vẹn của họ?
Mục tiêu của chúng tôi đặt ra trước chuyến đi, dù thế nào cũng phải đến Cổng Trời, điểm cao nhất của Tam Đảo. Ngày trước không có xe, chúng tôi cuốc bộ. Bây giờ xe đỗ gần sát cột mốc. Con đường lên Cổng Trời giờ đây đã được cải tạo lại, trải nhựa, bớt hiểm trở heo hút, nhưng cũng vì thế mà bớt thi vị hơn. Không còn cái cảnh dung dăng dung dẻ, không còn cái cảnh bước đi mệt nhọc vượt dôc cao trong đêm trăng sáng vằng vặc của những đôi lứa…
Ngồi nghỉ, ăn uống trên tòa nhà cao nhất khu vực, cùng nhau chụp ảnh, ôn lại bao chuyện vui buồn là những giờ phút vô cùng ấm áp. Chúng tôi cảm thấy gần gũi nhau hơn. Nhất là ở vườn tiểu cảnh cùng nhau nhìn xuống biển mây cuồn cuộn dưới chân, cảm thấy đời người như “bóng ngựa câu qua cửa sổ”. Và con người ta thật nhỏ bé trong cái bao la của đất trời.... Chúng tôi đã hứa với nhau thỉnh thoảng cố gắng dã ngoại đến một điểm xa xa có ý nghĩa nào đó.
Trên đường về chúng tôi ghé thăm một số địa điểm đã từng đặt chân đến trong chuyến đi hai ngày một đêm thủa ấy. Đặc biệt thăm một điểm người ta gọi là Cầu Mây. Cầu Mây là công trình mới, một biểu tượng của Tam Đảo thời hiện đại. Đây là điểm đến yêu thích của lớp trẻ, điểm đến yêu thích để những "người săn ảnh" thỏa sức sáng tạo nên những bức ảnh đẹp. Dù là công trình nhân tạo, nhưng Cầu Mây đã khéo tận dụng khung cảnh "thung mây" tuyệt đẹp, biến nó thành một điểm nhấn rất hấp dẫn.
Giữa hai vách núi, nhà thiết kế tạo ra một cây cầu treo bằng gỗ quanh co, vắt vẻo như một chiếc thang bắc qua vực sâu. Trên cầu, người ta có cảm giác như đang bước đi trên tầng mây xốp trắng, mờ ảo, siêu thực. Mỗi bước đi cơ thể chao đảo nhẹ theo từng cơn gió, xung quanh chỉ có mây và sương, dưới là vực sâu. Thật sự là một trải nghiệm "lơ lửng". Nó không chỉ là một công trình thơ mộng với một số tượng đài tình yêu, tạo ra cảm giác mà còn là một bài kiểm tra về lòng can đảm và sự tin tưởng vào sự vững chãi của chính bản thân mình. Thú vị là cái cảm giác đó biến mất khi người ta nương tựa vào nhau.
Nhiều đôi bạn trẻ lách qua chúng tôi. Có một cặp đến từ miền Trung, khoảng ngoài 20, hỏi đường: “Từ Cầu Mây lên Cổng trời còn xa không ông bà, Quán gió còn xa không ông bà”? Cô bạn tôi mỉm cười ý nhị:
- Bà nghĩ càng xa càng tốt!
- Sao lại như vậy bà?
- Bà đọc một đoạn thơ nhé: “Anh đưa em lên với trời/ Để mắt em gắn với nền xanh ngắt/ Để tay anh chạm hồn em trong vắt/ Để ánh ngày chớp mắt hóa màn đêm/ Để tóc em thêu dệt áng mây mềm…”
- Ôi hay quá! Bà đọc lại cả bài thơ cho chúng cháu ghi âm nhé!
Dưới ánh nắng nhạt hòa trong làn sương chiều, đôi bạn trẻ trên Cầu Mây hiện lên như một nét vẽ thanh tú giữa đất trời. Chàng trai có vóc dáng cao, vững chãi trong bộ áo phông sẫm màu, đôi mắt ánh lên vẻ đắm đuối. Cô gái nhỏ nhắn, thướt tha trong bộ áo dài trắng như một bông hoa tuyết với làn tóc bay nhẹ trong gió, đôi gò má cô ửng hồng rạng rỡ. Họ chụp ảnh, trao nhau những cử chỉ âu yếm, tình tứ ở cung đường hoa cúc vàng rực. Chàng trai bỗng nhẹ nhàng vòng tay ôm eo, kéo cô gái xích lại gần để chắn một cơn gió lạnh. Họ khẽ thì thầm điều gì đó rồi cùng mỉm cười. Tôi ngắm nhìn họ, ngắm nhìn từng cặp, từng cặp trước sau trên chiếc cầu. Họ có thể nên vợ nên chồng. Họ cũng có thể xa nhau nếu không đủ duyên phận.
Ở cái tuổi U75, nếu phải phán xét, dù hoàn cảnh có trớ trêu thế nào đi chăng nữa thì tình yêu đâu có lỗi. Nói như một nhà thơ Nga: “Lũ trẻ tiếp theo ta/ Lại nhắc vị ngọt ngào thủa trước/ Vẫn sóng Ne-va, vẫn chiều sông nước/ Nghĩ cho cùng, họ có lỗi đâu anh”. Giữa khung cảnh này, chúng tôi cảm nhận tình yêu có những quy luật chung, một sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại…
Một ngày xuân đã khép lại. Trở lại nơi đây sau 50 năm, chúng tôi thấy rất vui vì nơi này đã phát triển ngoài sức tưởng tượng. Trong chúng tôi có người tiếc nuối vẻ tĩnh lặng, hoài cổ của những ngày xưa, nhưng sự thay đổi của Tam Đảo là điều tất yếu. Tam Đảo giờ đây mang vẻ đẹp vừa hiện đại, lộng lẫy, lại vừa giữ được khí hậu trong lành và sương khói mộng mơ của núi rừng. Nơi đây vẫn sẽ là nơi để người ta tìm về để thưởng ngoạn, để hưởng thụ, để "sống chậm" lại giữa cái guồng quay hối hả của cuộc sống. Với chúng tôi, quan trọng hơn là để nhận ra rằng: Có những thứ đổi thay, nhưng vẻ đẹp của thiên nhiên cùng với những cảm xúc, những kỷ niệm thì vẫn mãi mãi trường tồn, vẹn nguyên.
Read More

Một vài cảm nghĩ về Đài Loan

Leave a Comment

 Một vài cảm nghĩ về vấn đề Đài Loan

Tôi và mấy anh chị em trong gia đình tham gia chuyến đi Đài loan ngay sau khi kết thúc Cuộc tập trận Sứ mệnh Công lý quy mô lớn phong tỏa Đài Loan của quân đội Trung Quốc. Thật may mắn vì khi mua vé từ mấy tháng trước chúng tôi không lường trước xảy ra sự kiện này. Tôi đã lo lắng, sợ có sự cố gì bất thường xảy ra.
Tôi biết chính quyền Trung Quốc từ bao nhiêu năm nay vẫn luôn coi Đài Loan là một vùng lãnh thổ thuộc Đại lục. Họ buộc các nước trên thế giới phải công nhận chỉ có một đất nước Trung Quốc, không được quan hệ với Đài Loan như một thực thể chính trị. Vì thể diện và vì Đài Loan giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong bản đồ địa chính trị, kinh tế của khu vực Đông Bắc Á nên Trung Quốc sẵn sàng dùng vũ lực để “giải phóng” vùng lãnh thổ này bất chấp nguyện vọng của người dân và dư luận quốc tế.
Đài Loan là một hòn đảo nằm ở phía Tây Bắc Thái Bình Dương, diện tích hơn 36,000 km vuông và dân số khoảng 24 triệu người. Hòn đảo này được coi là điểm giao thoa giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, cách Trung Quốc khoảng 160–180 km qua eo biển Đài Loan.
Có thể nói Đài Loan là mắt xích trung tâm của "Chuỗi đảo thứ nhất". Trong chiến lược quân sự và an ninh. Nó được ví như một "tàu sân bay không thể đánh chìm" nằm ngay giữa Chuỗi đảo thứ nhất (kéo dài từ Nhật Bản qua Đài Loan đến Philippines), án ngữ và kiểm soát con đường ra biển mở từ Đông Á tiến ra Thái Bình Dương. Vị trí này khiến Đài Loan trở thành vùng đệm chiến lược quan trọng giữa các cường quốc, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh của cả Nhật Bản cũng như Hàn Quốc. Đài Loan còn nằm trên một trong những tuyến đường huyết mạch giao thương. Phần lớn hàng hóa và năng lượng (dầu mỏ) cung cấp cho Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc phải đi ngang qua eo biển Đài Loan hoặc vùng biển lân cận.
Đài loan còn là "Con rồng kinh tế" Đông Bắc Á. Bên cạnh Nhật Bản và Hàn Quốc, Đài Loan là một trong những thực thể kinh tế phát triển nhất khu vực, là trung tâm sản xuất bán dẫn (chips) hàng đầu thế giới; đóng vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu mà các quốc gia Đông Bắc Á khác, kể cả một số nước phương Tây phụ thuộc chặt chẽ. Trong bối cảnh cạnh tranh đối đầu Mỹ-Trung ngày một gay gắt, Bắc kinh càng mong muốn thu hồi Đài Loan để giành lấy vị thế mới về công nghệ.
Cuộc tập trận quy mô lớn nhất của Trung Quốc xung quanh Đài Loan với mật danh "Sứ mệnh Công lý" không chỉ đơn thuần là hoạt động quân sự định kỳ của Bắc Kinh mà còn mang những mục đích chiến lược và chính trị rất cụ thể: (1) Cuộc tập trận là phản ứng chính trị và ngoại giao đáp trả thương vụ bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan. Cuộc tập trận diễn ra ngay sau khi Mỹ công bố gói bán vũ khí kỷ lục trị giá hơn 11,1 tỷ USD cho Đài Loan. Bắc Kinh coi đây là hành động vi phạm "lằn ranh đỏ" và dung biện pháp quân sự để bày tỏ sự phản đối quyết liệt. Cuộc tập trận cũng răn đe các tuyên bố của Nhật Bản gần đây có những phát biểu về việc bảo vệ Đài Loan. (2) Về Quân sự và Tác chiến, cuộc tập trận nhằm mô phỏng phong tỏa toàn diện Đài Loan. Trọng tâm là bao vây các cảng nước sâu quan trọng như Cơ Long (phía Bắc) và Cao Hùng (phía Nam). Điều này nhằm chứng minh cho thế giới biết Trung Quốc có khả năng cắt đứt hoàn toàn nguồn cung năng lượng và thương mại của hòn đảo; đồng thời tập trung vào khả năng tấn công liên hợp cường độ cao (lục quân, hải quân, không quân, tên lửa) nhằm làm tê liệt hệ thống phòng thủ của Đài Loan trước khi lực lượng bên ngoài kịp can thiệp. (3) Cuộc tập trận còn thực hiện đòn chiến tranh tâm lý, gây áp lực để gửi thông điệp tới người dân và chính quyền Đài Loan rằng cái giá của việc theo đuổi độc lập hoặc thắt chặt quan hệ với Mỹ sẽ là sự bất ổn về an ninh và kinh tế. (4) Cuộc tập trận một lần nữa khẳng định chủ quyền, thông qua việc duy trì sự hiện diện quân sự thường xuyên và ngày càng áp sát, Trung Quốc muốn tạo ra hiện trạng bình thường hóa việc quân đội của họ hoạt động sát hòn đảo, từ đó dần xóa bỏ khái niệm "đường trung tuyến" ở eo biển Đài Loan… Tóm lại mục đích của Trung Quốc là tạo ra một "gọng kìm" vừa để răn đe chính trị, vừa chuẩn bị sẵn sàng các phương án quân sự cho kịch bản thu hồi Đài Loan trong thời gian tới.
Nhiều năm theo dõi qua các tài liệu tôi được biết tâm lý chung của người dân Đài Loan đối với chính sách "thu hồi" hay tái thống nhất của Trung Quốc hiện nay là một bức tranh đa sắc thái, nhưng xu hướng chủ đạo là duy trì sự khác biệt và phản đối việc thống nhất cưỡng ép bằng vũ lực. Dựa trên các cuộc thăm dò dư luận mới nhất từ Quỹ Ý kiến Công chúng Đài Loan và các tổ chức nghiên cứu chiến lược, tâm lý người dân có thể chia thành các nhóm chính sau:
Một là xu hướng "Ưu tiên Độc lập" và "Duy trì Hiện trạng" hiện tại. Đây là nhóm chiếm đa số tuyệt đối trong xã hội Đài Loan. Khoảng 52% người dân mong muốn Đài Loan trở thành một quốc gia độc lập hoàn toàn trong tương lai. Nhóm này coi đây là phương án an toàn nhất để tránh xung đột quân sự mà vẫn giữ được lối sống dân chủ.
Hai là xu hướng phản đối mạnh mẽ đối với chính sách "Một quốc gia, Hai chế độ". Hầu hết người dân Đài Loan, bất kể xu hướng chính trị nào, đều bày tỏ sự e ngại và bác bỏ mô hình "Một quốc gia, Hai chế độ" mà Bắc Kinh đề xuất. Bài học từ Hồng Kông và những biến động tại Hồng Kông trong vài năm qua đã khiến người dân Đài Loan mất niềm tin vào lời hứa về quyền tự trị của Chính quyền Trung Quốc. Người dân Đài Loan coi trọng nền dân chủ, tự do ngôn luận và hệ thống pháp luật hiện tại của họ, những thứ mà họ tin rằng sẽ biến mất nếu thống nhất dưới sự quản lý của Chính quyền Trung Quốc.
Ba là thái độ đối với các biện pháp đe dọa quân sự như cuộc tập trận "Sứ mệnh Công lý" đã gây ra những phản ứng tâm lý trái chiều cũng như sự cảnh giác và lo âu: Một bộ phận người dân cảm thấy căng thẳng hơn về nguy cơ chiến tranh, dẫn đến việc ủng hộ tăng ngân sách quốc phòng (dự kiến đạt 3% GDP). Nhưng đa số đã "miễn nhiễm" tâm lý sau nhiều thập kỷ sống dưới sự đe dọa, nhiều người dân đã hình thành tâm lý bình thản, tiếp tục cuộc sống thường nhật và không dễ dàng thay đổi quan điểm chính trị chỉ vì các cuộc tập trận.
Bốn là đa số giới trẻ, thế hệ "tự nhiên độc lập", bao gồm người sinh sau năm 1990 có sự gắn kết về bản sắc với Đài Loan rất mạnh mẽ. Khoảng 65% đến 70% người trong độ tuổi 25-34 ủng hộ độc lập. Họ tự xem mình là "người Đài Loan" thay vì là "người Trung Quốc". Vì vậy Trung Quốc đe dọa nếu Đài Loan Trưng cầu dân ý về độc lập thì lập tức Trung Quốc sẽ tiến hành “giải phóng” bằng vũ lực.
Để hiểu về thực tế, trong chuyến đi, hễ có dịp tiếp xúc với người Đài loan các giới tôi chăm chăm đề cập đến vấn đề này, đặc biệt là với những hướng dẫn viên du lịch người Đài Loan, người Việt ở Đài Loan lâu năm. Một cô hướng dẫn viên du lịch người Đài Loan trả lời câu hỏi của tôi, người có tuổi, tầng lớp trung lưu và người giàu rất sợ những phong trào, những cuộc cách mạng Trung Quốc phát động như Đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc. Tầng lớp trí thức, sinh viên thì rất bất mãn với cuộc đàn áp dã man sinh viên bằng xe tăng như ở Thiên An môn. Người theo Công giáo, Hồi giáo, theo đạo Phật thì rất sợ bị truy bức như trường hợp Đức Lạt Ma và các nhà sư ở Tây Tạng hay người theo đạo Hồi ở Tân Cương. Đặc biệt người thực hành tập Pháp luân công (có tới hàng triệu người ở Đài loan) thì rất sợ về với Đại lục sẽ bị cấm đoán, bị tù đày, bị mổ cướp nội tạng. Có một cô hướng dẫn viên người Việt lấy chồng là kỹ sư Đài Loan cho tôi biết, chồng cô và gia đình nhà chồng đều muốn Đài Loan được độc lập. Nếu Trung Quốc giành Đài loan bằng vũ lực thì họ dự định sẽ di cư sang Mỹ. Cô nói “ Riêng chồng cháu đã mua một căn nhà ở quê cháu, nếu có biến ở Đài Loan, cái gia đình nhỏ của cháu sẽ về Việt Nam ở”…
Các em tôi thấy tôi quan tâm thái quá về cái đề tài nhạy cảm tại những địa điểm như ở Đài Bắc, Đài Trung, Cao Hùng đã góp ý “Anh quan tâm đến chính trị của đất nước họ làm cái gì”. Tôi im lặng, không tranh luận. Có điều các em tôi không biết, một số tướng lĩnh PLA đã công khai xây dựng kế hoạch chiến lược về 7 cuộc chiến tranh Trung Quốc sẽ tiến hành trong tương lai. Chiến tranh giành lại Đài loan là cuộc chiến đầu tiên mà họ phải hoàn thành trước năm 2030, Và cuộc chiến tranh thứ 2 tiếp theo là cuộc chiến tranh giành lại toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Là người Việt chớ có ai mang bất kể hy vọng gì vào những kẻ bành trướng Đại Hán. Nếu nói là công việc của người ta mặc kệ họ thì cũng không sai, nhưng việc của người ta xong rồi thì sớm muộn cũng đến việc của đất nước mình. Người Việt ai có thể không quan tâm và không cảnh giác với giấc mộng siêu cường luôn âm mưu chiếm trọn Biển Đông?
Read More
Leave a Comment

 CĂN NHÀ TÌNH NGHĨA VÀ LINH HỒN NGƯỜI CHIẾN SĨ THÉP

Bắt đầu đầu tháng Chạp, khi tiết trời miền Bắc se lạnh cũng là lúc trong lòng chúng tôi ùa về bao ký ức ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và về một thời hoa lửa. Năm nay chúng tôi cùng nhau trở về xã Ngọc Thiện, lòng rưng rưng khi chứng kiến một cuộc hội ngộ đặc biệt. Không chỉ là cuộc hội ngộ của những người đang sống, mà là hành trình trở về của hơn 50 con người U80, mái đầu bạc trắng với một người đồng đội đã nằm lại ở tuổi 22 – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Dương Quang Bổ.
Lịch sử Trung đoàn 3, Lịch sử Sư đoàn 324 vẫn còn ghi tạc cái tên Dương Quang Bổ. Chàng trai quê Tân Yên (Bắc Giang cũ) nhập ngũ khi tuổi đời mới 18. Cũng như hàng triệu thanh niên theo tiếng gọi chống Mỹ cứu nước của Tổ quốc anh đã tình nguyện lên đường hòa mình vào dòng thác cách mạng tại chiến trường Trị - Thiên ác liệt. Những trận đánh tại các địa danh như Tam Tánh, A Dơi, Cooc Bai, hay Đường 9 - Nam Lào từng in dấu chân kiên cường của bao người lính. Anh em vẫn thường nhắc về anh với biệt danh "Chiến sĩ thép". Cái tên ấy không phải dễ dàng tức thời tự nhiên mà đến. Nó là kết quả rèn luyện, chiến đấu không sợ hi sinh gian khổ, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua. 5 Huân chương chiến công, đặc biệt là 7 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, diệt xe tăng, bắn rơi máy bay trực thăng là phần thưởng xứng đáng cho người chiến sĩ tiêu biểu.
Từ một chiến sĩ luôn gương mẫu, luôn xung phong tiến lên phía trước, nhận về mình phần khó khăn gian khổ để đồng đội được bình an, anh được các cấp tin yêu bổ nhiệm làm cán bộ tiểu đội, trung đội rồi đại đội sau mỗi một năm. Ở cương vị nào anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đại tá Đào Quang Đới, Phó trưởng đoàn cựu chiến binh Trung đoàn 3 cho biết, vào trung tuần tháng 4 năm 1972, theo quyết định của Quân khu Trị Thiên, Sư đoàn 324 phối hợp với chiến trường Quảng Trị mở nhiều chiến dịch. Trung đoàn 3 được lệnh vây lấn, đánh chiếm Động Tranh, vị trí cửa ngõ để quân ta triển khai xuống đồng bằng, uy hiếp thành phố Huế. Chỉ hơn một tuần quân ngụy đã bị quét sach khỏi Động Tranh. Một đại đội thuộc Trung đoàn Trâu Điên được đổ bộ xuống đánh chiếm giữ điểm cao Sơn Đào hòng chia cắt hướng chi viện của ta lên Động Tranh, làm bàn đạp chuẩn bị tái chiếm lại. Đại đội 1 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 3 được giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt đại đội ngụy. Sau khi hỏa lực pháo cối trung đoàn cấp tập vào trận địa địch, Anh Đới và anh Bổ mỗi người chỉ huy một đại đội vận động tiến công điểm cao. Hướng của tôi rất bất lợi, anh Đới kể, phía trước là một khoảng trống chạy dài lên cao điểm. Máy bay trực thăng, phi pháo địch bắn xuống xối xả. Một số cán bộ chiến sĩ đã bị thương vong. Tôi thầm nghĩ anh em chắc sẽ thương vong nhiều. Chính vào lúc đó, để hỗ trợ cho hướng của tôi anh Bổ đã ra lệnh cho đại đội đồng loạt nổ súng. Quân địch tập trung toàn bộ hỏa lực về hướng đại đội của anh. Tranh thủ thời cơ tôi chỉ huy đại đội xung phong, nổ súng chiếm lĩnh trận địa. Anh Bổ và 8 chiến sĩ đã hy sinh thay cho chúng tôi vào ngày 8/5/1972, tại điểm cao 101 núi Sơn Đào. Anh đã ngã xuống trong tư thế dẫn đầu một mũi xung phong lên điểm cao. Thật đau xót khi mất đi một cán bộ quả cảm đầy triển vọng. Ngày hôm đó cũng chính là ngày Nhà nước ký quyết định phong tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Anh Phi người đồng đội thân thiết gắn bó với anh Bổ từ năm 1968 đến tháng năm năm 1972. Nằm trên giường bệnh anh nghẹn ngào nói với chúng tôi trước lúc đoàn lên đường: “Thương Bổ lắm! Bổ khổ từ nhỏ. Anh lấy đơn vị làm gia đình, là niềm vui. Trước ngày vào chiến dịch cả đại đội hàng tuần chỉ ăn cháo với rau môn thục. Không có một hột cơm. Anh em tăng gia được 1kg gạo nấu cơm trước khi vào trận đánh. Anh nhường anh em đồng đội nhất định không ăn, với lý do sau chiến dịch anh được điều ra ngoài Bắc báo cáo thành tích, sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi. Còn anh em ở trong này thì còn khó khăn lắm.” Anh Phi xúc động: “Vậy mà không ngờ… Anh em hãy mang cho mình thẻ hương cùng ít tiền trong chiếc phong bì này, đặt lên giường thờ Anh Bổ, nói hộ mình, hãy tha lỗi cho mình ốm đau quá không đến nhà được…”
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến tranh đã lùi xa nhưng nỗi đau về những người con "không có may mắn trở về" vẫn đau đáu trong lòng những người ở lại. Năm 2005, hài cốt anh đã được gia đình và đồng đội đưa từ Nghĩa trang liệt sĩ Hương Điền trở về lại đất mẹ. Thế nhưng, nhìn cảnh ngôi nhà thờ tự anh dột nát, cha mẹ anh đã khuất núi, chỉ còn người cháu trông nom trong cảnh nghèo khó, anh em Trung đoàn 3 không khỏi xót xa. Đã có nhiều bài báo, đã có nhiều bức ảnh đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng ngôi nhà xuống cấp vẫn đứng im lìm hàng chục năm. Trong một lần về thăm gần đây, Anh Phạm Huỳnh Công, Trưởng ban liên lạc Hội cựu Chiến binh Trung đoàn 3 cùng một số anh em đã kết nối những nhịp cầu nhân ái, đề nghị chính quyền các cấp và những nhà hảo tâm cùng xây dựng ngôi nhà tình nghĩa.
Ngôi nhà 50 m vuông khang trang, trị giá 160 triệu đồng đã được xây dựng chính trên mảnh đất một sào của gia đình anh Bổ. Nhưng cái "tình" không chỉ nằm ở những viên gạch, bao xi măng. Đó còn là số tiền hơn 20 triệu đồng mà anh em đồng đội gom góp, chắt chiu từ đồng lương hưu ít ỏi để mua sắm bàn thờ, đồ lễ thật trang trọng. Mọi người đều muốn người "Chiến sĩ thép" năm nào có một chốn đi về ấm áp, thắm thiết nghĩa tình.
Hôm nay, ngày khánh thành và cũng là dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hơn 50 CCB từ Bắc chí Nam, từ Hà Nội, Hải Phòng đến tận thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị xa xôi đã tụ hội về đây. Có những người là thương binh, bệnh binh bước chân tập tễnh đã chậm chạp, những mái đầu trắng xóa, và cả những người vợ liệt sĩ cũng lặn lội về quê hương anh. Giây phút dâng hương tại nghĩa trang liệt sĩ xã và tại ngôi nhà mới thật trang nghiêm và cảm động. Không gian như đọng lại. Khói hương trầm quyện tỏa, nhòe trong mắt những người lính già. Họ vẫn như ngày nào thực hiện nghi lễ linh thiêng tiễn biệt đồng đội sau trận đánh. Không chỉ dâng hương cúng tế một người anh hùng, họ đang trò chuyện với một phần tuổi trẻ của chính mình. Những bàn tay khẳng khiu lau tấm bia mộ, những bàn tay nhăn nheo, thô ráp chạm vào bàn thờ mới, những lời thăm hỏi ân cần dành cho thân nhân liệt sĩ... tất cả tạo nên một bức tranh nhân văn rạng ngời.
Chiến tranh có thể tàn phá tất cả, có thể cướp đi rất nhiều, rất nhiều cán bộ chiến sĩ nhưng không thể quật ngã được tình đồng chí, đồng đội. Ngôi nhà tình nghĩa tại Ngọc Thiện hôm nay không chỉ là nơi hương khói cho Anh hùng liệt sĩ Dương Quang Bổ, mà còn là một cột mốc của lòng tri ân. Anh nằm đó, giữa tình yêu của gia đình, làng xóm và vòng tay của những người đồng đội chưa bao giờ quên anh. Đất nước hôm nay tươi đẹp thế này, chính là nhờ những "chiến sĩ thép" đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Và chúng tôi, những người ở lại, vẫn sẽ tiếp tục hành trình đi tìm đồng đội, tiếp tục sưởi ấm những ngôi nhà còn đơn sơ, để nghĩa tình người lính mãi mãi vẹn tròn.
Read More

50 năm, một chuyến đò trở về trong mưa bụi

Leave a Comment

 

50 Năm, một chuyến đò trở về trong mưa bụi

 Buổi sáng đầu tháng 11, Hà Nội đón chúng tôi bằng một màu xám đục nhuốm hơi sương. Những hạt mưa lất phất mang theo cái lạnh se sắt đặc trưng cuối thu chớm đông của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đã bao ngày rồi mà mưa vẫn chùng chình không dứt. Dù thời tiết bất lợi, không ai trong chúng tôi muốn trì hoãn cuộc gặp mặt này.

 Hành trình của tôi bắt đầu qua con đường quen thuộc: Trường Chinh, Minh Khai, rồi đến Cầu Mai Động để đón bạn Cầu. Mỗi đoạn đường đi qua là một lát cắt của ký ức một thời. Gần 8 giờ sáng, hai chúng tôi có mặt tại nhà bạn Kha, bên cạnh đình Ô Cách cổ kính. Không khí bắt đầu rộn ràng. Những nụ cười nở bừng trên những gương mặt đã nhuốm màu thời gian. Những cái bắt tay siết chặt. Những thăm hỏi vồn vã chân tình như thể bù đắp cho nửa thế kỷ xa cách.

 Trong không khí đầm ấm, thân mật ấy, tôi có một món quà nho nhỏ, mong muốn chia sẻ cùng với các bạn. Món quà được ấp ủ trong khoảng 15 năm qua, cuốn sách "Từ rừng săng lẻ đến rừng sồi" tôi vừa xuất bản, tập hợp 64 câu chuyện thường ngày không hư cấu. Đó là những trải nghiệm, góc nhìn mà tôi ghi chép lại khi tuổi đã xế chiều. Những câu chuyện từ nhà đến chuyện làng nước, từ miền quê đồng bằng đến miền núi; từ quá khứ đến hiện tại; từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục… Mỗi câu chuyện là một lát cắt từ thực tế liên quan đến hành trình cá tôi đã đi qua. Tôi không muốn làm ảnh hưởng đến chương trình chung của lớp, chỉ hy vọng rằng món quà tinh thần này sẽ là chiếc cầu nối, giúp chia sẻ những suy tư, chiêm nghiệm ở cái tuổi mà tất cả những cái đẹp đã lùi lại sau lưng.

 Từ nhà bạn Kha, chiếc xe buýt lăn bánh, đưa hơn hai chục bạn đồng môn đến Đồng Đò, Sóc Sơn, một khu du lịch sinh thái tôi biết rất đẹp với đồi núi trập trùng và hồ nước mênh mông hữu tình. Trên đường đi, một phép màu đã xảy ra trên chiếc xe ấy. Ở cái tuổi các cụ xưa nay hiếm, tóc bạc không còn một sợi đen, chúng tôi vẫn say mê ca hát. Hát cá nhân, hát tập thể. Những bài ca quen thuộc ở cái tuổi mười tám đôi mươi ngày nào hát ở nội trú, hát ở nhà bạn Hà chuẩn bị cho hội diễn văn nghệ. Giờ đây lại hát vang lên đầy cảm xúc, vượt qua mọi sự e dè của tuổi tác…

 Tôi lặng lẽ lắng nghe. Tôi thích nghe bạn Nga, Tính, Dung, Bình, Thúy hát hơn cả những ca sĩ chuyên nghiệp, bởi đó không chỉ là âm nhạc, mà là tiếng lòng chân thật, không tô vẽ của những người đã qua cái tuổi thất thập. Tôi cũng góp vui một bài thơ tình được in và phổ nhạc vào những năm 1980… Quá khứ hiện tại dường như chập chờn đan xen trong từng nốt nhạc. Có niềm vui hội ngộ, có cả nỗi khắc khoải nhớ thương một thời, có cả những dự cảm định mệnh ngày mai.

 Tôi chợt nhớ đến giọng ca vàng của lớp, bạn Hảo. Sau khi ra trường anh thường xuyên qua lại nhà tôi, phần vì công việc mưu sinh làm ăn “chân trong chân ngoài”. Vào thời gian ấy căn nhà năm gian của gia đình tôi chưa trát vữa hai gian buồng, anh lấy tiền lãi của cả một năm cho tôi mượn để mua năm tạ vôi và một xe cát. Cứ mỗi sáng sớm chủ nhật hai chúng tôi đánh một cối vữa, một mình anh vừa là thợ chính vừa là thợ phụ trát dần trong khi tôi dệt khăn mặt, khăn tắm. Bốn ngày nghỉ cuối tuần trong một tháng anh trát xong. Hoàn công anh cười rất tươi với câu bông đùa “Coi như đây là quà đám cưới mừng đám anh”…

 Chúng tôi thân nhau còn vì cùng tham gia học lớp viết văn của Trường Viết văn Nguyễn Du thuộc Hội Nhà văn, cùng tham gia Hội Văn nghệ Hà Nội. Anh là người đầu tiên trong lớp có thơ và truyện ngắn giới thiệu trên Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, và là người đầu tiên có thơ và truyện ngắn in trên báo Văn nghệ, tạp chí Người Hà Nội, báo Người Giáo viên nhân dân từ cuối những năm 1970. Nhưng ấn tượng nhất về anh là chất giọng mùi mẫn khi hát về những ca khúc Tiền chiến. Bài tủ của anh là bài Nửa hồn thương đau của nhạc sĩ Phạm đình Chương. Chỉ cần anh ngân nga mấy câu trong giai điệu trầm lắng “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa/Cho tôi về đường cũ nên thơ/Cho tôi gặp người xưa ước mơ” cũng đã đủ hút hồn người nghe. Giá mà chúng tôi được nghe anh hát hôm nay! Vậy mà anh đã xa chúng tôi chục năm rồi.      

 Theo quy luật đào thải và tự đào thải khắc nghiệt của thời gian như Đại sư Lý Hồng Chí từng giảng, vũ trụ có thành trụ hoại diệt, con người có sinh lão bệnh tử. Có thể các nhà trường đã “đào thải” chúng tôi, có thể xã hội đang dần “đào thải” chúng tôi, có thể sắp tới những người thân quen và cả gia đình rồi cũng sẽ “đào thải” chúng tôi. Nhưng điều đó không quan trọng. Chúng tôi vẫn đang tồn tại, đang sống chân thành, thiện lương và kiên nhẫn theo đặc tính và quy luật của đất trời với niềm vui riêng của mình.

 Năm mươi năm đã trôi qua. Một số người bạn thân yêu đã ra đi. Sự vắng bóng ấy khiến cho những giây phút chúng tôi được ngồi bên nhau càng trở nên quý giá và thiêng liêng hơn. Mỗi khoảnh khắc nhìn nhau là một lời nhắc nhở về sự hữu hạn mà chúng tôi cần phải trân trọng.

 Đồng Đò đón chúng tôi ở một hội trường xinh xắn ven hồ, xung quanh là khung cảnh nên thơ với hoa nở trong mưa nhỏ li ti, gần như vô hình, chỉ đủ làm ướt nhẹ mái tóc và đọng lại từng giọt, từng giọt trên nền cỏ bắt đầu úa vàng. Đây là cái khoảnh khắc giao mùa mơ hồ, dịu dàng khi đất trời chuẩn bị chìm vào giấc ngủ đông.

 Lần này chúng tôi bỏ qua mọi nghi thức. Chỉ một tấm phông màu với dòng chữ một thời để nhớ. Chúng tôi dành nhiều thời gian để chụp ảnh lưu niệm. Chúng tôi xem lại những bức ảnh tập thể, cá nhân khi mới bắt đầu vào trường. cùng nhau ôn lại bao kỷ niệm 50 năm qua: Từ những ngày đầu bỡ ngỡ vào trường, những khó khăn khi mới ra trường, ba đến bốn mươi năm đứng trên bục giảng. Rồi chuyện nhà cửa. con cái, và cả những trăn trở lúc xế chiều…

 Tiệc liên hoan diễn ra trong không khí vừa vui vẻ, vừa lắng đọng. Vừa ngắm nhìn đất trời mênh mông, chúng tôi vừa tiếp tục chia sẻ những tâm tình. Đặc biệt, có những câu chuyện, những mối tình thầm yêu trộm nhớ ngày xưa, những điều chưa bao giờ dám nói, nay mới được kể ra trong tiếng cười và cả những giọt nước mắt rưng rưng. Tất cả đều đong đầy cảm xúc và lưu luyến. 50 năm không làm phai nhạt tình bạn, mà chỉ tô thêm sâu sắc, thêm quý giá.

 Chúng tôi tạm biệt nhau khi trời vẫn mưa, mưa rơi lây phây tạo thành tấm màn giăng phủ khắp phố phường. Mưa như níu giữ chúng tôi nán lại ở bên nhau tại nhà bạn Kha trước khi chia tay. Hy vọng ngày này sang năm chúng tôi lại sẽ gặp nhau, không vắng bóng một ai! Đó không chỉ là lời hứa mà là niềm mong ước tha thiết  của những người bạn tri kỷ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Read More

Thăm Bảo tàng Legion of Honor

Leave a Comment

 Thăm Bảo tàng Legion of Honor

Bảo tàng Legion of Honor, hay còn gọi là Cung điện Lê dương Danh dự California, là một trong hai bảo tàng thuộc hệ thống Bảo tàng Mỹ thuật San Francisco (Fine Arts Museums of San Francisco). Tọa lạc tại Lincoln Park, bảo tàng mang đến cho du khách một khung cảnh ngoạn mục nhìn ra Cầu Cổng Vàng và Thái Bình Dương, tạo nên một bối cảnh tuyệt đẹp cho các tác phẩm nghệ thuật bên trong.
Công trình này được xây dựng vào năm 1924 để tưởng nhớ những người lính California đã hy sinh trong Thế chiến thứ nhất, với thiết kế lấy cảm hứng từ Palais de la Légion d'Honneur ở Paris. Bảo tàng trưng bày một bộ sưu tập phong phú trải dài hơn 4.000 năm lịch sử nghệ thuật châu Âu và cổ đại, bao gồm tranh vẽ, điêu khắc, nghệ thuật trang trí, đồ họa và nghệ thuật đương đại. Nơi đây là điểm đến không thể bỏ qua cho những ai yêu nghệ thuật và lịch sử khi ghé thăm San Francisco.
Bảo tàng Legion of Honor ở San Francisco sở hữu bộ sưu tập đồ sộ với hơn 124.000 tác phẩm nghệ thuật bao gồm nghệ thuật khu vực châu Âu như tranh vẽ, điêu khắc, và các tác phẩm nghệ thuật trang trí từ thời Trung cổ đến thế kỷ 20 và nghệ thuật cổ đại với các tác phẩm từ Ai Cập, Hy Lạp, La Mã và Cận Đông. Bảo tàng được chia thành nhiều khu vực trưng bày theo chủ đề, giúp du khách dễ dàng khám phá và chiêm ngưỡng các tác phẩm.
Một trong những điểm nhấn nổi bật của bảo tàng là bộ sưu tập lớn các tác phẩm của Auguste Rodin, bao gồm cả bức tượng nổi tiếng "Người suy tư" (The Thinker) được đặt trang trọng tại sân trong của bảo tàng. Bộ sưu tập này mang giá trị nghệ thuật sâu sắc, thể hiện một cách toàn diện quá trình phát triển và tầm nhìn đột phá của nhà nghệ sĩ Rodin trong điêu khắc. Các tác phẩm nổi bật, nhất là bức "Người suy tư" biểu tượng, không chỉ thể hiện năng lực làm chủ kỹ thuật của ông trong việc tạo hình cơ thể con người mà còn đi sâu vào việc khắc họa cảm xúc nội tâm phức tạp như nỗi đau, sự suy tư và sự đấu tranh của linh hồn. Rodin đã phá vỡ các quy tắc cổ điển bằng cách để lại những bề mặt thô ráp, chưa hoàn thiện, nhấn mạnh năng lượng và sự biểu cảm thay vì sự hoàn hảo lý tưởng, từ đó mở ra một kỷ nguyên mới cho điêu khắc hiện đại, nơi mà hình thức và cảm xúc hòa quyện để truyền tải thông điệp sâu sắc về thân phận con người và bản chất tồn tại.
Ngoài ra, bảo tàng còn là nơi lưu giữ các tác phẩm của nhiều danh họa lừng lẫy như Rembrandt, Monet, Rubens, El Greco, và Van Gogh… Bảo tàng Legion of Honor tự hào sở hữu nhiều kiệt tác hội họa, mỗi bức tranh đều kể một câu chuyện riêng và thể hiện phong cách độc đáo của người nghệ sĩ.
Tôi không am hiểu về nghệ thuật tạo hình nhưng vẫn có thể cảm nhận được giá trị của một số tác phẩm yêu thích trong bảo tàng. Bức tranh St. John the Baptist" của El Greco để lại trong tôi nhiều ấn tượng. Bức tranh này ra đời khoảng năm 1600, thể hiện phong cách đặc trưng của ông với những hình tượng kéo dài, màu sắc đậm và ánh sáng siêu thực. Thánh John hiện lên với vẻ ngoài gầy gò, đôi mắt hướng lên trời, toát lên sự khắc khổ và một nỗi niềm linh thiêng sâu sắc. Tôi cảm nhận được một năng lượng tâm linh mạnh mẽ toát ra từ tác phẩm, như thể Thánh John đang truyền tải một thông điệp từ thế giới khác. Cách El Greco sử dụng màu sắc và ánh sáng tạo nên một không gian đầy kịch tính, thôi thúc người xem suy tư, chiêm nghiệm về đức tin và sự hy sinh trên con đường trở thành thần thánh.
Bức tranh Le Grand Canal của Claude Monet, bậc thầy của trường phái Ấn tượng, đã ghi lại vẻ đẹp lộng lẫy của Venice vào năm 1881. Bức tranh ngập tràn ánh sáng và màu sắc, với những nét cọ nhanh, tự do phóng khoáng, tạo nên sự rung động của mặt nước và bầu không khí. Khi ngắm nhìn tác phẩm này, tôi như được đắm mình vào cảnh sắc yên bình và thơ mộng của Venice, cảm nhận được sự chuyển động nhẹ nhàng của mặt nước và sự lấp lánh của ánh nắng. Bức tranh không chỉ tái hiện cảnh quan mà còn truyền tải cảm xúc về sự tươi mới và vẻ đẹp thoáng qua của khoảnh khắc.
Bức tranh chân dung Joris de Caulerij của Rembrandt năm 1632 thể hiện tài năng bậc thầy của họa sĩ trong việc nắm bắt tâm lý nhân vật. Joris de Caulerij, một người đàn ông trong trang phục quân đội, được khắc họa với ánh mắt đầy suy tư và biểu cảm chân thực. Rembrandt đã sử dụng kỹ thuật thể hiện sáng tối tương phản một cách điêu luyện để tạo chiều sâu và tập trung vào gương mặt của nhân vật. Tôi bị cuốn hút bởi sự sống động trong đôi mắt của Joris, như thể nhân vật có một câu chuyện dài muốn kể. Bức tranh này cho thấy khả năng của Rembrandt không chỉ là vẽ một hình ảnh mà là truyền tải cả một tâm hồn.
Rất tiếc cả gia đình tôi mười một người, không phải ai cũng yêu thích nghệ thuật tạo hình, đặc biệt là các cháu. Đa số các cháu chỉ thích bảo tàng tự nhiên, lịch sử, công nghệ… Bảo tàng nghệ thuật không thu hút sự chú ý của các cháu nên mọi người phân tán ở nhiều khu vực khác nhau.
Chỉ có ba cha con bên nhau mải miết từ sáng đến chiều cùng thưởng thức, khám phá cái đẹp hơn 4000 năm qua các thời kỳ. Hàng trăm tác phẩm cùng với nhiều kiệt tác tại Legion of Honor đã mang đến cho chúng tôi cơ hội khám phá sự đa dạng của nghệ thuật và cảm nhận những câu chuyện, cảm xúc mà các nghệ sĩ đã gửi gắm qua từng nét vẽ…
Khi ra ngoài để gặp mọi người, tôi nói với các con: “Có lẽ cần phải có cách tiếp cận khác để cả nhà có thể hài hòa khi đi thăm bảo tàng nghệ thuật”.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.