Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

lại chuyện Tàu

Leave a Comment
Những tháng đầu năm tôi viết liên tiếp 3 bài về Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Tàu). Tôi đã viết quá nhiều về họ, thực tình không muốn viết thêm về cái đề tài “bành trướng” đã trở thành thương hiệu cố hữu gắn liền với quá khứ, hiện tại kể từ triều đại phong kiến Hán cho đến tận ngày hôm nay. Cực chẳng đã lại phải có đôi lời.
Trong quan hệ quốc tế, Đông Nam Á đang nóng lên từng ngày bởi nhiều sự kiện thu hút giới chính trị, các nhà quan sát, các học giả, các nhà nghiên cứu và tất nhiên là đông đảo người dân trong khu vực. Sự kiện đáng quan tâm nhất là cuộc họp ngoại trưởng các nước Đông Nam Á với sự có mặt của gần 30 tổ chức và ngoại trưởng các nước đang diễn ra tại Băng Cốc, Thái Lan trong khi nhóm tàu khảo sát địa chất Hải dương 8 Trung Quốc vẫn đang hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam gần khu vực phía Nam Biển Đông, cụ thể là ở bãi Tư Chính, nhằm ngăn cản Việt Nam liên doanh, khai thác lô dầu khí 06-01. 
Một lần nữa Trung Quốc lại chà đạp lên công lý, muốn áp đặt chủ quyền, thực hiện yêu sách tưởng tượng “Đường lưỡi bò” vốn đã bị Tòa án Trọng tài tại Hague bác bỏ vào tháng 7 năm 2016 khi Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.
Cũng giống như sự kiện diễn ra vào năm 2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam cách đây năm năm, lần này Bắc Kinh vi phạm chủ quyền Việt Nam còn nhằm mục đích gì sau một thời gian ngắn ngủi không tiến hành các hành động gây sự với các bên tranh chấp Biển Đông?
Dư luận vẫn chưa quên cách đây vài tuần, tàu lớn của Trung Quốc đã đâm vào những chiếc tàu nhỏ bé của ngư dân Philippines, rồi bỏ mặc 22 thuyền nhân trên mặt biển. Nếu không có tàu Việt Nam kịp thời cứu giúp thì tất cả ngư dân Philippines đã chết trên vùng đặc quyền và thềm lục địa của chính mình. Đã thế Trung Quốc còn vu cáo tàu Philippines bao vây tàu của họ nên họ buộc phải đâm tàu Philippines để mở lối thoát giống như năm 2014 Trung Quốc tố cáo tàu Việt Nam đã 14.000 lần đâm vào tàu bảo vệ giàn khoan của họ. Có lẽ trên thế giới không có nước nào tráo trở gắp lửa bỏ tay người như các cơ quan chức năng Tàu.
Theo tôi hành động của Tàu gần đây không nên gọi là xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước, phải gọi đó là hành động côn đồ của kẻ bành trướng cướp biển, cướp tài nguyên ở Biển Đông nhằm hiện thực hóa “Đường lưỡi bò”.
Hành động của họ khi thì trắng trợn sử dụng vũ lực quân sự xâm chiếm các đảo, trong đó có đảo Phú Lâm thuộc Quần đảo Hoàng Sa từ Chính quyền Việt Nam Cộng hòa vào tháng 1 năm 1974, xâm chiếm 6 đảo của Việt Nam vào tháng 1 năm 1988, khi thì xảo trá dùng tàu giàn khoan, tàu thăm dò với lực lượng yểm trợ của các tàu hải cảnh, hải giám, kiểm lâm, dân quân tự vệ xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước để tạo ra sự tranh chấp, rồi đòi ngồi vào bàn thương lượng song phương để chia chác trong khu vực chủ quyền của các nước ven Biển Đông.
Trong quá khứ, thủ đoạn của Trung Quốc lúc căng lúc trùng, linh hoạt tùy theo tình hình quốc tế cụ thể, nhằm gặm nhấm dần các đảo, tránh gây ra phản ứng lớn của các nước và trong khu vực. Tuy nhiên động thái của Trung Quốc từ tháng 5 đến hết tháng 7 trong thời gian vừa qua dường như có sự bất thường. Bất thường vì cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc được đẩy lên mức rất nguy hiểm. Hơn bao giờ hết Trung Quốc cần tranh thủ sự ủng hộ của nhiều nước, nhất là các nước trong khối ASEAN, khi khối này vượt Mỹ, trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc.
Trung Quốc bành trướng nhằm hiện thực hóa đường lưỡi bò ở Biển Đông thì đương nhiên rồi. Nhưng hình như họ đã vi phạm chính cái “nguyên tắc đại cục” của họ để thực hiện cái tính toán trước mắt. Hoặc là họ quá tự tin vào sức mạnh của họ hoặc là họ bắt đầu mất kiểm soát trước tình hình trong ngoài nước. Họ định ép ASEAN phải ký với họ một bộ quy tắc trên Biển Đông (COC) như mong muốn. Họ muốn COC phải làm rõ cách các nước trong khu vực khai thác tài nguyên ở các vùng biển "có tranh chấp" phải như thế nào (thực ra là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước nhưng Trung quốc cố tạo ra sự tranh chấp để buộc các nước đàm phán. Nghĩa là vào nhà người ta rồi đòi người ta phân chia lại mốc giới). Họ muốn vạch ra ranh giới đâu là nơi các quốc gia trong khu vực có thể tổ chức tập trận quân sự chung với các nước "ngoài khu vực" (riêng với Việt Nam phải chăng họ còn muốn bắn đi một tín hiệu chính trị trước chuyến đi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sang thăm Mỹ). Chính vì vậy nhiều học giả, chuyên gia trong và ngoài ASEAN đã bàn luận về sự kiện này. Nhiều người bày tỏ lo ngại COC tới đây sẽ thiếu đi tính ràng buộc pháp lý và đi vào vết xe đổ của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002.
Ủng hộ trước Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lên án Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ngày 19/7 và ngày 25/7, trong tuyên bố lên án các hành vi khiêu khích của Trung Quốc đối với các hoạt động dầu khí của Việt Nam trên Biển Đông, Bộ Ngoại giao Mỹ đã cáo buộc Bắc Kinh đang gây sức ép hòng bắt ASEAN chấp nhận các điều khoản bất lợi trong COC, ngăn chặn các nước này hợp tác với nước thứ ba để khai thác dầu khí trên Biển Đông, từ đó kiểm soát các nguồn tài nguyên trong khu vực. Tiếp theo các bộ trưởng Mỹ, Nhật, Úc đã ra tuyên bố chung lên án hành vi cản trở khai thác dầu khí tại Biển Đông ngày 2/8.
Trong cuộc họp tại Băng Cốc, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về những diễn biến trên thực địa, trong đó có hoạt động của tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Các hành động này đe doạ nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, không có lợi cho hoà bình và ổn định ở khu vực. Ông Phạm Bình Minh nhấn mạnh rằng những hành động của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.
Một số ngoại trưởng tại cuộc họp ASEAN cũng lo ngại về sự cố ở Biển Đông, nhất là các nước có liên quan. Mặc dầu còn mâu thuẫn giữa các bộ trưởng ngoại giao ASEAN, nhưng tuyên bố chung của Hội nghị Bộ Trưởng đã đề cập: “Chúng tôi tái khẳng định tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982”. Rõ ràng hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đã phủ bóng đen lên Hội nghị ngoại trưởng ASEAN. Sau Việt Nam, Philippines, chắc chắn Trung Quốc sẽ “hành xử” với Malaysia và Indonesia như họ đã từng làm.
Trước làn sóng chỉ trích, đoàn ngoại giao Trung Quốc do Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị dẫn đầu lờ đi như điếc. Họ còn trơ trẽn lên án các nước ngoài khu vực gây chia rẽ Biển Đông. Trung Quốc “tuân thủ nghiêm DOC”. Biển Đông “không có vấn đề gì”. Thật hết thuốc chữa. Đúng như câu thành ngữ Việt: vừa ăn cướp vừa la làng. 
Vấn đề đặt ra sau khi nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 đi vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam là giữa Mỹ và nhiều nước trong ASEAN có lợi ích song trùng trong vấn đề thách thức những yêu sách bành trướng ngang ngược của Trung Quốc trên biển. Trong khi các nước ven biển, trong đó có Việt Nam muốn bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, Mỹ cũng đang tìm kiếm cách thức kiềm chế tham vọng hàng hải ngông cuồng của Trung Quốc.
Phần lớn các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam (Việt Nam tuân thủ nguyên tắc 3 không) đều theo đuổi sự cân bằng chiến lược trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Trung Quốc, bất chấp tranh chấp trên Biển Đông vì người đồng chí đầy dã tâm đối đối với an ninh và sự thịnh vượng của đất nước. Nhưng chính sách hai mặt miệng bồ tát bụng bồ dao găm, phía Trung Quốc không hề quan tâm đến yêu cầu và nguyện vọng của một số nước ASEAN và Việt Nam. Họ vẫn tiếp tục ngày càng hung hăng áp đặt các yêu sách vi phạm chủ quyền lên các nước ven Biển Đông.
Tôi biết rằng nước xa không chống được lửa gần. Tôi biết vào những năm 1970, mặc dù ngả về Liên Xô, người Việt vẫn không ngăn được cuộc xâm lược của Trung Quốc vào năm 1979. Tôi cũng biết tất cả các cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á đều có nguyên nhân và bắt nguồn từ các nước bên ngoài. Đúng là ASEAN phải biết cân bằng chiến lược giữa các nước lớn. Nhưng tại sao ASEAN cứ phải quan tâm những quan ngại an ninh của Trung Quốc trong một số các lựa chọn nếu như Bắc Kinh không quan tâm đến quyền lợi và an ninh chính đáng của ASEAN?
Hành động của Trung Quốc đang đẩy dần các nước ASEAN lại gần Mỹ hơn. Đã có tín hiệu cho thấy điều đó. Tôi nghĩ trong tương lai gần một số nước ASEAN (không phải cả ASEAN, một hai nước vì lợi ích riêng sẽ phủ quyết theo nguyên tắc đồng thuận làm hài lòng Trung Quốc) có thể kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, có thể nâng cấp đối tác chiến lược với Mỹ, có thể tham gia vào “cấu trúc an ninh khu vực” Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong đó có Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc… để tranh thủ hơn nữa sự ủng hộ của các nước có chung lợi ích nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế và quốc phòng, để tự bảo vệ mình trước họa Tàu, người láng giềng luôn rêu rao “4 tốt” nhưng lại ngông nghênh đầy cơ bắp.
Read More

Đồng đội

Leave a Comment
Bố nhập viện, anh em tôi phải theo ông trực một thời gian khá dài ở các bệnh viện. Đúng là cái cảnh chầu chực nằm chờ vạ vật, chỉ có người trong cuộc mới thấu hiểu hết được. Tôi không biết còn có nơi nào trên thế giới người nằm viện lại kéo theo nhiều người thân đi trực vất vả như ở Việt Nam.
Thật mệt mỏi, căng thẳng. Người bệnh có khi hai người chung một giường. Người trực nằm ở đâu? Hoặc là thức trắng hoặc may mắn nằm giường gấp bên cạnh người bệnh; nếu không thì nằm chiếu dưới giường người bệnh, nằm ở ngoài hiên, nằm ngoài trời, ở bất cứ nơi nào người ta có thể nằm được với bao điều lo âu, với đủ các thứ mùi bệnh viện đặc trưng rất khó ngửi.
Mấy tháng trời ở bệnh viện tôi nghiệm thấy người già bệnh nặng về cơ bản có hai đặc tính. Một là nằm mê man không có ý thức, không tự phục vụ được bản thân, còn phải chờ đợi ngày giờ sang bên kia thế giới. Dĩ nhiên người nhà phải lo từ A đến Z. Hai là tỉnh táo nhưng không tự phục vụ được bản thân. Người bệnh thường cáu bẳn khó tính, khó chiều.
Đối diện với giường của bố tôi là một người đàn ông cao lớn, tên là Duy, quê Thái Bình. Trên cánh tay, trên mình ông mang nhiều vết sẹo chằng chịt. Nói chính xác đó là những vết thương để lại trong ba cuộc chiến chống Mỹ, chống quân Pol Pot, chống quân Tàu. Ông Duy là trường hợp ngoại lệ, không có hai đặc tính như nhận xét ở trên.
Tôi đoán ông Duy bị đột quỵ vì mồm méo, không tự đi lại được, phải có người dìu, nhưng vẫn tự xúc cơm cháo dù rơi rớt ra ngoài. Đầu óc ông lúc nhớ lúc quên. Trong gần một tháng tôi không hề thấy ông kêu ca, phàn nàn về bất cứ điều gì với bất kỳ ai. Chỉ có điều khi ngủ ông ngáy rất to. Tiếng ngáy vang rền và đứt đoạn thành chuỗi liên hồi tựa như tiếng khẩu đại liên quét gìm cản đối phương.
Vợ ông Duy cho biết hai ông bà lên Hà Nội chơi với con. Ông đột nhiên tăng huyết áp, ngã nằm bất tỉnh khi ở trong nhà vệ sinh. May mắn không đập đầu vào thành tường, các con phát hiện kịp thời, sơ cứu rồi vội đưa ông vào Bệnh viện Quân đội 108. Nằm điều trị hơn một tháng, ông đỡ rất nhiều. Ra viện, nghe nói Bệnh viện Lão khoa Trung ương có khoa chuyên phục hồi chức năng nên gia đình lại xin vào điều trị tiếp.
Sau một thời gian, bệnh tình ông Duy tiến triển từng ngày. Khuôn mặt ông gần như trở lại bình thường. Dần dà ông tự đi được với chiếc gậy Trường Sơn năm xưa (ông đã bị tai biến một lần trước đó không lâu, đi lại có phần khó khăn nên thường mang theo chiếc gậy kỷ niệm thời đánh Mỹ) . Ông tự làm mọi việc, gấp chăn màn, ăn uống, rửa bát, đi lại, vệ sinh… Trên giường ông mọi thứ đều gọn gàng, ngăn nắp như giường của một chiến sĩ thời huấn luyện.
Trí nhớ ông Duy cũng bắt đầu hồi phục. Quan sát ông, tôi biết ông đang cố gắng từng giờ, từng phút. Tuy vậy trong con mắt của nhiều người, ông đã là một người tàn phế. Ông vẫn bì bị, chậm chạp, cái bì bị, chậm chạp thường thấy của người bị tai biến. Điều đáng chú ý là thời gian không còn ủng hộ ông.
Trong phòng có một người lính già nữa nên mỗi lần đến viện chúng tôi thường quây quần trò chuyện kỷ niệm ngày chiến trường. Một lần tôi đùa: “Ngày xưa nếu bác Duy nằm trên chốt mà ngáy như thế này thì chắc chắn sẽ là mục tiêu của kẻ địch”. Ông cười: “Lúc trẻ tôi đâu có ngáy như bây giờ. Càng nhiều tuổi tôi càng ngáy to. Thật xấu hổ, cách đây hơn chục năm khi trực mẹ tôi, thời gian bà nằm viện, cả phòng người ta yêu cầu bà không cho tôi trực ngủ trong phòng vì ngáy. Bản thân mỗi lần nằm viện, nhà tôi thường tìm phòng dịch vụ riêng nhưng lần này thì không có phòng. Tôi biết mình làm phiền mọi người nên đã nhiều lần xin lỗi”.
Ông Duy không còn nhớ nhiều thứ, nhiều kỷ niệm trong đời, kể cả ngày cưới của vợ chồng, ngày sinh nhật của các con. Gần đây, chuyện diễn ra vài ngày hôm trước ông cũng không nhớ được. Tôi nghĩ đó là chuyện bình thường với một người bước vào tuổi bảy mươi lăm, với gần hai chục vết thương trên mình.
Vết thương đầu tiên vào năm 1967 ở gần sân bay Tà Cơn, Quảng Trị khi ông là hạ sĩ trinh sát, bị lính Mỹ chém vào cánh tay. Vết thương cuối vào năm 1985 ở Vị Xuyên, Hà Giang khi ông là trung tá tham mưu sư đoàn, bị mảnh pháo Tàu bắn vào sọ não, phải nằm liệt giường sáu tháng tại Viện Quân y 103.
Sau bốn mươi năm trong quân ngũ, năm 2009 ông Duy được về hưu với quân hàm đại tá. Ngẫm kỹ cả cuộc đời ông là “một khúc quân hành”, là “một bài ca chiến đấu”. Ngay cả chuyện ông lấy vợ cũng là do quân đội tạo điều kiện cho ông nghỉ phép, kết hợp điều tra lý lịch quân nhân xét kết nạp đảng cho một chiến sĩ, ông mới quen được một “cô em gái đồng đội” quê ở Hải Phòng. Để rồi vài năm về phép một lần, mỗi lần để lại một đứa con cho người vợ trẻ mòn mỏi trông đợi.
Ông thở dài nói với tôi: “Trai thời loạn, có người lính nào giúp đỡ được vợ con? Đến khi về già bệnh tật, tất cả lại đến tay vợ con. Mình phải cố gắng chịu đựng, phải cố gắng chiến đấu với bản thân mình để vợ con bớt khổ”.
Khi đề tài xoay về chiều hướng này tôi thường cố lái ông sang chuyện khác bởi ông không nhớ mình vừa mới nói điều đó xong. Tôi gợi chuyện xem ông có còn nhớ trận đánh ông bị thương đầu tiên không. Lúc ấy khuôn mặt ông rạng ngời. Đôi mắt ông sáng lên, linh hoạt. Cái vẻ bì bị, chậm chạp gần như biến mất. Ông lên giọng:“Quên thế nào được chú”? Dừng lại một lúc, giọng ông trầm xuống, dẫn chúng tôi trở về quá khứ:
- Hôm ấy khi ánh chiều muộn buông xuống rừng núi miền Tây Quảng Trị, phân đội trinh sát của tôi do anh Thệ (sau này anh Thệ là Anh hùng lực lượng vũ trang, được phong quân hàm Trung tướng) dẫn đầu men theo dòng suối lần xuống một thung lũng. Chúng tôi lợi dụng những bụi sim, mua lúp xúp ẩn mình hướng về trận địa pháo gần sân bay Tà Cơn. Tôi còn nhớ chúng tôi thay nhau dùng ống nhòm quan sát trận địa địch từ xa và chờ trời tối. Khi màn đêm đến, ánh đèn pha của bọn Mỹ đan chéo quét qua lại theo một quy luật. Tôi không nhớ chính xác lúc đó là mấy giờ, chỉ biết sau tiếng tắc kè phía chân núi anh Thệ cử hai nhóm trinh sát theo hướng tây bắc và đông nam cùng đột nhập hàng rào kẽm gai. Lực lượng còn lại làm nhiệm vụ cảnh giới bảo vệ bên ngoài. Nhóm chúng tôi mở một lối rộng qua hàng rào kẽm gai đầu tiên. Sau đó chúng tôi luồn qua ba hàng rào kế tiếp thì gặp một bãi trống. Tiểu đội trưởng của tôi ngoái lại thì thầm “cẩn thận bãi mìn”. Tôi theo sát anh ấy nhích lên từng tí một. Trong ánh sáng đèn pha, hai cánh tay trần của anh cẩn thận lần lần từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong đến ba, bốn lần. Anh ấy buộc chốt từng quả mìn mỏ vịt, quay chốt an toàn từng quả mìn díp, mìn chống tăng cực kỳ thành thạo. Được hai phần ba bãi mìn, anh ấy ra hiệu cho tôi thực hiện tiếp công việc. Mặc dầu đã vài lần luồn rào kẽm gai gỡ mìn nhưng lần đó tôi vẫn cảm thấy căng thẳng, bởi vì chỉ một sơ xuất vướng vào dây mìn căng trên mặt đất, hoặc để sót một quả mìn, nó nổ, rồi pháo từ trên dập xuống, đạn từ trong bắn ra, cả phân đội chắc sẽ hy sinh. Cái giá phải trả rất là đắt. Tôi cảm thấy lưng mình ớn lạnh nhưng người vẫn vã mồ hôi. Tôi tập trung tinh lực vào đôi tay, dùng tay nghe tìm và cảm nhận mọi thứ có trên mặt đất… Tôi vô hiệu hóa được khoảng gần hai chục quả mìn các loại. Rồi luồn qua một vài hàng rào vào sâu bên trong. Chúng tôi nhìn rõ từng khẩu pháo, từng ụ súng, từng lô cốt, sở chỉ huy... Chúng tôi chia nhau thâm nhập vào sâu để đo đạc. Tôi đang lom khom nép mình vào góc khuất của một chiếc lô cốt thì thoáng thấy một cái bóng to lớn lao vào. tôi vung tay trái hắt lên, chân phải đá thẳng vào bộ hạ. Tên Mỹ ngã vật xuống. tôi cắm lưỡi dao vào lưng nó. Sau đó tôi mới thấy cánh tay trái mình tê dại. Thì ra tôi bị dao tên Mỹ đâm xuyên phần giữa ngón trỏ và ngón cái khi vung tay đỡ…
Ông Duy chỉ cho tôi xem cái vết sẹo vẫn còn thâm tím sau hơn năm mươi năm trên bàn tay. Ông cho tôi biết vì sự cố bất ngờ trên, phân đội trinh sát không thể trở về. Mục tiêu đánh vào trận địa pháo coi như đã bị lộ. Anh Thệ quyết định: “Cần phải tiêu diệt trận địa pháo ngay trong đêm”, mặc dù đó không phải là nhiệm vụ của phân đội trinh sát. Và trong vòng nửa tiếng đồng hồ từ trung tâm chỉ huy trận địa pháo, anh em trong phân đội chúng tôi cùng tung bộc phá vào các mục tiêu, tiêu diệt gần như toàn bộ lính Mỹ và phá hủy toàn bộ trận địa pháo 5 khẩu 105 ly rồi rút theo hai hướng lên núi trước khi pháo địch dập xuống quanh trận địa. Đó là trận đánh đầu tiên ông bị thương và là lần đầu tiên ông được phong danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Như thường lệ, cứ tối đến chúng tôi lại trò chuyện với nhau. Hầu như mọi người trong phòng đều mong ngóng nghe ông kể chuyện. Thật kỳ lạ. Chuyện về chiến trường thì ông lại không quên. Hình như những ký ức về chiến trường đã ăn sâu vào tâm trí ông giống như những người già lẫn, nhưng vẫn nhớ vanh vách chuyện ngày xưa. Ông kể về những trận đánh, những đồng đội hy sinh, những đồng đội bị thương; kể chuyện tiền tuyến, kể chuyện hậu phương, kể chuyện cấp trên, kể chuyện cấp dưới, chuyện địch, chuyện ta, chuyện tiếu lâm… Tất cả đều hấp dẫn, lôi cuốn, rõ ràng, mạch lạc.
Một đêm ông Duy lấy ra hai cuốn vở học sinh từ chiếc ba lô theo ông mấy chục năm trường. Đó là hai cuốn nhật ký viết trên hai quyển sách học sinh cách đây hơn năm mươi năm nên đã sờn ố. Chữ ông rất khó đọc. Nhiều trang mờ nhòe không còn rõ chữ. Tôi cố luận, đọc ngấu nghiến một mạch. Tất cả là những thông tin, những cảm nghĩ, những nhận xét đánh giá về các trận đánh trên đường 9- Khe Sanh, các trận đánh trong cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân, các trận đánh trong mùa hè lửa tại Quảng trị. Qua hai cuốn nhật ký này tôi hiểu ông thêm. Tôi thật sự kính trọng ông, một con người quả cảm, mưu trí, quyết đoán, một anh hùng nhưng rất giàu tình cảm.
Từ năm 1973 trở đi, khi là cán bộ đại đội, tiểu đoàn ông Duy không viết nhật ký nữa, phần vì ông quá bận rộn, phần vì viết ra “nó liên quan đến bí mật quân sự”, chẳng may vào tay kẻ địch thì tai hại khôn lường. Theo ông sau Hiệp định Pari, chiến sự bớt ác liệt hơn, nhưng có một chiến dịch Sư đoàn 304 của ông, Trung đoàn 66 của ông, Tiểu đoàn 8 của ông thương vong vô cùng lớn. Đó là Chiến dịch Nông Sơn, Thượng Đức. Tôi nói với ông tôi biết rõ chiến dịch này vì Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 của tôi cũng tham gia chiến dịch.
Ông Duy bắt tay tôi và nói:
- Trung đoàn 3 là một trung đoàn anh hùng, trung đoàn xứng đáng với truyền thống giữ chốt từ trận đánh trên Đồi Thịt băm đến thời điểm đó. Chỉ cần tiếp nhận những căn hầm chốt trên điểm cao 1062 và sở chỉ huy trung đoàn dự phòng của trung đoàn các anh tôi cũng biết được cái chất của trung đoàn. Nhờ có bộ đội địa phương, nhờ có sự hỗ trợ của các đơn vị, đặc biệt là Trung đoàn 3 Sư 324, Sư 304 mới giữ được điểm cao 1062, mới giữ được Thượng Đức. Tôi còn nhớ tại chốt thép T2, khi bom pháo cày nát quả đồi, tiểu đoàn lính Dù lăn xả lấn dũi lên, Đại đội 6 của các anh chỉ còn hơn chục tay súng. Các anh đã chui xuống hầm moi và yêu cầu pháo binh của mình bắn trùm lên chốt để giữ vững trận địa. Sau trận đánh hơn 10 tay súng điếc đặc vĩnh viễn…
Nói đến đó giọng ông Duy nghẹn lại, những giọt nước mắt ứ ra. Ông cho tôi biết trong trận đánh công kiên vào chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức, Trung đoàn 66 của ông có phần chủ quan, chuẩn bị cho trận đánh chưa thật chu đáo, việc mở cửa ỉ vào bộ rồng lửa “FR”, không có phương án dự phòng mở khi không phá hủy hết hàng rào kẽm gai, không chuẩn bị kỹ công sự khu vực mở cửa nên dẫn đến đợt tấn công đầu không thành công. Quá nhiều chiến sĩ thương vong. Phải chờ đến đợt tấn công thứ hai mới tiêu diệt và bắt sống được 1600 quân địch, giải phóng được 13.000 dân. Nhưng với tư cách là một trong những người chỉ huy ông vẫn cảm thấy đau đớn, xót xa vì những sai lầm không đáng có khiến nhiều cán bộ chiến sĩ hy sinh...
Cả ông và tôi đều hiểu giá trị và ý nghĩa chiến lược to lớn của trận Thượng Đức. Cánh cửa thép phía tây thành phố Đà Nẵng đã bị ta chiếm. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tổng tham mưu Ngụy quyền phải vội điều Sư đoàn Dù, lực lượng tổng dự bị chiến lược từ chiến trường Trị Thiên tới Thượng Đức nhằm tái chiếm lại. Cuộc chiến vô cùng ác liệt giữa trung đoàn 66, Trung đoàn 24, Trung đoàn 3 thuộc Sư 304 và Sư 324 với 3 lữ đoàn thuộc Sư Dù Ngụy diễn ra gần 5 tháng tại cao điểm 1062, điểm cao 109, 236, bình độ 700, Bàn Tân, Hà Nha, Động Hà Sống... Mưa tháng 7, tháng 8 tầm tã ở Thương Đức khiến hầm hào sụt lở, cùng với hàng nghìn tấn bom, hàng vạn quả đạn pháo hai bên mỗi ngày biến rừng núi thành bùn lầy hòa lẫn máu. Đó là cuộc đọ sức một mất một còn giữa hai lực lượng chủ lực cơ động. Một hình thái mới đã xuất hiện. Quân Ngụy đã để mất Thượng Đức và không có khả năng tái chiếm lại. Lực lượng ta đã hơn hẳn lực lượng địch. Nó là một trong những cơ sở để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định cuộc Tổng Tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đập tan bộ máy Ngụy quyền tiến tới thống nhất đất nước.
Chiến thắng nào cũng có cái giá của nó. Hàng ngàn cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 304, trung đoàn 3 Sư 324 đã nằm xuống tại mặt trận. Ông Duy đã hàng chục lần đến viếng các nghĩa trang thuộc khu vực Thượng Đức. Còn tôi cũng đã bốn lần đến viếng hương hồn các chiến sĩ tại hai nghĩa trang Đại Đồng, Đại Lộc, nơi hơn 300 đồng đội chúng tôi đã hy sinh trong chiến dịch.
Hai chúng tôi cùng lặng im. Ông nhìn tôi chằm chằm. Tôi cũng nhìn ông chằm chằm. Hình ảnh những đêm tháng 7 mờ sương khói, hình ảnh hàng nghìn ngọn nến trải dài hút mắt tại các nghĩa trang mờ ảo, chập chờn lại hiện về trong ký ức chúng tôi.
Bỗng ông phá vỡ sự im lặng:
- Năm trước anh không về được. Năm nay chắc anh cũng không về được. Không biết sang năm có còn để về được không? Sắp đến kỷ niệm 45 năm chiến thắng Thượng Đức. Chú về thắp hương cho đồng đội, nhớ nói giùm cho anh “Minh Duy này không bao giờ quên đồng đội”!
Tôi ôm chặt lấy ông. Nước mắt ông thấm xuống vai tôi. Không hiểu sao tôi cũng không cầm được nước mắt. Trong những ngày tháng 7 này, ông không nhắc đến những ngày tháng vinh quang ông cùng “anh Thệ” và đồng đội tiếp quản dinh Độc lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh và nội các đến đài phát thanh tuyên bố đầu hàng. Ông cũng không nhắc đến những ngày tháng vinh quang làm chủ Phnôm Pênh giúp nước bạn. Ông cũng không nhắc đến những ngày tháng oai hùng cuối những năm 1980 quân Tàu phải rút khỏi các điểm cao ở Vị Xuyên mà ông cùng với đồng đội đã góp phần và làm nên lịch sử.
Ông chỉ nhắc tới đồng đội đã ngã xuống tại các chiến trường. Tôi sẽ ghi nhớ tâm nguyện, ghi nhớ những lời ông căn dặn và cũng sẽ không bao giờ quên ông, một trong những chiến binh xuất sắc mà tôi may mắn được làm quen tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Tạm biệt ông! Chúc ông mau lành bệnh! Hy vọng ông còn sức khỏe để về chiến trường xưa thắp hương cho đồng đội.
Read More

Người Việt ở Mỹ

Leave a Comment
Theo thống kê của Uỷ ban người Việt Nam ở nước ngoài, có khoảng 4,5 triệu kiều bào sinh sống tại 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Trong số này có tới 500.000 nhà trí thức làm việc ở nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội. Riêng ở Mỹ có gần 2 triệu người Việt, chiến gần một nửa tổng số kiều bào và trí thức sống ở nước ngoài. 
Do những lý do lịch sử, số lượng kiều bào ở Mỹ đông đảo nhất và cũng là hiện tượng mới nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Qua các nguồn tài liệu và tìm hiểu thực tế, chúng tôi tạm phân chia thành ba làn sóng người Việt di cư đến Mỹ: Làn sóng 1, từ trước đến năm 1975. Làn sóng thứ 2 từ năm 1976 đến giữa những năm 1980. Làn sóng thứ 3 từ cuối những năm 1990 đến nay.
Trong làn sóng thứ 1, khoảng 15.000 người ban đầu định cư tại Mỹ. Trong đó một số lượng nhỏ là vợ con và thân nhân vợ con của những người lính Mỹ tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhưng chủ yếu là học sinh, sinh viên, thương gia định cư ở xứ cờ hoa. Đặc biệt khi chế độ Việt Nam Cộng hòa (chế độ Ngụy quyền) sụp đổ ngày 30/4/1975, một đợt tỵ nạn khoảng 125.000 người ồ ạt di tản đến Mỹ (theo Wikipedia). Phần lớn là quân nhân và những người làm việc trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa cùng với gia đình họ. 
Làn sóng thứ 2 có tới hơn tám trăm ngàn người vượt biên theo đường biển (theo số liệu của Cao ủy Liên hợp quốc về người tỵ nạn), tới các trại tỵ nạn ở Indonesia, Thái Lan, Singapore, Philipines… Từ những trại tỵ nạn này họ đến các nước thứ 3, trong đó có Hoa Kỳ. Cũng trong thời gian này Mỹ tiếp nhận Chương trình Ra đi Trật tự, số người được Mỹ tiếp nhận là 531.310 người. Những người di cư trong làn sóng này chủ yếu có liên quan đến Chính quyền Việt Nam cộng hòa.
Làn sóng thứ 3 có khoảng ba đến bốn chục ngàn người, gắn liền với quá trình quốc tế hóa nền kinh tế và toàn cầu hóa. Số người này chủ yếu là sinh viên theo học tại các trường đại học Mỹ. Sau khi học xong ở lại làm việc tại các khu vực kinh tế cùng với một số nhỏ thương gia mua nhà định cư tại Mỹ. Số những người này phần lớn đều có hai quốc tịch Việt và Mỹ.
Đáng chú ý nhất là làn sóng thứ 2, làn sóng di cư lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam và cũng là làn sóng di cư lớn nhất trong lịch sử nhân loại vào thời điểm đó (trong số người di cư có rất nhiều là người Hoa). Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại xuất hiện từ “thuyền nhân” (boat people). Có thể nói đó là một tỳ vết trong lịch sử dân tộc Việt Nam mà người trong nước thường không muốn nhắc đến. Không chỉ vì gần một triệu người rời khỏi quê hương bản quán lênh đênh trên biển mà vì cả thế giới bị sốc vì hàng ngàn phụ nữ, trẻ em bị chết bi thảm vì đói khát, bệnh tật, cướp bóc trên những con thuyền tre, gỗ mỏng manh hoặc chết trong các trại tỵ nạn. Và việc này lại diễn ra trong suốt gần một thập niên).
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến làn sóng thứ 2, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân trong nước, nguyên nhân ngoài nước. Tôi đã phân tích hai chương trong cuốn “Có một nước Mỹ như thế” và bài viết “Sự thật về cuộc chiến tranh biến giới Việt Trung” trong trang Blogchiasett cũng như trong trang Facebook này nên không muốn nhắc lại nữa.
Chỉ biết rằng về phía Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng nhưng lực bất tòng tâm. Tôi còn nhớ ngay sau ngày 30/4/1975, khi cố Tổng Bí thư Lê Duẩn hỏi các cộng sự và cố vấn “Chúng ta phải làm gì trước mắt”. Người thì trả lời là cần tiến hành bầu cử thống nhất đất nước. Người thì trả lời là cần xây dựng kế hoạch khôi phục sản xuất và tiến hành sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Người thì trả lời là cần phải cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam… Ông lắc đầu nói “Việc cần làm trước tiên là hòa giải dân tộc”. Đáng tiếc là người đứng đầu Đảng cầm quyền không thể làm được điều đó. Ông không thể ngăn được sự kỳ thị của hàng chục vạn gia đình có thân nhân bị phía Việt Nam Cộng hòa giết hại dã man từ khi luật 10/59 của Mỹ Diệm ra đời đến ngày 30/4/1975. Nói như nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đó là cả một “rừng xương khô”…
Ban đầu người Việt được phía Mỹ bố trí rải rác ở nhiều bang trên cả nước Mỹ, nhưng dần dần người Việt tập trung ở thành phố Wesminter, thành phố Garden Grover nằm trong khu vực thuộc quận Cam, và thành phố San Jose thuộc bang California. Ngoài bang California người Việt còn tập trung tại thành phố Houston thuộc bang Texas. Có thể nói hai thành phố nằm trong khu vực quận Cam chính là thủ đô của “người Việt tỵ nạn”.
82,8% những người di cư đến Mỹ trong làn sóng thứ 1 và làn sóng thứ 2 trở thành người Mỹ gốc Việt, là công dân Hoa Kỳ. Phần đông trong số họ, nhất là những người từng tham gia quân đội Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng hội nhập vào xã hội Mỹ, cả về chính trị lẫn kinh tế. Họ tham gia vào bộ máy chính quyền Mỹ, gây sức ép buộc chính quyền bang California phải công nhận biểu tượng quốc kỳ của người tỵ nạn là cờ ba que (cờ Ngụy quyền). Họ xây dựng đài tưởng niệm những người lính Việt và lính Mỹ bị chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam (Vietnam War Memorial). Họ xây dựng đài tưởng niệm “thuyền nhân”, tổ chức ngày thuyền nhân Việt Nam, cầu nguyện cho những người bị chết trên con đường “đi tìm tự do”. Họ thành lập khu vực cấm những người cộng sản đặt chân đến (No Communist Zone). 
Những người lính Dù trong Sư đoàn Dù Việt Nam Cộng hòa, sư đoàn mang danh Thiên thần Mũ đỏ thỉnh thoảng lại duyệt binh để ôn lại những chiến công một thời. Họ lấy tuần cuối cùng của thángTư là tuần lễ đen. Họ điên cuồng chống phá chính quyền cách mạng bằng nhiều hình thức, thường biểu tình chống Chính phủ Việt Nam mỗi khi có phái đoàn cấp cao đến thăm Mỹ. Họ ra sức quyên tiền cho các tổ chức phản động, đặc biệt là vận động hành lang để Chính quyền Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách những nước có vấn đề về nhân quyền cho tới tận ngày hôm nay…
Tôi lấy một ví dụ cụ thể về thái độ chính trị của họ. Vào năm 1999, ông Trần Trường treo cờ đỏ sao vàng và ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cửa hàng cho thuê băng đĩa của cá nhân. Vậy mà sau một đêm, 15000 người biểu tình rầm rộ chống lại ông trong chuỗi 52 ngày đêm. Họ dùng mọi thủ đoạn khiến vợ ông bị tâm thần. Bản thân ông Trường cũng bị truy tố vì lý do cho thuê băng lậu. Thế mới biết cuộc chiến về ý thức hệ vẫn còn sâu sắc trong số những người Việt ở Mỹ.
Ở những thành phố tập trung người Việt, họ thường thành lập khu vực thương xá lấy tên là Little Saigon (Tiểu Sài Gòn), cái tên mang biểu tượng chính trị. Những khu vực này có khá đông người Việt. Có những văn phòng thương mại, dịch vụ thuần người Việt như văn phòng tư vấn, văn phòng luật sư, phòng khám chữa bệnh, phòng làm nail; có những cửa hàng từ đồ dùng quần áo, đến lương thực, thực phẩm Việt cho đến các tiệm ăn Việt đủ các loại. Những khu vực này không chỉ thu hút một lượng khá đông khách hàng Việt mà còn thu hút khách hàng người Ấn, người Hoa, khách hàng người Mỹ... Theo quan sát nhiều năm tôi cảm thấy họ làm ăn thuận lợi. Những cửa hàng có uy tín người mua luôn phải xếp hàng dài chờ đến lượt.
Người Việt ở Mỹ làm đủ các thứ nghề từ dịch vụ quản trị, phục vụ, nail, vận tải, xây dựng, sửa chữa, làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đến làm việc ở các trường đại học, trường phổ thông, các khu công nghệ cao, các tập đoàn tài chính, ngân hàng… Bình quân mỗi hộ gia đình người Việt có thu nhập khoảng 60.000 đô một năm, chỉ thấp hơn thu nhập hộ gia đình Mỹ một chút. Tỷ lệ gia đình có nhà ở lên tới gần 70%, cao hơn bình quân người Mỹ. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp lại thấp hơn người Mỹ.
Về sinh hoạt cộng đồng, văn hóa tôn giáo, người Việt ở Mỹ thường sống quây quần, có những sinh hoạt cộng đồng thường xuyên. Họ thường tập tụ nhau mỗi khi có dịp. Nhiều đoàn thể, hội đồng hương, hội ái hữu được thành lập. Họ vẫn giữ các phong tục tập quán người Việt, nói tiếng Việt. Trong nhà họ vẫn có bàn thờ tổ tiên, tổ chức lễ tết, ma chay, cưới xin... 
Trong hơn một chục năm gần đây, xu hướng cực đoan “bài Cộng” đã lắng dần. Phần vì sự phát triển mọi mặt trong nước khiến các phần tử “chống Cộng” không có cơ sở để hoạt động chống phá cách mạng. Phần vì thế hệ di cư thứ nhất số đông đã già, dần sang bên kia thế giới, số còn lại nhận thức được xu thế không thể đảo ngược được. Ngay cả Nguyễn Cao Kỳ, Phó tổng thống Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng khuyên các chiến hữu: “Khi trong tay chúng ta còn 1,2 triệu quân mà vẫn thất bại, vậy thì bây giờ chúng ta còn làm được gì nữa. Tôi khuyên anh em chiến hữu hãy bảo ban nhau làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình”. Bản thân Nguyễn Cao Kỳ cũng có dự án đầu tư ở trong nước. Tôi đã từng ở Resort của ông ta ở Sơn Tây cách đây gần chục năm.
Tôi từng chứng kiến không phải ai thuộc thế hệ di cư thứ nhất cũng hằn học với chính quyền trong nước, với những người “Cộng sản”. Nhiều người trong số họ tình nguyện giúp đỡ người Việt mới bắt đầu sang Mỹ, kể cả những học sinh, sinh viên miền Bắc. Khi các con gái tôi sinh nở bên Mỹ, cũng như nhiều cháu gái theo học ở các trường đại học Mỹ không có người thân thích bên cạnh, chính vợ con những người di tản thuộc làn sóng thứ 1, thứ hai đến trực đêm săn sóc. Khi tới, tôi vô cùng cảm động. Cảm ơn họ, họ trả lời chính họ phải cảm ơn các cháu, vì các cháu đã đem lại cho họ tình cảm quê hương đất nước.
Tôi đã dự một bữa tiệc cùng người cháu của hai thiếu tá, hai anh em ruột quê Hưng Yên thuộc hai chiến tuyến trong cuộc chiến tranh Việt Nam tại vịnh Hạ Long. Họ quy ước với nhau từ trước là không nói đến chuyện chính trị. Ấy vậy mà trong lúc ăn cả hai đều bàn luận cách làm thế nào để chống lại dã tâm của người Tàu ở Biển Đông. Cuối bữa tiệc người em cùng vợ mời người anh và gia đình sang năm sang Houston Texas vài tháng. Người anh hỏi: “Liệu có gì bất tiện với những người bạn đồng ngũ của chú”. Người em trả lời: “Em chắc là không. Bây giờ người ta chỉ bàn đến chuyện làm ăn, chuyện chống Tàu. Chuyện cách đây mấy mươi năm chỉ còn là hoài niệm”.
Tôi đã từng trò chuyện với một lái xe taxi thuộc thế hệ thứ nhất. Ông ta tên là Thăng, từng tham gia FULRO, quê Bình Thuận. Ông từng tâm sự với tôi: “Cực lắm anh à. Nhất là về tình cảm. Bức bối lắm. Muốn về Việt Nam, nhưng vẫn có mặc cảm gì đó, rồi cứ lần lần nữa nữa”. Tôi được biết con gái và con rể ông lại sống và làm việc ở thành Phố Hồ Chí Minh. Hiện chúng có một cuộc sống mà ông cho rằng đó là một cuộc sống trong mơ. Chia tay, ông nói với tôi: “Có lẽ tôi phải xóa đi cái mặc cảm vì bọn chúng luôn giục tôi trở về”. 
Tôi cũng được tiếp xúc với một số người đã về hưu. Thâm chí có cả những người lấy vợ Mỹ. Sau khi trở lại Việt Nam. Họ quyết định về thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang hay Đà Nẵng sống quãng đời còn lại sau bao năm tha hương. Tôi cũng có một số bà con quen xa, vào Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đi Mỹ năm 1986. Năm trước họ cũng trở về nhà cũ ở quận 2 thành phố Hồ Chí Minh…
Thế hệ thứ hai sinh ra ở Việt Nam hoặc ở Mỹ, có thể nói họ không quan tâm nhiều đến chính trị. Phần lớn họ đều lo làm ăn, lo kiếm tiền. Tôi nghĩ dù ở Mỹ hay ở Việt đối với họ không quan trọng. Điều quan trong trọng là ở đâu có cơ hội việc làm, ở đâu có cơ hội lam giàu và có một cuộc sống tốt đẹp và một cuộc sống cân bằng, thoải mái.
Tôi đã từng tiếp xúc với một số thợ nail khi tá túc ở nhà một “bà chủ” ở bang Arkansas. Một số chi em nước mắt lưng tròng. Họ ước gì có thể bay về Việt Nam được. Họ nói với tôi: “Ở đây như đi tù, chỉ biết làm việc và làm việc. Suy cho cùng ra đi cũng chỉ vì miếng cơm manh áo. Nghe nói bây giờ ở Việt Nam chuyện đó không còn là vấn đề. Đến các ca sĩ hải ngoại người ta còn đổ về Việt Nam làm ăn”…
Trong khi chờ làm thủ tục bay về Việt Nam, tôi vô tình chạm vào lưỡi dao cạo râu trong cặp máy tính. Máu chảy ròng ròng từ ngón tay trỏ. Một người Việt luống tuổi trông thấy vội đến giúp. Anh xé điếu thuốc dịt vào ngón tay tôi. Và chúng tôi trở thành bạn đồng hành suốt chuyến bay về Hàn Quôc.
Anh là cai xây dựng ở thành phố San Jose. Qua anh tôi biết đươc đời sống của những người thợ xây dựng Việt và thợ xây dựng Mỹ. Qua anh tôi cũng biết được cuộc sống của những người Việt đánh cá, nhặt cua ở vịnh Mexico và Alaska... 
Nói tóm lại nhiều người Việt hội nhập khá tốt vào xã hội Mỹ, nhất là những người trẻ, có bằng cấp, nhưng có không ít người không thể hội nhập được. Với họ đó là một cuộc sống cực nhọc để sinh tồn. Nước Mỹ thật sự không phải là thiên đường cho những người Việt già cả, cho những người Việt lao động giản đơn.
Read More

Đâu là cành sen trong bài ca dao Tát nước đầu đình

Leave a Comment
Ai trong chúng ta cũng biết bài ca dao Tát nước đầu đình. Bài ca dao viết về đề tài giao duyên của đôi trai gái trong một bối cảnh thật thơ mộng.
Trong thi pháp ca dao người ta thường chú ý đến nhân vật trữ tình trong bài ca dao là ai? Ai nói với ai và nói như thế nào? Nhân vật trữ tình ở bài ca dao này là một chàng trai, bày tỏ mong muốn làm quen, kết duyên với cô gái.
Tôi không muốn đi phân tích cái hay, cái đẹp, cái ý nhị, cũng như nghĩa đen nghĩa bóng trong cái cách tỏ tình của chàng trai nặng tình nặng nghĩa trong bài ca dao này. Tôi muốn nói tới bối cảnh của câu chuyện. Bối cảnh có thể do nhân vật trữ tình hư cấu như là cái cớ để bày tỏ, dãi bày tâm sự, đôi khi là tỏ tình, cầu duyên. Bối cảnh cũng có thể rất thực, rất quen thuộc như cây đa, giếng nước, sân đình. 
Chàng trai trong bài ca dao thì viện vào một lí do để quên áo, nhưng là để quên áo trên cành hoa sen. Từ thời còn là sinh viên anh em trong lớp chúng tôi đã bàn luận điểm vô lí ở đây. Đó là hoa sen đâu có cành, người ta muốn vắt áo thì sẽ tìm một nơi khác chắc chắn hơn chứ không tìm một nơi yếu ớt như hoa sen. Nếu vắt trên cành hoa sen chiếc áo cũng có thể rơi xuống nước bất cứ lúc nào. Chúng tôi cho rằng hình ảnh trên vốn mang tính ước lệ. 
Mấy chục năm qua đi tôi bỗng đọc một bài viết khẳng định cành hoa sen trong bài ca dao là cành sen đất/sen núi chứ không phải là bông hoa sen nước. Sen đất thân gỗ, có rất nhiều hoa giống hệt như hoa sen trắng. Đặc biệt nó cũng có đài có nhụy và thơm như hoa sen nước. Tôi cứ bán tín bán nghi vì tôi đi rất nhiều đình chùa ở vùng đồng bằng bắc bộ nhưng chưa lần nào nhìn thấy cây sen đất.
Năm nay tôi có dịp đến thành phố San Jose, California, Hoa Kỳ. Tôi thấy dọc các đại lộ, các khu đô thị có một loại cây đúng như tôi đã được đọc. Dân Việt ở thành phố này nói với tôi đó là cây sen đất. Tình cờ lại gặp vợ chồng cô bạn cùng trường ở Thung lũng Silicon, dưới một dãy cây sen đất. Hoa nở trắng xóa cùng với hương sen nồng nàn. Chúng tôi có bàn luận về đề tài này.
Về nhà tôi tra từ điển Wikipedia. Thì ra cây sen đất có xuất xứ từ Trung Mỹ. Theo thời gian nó đến Trung Quốc, Đài Loan… Thế nhưng tại sao nó lại có mặt ở Việt Nam? Tôi đoán chắc nó đi theo đường truyền đạo, sen đất được các nhà sư đưa về cửa chùa, cửa đình từ rất sớm. Hoặc cũng có thể nó có sẵn trong tự nhiên như ở Mỹ có cây dâu, cây mận đỏ, mận vàng, cây hồng... Người Mỹ cho đó là những loại cây dại. Họ không ăn, nhưng tôi ăn vẫn thấy ngon. 
Tôi tìm đọc tài liệu ở chùa Bối Khê, ở chùa Quán Sứ Hà Nội và một số nơi khác cũng có cây sen đất hàng trăm năm tuổi. Thậm chí có cây mấy trăm năm tuổi. Chẳng qua là nó ít khi ra hoa người ta không để ý. Tương truyền sen đất còn mọc rất nhiều ở vùng cánh cung Đông Triều - Quảng Ninh, trên các dãy núi Yên Tử, nhưng nay không còn vì sự khai phá của con người.
Người dân còn tương truyền rằng, khi vua Trần Nhân Tông chọn chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang làm nơi tu hành đầu tiên, ngài đã trồng ở đây một cây sen đất nhưng cây đã bị giặc bắn cháy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp…
Vậy thì cành sen trong bài Tát nước đầu đình mấy chục năm nay chúng tôi ngỡ tưởng là cành hoa sen nước/bông hoa sen có thể là cành sen đất. Và có như vậy thì ta mới lý giải được câu ca dao: Lên chùa bẻ một cành sen…
Read More

Thăm Bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Denver

Leave a Comment
Bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Denver nằm bên cạnh Vườn Thú và Công viên Trung tâm thành phố Denver (Denver là thủ phủ của bang Colorado). Bảo tàng cùng với hai địa điểm nổi tiếng trong ngoài nước này tạo thành một khu vực tham quan, học tập không chỉ cho người trong dân trong thành phố mà còn là điểm thu hút du khách quốc tế và người dân đại đô thị thuộc khu vực xung quanh núi Rocky.
Bảo tàng Denver là một bảo tàng lớn, thuộc một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận. Diện tích xây dựng rộng tới 46.452m2. Điều hành bảo tàng là hội đồng quản trị 25 thành viên, 350 nhân viên biên chế và 1.600 tình nguyện viên. Bảo tàng được nhà tự nhiên học Edwin Carter thành lập vào năm 1900.
Carter đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nghiên cứu khoa học về các loài chim, các loài động vật ở bang Colorado. Từ những bộ sưu tập đầu thế kỷ thứ 20 của ông, đến nay người ta đã sưu tập được hơn một triệu hiện vật theo sáu lĩnh vực chính: Nhân chủng học, địa chất học, khoa học sức khỏe, cổ sinh vật học, khoa học không gian vũ trụ và động vật học. Ngoài ra bảo tàng còn cung cấp nhiều chương trình triển lãm, chương trình chiếu phim, các bài giảng, thuyết trình và hội thảo theo chuyên đề, các lớp học...
Khi xe chúng tôi đến bảo tàng thì bãi đỗ xe ngoài trời đã không còn lấy một chỗ trống. Chúng tôi phải đi xe vào nhà để xe 3 tầng và cũng phải lái ra lái vào, tìm mãi mới thấy một chỗ đỗ. Người Mỹ có thói quen thứ 7 và chủ nhật cả nhà cùng đi nghỉ cuối tuần. Bảo tàng là một trong những địa điểm yêu thích của các thành viên trong gia đình.
Trước tiên, chúng tôi thăm khu khoa học không gian vũ trụ. Cảm giác của tôi là choáng ngợp khi nhìn thấy một quả cầu khổng lồ rực rỡ sắc mầu, một quả cầu trái đất choán cả một gian phòng đang tự quay quanh trục của nó. Với những chất liệu đặc biệt, vị trí năm châu bốn biển và các quốc gia rõ nét và sống động cứ hiện dần ra. Quả cầu trái đất tự kể về mình bằng những hình ảnh, âm thanh, bằng những số liệu về sự ra đời, sự phát triển và biến đổi của mình từ thủa khai thiên lập địa cho đến tương lai khi khí hậu trái đất biến đổi.
Ở bốn góc tường là bốn màn hình lớn. Tương ứng với lời kể của trái đất, người ta liên tục chiếu những đoạn phim về vụ nổ Big Bang, những đoạn phim về sự tiến hóa của vũ trụ, những hình ảnh bí ẩn về hố đen, sự hình thành trái đất và hệ mặt trời, trái đất và vũ trụ...
Xung quanh quả cầu trái đất là một hệ thống máy tính để người xem có thể tìm hiểu sâu hơn một vấn đề nào đó về trái đất. Tôi thấy hàng trăm em học sinh, sinh viên xúm quanh các bàn máy tính. Nhóm thì tìm hiểu về hệ thống sông ngòi trên trái đất. Nhóm thì tìm hiểu bí mật về các đại dương. Nhóm thì tìm hiểu về sự sống các loài và sự tiến hóa của các loài. Nhóm thì tìm hiểu về hệ động thực vật cách đây hàng trăm triệu năm. Nhóm thì tìm hiểu về loài khủng long. Nhóm thì tìm hiểu về loài cá mập. Nhóm thì tìm hiểu về thành phố quê hương và khu đô thị của mình...
Gian bên cạnh quả cầu trái đất là một gian trưng bày mô hình vệ tinh nhân tạo, mô hình tên lửa đẩy tàu vũ trụ. Một thuyết minh viên ở gian phòng này khoảng độ sáu mươi. Ông có mái tóc bạch kim, đang giới thiệu với khách về nhà du hành vũ trụ Nga Yuri Gagarin, người đầu tiên thực hiên chuyến bay vào vũ trụ ngày 12/4/ 1961 trên tàu vũ trụ Phương Đông. Tiếp theo ông giới thiệu về thân thế và sự nghiệp Neil Armstrong, người đã chỉ huy tàu Apollo 11 của Mỹ, lần đầu tiên trong lịch sử loài người đổ bộ xuống mặt trăng.
Người thuyết minh say sưa mô tả cấu tạo của vệ tinh nhân tạo và quá trình tên lửa đẩy các con tầu vũ trụ vào không gian. Cùng với lời giới thiệu của ông, trên màn hình 100 inch là những hình ảnh phóng tàu vũ trụ vào không gian của Mỹ, hình ảnh Armstrong đi trên mặt trăng... Từ tổng thống Mỹ đến người dân cách đây bao nhiêu năm, tất cả đều rạng rỡ trong giây phút bước ngoặt lịch sử chinh phục vũ trụ của loài người.
Tôi còn nghe người ta nói về dự án thang máy vũ trụ. Thành phần cơ bản của thang máy vũ trụ bao gồm: Trục cáp (cable) được gắn một đầu xuống Trái Đất. thường là vùng biển nằm ở trên đường Xích Đạo. Đầu còn lại được móc vào đối trọng (counterweight) ở ngoài không gian. Ngoài ra còn có thang máy (climber) được gắn vào trục cáp và sẽ có nhiệm vụ vận chuyển người và hàng hóa ra ngoài không gian. Trục cáp dự kiến có chiều dài đến 100.000 km tức là cao hơn quỹ đạo của các vệ tinh do thám xung quanh Trái Đất rất nhiều. Dự án đang đi vào giai đoạn thử nghiệm. Không có gì thay đổi năm 2030 chuyến hàng đầu tiên sẽ được vận chuyển lên trạm vũ trụ quốc tế. Rồi từ trạm quốc tế sẽ đi lên mặt trăng…
Tôi cùng với người nghe như bị hút hồn vì tất cả những điều đang diễn ra xung quanh. Tôi nhìn trên khuôn mặt các em học sinh sinh viên, trong ánh mắt họ lấp lánh một thứ gì đó, như nỗi khát khao chinh phục không gian bay bổng… Tôi bỗng nghĩ tới học sinh, sinh viên ở đất nước mình. Họ gần như không được học về khoa học vũ trụ ở nhà trường. Và họ gần như không có điều kiện đi các bảo tàng châu Âu và Mỹ. Thật tiếc! Cả một đất nước 95 triệu người không có lấy một bảo tàng khoa học và không biết đến bao giờ mới có. Vấn đề ở đây không chỉ là tiền của mà còn là tư duy, nhận thức, trình độ xã hội.
Trong khi tôi dán mắt vào các màn hình thì con gái đi lấy vé vào cổng thiên văn để xem bộ phim về Sự hình thành vũ trụ và cuộc phưu lưu vào vũ trụ.
- Ba mà xem kĩ thế này thì đến mai cũng không đi hết bảo tàng được. Cả nhà mình vào Cổng thiên văn xem thế nào. Con nghe người ta giới thiệu hay lắm. Ba dắt Lâm, con tìm chỗ để xe đẩy.
Tôi đưa Lâm đến Cổng thiên văn. Lối đi vào nơi này mờ ảo, cùng với giai điệu nhạc bồng bềnh nổi lên khiến tôi bắt đầu có cảm giác rất lạ. Cổng thiên văn có mái vòm theo thiết kế mô phỏng đài thiên văn vũ trụ để người xem hình dung được khái niệm ban đầu về không gian vũ trụ. Trong phòng có hàng trăm người đã ngồi kín chỗ . Ghế ngả khoảng 25 đến 30 độ để người xem nhìn trực tiếp lên mái vòm.
Người ta sử dụng công nghệ nghe nhìn nhiều chiều hiện đại, kết hợp với sự chuyển động lên xuống hoặc quay tròn hệ thống ghế ngồi, giúp người xem trải nghiệm một cuộc hành trình đi vào vũ trụ sống động, đầy cảm giác. Lên mặt trăng. Lên sao Hỏa. Đi vào khoảng không bao la… Suốt quá trình chiếu nửa tiếng, nhiều người không giữ được bình tĩnh, thỉnh thoảng kêu lên. Ngay cả Lâm, dù tính tình rất mạnh dạn, cũng nhiều lần rùng mình bám chặt lấy ông.
Xem xong bộ phim, chúng tôi vào tham quan khu vực nhân chủng. Lần đầu tiên tôi được chứng kiến sơ đồ cây “nhân chủng” một cách hệ thống từ tổ tiên, những họ hàng gần xa của loài người đến những loại vượn người đi từ châu Phi đến khắp các châu lục. Chúng ta ai cũng biết đại loại khoảng 2 triệu năm về trước, người tối cổ bắt đầu rời quê hương của mình và lan tỏa đi khắp thế giới từ Bắc Phi, Trung Đông tới châu Âu và châu Á. Ở mỗi khu vực, người tối cổ phải đương đầu với những điều kiện sống khác khác nhau từ khí hậu, địa hình, động thực vât để sinh tồn và phát triển. Để thích nghi được với điều kiện sống khác nhau, cư dân loài người ở mỗi vùng đất bắt đầu tiến hóa theo những hướng khác nhau. Theo thời gian các chủng thuộc loài người xuất hiện với nhiều sự khác biệt về ngoại hình như ngày nay.
Chỉ khi đến bảo tàng Denver tôi mới tỏ tường, loài người (Homo Sapiens) còn có những anh chị em của chúng ta như: Homo rudolfensis (Đông Phi); Homo erectus (Đông Á); và Homo neanderthalensis (Châu Âu và Tây Á). Tất cả đều là con người và là anh em của chúng ta. Đặc biệt là ở châu Âu và Trung Đông, có một chủng người mà các nhà khoa học gọi là Homo neanderthalensis, hoặc là Neanderthal. Neanderthal thích nghi rất tốt với khi hậu lạnh của thời kì băng giá châu Âu và Trung Đông. Người Neanderthal to và cơ bắp hơn người Homo sapiens. Họ có lớp mỡ cách nhiệt khắp thân thể để bảo vệ trong thời tiết băng giá và họ thậm chí còn có bộ não to hơn chúng ta.
Tại sao người Neanderthal lại tuyệt chủng? Người ta lý giải có thể là do hai nguyên nhân. Một là do đặc tính cấu tạo một loại gen nào đó nên họ không thích nghi được với môi trường thay đổi. Hai là do chính loài người chúng ta (Homo Sapiens) đã tiêu diệt họ vì họ khác chúng ta. Tại bảo tàng, người hướng dẫn viên cho chúng tôi biết, ngày nay các nhà khoa học đã lập được bản đồ gen hoàn chỉnh của người Neanderthal. Người ta đã lên kế hoạch làm sống lại người anh em này. Người ta dự định cấy ghép nguồn ADN tái tạo của Neanderthal vào trứng của con người. Từ đó sẽ sinh ra Neanderthal sau 30.000 năm tuyệt chủng. Dự án này được tài trợ 30 triệu đô la. Một số phụ nữ Mỹ đã tình nguyện làm người mang thai. Nếu đúng người Homo Sapiens chúng ta đã tiêu diệt họ thì đây là một “hành động chuộc lỗi” dù đã muộn màng.
Năm 2010, các nhà khoa học còn khám phá ra một người anh em thất lạc khác của chúng ta khi họ khai quật một cái động ở phía Bắc nước Nga. Họ tìm thấy mẩu xương hóa thạch của một ngón tay người và sau khi trích được DNA từ mẩu xương này, họ phân tích và so sánh nó với tất cả các loài người khác, nhưng không mẫu nào trùng hợp. Vì vậy, họ đi đến kết luận có một loài người khác được gọi là Homo denisova, người đến từ động Denisova. Khoa học hiện đại thật thần kỳ. Tôi không biết còn bao nhiêu người anh em khác đang chờ đợi được các nhà khoa học xác định ở một nơi nào đó.
Đến giờ ăn trưa, chúng tôi xuống khu vực ăn rộng lớn nằm ở tầng một của bảo tàng. Có đủ các món ăn Âu, Á và các món ăn dân tộc đặc trưng của Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan... Con gái gọi một đĩa bánh Pizza và một đĩa trứng luộc cho cả nhà. Chúng tôi giục nhau ăn cố mà vẫn không hết, đành gói lại ăn bữa tối. Nhìn sang bên cạnh, tôi thấy một gia đình người Mỹ cũng bốn người tương tự như gia đình chúng tôi. Họ gọi một đĩa bánh Pizza, một đĩa trứng luộc, một con gà nướng, một đĩa khoai tây chiên. Đó là chưa kể đến một số đồ uống, vậy mà họ ăn uống gần như hết. Không biết có phải họ ăn nhiều như vậy nên tỉ lệ người béo phì ở Mỹ cao nhất thế giới?
Nghỉ ngơi khoảng nửa tiếng, chúng tôi vào nhà hát IMAX. Nhà hát nằm trên tầng hai của bảo tàng. Vào năm 1940 người ta đã xây dựng nhà hát này như một thính phòng và được sử dụng cho các buổi thuyết trình, các buổi hòa nhạc, chiếu phim cho đến năm 1980. Sau hơn hai năm cải tạo, IMAX được mở cửa trở lại vào đầu năm 1983 với gần 500 chỗ ngồi và chuyên chiếu phim chuyên đề 3D, 4D hàng ngày phục vụ khách thăm quan bảo tàng.
Đeo cặp kính chuyên dụng vào rạp, tôi thấy mình như được vào một thế giới đầy bí ẩn và mới mẻ. Tôi thấy những thứ mà chưa bao giờ được thấy. Người ta sử dụng kĩ thuật chụp ảnh tốc độ cao, kính hiển vi điện tử cùng với công nhệ nano để làm ra những bộ phim, đưa người xem vào thế giới vi mô mà trước đó chỉ dành cho những nhà khoa học. Chẳng hạn người xem như được đối mặt trực tiếp với các loài phù du kì lạ và đàn cá voi khổng lồ. Đặc biệt về loài cá mập trắng, loại động vật ăn thịt và là sát thủ của đại dương, nó đem đến cho người xem bao cảm xúc bởi những cuộc săn mồi, bởi những cuộc tiếp xúc của loài cá này với những chuyên gia quả cảm.
Người xem còn được nhìn thấy một thế giới tuyệt đẹp nhưng vô cùng phức tạp về các sự kiện đương đại trong đời sống chính trị. Chẳng hạn như những câu chuyện, những hình ảnh đầy sức lôi cuốn về Jerusalem, thành phố của ba tôn giáo lớn trên thế giới. Tôi khám phá ra lí do tại sao cái miền đất dường như nhỏ bé ấy lại trở nên vô cùng thiêng liêng với người theo Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Tôi cũng tìm được câu trả lời tại sao, sau hàng ngàn năm, miền đất thánh Jerusalem vẫn tiếp tục khuấy động trí tưởng tượng của hàng tỉ người trên trái đất.
Đến tầm giữa chiều chúng tôi đi thăm khu động vật. Theo thống kê, trên thế giới có khoảng 1,5 triệu loài. Bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Denver có trên một triệu đối tượng. Có cả những loài tuyệt chủng từ hàng triệu năm trước như các loại khủng long, voi ma mút… Người giới thiệu cho chúng tôi biết các nhà khoa học đã lập được bản đồ gen voi ma mút cổ đại được tìm thấy trong tình trạng đông lạnh trong lớp băng giá ở Siberia. Họ đang lên kế hoạch lấy trứng thụ tinh của một con voi hiện tại, thay thế AND của voi ma mút và cấy vào tử cung voi hiện tại. Họ tính sau khoảng 22 tháng, nhân loại sẽ được chứng kiến con voi ma mút được sinh ra sau 5000 năm tuyệt chủng. Người giới thiệu cũng cho chúng tôi biết bảo tàng được giới khoa học đánh giá là một trong những bảo tàng lớn nhất của Mỹ và thế giới. Các loại động vật ở bang Colorodo và các bang khác của Mỹ cũng như ở cả châu Mỹ gần như không thiếu loài nào. Chỉ như thế thôi cũng đã quá đủ cho khách tham quan có một cái nhìn khá toàn diện về thế giới động vật.
Có một sơ đồ hình cây lớn phân chia động vật thành hơn 20 ngành ở gian đầu tiên. Đó là các ngành: Ngành động vật nguyên sinh như loài trùng biến hình; ngành động vật xốp như bọt biển; ngành động vật rỗng ruột như san hô; ngành động vật hình dẹt như trùng hút máu; ngành động vật thân đốt như gun, châu chấu; ngành động vật thân mềm như ốc, mực; ngành động vật chân khớp như tôm, cua, côn trùng... Cuối cùng là ngành động vật xương sống. Từ các ngành người ta lại chia ra các lớp. Chẳng hạn như ngành động vật xương sống lại chia ra thành lớp cá, lớp lưỡng cư, lớp bò sát, lớp chim, lớp thú.
Chúng tôi đi lướt qua các gian phòng trưng bày các tiêu bản động vật. Gần như phòng nào cũng có tranh ảnh hay màn hình mô phỏng cuộc sống thực của các loài từ rạn san hô cách đây 435 triệu năm đến các loại côn trùng. Có cả một hộp sọ, một bộ xương của một diễn viên nào đó… Chỉ gian phòng nào gây được sự chú ý thì chúng tôi mới dừng lại xem kỹ. Vậy mà cũng phải mất đến hơn một tiếng chúng tôi mới cưỡi ngựa xem hoa xong. Tuy vậy tôi vẫn hiểu và hình dung được sự tiến hóa của sự sống trên trái đất từ những sinh vật đơn bào đến những con khủng long khổng lồ, và đặc biệt là có cái nhìn sâu hơn về cư dân hiện tại của thế giới ngày nay. Thật là vui vì tôi vẫn được học, được trải nghiệm, một hình thức học ở bảo tàng Mỹ.
Chúng tôi tiếp tục tới khu vực thám hiểm y tế. Tại đây người ta cân nặng, đo chiều cao, đo huyết áp, lấy mẫu máu và làm các xét nghiệm như khám sức khỏe toàn diện cho du khách nếu có yêu cầu. Chúng tôi tuần tự làm như mọi người để cuối buổi lấy kết luận in trên máy tính. Khu vực thám hiểm về y tế không chỉ đơn thuần là khám sức khỏe hay xem một cuộc trưng bày cụ thể, sinh động về cơ thể con người mà thông qua các thiết bị y tế hiện đại, tôi được thấy mình đang nhìn vào cơ thể bên trong của mình; trực tiếp nhìn thấy từng biến động và thay đổi của cơ thể mình. Tôi được trải nghiệm những giây phút tuyệt vời khi nhìn vào tế bào của mình dưới kính hiển vi, nhìn vào bên trong mạch máu đang chảy của mình, hiểu được tình trạng sức khỏe của các cơ quan dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia y tế. Cái cảm giác kì lạ được đối diện với chính mình trong tôi chỉ có ở đây chứ chưa hề thấy trong bất kì lần khám sức khỏe nào của tôi trước đó.
Lấy xong giấy báo kết quả sức khỏe, chúng tôi thăm khu vực triển lãm. Khu vực này lại chia ra làm nhiều khu vực nhỏ. Chẳng hạn khu trung tâm giáo dục trẻ em, ở khu này, trẻ em chơi với các đồ thủ công hay chơi trên sân khấu để phát hiện hay kiểm tra các mẫu vật, côn trùng tương đối quen thuộc hoặc vào nhà gương để cười vui vẻ với các hình dạng méo mó và kì lạ của mình. Ở Khu vực này các cháu tôi thỏa sức chơi đùa, thỏa sức sáng tạo. Chúng không muốn rời đi nên chúng tôi cứ nấn nuối để chúng chơi. Khu triển lãm xác ướp Ai Cập, khu này trưng bày xác ướp và các đồ tùy táng về nền văn minh Ai Cập cổ đại, khu trưng bày đá quý và khoáng sản, khu triển lãm về nền văn hóa của người da đỏ Bắc Mỹ, khu triển lãm văn hóa dân gian Nga… chúng tôi chỉ đi lướt qua. Rất tiếc tôi chỉ có một ngày tại bảo tàng này.
Tám giờ tối cả nhà mới ra về. Một ngày tham quan bổ ích và lí thú, để lại trong lòng tôi bao cảm xúc. Trên đường về tôi cứ miên man suy nghĩ. Từ khi con người xuất hiện đến hết thế kỷ thứ 20, con người chưa có khả năng đột phá giới hạn sinh học của mình. Nhưng bước sang thế kỷ thứ 21, với cuộc cách mạng 4.0, cách mạng sinh học, điều trên đã không còn đúng nữa. Con người đang bắt đầu phá vỡ các quy luật chọn lọc tự nhiên bằng cách biến đổi gen tạo ra những loại sinh vật mới, và bằng những thiết kế theo “quy luật của con người”. Không biết công nghệ sinh học có thể tái tạo lại được người Neanderthal, voi ma mút, các loài động vật đã tuyệt chủng? Không biết người ta có thể thành công với thang máy vũ trụ?
Người Mỹ đã phát minh ra tivi, tủ lạnh, máy bay, tàu ngầm, tên lửa, tàu vũ trụ, máy tính, internet… Với thời gian tôi tin họ còn làm được nhiều điều kỳ diệu. Thời gian sẽ chứng minh điều đó. Còn hiện tại, Bảo tàng Khoa học và tự nhiên Denver cũng như hệ thống các loại bảo tàng khác khoa học và tự nhiên khác ở Mỹ thực sự là trường học, trường học STEM sống động, một môi trường học tập cộng đồng kì thú. Một ngày tham quan thôi nhưng tôi cảm thấy mình lớn lên rất nhiều, được rất nhiều.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.