Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Từ sân bay quốc tế Narita, Nhật Bản đến Mỹ

1 comment
Xuống sân bay quốc tế Narita thì trời đã sáng. Sân bay quốc tế Narita nằm ở Narita, Chiba, phía Đông Thủ đô Tokyo, Nhật Bản. Sân bay này phục vụ phần lớn các chuyến bay vận chuyển hành khách đến và đi Nhật và cũng là điểm kết nối hàng không chính giữa châu Á và châu Mỹ. Đây là sân bay vận chuyển tấp nập lớn thứ 2 của Nhật, sân bay vận chuyển hàng hóa lớn thứ 3 thế giới. Nó có hai nhà ga riêng biệt với một nhà ga xe lửa ngầm. Giữa  hai nhà ga hàng không là tuyến xe bus và xe lửa, không có lối đi bộ giữa hai nhà ga. Vào những năm 2010 sân bay phục vụ khoảng trên 35,5 triệu lượt khách. Tại đây, chúng tôi còn phải đợi năm tiếng nữa mới bay chuyển tiếp. Trong thời gian chờ đợi, nhân viên hãng hàng không Mỹ phát cho mỗi hành khách hai tờ giấy kê khai nhập cảnh vào Mỹ. Đại loại phải điền vào tờ giấy kê khai bằng tiếng Anh ngày tháng năm sinh, địa chỉ, số hộ chiếu, visa, mục đích sang Mỹ, kê khai hành lý, tài sản cá nhân, những điều khoản cấm… Có khoảng ba mươi người Việt sang Mỹ trong chuyến bay này. Một số là phụ huynh đi thăm con du học. Một số đi du lịch. Một số sang dự hội trợ triển lãm. Gần như tất cả đều nhờ tôi kê khai hộ. Thấy vậy David  liền đến giúp cùng tôi. Hai chúng tôi vừa hỏi mọi người vừa viết, áng chừng một tiếng mới xong. David nhận xét: “Tôi đã đến làm việc ở một số nước Đông Nam Á. Có lẽ tiếng Anh của người Việt đứng ở vị trí cuối bảng. Vì vậy vấn đề hội nhập của các bạn còn gặp rất nhiều khó khăn”.
Tôi tán đồng với nhận xét của David. Suy cho cùng thì thực trạng học hành tiếng Anh của Việt Nam thuộc hàng yếu nhất Đông Nam Á là do ảnh hưởng của lối tư duy Chiến tranh lạnh. Từ đầu những năm 1950 đến cuối những năm 1980, học sinh, sinh viên của Việt nam chỉ được học tiếng Nga, tiếng Trung. Sách báo ngoại văn chủ yếu là sách Nga và sách Trung. Thế giới đươc các nhà chính trị chia làm hai phe chính tà.Tiếng Anh là tiếng của đối phương, mấy ai học (ngoại trừ ở trong Nam dưới thời Mỹ Ngụy). Chỉ mãi đến khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa, mọi người mới được biết đến tiếng Anh. Ở cấp phổ thông, bắt đầu từ năm 1986, các nhà hoạch định chiến lược giáo dục Việt Nam mới quyết định đưa chương trình tiếng Anh vào giảng dạy. Mất một thời gian nữa các chuyên gia tiếng Anh mới hoàn thành khung chương trình 7 năm, từ lớp 6 đến lớp 12. Và phải đến đầu những năm 2000 trở đi thì xã hội mới nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Anh trong thời đại toàn cầu hóa, thời kỳ hội nhập của đất nước.
Mặc dầu đã triển khai học tiếng Anh hàng thập kỷ nay, nhưng cái gì cũng mới. Trước hết đội ngũ giáo viên ban đầu là thiếu và yếu. Rồi đến điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn. Tiếp đến chương trình, nội dung, phương pháp còn nhiều điều bất cập. Tất cả đều không đáp ứng được yêu cầu. Mục tiêu học ngoại ngữ là để có thể giao tiếp được bằng ngôn ngữ đó, nhưng sau 7 năm học tiếng Anh ở  bậc Phổ thông cơ sở và Phổ thông trung học, thậm chí đến bậc Đại học, với biết bao thời gian công sức của thầy trò, kết quả thật đáng buồn. Nói hơi quá một chút là gần bằng không, vì đại đa số học sinh, sinh viên không thể nghe nói được tiếng Anh.
Tất cả các cán bộ quản lý giáo dục mà tôi quen biết đều nhận xét khả năng nghe, nói của học sinh là quá kém. Rất ít học sinh nói được tiếng Anh với nhau về những sinh hoạt bình thường trong cuộc sống. Còn kỹ năng đọc, viết của học sinh cũng hoàn toàn không ổn. Học sinh có thể đọc, phần lớn đọc không đúng, đọc hết cả một bài khóa, nhưng lại không hiểu nội dung nói gì, không thể tóm tắt được nội dung ấy. Và nếu đọc chép chính tả, không dám nói tới việc tự viết đoạn văn, thì kết quả thật ảm đạm. Theo một nghiên cứu của Sở Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh về thực trạng giao tiếp qua dạy và học tiếng Anh trong nhà trường phổ thông thì, sau khi học xong Trung học cơ sở, học sinh chỉ có thể nghe nói được những thông tin cơ bản như chào hỏi, tên tuổi. Ở bậc Trung học phổ thông gần 80 % không nghe nói được.
Trước thực trạng trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiên Đề án Ngoại ngữ từ năm học 2012 đến năm 2020. Cá nhân tôi rất nghi ngờ về tính khả thi của đề án này. Khảo sát năng lực của đội ngũ giáo viên tiếng Anh theo chuẩn châu Âu mới đây của một số địa phương đã cho một kết quả giật mình. Theo thống kê chung, một số tỉnh phía Bắc, ví dụ như Hải Dương đạt chuẩn là 14 % ở Trung học cơ sở, 10 % ở Trung học phổ thông. Các tỉnh phía nam số liệu cũng tương đương như vậy. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, dù kết quả khảo sát không được công bố chính thức, nhưng theo nguồn tin đáng tin cậy, nếu đúng chuẩn, giáo viên có trình độ B2 mới được dạy Trung học cơ sở và trình độ C1 mới được dạy Trung học phổ thông thì tỉ lệ cũng chỉ đạt trên 10 %.
Bản thân tôi khi tuyển giáo viên tiếng Anh cho trường quốc tế, khi yêu cầu ứng viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi nói về tình hình Biển Đông bằng tiếng Anh. Các ứng viên đều im lặng rồi lắc đầu. Tôi hạ thấp yêu cầu, muốn các ứng viên nói đại loại là nhà tuyển dụng thường tuyển những người có kinh nghiệm, nhưng nếu chưa có việc  làm thì lấy đâu ra kinh nghiệm. Muốn có kinh nghiệm thì phải có việc làm. Đó là một cái vòng luẩn quẩn, làm khó cho người đi xin việc. Đến chín phần mười ứng viên không dịch được ý trên. Với chất lượng đội ngũ như thế, sẽ rất khó khăn để nâng cao trình độ ngoại ngữ trong thời gian sắp tới.
Tôi trao đổi vấn đề trên với David, đồng thời cũng cũng trao đổi thêm về nhận xét cá nhân của tôi đối với nền giáo dục Việt nam trước đây, một nền giáo dục chịu nhiều ảnh hưởng của mô hình Xô viết. Mô hình đó đã hoàn thành sứ mệnh của nó trong khoảng từ những năm 1950 đến giữa những năm 1970. Từ những năm 1980 trở đi, tôi đã chứng kiến hay nói chính xác là tôi đã cùng các đồng nghiệp tham gia hai lần thực hiên cải cách giáo dục, nhưng tất cả đều duy ý chí, nặng về trang bị kiến thức, lí thuyết hàn lâm, chắp vá, thiếu đồng bộ, dẫn đến kết quả không mang lại những điều người ta mong muốn. Nền giáo dục trong mấy chục năm qua không tạo ra được những thế hệ học sinh, sinh viên năng động sáng tạo, có nền tảng văn hóa, khoa học và kỹ năng cần thiết, mà phần nhiều là những con người thụ động, lý thuyết suông, xa rời thực tế, ỷ lại, thiếu sáng tạo.
Những yếu kém của nền giáo dục bắt nguồn từ cơ chế, chính sách, từ việc chậm chạp không kịp thay đổi mô hình giáo dục cho đến việc thiết kế nội dung chương trình và phương pháp đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu của đất nước, cũng như những yêu cầu của thời đại. Muốn đổi mới căn bản và toàn diện, phải bắt đầu từ việc xác định đúng đắn chiến lược phát triển giáo dục trong thời đại mới, thời đại kinh tế tri thức. Tôi nói với David rằng tất cả các cấp, các ngành ở Việt Nam đã bắt tay vào làm việc đó, nhưng việc đề ra chiến lược, lựa chọn mô hình giáo dục riêng của Việt Nam thì thật là khó. Phải cần có thời gian vừa đủ để hoàn thiện dần. Theo tôi, trước mắt nên học tập các nước ở châu Á có nền kinh tế, xã hội phát triển dựa trên sự coi trọng phát triển giáo dục như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, kết hợp những thành quả khoa học giáo dục của các nước tiên tiến để thiết kế nội dung chương trình, hệ thống sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, đăc biệt là những môn khoa học tự nhiên và ngoại ngữ. Không cần chi tới hàng trăm tỉ đồng cho hết dự án này đến dự án kia mà kết quả vẫn không ra đâu vào đâu. Nghe đến đây David căn vặn:
-       Thế cán bộ quản lý trực tiếp như các ông đã làm được những gì? Các ông là những người đứng đầu một nhà trường, những người lãnh đạo mà?
Tôi bối rối trước những câu hỏi của David. Trên thực tế những người như chúng tôi chẳng làm gì cả. Có nhận ra những cái sai trái trong giáo dục, chỉ dám nói trong một chừng mực, nhưng không dám làm cái gì ngoài khuôn khổ, cứ đi theo con đường mòn cho an toàn, cứ thực hiện đúng như tinh thần, nhiệm vụ, chỉ thị, chương trình hàng năm… Càng nhiều tuổi càng giữ mình để đỡ bị phiền phức. Vả lại nếu có nói thì ai nghe. Cứ cố gắng năm nào cũng đúc ra mươi học sinh giỏi các cấp, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp 97% trở lên, còn chất lượng thực tế ra sao thì hạ hồi phân giải. Nói như các đồng nghiệp đi trước của tôi là để hạ cánh cho an toàn. Suy cho cùng, đó là thái độ hèn kém của một lớp người gọi là có học, có chức danh. Và như thế thì cải cách thế nào được giáo dục? Và như thế thì làm gì có chất lượng giáo dục? Tôi không dám bộc lộ nỗi lòng riêng với David. Chẳng lẽ lại đi nói xấu đường lối giáo dục của đất nước. Tuy nhiên tôi cũng cho David xem bài tham luận của tôi trong một buổi tọa đàm giáo dục. Tiêu đề của bài tham luận là: Nên đi theo mô hình giáo dục tiên tiến. Nội dung có thể tóm tắt lại một số ý như sau:
Một số trường hiện nay, nhất là trường ngoài công lập nên mạnh dạn xây dựng một hướng đi riêng, theo mô hình giáo dục tiên tiến. Sẽ có câu hỏi đặt ra thế nào là mô hình tiên tiến. Theo quan niệm của chúng tôi, dù là trường công lập hay trường tư thục, trường chuyên hay trường phổ thông bình thường, ở miền xuôi hay miền núi, thành thị hay nông thôn, tất cả các nhà trường đều phải thực hiện mục tiêu mà Luật giáo dục Việt Nam đã ban hành. Về mặt lý luận, chắc chắn mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mà Luật Giáo dục Việt Nam mới ban hành năm 2005 và trước đó đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời đại toàn cầu hóa, thời đại kinh tế tri thức. Vậy thì tại sao giáo dục Việt Nam lại có khoảng cách khá xa so với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Có nghĩa là học sinh của các nước đến Việt Nam chỉ có thể học ở trường quốc tế. Còn học sinh Việt Nam ra nước ngoài phải học bổ túc mất một thời gian dài mới theo kịp được học sinh bình thường của họ.
Không kể về trình độ ngoai ngữ bị tụt hậu mà  kiến thức các môn khoa học cùng các kỹ năng cá nhân đều tụt hậu. Như vậy phải chăng việc cụ thể hóa mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục thành chương trình, sách giáo khoa và tổ chức thực hiện của chúng ta có vấn đề. Mấy chục năm qua, các trường hết sức cố gắng phấn đấu theo cái lối mòn của bệnh hình thức, thành tích cũng chỉ đạt được danh hiệu trường tiên tiến, tiên tiến xuất sắc mà vẫn cứ không hội nhập được vào mạng lưới giáo dục quốc tế. Đa số học sinh Việt Nam khi ra nước ngoài học đều nhận xét quãng thời gian học ở trong nước là quãng thời gian căng thẳng khủng khiếp, là sự đầy ải về mặt tinh thần vì phải chạy theo một lượng kiến thức lí thuyết hết sức nặng nề. Mô hình giáo dục tiên tiến khác với trường tiên tiến, tiên tiến xuất sắc hiện nay. Nhiều trường tiên tiến, tiên tiến xuất sắc vẫn có thể là lạc hậu, tụt hậu, không hòa nhịp cùng đà tiến chung của nhân loại. Nhưng mô hình giáo dục tiên tiến thì phải đi theo hướng tiếp cận với các nền giáo hàng đầu đã thành công trong khu vực và trên thế giới.
Hiệu quả của một nền giáo dục nói chung và của một nhà trường nói riêng chỉ được đánh giá cao khi nó đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội, của đất nước. Trong thời đại toàn cầu hóa, hiệu quả nền giáo dục còn được đánh giá là có hòa nhịp bước tiến chung của nhân loại hay không. Sau gần ba mươi năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Nhưng trong lĩnh vực giáo dục, hình như chúng ta chưa có những bước đi tương xứng. Giáo sư Hoàng Tụy, nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, người đi tiên phong trong một lĩnh vực toán học đặc biệt vừa được thế giới trao giải Toán tối ưu hóa toàn cục nói trong một buổi hội thảo về cải cách giáo dục: Nếu đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhìn tình hình một cách khách quan và có trách nhiệm, chúng ta không thể nhắm mắt trước sự tụt hậu ngày càng xa của giáo dục Việt Nam so với các nước xung quanh và so với yêu cầu phát triển của xã hội.
Nhận xét của Giáo sư Hoàng Tụy phản ánh đúng thực trạng giáo dục Việt Nam. Nhưng làm thế nào để thu hẹp khoảng cách tụt hậu? Đó là công việc khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng của toàn Đảng, của toàn dân, trước hết là của các nhà giáo dục, trong đó các nhà trường đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Không kể công lập hay tư thục, các nhà trường phải dũng cảm chọn cho mình một hướng đi, một mô hình mới vừa phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại vừa phù hợp với thực tiễn của trường mình. Tất nhiên là không thụ động chờ đợi văn bản, chỉ thị, hướng dẫn. chúng tôi nghĩ trong hoàn cảnh hiện tại, một số nhà trường, đặc biệt các nhà trường có yếu tố nước ngoài, nếu phụ huynh có điều kiện, nên cho học sinh tiếp cận với nền tảng chung, cái khung chung về giáo dục của khu vực và thế giới. Việc xây dựng những chương trình khung cho mỗi cấp học trên cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp với việc giảng dạy một số bộ môn như toán, tin học, khoa học bằng tiếng Anh là cần thiết để học sinh có thể hội nhập, được công nhận trình độ, văn bằng tương đương với các nước có nền giáo dục tiên tiến. Đó là một hướng đi cần được quan tâm nhằm san lấp khoảng cách trong giáo dục.
Để thực hiện được hướng đi trên, các trường cần triển khai, xây dựng một đội ngũ giáo viên vừa có trình độ khoa học, chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, vừa có khả năng vận dụng kiến thức quốc tế vào thực tiễn nhà trường Việt Nam. Thời gian đầu các trường có thể hợp đồng với chuyên gia giảng dạy các môn khoa học ở các nước nói tiếng Anh có nền giáo dục tiên tiến trực tiếp giảng dạy tại trường. Về dài hạn, các nhà trường phải tuyển chọn, bồi dưỡng được một đội ngũ giáo viên khoa học, lĩnh hội được phương pháp đào tạo hiện đại, có thời gian tu nghiệp tại nước ngoài hoặc học tại nước ngoài giảng dạy các giáo trình, sách giáo khoa chuẩn của khu vực và quốc tế.
Một vấn đề quan trọng nữa cần được các nhà trường quan tâm, đó là việc dạy và học ngoại ngữ. Trong bối cảnh hội nhập, ngoại ngữ đóng một vai trò quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn mực quốc tế. Phải coi việc dạy và học ngoại ngữ là nội dung phát triển nguồn nhân lực. Dạy và học ngoại ngữ không chỉ để học sinh giao tiếp quốc tế mà còn là hình thức để nhận thức khoa học, là điều kiện bắt buộc phải có để đạt được mục tiêu giao lưu văn hóa, khoa học kỹ thuật, kinh tế… Và cũng qua đó để đạt được mục tiêu chung nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Vì nhiều lý do khác nhau, từ lâu tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chung cho nhu cầu giao tiếp giữa các cộng đồng ngôn ngữ và văn hóa khác nhau. Ngày nay, các nước còn sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ chung cho các phương tiện thông tin đại chúng, cho truyền thông khoa học và giảng dạy trong các nhà trường. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, các chuyên gia ngoại ngữ của Việt Nam đã xây dựng được một chiến lược dạy học ngoại ngữ xuyên suôt các bậc học. Tuy nhiên trình độ ngoại ngữ chung của học sinh còn rất hạn chế. Ngay cả trường hợp có người biết đọc biết viết nhưng lại không biết nghe biết nói hoặc biết nghe biết nói nhưng lại không biết đọc biết viết, thành ra chưa hẳn đã thoát nạn mù ngoại ngữ.
Và ngay cả những học sinh đạt điểm tiếng Anh chuẩn quốc tế để đi du học vẫn phải mất hàng năm trời mới hội nhập được với các bạn cùng lớp. Tại sao lại như vậy? Có rất nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân thuộc chiến lược chung về dạy học ngoại ngữ. Có nguyên nhân thuộc về lĩnh vực kinh tế, xã hội. Nhưng có một điều chắc chắn là nền tảng tiếng Anh giao tiếp, tiếng Anh khoa học, kỹ thuật và các kỹ năng khác của học sinh chúng ta còn yếu kém nên dẫn tới tình trạng trên. Để khắc phục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Đề án dạy ngoại ngữ từ năm 2012 đến năm 2020 để nâng cao dần từng bước, tiến tới trình độ ngoại ngữ trong khu vực. Nhưng chẳng lẽ phải đợi đến sau năm 2020 các nhà trường mới thực hiện đại trà theo kiểu đánh kẻng dàn hàng ngang. Chúng tôi nghĩ một số trường nên thực hiện việc giảng dạy các bộ môn khoa học bằng tiếng Anh ngay cho học sinh phổ thông. Có như vậy chúng ta mới từng bước nâng cao mặt bằng dân trí ngoại ngữ lên trình độ một quốc gia phát triển…
Đúng 11 giờ máy bay từ Narita mới cất cánh đi đến sân bay quốc tế Mỹ Dallas. Đây là khoảng thời gian bay rất dài. Phần lớn hành khách trên máy bay đều theo dõi hoặc nghe các chương trình tự chọn trên màn hình cảm ứng trước mặt. Một số ít nhắm mắt ngủ ngồi. Riêng với David, tôi để ý không thấy ông nghỉ ngơi. Ông cặm cụi đánh máy hàng tiếng trên máy tính cá nhân, thỉnh thoảng làm một tợp rượu, nếu không lại quay sang nói chuyện. Tôi có linh cảm ông đang thực hiện một tác phẩm gì đó liên quan đến Việt Nam nhưng lại không tiện nói. Những vấn ông đưa ra bàn luận với tôi là những vấn đề lớn, liên quan đến vận mệnh của khu vực Đông Nam Á và các quốc gia mà đều có tâm xoáy vào Việt Nam. Những vấn đề này vừa mang tính thực tiễn, vừa có tính chất học thuật. Chẳng hạn như việc Mỹ rút khỏi Việt Nam, rút các căn cứ quân sự ở các nước Đông Nam Á như Philippines, Thái Lan đã để lại một khoảng trống quyền lực. Không có nước nào, kể cả những nước hóa rồng hóa hổ trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á có đủ tiềm lực vươn lên trở thành cường quốc san lấp khoảng trống đó. Inđônnêsia, Thái Lan, Philippines đều chìm ngập trong làn sóng ly khai dân tộc và các vấn đề nội bộ. Cũng không có một quốc gia nào có khả năng dẫn dắt ASEAN phát huy được tiềm năng và sức mạnh của nội khối. Bên ngoài, Liên Xô đang trên đường sụp đổ. Họ phải bỏ lại căn cứ quân sự hải quân duy nhất ở Cam Ranh nhằm đối trọng với Mỹ và kiềm chế Trung Quốc trước đó. Còn Nhật Bản thì vừa chịu sự ràng của các điều ước sau chiến tranh thế giới thứ hai vừa chịu sự ràng buộc của hiến pháp trong nước, lại dựa vào chiếc ô hạt nhân của Mỹ, cũng chỉ là một cường quốc về kinh tế mà thôi.
 Cường quốc duy nhất mất vị thế gần hai trăm năm trở lại đây vốn ôm mộng khôi phục địa vị bá chủ khu vực đang dần tìm cách lấp khoảng trống quyền lực ở khu vực, đó là  một Trung Quốc trỗi dậy đầy tham vọng. Không may cho Đông Nam Á lại là Trung Quốc, một Thiên triều bành trướng mà hầu hết các nước lân bang đều phải triều cống suốt mấy nghìn năm trong lịch sử nếu không muốn bị chiến tranh và hủy diệt. Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng Đông Nam Á có vấn đề, đều bị cuốn hút vào những cuộc chiến tranh dã man tàn bạo, cốt nhục tương tàn khi có thế lực bên ngoài can thiệp vào. Mấy nghìn năm trước đây là Trung Quốc, mấy trăm năm gần đây là Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp, Mỹ, và mấy chục năm gần đây lại là Trung Quốc. Nếu Đông Nam Á không tỉnh táo, đoàn kết thì cái định mệnh của lịch sử tiếp tục gieo họa cho các nước.
Tôi nói lại với David nếu như các các cường quốc quyết tranh giành vị trí chiến lược, tranh giành cưỡng đoạt lãnh thổ, vùng nước, tài nguyên kể cả bằng vũ lực thì các nước nhỏ yếu ở Đông Nam Á có thể làm gì được. Từ xưa đến nay chân lý vẫn thuộc về kẻ mạnh. Ỷ mạnh hiếp yếu, khi cần bất chấp luật pháp quốc tế là cách hành xử thường thấy ở các cường quốc. Thậm chí họ có thể thỏa hiệp với nhau để chia sẻ lợi ích ở Đông Nam Á . David  không đồng ý với cách đặt vấn đề như vậy, theo David vì đây là Đông Nam Á chứ không phải là Trung Đông. Điều quan trọng nhất ASEAN phải là một. Thách thức đến từ Trung Quốc chứ không phải từ Mỹ, dù Mỹ có chuyển trọng tâm chiến lược quân sự về châu Á – Thái Bình Dương.
 Để trở thành một gã khổng lồ, Trung Quốc đã bành trướng mấy nghìn năm nay rồi. Biết bao nhiêu dân tộc đã bị tiêu diệt hoặc bị xóa tên vĩnh viễn trên bản đồ. Điều này thì các dân tộc lân bang với Trung Quốc và các tộc người trong đại gia đình Trung Quốc đều đã được trải nghiệm bằng máu và nước mắt từ ngàn xưa đến nay như một hằng số. Tất cả các cường quốc thực dân đều đã ra đi, chỉ còn một mình Trung Quốc là ở lại đó. Cứ lấy Việt Nam làm ví dụ, không một triều đại nào, không một chính thể nào thuộc Tầu là không đem quân xâm lược Việt Nam. Mới gần đây nhất năm 1945 là Tầu Tưởng, năm 1979 là Tầu Cộng. Trong lịch sử hiên đại ai là người đã chủ động gây ra tất cả các cuộc chiến tranh biên giới trong mấy chục năm trở lại đây. Lấy gì đảm bảo từ nay về sau họ tôn trọng nền độc lập, tôn trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thố của các nước láng giềng hữu nghị ở Đông Nam Á. Nhân tố gây mất ổn định ở Đông Nam Á hiện nay chính là Biển Đông, không phải là sự căng thẳng giữa các nước thành viên ASEAN mà là sự căng thẳng giữa Trung Quốc với nhiều nước trong ASEAN. David hài hước, nếu các dân tộc có thể dịch chuyển được lãnh thổ đi nơi khác thì có lẽ chỉ còn lại một mình Trung Quốc.
Lịch sử cho đến nay cũng chỉ ra rằng không một quốc gia nào phụ thuộc vào Trung Quốc lại mở mày mở mặt được với năm châu bốn biển. Bắc Triều Tiên, Mianma là một trong số các quốc gia chứng minh cho cái gam mầu tối tăm đó. Các dân tộc láng giềng đã từng một thời là thuộc quốc hoặc vùng lãnh thổ của chính Trung Quốc sớm thoát khỏi sự chi phối, lệ thuộc và ảnh hưởng của Thiên triều đều đã chuyển mình cất cánh, chẳng hạn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singaporo, Đài Loan, Hồng Kông… Tất nhiên trong thời đại toàn cầu hóa, các quốc gia dù lớn dù nhỏ đều phụ thuộc lẫn nhau, mọi cái đều có thể thay đổi. Song bản chất bành trướng của tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc có thay đổi hay không, trước mắt giống như các nhà ngoại giao quốc tế thường nói, đừng tin vào những điều người ta diễn thuyết như “trỗi dậy hòa bình, không bá quyền, cùng thắng” mà hãy xem xét những việc người ta đã và đang làm. David cho rằng nếu Đông Nam Á không cảnh giác, được thì sẽ được cái nhất thời, mà mất thì mất cái vĩnh hằng mà bao nhiêu dân tộc đã từng mất từ hàng ngàn năm nay.
Thì ra David đã từng nghiên cứu lịch sử châu Á. Ông rất am hiểu về lịch sử Đông Bắc Á, Đông Nam Á . Cha ông là quân nhân chuyên nghiệp, sĩ quan chỉ huy tác chiến không lực Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950 - 1953, người đã khuyên ông theo học chuyên ngành sử Đông Á. David nhìn đồng hồ, gấp máy tính cá nhân, quay người lại phía tôi:
-       Sau Thế chiến 2, vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, giới chiến lược quân sự Mỹ đã nhận thấy tầm quan trọng của Đông Á trong Chiến lược Ngăn chặn Cộng sản của Mỹ ở châu Á. Họ đã xác định rằng Đông Bắc Á có những lợi ích chiến lược toàn cầu. Điểm then chốt ở Đông Bắc Á là Triều Tiên. Cả Mỹ và Liên Xô đều có những hoạt động để bán đảo Triều Tiên đi theo quỹ đạo của riêng họ. Chính vì vậy mới xảy ra cuộc chiến tranh Triều Tiên. Sau cuộc chiến hai bên lại trở về vạch xuất phát vĩ tuyến 38. Mỹ coi Nam Triều Tiên là chiếc neo chiến lược đối với sự có mặt của mình ở lục địa châu Á nói chung và Đông Á nói riêng. Nếu mất Nam Triều Tiên thì không chỉ Liên Xô, Trung Quốc mà ngay cả Nhật Bản cũng có thể là đối thủ của Mỹ. Nam Triều Tiên đã thật sự là điểm dừng chân của Mỹ ở Đông Á, giúp Mỹ khống chế Liên Xô, Trung Quốc. Còn Đông Nam Á là một khu vực rộng lớn tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Nam. Nó kiểm soát cửa ngõ ra vào giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Tổng thống Harry Truman đã phê chuẩn Văn kiện của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ và nhấn mạnh việc cần thiết phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản ở Đông Dương. Đông Nam Á  đã chính thức trở thành chiến trường quan trọng sau Đông Bắc Á của Mỹ. Điểm then chốt ở Đông Nam Á là Việt Nam. Theo tôi, David nhấn mạnh, không có cái gọi là Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai của Pháp và của Mỹ. Chỉ có một cuộc chiến tranh nối tiếp gần 30 năm. Ngay từ đầu nó đã là cuộc chiến tranh của Mỹ, mới đầu là Pháp – Mỹ, sau là Mỹ. Cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành là cuộc chiến tranh xâm lược, xuất phát từ chiến lược của Mỹ, từ sự áp đặt chiếm đóng miền Nam Việt Nam để điều khiển và giành quyền kiểm soát thị trường, kinh tế, nhân lực, tài nguyên không chỉ của Việt Nam mà của cả Đông Nam Á.
-       Hình như David không có thiện cảm với những nhà cầm quyền ở cả Oasinhtơn lẫn Bắc Kinh, tôi nhận xét.
-       Đều giống nhau ở cái bản tính bầy đàn, bản chất hiếu chiến, ngạo mạn. MC. Namara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, người góp phần hoạch định chính sách trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã thừa nhận rằng họ đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Họ không hiểu gì về con người Việt Nam, lịch sử dân tộc Việt Nam, đánh giá thấp tinh thần yêu nước, chủ nghĩa dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ còn cho rằng họ đã hiểu sai về những mục tiêu của Trung Quốc trong việc giành bá quyền ở khu vực. Ở điểm sau thì  MC. Namara đã lầm. Họ không hiểu sai về chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc. Chỉ có điều họ không nhận ra lúc đó là chính Trung Quốc cũng bị thất bại trong lá bài Việt Nam, thất bại cay đắng trong âm mưu bành trướng ở khu vực Đông Nam Á. Và cũng như bao lần trong quá khứ, Việt Nam một lần nữa đã chôn vùi tham vọng đầy tội lỗi của Bắc Kinh. Đó là lý do tại sao có cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba mà các nhà sử gia phương Tây gọi là cuộc Chiến tranh giữa những người anh em Đỏ. Tôi nói lại với ông tôi không đồng ý với cách gọi như vậy. Tôi gọi đó là cuộc Chiến tranh biên giới Tây – Nam giữa Việt Nam với  Campuchia và cuộc Chiến tranh biên giới phía Bắc giữa Việt Nam với Trung Quốc. Thực chất nó chỉ là một cuộc chiến tranh, mục đích nhằm làm Việt Nam suy yếu, nhằm lấy lòng Mỹ, được sự đồng thuận của Mỹ, do Trung Quốc phát động với những tính toán riêng về mặt chiến lược. Còn những cụm từ “ Phản kích tự vệ” và “ Dạy cho Việt Nam một bài học” là những cụm từ lừa bịp, kích động chủ nghĩa dân một cách hữu hiệu nhất, một kiểu gắp lửa bỏ tay người, nghĩ sâu một chút đó là giọng lưỡi xô vanh ngạo mạn, anh chị của bọn lưu manh làm chính trị. Những người có văn hóa, có học hành không ai dám đi dạy dân tộc mình và nhất là dân tộc khác phải sống như thế nào. Không biết ai phải cảm ơn ai nếu họ nhìn lại cuộc chiến tranh Triều Tiên. Không biết ai dạy ai trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Mặc dầu vậy, bây giờ nhìn lại, rõ ràng người Việt đã mất cảnh giác, không đánh giá đúng tình hình, đã rơi vào một cái bẫy giăng sẵn, mất hai mươi năm trời bị cô lập, nếu không như vậy lịch sử sẽ theo một hướng khác.
-       Ý ông là chúng tôi đã say sưa với chiến thắng, chủ quan không đánh giá đúng thời cuộc và đánh mất thời cơ hàng thập niên phát triển.
-       Có thể nói là gần như vậy. Người Việt có câu thành ngữ rất hay “Sống chung với lũ’’. Các ông đã sống với lũ mấy nghìn năm, vậy mà lúc đó lại quên mất lũ. Lẽ ra các ông phải đề phòng, phải nhận ra người anh em môi hở răng lạnh từng bức hại đến chết hàng triệu người mà đa số là những người bạn, người đồng chí chung một chiến hào, những người dân vô tội để giữ quyền lực, và mở rộng quyền lực. Lẽ ra các ông phải nhận ra quan hệ Việt – Trung sẽ như thế nào nếu không phục vụ dã tâm đi xuống phương Nam của họ. Lẽ ra ngoài các quan hệ truyền thống, các ông phải thúc đẩy quan hệ với phương Tây, trong đó có Mỹ ngay sau năm 1975. Rất tiếc các ông đã sa vào lưới của họ. 
-       Có ai mà biết được hết chữ ngờ. Người Mỹ các ông đâu có ngờ sau Chiến tranh Việt Nam lại sa vào ít nhất hai cuộc chiến tồi tệ hao người tốn của, thậm chí làm khánh kiệt cả nước Mỹ.
-       Ông nói cũng đúng. Stephen Hawking nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng thế giới từng cảnh báo loài người, chớ tìm cách liên lạc với người ngoài hành tinh vì họ có thể rất hiếu chiến. Nhưng tôi nghĩ ngược lại, có lẽ họ đã phát đi tín hiệu cho nhau cần phải tránh xa cái địa cầu trong Hệ mặt trời này, bởi nền văn minh của chúng ta còn ở cấp thấp, còn quá nhiều người mang trong mình dòng máu dã thú. Nhưng thôi chúng ta trở lại vấn đề. Từ năm 1975 đến 1978 hai nước đã bỏ qua cơ hội để đến với nhau. Theo tôi sai lầm chiến lược của Việt Nam bắt đầu từ đó. Và sai lầm của Đông Nam Á cũng bắt đầu từ đó. Với Việt Nam phải đến đầu những năm 1990 mới dần từng bước thoát khỏi khủng hoảng. Tháng 2 năm 1994, Tổng thống Bill Clintơn tuyên bố xóa bỏ lệnh cấm vận thương mại kéo dài từ cuối thập niên 70. Tôi còn nhớ thời gian đó, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã hoan nghênh quyết định của Hoa Kỳ, tuyên bố sẵn sàng bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ trên tinh thần gác lại quá khứ hướng tới tương lai. Có thể nói từ đó, một trang mới trong lịch sử quan hệ giữa hai nước được mở ra. Tôi được cử đến Việt Nam bắt đầu từ những ngày ấy, cho đến tận bây giờ, năm nào cũng có vài chuyến công tác sang Việt Nam. Lần này tình cờ gặp ông.
-       Mỗi chuyến công tác của ông tại Việt Nam thường kéo dài bao lâu?
-       Cũng tùy theo tính chất công việc. Có khi là một tuần, có khi là một tháng, có khi hơn một tháng. Tôi nhớ vào tháng 11 năm 2000, khi Tổng thống Bill Clintơn thăm chính thức Việt Nam, tôi làm việc với Bộ Thương mại Việt Nam ở Hà Nội đến một tháng rưỡi để triển khai Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.
-       Theo ông Hiệp định này có ý nghĩa gì?
-       Hiệp định song phương Việt Nam – Hoa Kỳ rất cần thiết. Vì theo luật, Hoa Kỳ không thể trao quy chế quan hệ thương mại bình thường với các nước đang trong thời kỳ chuyển tiếp như Việt Nam mà không có hiệp định thương mại song phương. Mục đích của nó là đảm bảo cho những luật lệ thương mại được rõ ràng, kích thich và làm tăng thương mại, giúp Việt Nam hội nhập kinh tế, kể cả việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới sau đó. Theo tôi, chuyến thăm đầu tiên của Tổng thống Mỹ đã khẳng định không chỉ bằng tuyên bố mà còn là hành động thực tế của Mỹ trong việc thúc đẩy quan hệ với Việt Nam. Nếu chuyến thăm của Bill Clintơn thể hiện sự cam kết theo đuổi một quan hệ mới trong quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn mới thì chuyến thăm của Tổng thống George W Bush tháng 11 năm 2006 là sự thừa nhận những thành tựu quan trọng trong sự phát triển quan hệ giữa hai nước. Hai nước bắt đầu đi vào giai đoạn ổn định và phát triển. Cùng với các chuyến thăm cấp cao nhất của Hoa kỳ, các vị lãnh đạo Việt Nam cũng liên tục có những chuyến thăm tới Mỹ, góp phần nâng cao hơn nữa quan hệ giữa hai quốc gia. Đặc biệt trong thời gian gần đây, hai nước tăng cường tiếp xúc hợp tác về mặt quốc phòng. Hai nước đang tiến hành đàm phán Hiệp định Đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương, một cơ chế mới, một sân chơi mới với các nước ven bờ biển Thái Bình Dương đang được hình thành. Cứ cái đà này, tôi nghĩ trong tương lai không xa, hai nước có thể nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược. Tôi tin rằng khu vực Đông Nam Á sẽ ổn định nếu có Việt Nam, Inđônêsia, Philippines hùng mạnh và các nước trong khu vực hùng mạnh. Sự mất ổn định diễn ra nếu khu vực chỉ có nhóm nước yếu, chia rẽ, mất đoàn kết, trong khi Trung Quốc nổi lên là cường quốc đầy tham vọng độc chiếm Biển Đông…
Nói chuyên với David thật thú vị. Thật không ngờ ông lại am hiểu tình hình Đông Nam Á và Việt Nam hơn cả những người Việt như tôi.


Read More

Gặp một cựu binh Mỹ trên máy bay

Leave a Comment
Mười một giờ bốn nhăm phút máy bay cất cánh đi Narita, Nhật Bản đúng như lịch trình dự kiến. Ngồi cạnh tôi là một người Mỹ áng chừng trên 60. Tên ông là David Donough. Chúng tôi nhanh chóng làm quen với nhau. Qua lời tự giới thiệu, chúng tôi biết nhau đã từng là những người lính ở hai chiến tuyến trên mặt trận Quảng Trị, Thừa Thiên cách đây gần bốn mươi năm. Hiện thời David Donough làm việc tại Phòng Thương mại Hoa Kỳ, cơ quan xúc tiến thương mại thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ có mạng lưới nhân viên thương mại ở khắp 100 thành phố của Hoa Kỳ và ở 150 quốc gia trên toàn thế giới. David giải thích cách cặn kẽ cơ quan Thương mại Hoa Kỳ của ông có nhiệm vụ giúp đỡ, tư vấn cho các nhà cung cấp của Hoa Kỳ tìm được những nhà nhập khẩu, phân phối đại lý hay đại diện của nước sở tại để từ đó đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ từ Hoa Kỳ đến các thị trường trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Tôi không am hiểu lĩnh vực này nên hỏi:
-     Thế cụ thể ở Việt Nam thì các ông làm những gì?
-        Ở Việt Nam, Phòng Thương mại Hoa kỳ đặt văn phòng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Văn phòng này có đội ngũ nhân viên, trợ lý thương mại sẵn sàng hỗ trợ và làm việc cùng các công ty của Việt Nam về các vấn đề thương mại. Cụ thể, chúng tôi sẽ giúp cho các công ty của Việt Nam tìm ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và đối tác kinh doanh của Mỹ. Có thể nói chúng tôi là cái cầu nối cho các nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ, các công ty hai nước hợp tác làm ăn. Qua đó chúng tôi thúc đẩy việc buôn bán giữa hai nước.
David ngừng lại, nhìn tôi chăm chú, rồi nói một cách lịch sự:
-       Tôi muốn ông hiểu một cách tường tận, nhưng không biết ông có hứng thú với đề tài này không? 
-       Tôi thực sự muốn nghe ông nói, tôi đáp lại.
-       Thế thì tôi sẽ tiếp tục. Chúng tôi cung cấp các dịch vụ sau: Danh sách các công ty Hoa Kỳ đến Việt Nam tìm đối tác; Danh mục trực tuyến các nhà cung cấp Hoa Kỳ đang cần tìm đối tác tại nước sở tại; Dịch vụ hỗ trợ tìm công ty Hoa Kỳ tham gia dự án; Tạp chí Tin tức Thương mại Hoa Kỳ; Dịch vụ hỗ trợ gặp gỡ, tìm hiểu các nhà cung cấp tại Hoa Kỳ; Chương trình Khách mua hàng quốc tế…Tôi lấy ví dụ để ông dễ hiểu. Trong phần dịch vụ cung cấp danh sách các công ty Hoa Kỳ đến Việt Nam tìm đối tác, chúng tôi giới thiệu về Công ty multicom, Inc. Công ty thành lập năm 1982, là công ty sản xuất, phân phối tất cả các sản phẩm về giải pháp truyền thông tích hợp. Multicom có hơn 13.000 sản phẩm từ hơn 270 công ty lớn trên thế giới. Nói chính xác đây là một công ty xuyên quốc gia. Những sản của nó được sử dụng để thu, xử lý và phân phối tín hiệu truyền hình, dữ liệu, âm thanh… qua cáp quang, cáp đồng, cáp đồng trục. Multicom hướng tới thị trường truyền hình cáp, truyền hình số, vệ tinh, truyền thông dữ liệu và  điện thoại của Việt Nam. Multicom cần tìm kiếm các nhà phân phối sản phẩm của mình tại Việt Nam.
Ngừng lại một lát, David lại say sưa với đề tài của mình.
-       Tôi lấy một ví dụ khác để ông hiểu thêm về công việc của chúng tôi ở Việt Nam và Mỹ. Việt Nam đang rất cần xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng đường xá giao thông. Chúng tôi biết và thực tế đã chứng kiến máy móc và công nghệ trong lĩnh vực này của các ông vừa lạc hậu vừa thiếu. Nước chúng tôi đã từng làm gần 13 triệu con đường nội địa, nhiều con đường dài nhất thế giới từ trước đến nay với máy móc, công nghệ tiên tiến. Chúng tôi đã tư vấn cho Nhà Sản xuất máy móc, thiết bị Xây dựng Đường bộ (Road Construction Machinery Manufacture) của Hoa Kỳ tiếp cận với Bộ Xây dựng Việt Nam, tổ chức cho hai bên giới thiệu, tham quan chuỗi dây chuyền đồng bộ cho việc san đường, thiết bị tái chế nhựa đường, xe vận chuyển vật liệu, xe lát nhựa đường… Nhà sản xuất, cung ứng trong lĩnh vực trên có máy móc, công nghệ hiện đại với thương hiệu hàng đầu thế giới cần tìm một nhà phân phối độc quyền tại Việt Nam. Và chúng tôi chắc chắn hai bên sẽ hợp tác được với nhau.
Nghe David tôi bắt đầu hiểu và hình dung ra một phần công việc của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam. Tuy vậy vẫn có điểm tôi cảm thấy mù mờ, chẳng hạn như cái Chương trình Khách mua hàng quốc tế. Nội dung cụ thể của nó là cái gì? Nhân viên Văn phòng Thương mại phải làm gì với nội dung đó? Khi tôi hỏi, David nhoẻn miệng cười, đôi mắt sáng lấp lánh.
-       Chúng tôi tổ chức giới thiệu, hỗ trợ các đoàn doanh nghiệp Việt Nam tham dự các triển lãm và hội chợ thương mại trên thế giới được tổ chức tại Hoa Kỳ. Trong mấy năm gần đây, chúng tôi đã giúp phía Việt Nam tham dự khoảng 30 triển lãm và hội chợ. Chúng tôi cũng giúp các doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp gặp gỡ với các nhà sản xuất và đối tác nước ngoài tại triển lãm. Cũng như vậy chúng tôi giúp đỡ phía Việt Nam tham dự các triển lãm thương mại với sự tham gia của hàng ngàn công ty Hoa Kỳ. Dù các tổ chức hay cá nhân lần đầu tìm cơ hội nhập khẩu hàng hóa, chúng tôi cũng sẵn sàng chia sẻ chuyên môn nghiệp vụ để kết nối những cơ hội kinh doanh sinh lợi. Trong thời đại số hóa, thông qua dịch vụ kết nối thương mại, chúng tôi cũng giúp sắp xếp cho phía Việt Nam họp trực tuyến hoặc thông qua mạng video với các nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ của Hoa Kỳ… Chúng tôi hoạt động như vậy trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam là vì lợi ích của Hoa Kỳ mà cũng vì lợi ích của Việt Nam. Như ông biết đấy, thương mại là chìa khóa của bất kỳ quốc gia nào từ trong quá khứ đến hiện tại để mở ra con đường đi đến thịnh vượng. Các nhà kinh tế từ lâu đã hiểu rằng thương mại làm gia tăng của cải. Trên thực tế, thương mại tạo ra của cải ngay trong các quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Đó là vì thương mại khuyến khích địa phương và quốc gia đi chuyên sâu vào sản xuất hàng hóa có hiệu quả, những mặt hàng có lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh của quốc gia lại nằm trong lực lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và kiến thức của người dân quốc gia đó. Tất cả các nước đều có lợi thế so sánh trong một số sản phẩm nhất định. Những nước có nguồn nhân công dồi dào như Việt Nam có xu hướng tập trung vào những ngành nghề sử dụng nhiều nhân công như dệt may, dày dép, nông lâm nghiệp, chế biến… Những nước phát triển, giá nhân công cao lại có xu hướng tập trung vào các ngành sản xuất đòi hỏi đầu tư vào công nghệ cao cần nhiều vốn nhưng sử dụng ít nhân công. Khi các quốc gia tiến hành hoạt động thương mại, người ta có xu hướng mua từ nước ngoài những sản phẩm mà sản xuất trong nước khó hoặc chưa sản xuất được và bán ra những sản phẩm dễ sản xuất với giá thành rẻ. Thương mai hai chiều như vậy làm giảm giá thành, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập và phúc lợi cho cả hai quốc gia. Những năm đầu, thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ chỉ đạt khoảng 800 triệu USD. Mười lăm năm sau là 20 tỷ USD. Năm nào Việt Nam cũng xuất siêu sang Hoa kỳ, có năm tới vài ba tỷ. Không thể nói ai lợi hơn ai. Người sản xuất hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng của cả hai nước đều hưởng lợi. Rõ ràng thương mại làm cho tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, khuyến khích đầu tư, thay đổi công nghệ, thúc đẩy giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Nó không bao giờ chỉ đem lại lợi ích cho quốc gia này còn quốc gia kia bị thiệt. Tất nhiên có những ngoại lệ về thương mại không ổn giữa các quốc gia như giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, giữa Trung Quốc và Việt Nam, giữa Trung quốc và thế giới còn lại, thâm hụt thương mại giữa hai bên lên tới hàng trăm tỷ, hàng chục tỷ kéo dài hàng thập niên. Lợi ích bao giờ cũng nghiêng hẳn về phía Trung Quốc với ưu thế hàng giá rẻ, hàng nhái, thậm chí cả hàng độc hại kèm theo thủ đoạn đánh thấp giá trị đồng nội tệ của Bắc Kinh. Tôi nghĩ điều này chắc sẽ không ổn ngay cả đối với người Trung Quốc trong tương lai.
-       Tôi thừa nhận trao đổi thương mại Việt – Mỹ tiến rất nhanh, từ vài trăm triệu lên 20 tỷ, có năm tăng đến hơn 20%. Nhưng quan hệ đầu tư thì còn quá khiêm tốn, kết quả không như mong đợi, mặc dầu Hoa Kỳ được đánh giá là nhà đầu tư có tiềm năng lớn nhất.
-       Đúng vậy. Đến nay tổng vốn đăng ký đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam khoảng 13,24 tỷ USD với 621 dự án, chiếm 4,5% tổng số dự án và 3,5% tổng vốn đầu tư nước ngoài. Mỹ đứng thứ 8 trong tổng số gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên số liệu này chưa phản ánh đầy đủ luồng vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Một số tập đoàn lớn của Hoa Kỳ như Coca Cola, Procter & Gamble, Unocal, Conoco… đã đầu tư khá lớn vào Việt Nam. Nhưng do họ đầu tư thông qua các chi nhánh con của mình đăng ký tại một số nước khác nên những khoản đầu tư chưa thể hiện là đầu tư của Hoa Kỳ. Mặc dầu vậy, tôi vẫn đồng ý với ông rằng kết quả đầu tư của Mỹ vào Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng của nó. Tại sao? Tôi nghĩ vấn đề nằm ở cả hai phía. Ông có nhận ra vấn đề phía các ông là cái gì không? Nó có liên quan đến ngành của ông đấy.
-       Tôi có biết đôi chút. Mặc dầu môi trường đầu tư của chúng tôi đã liên tục được cải thiện, chẳng hạn Luật đầu tư ở Việt Nam đã được sửa đổi đến lần thứ 3 để tạo điều kiện thông thoáng, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Trước hết chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn thấp. Tỷ lệ qua đào tạo mới khoảng 30%. Ngay cả 30% này vẫn không đáp ứng được yêu cầu. Chúng tôi còn thiếu cán bộ có trình độ quản lý, thiếu các kỹ sư công nghệ cao, thiếu công nhân lành nghề. Thứ hai cơ sở hạ tầng ở Việt Nam còn yếu kém. Hệ thống đường xá giao thông, năng lượng chưa đáp ứng được yêu cầu. Tiếp đến đất đai ngày một đắt đỏ, chi phí để có mặt bằng sản xuất ngày một cao. Cuối cùng là  hệ thống pháp luật, chính sách thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính không rõ ràng, vừa chậm vừa rườm rà. Có nhiều biểu hiện tiêu cực, tham nhũng.
-       Các ông biết hết những hạn chế đấy, nhưng tại sao vẫn không sửa được?
-       Chúng tôi có thừa quyết tâm nhưng khi thực hiện còn vẫn rất vướng.
-       Tôi được biết hơn 6 tháng đầu năm 2013 Việt Nam mới thu hút được 8,3 tỷ USD bằng 66,9% so với cùng kỳ năm 2012. Sự suy giảm từ 19,9 tỷ năm 2010 xuống con số thất vọng của những tháng đầu năm 2013 trong lúc FDI toàn cầu tăng từ 1,2 ngàn tỷ đến 1,6 ngàn tỷ trong cùng thời gian cho thấy FDI tại Việt Nam đang đi ngược chiều với xu hướng thế giới. Việt Nam đã bị tụt hạng đầu tư tại châu Á. Sở dĩ môi trường đầu tư của các ông bị mất điểm trong mắt giới đầu tư ngoài những nguyên nhân như ông nói thì còn những nguyên nhân khác. Chẳng hạn các dự án lên tới hàng tỷ USD sau khi đã hoàn thành các thủ tục vẫn phải đối mặt với công đoạn khó khăn nhất của quá trình đầu tư, đó là chuyện giải phóng mặt bằng, được quản lý bởi chính quyền địa phương nghèo vốn. Một ví dụ tiêu biểu nhất trong thời gian gần đây là dự án 5 tỷ USD nằm bất động trong 4 năm liền vì sự chậm chạp của tỉnh Hà Tĩnh trong việc giải phóng mặt bằng với lời giải thích không đủ ngân sách. Đây là lý do khiến phía Ấn Độ mất kiên nhẫn, đến nỗi Thủ tướng Manmohan Singh phải đề cập với Chủ tịch Trương Tấn Sang trong cuộc gặp mặt năm  2011 tại New Dehi. Kết quả Tập đoàn Tata của Ấn Độ phải trích một khoản 100 triệu USD để hỗ trợ giải phóng mặt bằng, gấp hơn 3 lần so với 30 triệu qui ước ban đầu, nhằm thúc đẩy dự án. Các nhà đầu tư lớn của Mỹ không muốn làm ăn theo kiểu đó. Với họ thời gian còn quý hơn vàng. Thêm nữa, chúng tôi được biết, các tập đoàn của Mỹ và Tây Âu bình quân phải bỏ ra hàng chục ngàn USD để đào tạo lại cho một cán bộ quản lý, một kỹ sư, một cán bộ kỹ thuật của Việt Nam thì họ mới làm việc được. Thậm chí họ phải bỏ ra một khoản tiền lớn để đào lại tất cả nhân công đã tuyển. Đã vậy lại không có nhân lực qua đào tạo dù là thấp để tuyển dụng. Cụ thể năm 2011, Intel, hãng sản xuất chip điện tử hàng đầu của Mỹ đã gặp rất nhiều trở ngại khi không tuyển dụng được một phần nhỏ số lượng nhân công theo yêu cầu. Thực sự họ đã thất vọng. Với một đội ngũ lao động kém cỏi bắt nguồn từ sự bất cập trong nền giáo dục hàn lâm, thuần thúy lý thuyết, xa dời thực tế, thiếu chuyên môn hóa, các nhà đầu tư Mỹ chắc chắn sẽ phải đắn đo. Trong những năm trước, khi giá lao động Trung Quốc tăng nhanh, tôi đã cho rằng Việt Nam sẽ là điểm dừng chân của nhiều nhà đầu tư muốn hướng về châu Á, nhưng tôi đã nhầm. Cho tới nay, giá lao động tối thiểu của Trung Quốc cao hơn Việt Nam rất nhiều, Trung Quốc vẫn là điểm dừng chân hàng đầu cho các tập đoàn công nghệ khổng lồ của thế giới như Samsung, Apple nhờ những nỗ lực nâng cao chất lượng lao động. Người Trung Quốc đã đào tạo được đội ngũ lao động cao cấp làm nòng cốt cho nền kinh tế trong lúc vẫn đảm bảo giá cả, chất lượng và năng xuất sản xuất ở mức cạnh tranh so với thị trường lao động quốc tế từ rất sớm. Nếu giáo dục, đào tạo Việt Nam cứ  bảo thủ, trì trệ, không mau thay đổi, không đào tạo được nguồn lao động chất lượng cao tôi e rằng Việt Nam sẽ không đón nhận được làn sóng FDI khổng lồ sau cơn suy thoái của nền kinh tế thế giới.
-        Ngoài những nguyên nhân trên, theo ông còn có những trở ngại nào đối với nhà đầu tư Hoa Kỳ?
-       Doanh nghiệp nhà nước bị coi là trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển của khu vực tư nhân, là lá chắn nguồn FDI từ bên ngoài vào. Tôi hiểu Chủ nghĩa xã hội lấy kinh tế nhà nước là chủ đạo. Nó được coi là thành phần kinh tế nòng cốt, là tương lai của nền kinh tế Việt Nam. Nhưng các tập đoàn kinh tế nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, lại đòi hỏi sự hỗ trợ khổng lồ để tiếp tục tồn tại, điển hình như Tập đoàn Điện lực, Vinashin, Vinalines… Các doanh nghiệp này đã tạo ảnh hưởng tiêu cực lên thị trường, bị các nhà đầu tư lên án là với số vốn lớn mạnh đã ra sức thao túng vị trí đầu tầu của ngành, chiếm thế độc quyền bằng cách mở rộng đa ngành, tạo ra sự khó khăn cho việc thâm nhập thị trường của các tập đoàn đầu tư nước ngoài. Chẳng nhà đầu tư nước ngoài nào muốn dính vào họ, bởi vì dính vào họ sẽ rất phiền toái. Nếu Chính phủ Việt Nam không nhanh chóng cải cách thể chế kinh tế và thể chế chính trị đang cản trở sự phát triển của Việt Nam, không tìm cách tái cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xóa bỏ độc quyền và có định hướng đúng đắn cho doanh nghiệp nhà nước thì giới đầu tư Hoa Kỳ vẫn còn nghi ngại.
-        Theo tôi, Chính phủ Việt Nam trong thời gian gần đây đã có rất nhiều nỗ lực để tái khẳng định tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam. Nỗ lực rõ rệt nhất là việc tái ổn định kinh tế vĩ mô, thắt chặt tín dụng, tái cơ cấu ngân hàng cũng như các doanh nghiệp nhà nước. Trong định hướng xúc tiến đầu tư, phía chúng tôi đã nhận định Hoa Kỳ là nơi hội tụ của nhiều tập đoàn xuyên quốc gia, có thế mạnh về tài chính và công nghệ hiện đại, có mạng lưới thị trường quốc tế và kỹ năng kinh doanh vượt trội. Việt Nam chủ trương hướng mạnh vào việc tiếp cận và thu hút đầu tư từ các tập đoàn xuyên quốc gia Hoa Kỳ theo nhiều hướng: Thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu, tạo điều kiện để một số công ty xuyên quốc gia xây dựng các trung tâm nghiên cứu, phát triển vườn ươm công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực.
-       Tôi biết và đánh giá cao quyết tâm, cố gắng của Việt Nam. Nhưng tôi nghĩ việc làm của Chính phủ các ông vẫn chưa đủ. Tôi cũng là thành viên của Hội đồng tư vấn Việt Nam – Hoa Kỳ. Tôi hy vọng với cơ chế này, nơi mà bên cạnh chức năng tư vấn còn là điểm đến để các nhà đầu tư Hoa Kỳ thảo luận với các đối tác Việt Nam các kế hoạch làm ăn bài bản, có hệ thống, sẽ thúc đẩy đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Các doanh nghiệp Hoa Kỳ luôn coi Việt Nam là đối tác và thị trường tiềm năng. Họ luôn mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác với Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam. Riêng cá nhân tôi rất kỳ vọng vào tiến trình đàm phán Hiệp định Đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương(TPP). Hiệp định này có thể coi là chất xúc tác để thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư giữa hai bên. Việc 21 công ty thành viên của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN vừa có chuyến thăm Việt Nam để tìm kiếm cơ hội đầu tư là một minh chứng rõ nét. Cho đến bây giờ những tên tuổi lớn của Hoa Kỳ đều đã và đang có mặt tại Việt Nam . Nếu Việt Nam thực sự tôn trọng nền kinh tế thị trường nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả, đào thải những doanh nghiệp yếu kém, kể cả đó là các doanh nghiệp quốc doanh hàng đầu và nếu môi trường đầu tư của Việt Nam tiếp tục được cải thiện, chắc chắn rằng không lâu Hoa Kỳ sẽ trở thành nhà đầu tư đứng ở vị trí số 1 như tôi bấy lâu nay hằng mong muốn.
Trong  khoảng một tiếng đồng hồ, tôi đã biết tương đối tường tận công việc của David. Về phía David, ông cũng muốn biết chi tiết công việc của tôi, một người làm công tác quản lý giáo dục gần 40 năm ở một nhà trường trung học. Tôi giải thích cho ông nghe về hệ thống nhà trường Việt Nam, nhiệm vụ và công việc của người hiệu trưởng. Đại loại là việc xây dựng và tổ chức bộ máy nhà trường, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động năm học, quản lý giáo viên, nhân viên, quản lý chuyên môn, phân công công tác, quản lý học sinh và hoạt động của học sinh ở trường… David chăm chú nghe, thỉnh thoảng lại yêu cầu tôi nói rõ hơn, cụ thể hơn. Ví dụ quản lý việc dạy học của giáo viên thì người cán bộ quản lý làm cái gì? Quản lý nội dung, chương trình dạy học như thế nào? Liệu có hạn chế tự do cá nhân của giáo viên trên lớp không?
Sau khi giới thiệu, chào hỏi xã giao và tìm hiểu nghề nghiệp, công việc của nhau, chúng tôi bắt đầu nói chuyện về quá khứ, cái quá khứ vẫn cứ theo đuổi trong tâm trí mỗi người lính thuộc hai chiến tuyến từ bao năm nay. David chủ động khơi gợi trước:
-       Giữa năm 1967 tôi học xong Trung học phổ thông. Vừa kịp nhận tấm bằng thì tôi đã có lệnh nhập ngũ. Tôi được biên chế vào Lực  lượng Thủy quân Lục chiến của Hoa Kỳ, đến Việt Nam vào tháng 1 năm 1968. Đơn vị tôi đóng quân tại Khe Sanh, ông biết đấy, ở phía Tây Quảng Trị giáp biên giới Lào. Đại đội tôi được giao nhiệm vụ đóng chốt trên một cao điểm gọi tên bằng con số là 861 hay 881 gì đó, lâu rồi tôi không còn nhớ rõ. Chúng tôi được người ta tuyên truyền rằng Khe Sanh là một tập đoàn cứ điểm bất khả xâm phạm. Nó có nhiệm vụ bảo vệ Hàng rào Điện tử Mc Namara và chặn đứng sự chi viện về người, vũ khí đạn dược của Bắc Việt từ Bắc vào Nam qua Hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh. Chỉ huy Căn cứ Khe Sanh lúc đó là Đại tá Lownds. Ông ta có một tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến, một tiểu đoàn Biệt động quân Việt Nam Cộng hòa mà các ông gọi là Ngụy quyền Sài Gòn. Tổng số chúng tôi có hàng chục ngàn quân vừa trực tiếp vừa gián tiếp chiến đấu tại mặt trận này. Có ngày pháo binh của chúng tôi bắn tới 15.000 quả đạn, kết hợp với  hàng trăm lượt xuất kích của không lực, kể cả máy bay B52 ném bom rải thảm. Cuối cùng chúng tôi vẫn buộc phải rút chạy…
 Tôi nhận ra khi David nói về quá khứ của mình, phong thái David hoàn toàn khác. Vẻ sôi nổi, nhiệt tình của ông không còn nữa. Khuôn mặt, ánh mắt ông cũng không còn rạng lên lúc cười. Giọng ông trở nên trầm lắng, buồn buồn:
-       Thật là khủng khiếp. Nó không hề giống một cuộc chiến tranh như chúng tôi từng tưởng tượng. Suốt thời gian ở Khe Sanh tôi chưa trông thấy rõ hình hài một người lính Bắc Việt bên các ông. Đúng là một cuộc chiến vô hình. Tôi chỉ thấy xung quanh là đồi núi hoang vắng. Suốt ngày máy bay của chúng tôi gầm rú. Mặt đất luôn rung chuyển trong tiếng bom đạn. Pháo binh hai bên thi nhau xé toạc bầu không khí, cầy nát khu vực trú quân. Bên phải, bên trái, đằng trước, đằng sau tiếng nổ đinh tai chát chúa. Khói súng, khói đạn, khói bom mù mịt, khét lẹt xộc vào lồng ngực đến nghẹt thở. Mấy tháng liền chúng tôi bị vây ép, nhưng cứ mỗi lần nống ra giải tỏa, vượt khỏi công sự là chúng tôi lại bị tập kích, chịu nhiều tổn thất nặng nề. Những loạt đạn ngắn các kích cỡ bên các ông đan chen chiu chíu vèo quanh người. Đồng đội tôi gục ngã, kêu la. Chúng tôi phải kéo nhiều thi thể và dìu những người bị thương về căn cứ. Chưa đầy năm tháng, đại đội tôi đã mất hơn hai chục người và hơn bốn chục người bị thương, phải bổ sung quân số đến ba lần. Mỗi lần chứng kiến những chiếc trực thăng chuyên chở binh lính bị loại khỏi vòng chiến đấu bay đi và những chiếc trực thăng chở binh lính mới đến, tôi lại cảm thấy rất gần cái chết. Tôi thực sự sợ hãi và hoảng loạn… Đó là trải nghiệm khủng khiếp đầu tiên trong đời quân ngũ.
-       Thế còn những lần trải nghiệm tiếp, tôi tò mò hỏi David.
-       Vào quãng thời gian tháng 3 năm 1969, phía chúng tôi mở cuộc hành quân Mari Cay, một cuộc hành quân hỗn hợp gồm Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Sư đoàn 1 Việt Nam Cộng hòa đổ bộ chiếm động Cô Ác, đánh ra vùng Tam Tanh, A Dơi gần biên giới Việt Lào. Mục đích của chúng tôi là đẩy quân Cộng sản bật sang đất Lào, bình định địa bàn tỉnh Quảng Trị. Sau hai tuần, gần như ngày nào chúng tôi cũng bị tập kích, dù luôn luôn đề phòng, lần nào cũng bị bất ngờ. Cuối cùng cuộc hành quân đã không thành công. Tôi nhớ sư đoàn tôi bị mất gần 150 người, 7 xe tăng bị bắn cháy. Trong đơn vị tôi bắt đầu có hiện tượng phản chiến, chống lại chỉ huy. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Khoảng hai tuần sau, đầu tháng 4 năm 1969 phía chúng tôi mở tiếp cuộc hành quân quy mô lớn mấy sư đoàn, có sự tham gia  của 2 sư đoàn Mỹ tại Phong Điền, Bình Điền, Hương Trà, A Sầu, A Lưới thuộc Tây Thừa Thiên. Mục đích của chúng tôi là đánh bật cơ quan chỉ huy đầu não và chủ lực Cộng sản sang bên kia biên giới Lào, thực hiện ngăn chặn từ xa, đề phòng một cuộc tấn công nổi dậy vào thành phố Huế như mùa xuân năm 1968. Cuộc hành quân của chúng tôi tưởng như sẽ thắng lợi. Bom phát quang, bom phá hầm ngầm công sự, bom sát thương, bom napalm cháy, đạn pháo bầy, cối bắn ngắn của chúng tôi ngày đêm cấp tập đào xới đất đá một vùng đỏ loét. Tất cả binh lực đổ về từ các hướng: Không quân từ Thái Lan, từ Lào, hải quân từ biển, các trận địa pháo từ đồng bằng, trên đồi núi, bộ binh thường trực xung quanh A Sầu, A Lưới. Chúng tôi đánh chiếm một loạt cứ điểm trên đồi núi dọc đường 12, 14 lên sát biên giới Lào, thiết lập được nhiều căn cứ hỏa lực, chuẩn bị cho cuộc tiến quân mang tên Tuyết rơi trên đỉnh núi A Pache, đánh chiếm động A Bia, một vị trí rừng núi hiểm trở chiến lược. Cuối cùng sau hơn mười ngày, qua mấy chục trận đánh lớn nhỏ, ý đồ diệt gọn Cộng quân bị đảo ngược thành cái tên “Máu chảy trên đỉnh A Pache”, đồi A Bia đã trở thành “Đồi Thịt Băm” đối với  người Mỹ. Sư đoàn tôi đã mất sức chiến đấu, bị chia cắt, bị đánh tả tơi trước sau, không thể ứng cứu cho nhau được. Bản thân đại đội tôi bị tập kích phải dồn xuống những hố bom của chính chúng tôi ném trước đó. Tôi nằm dán mặt vào thành hố bom, mùi khét trộn với mùi máu thịt tanh tưởi đến ghê rợn. Khoảng nửa giờ hỏa lực liên tục hỗ trợ trôi đi, khi viên chỉ huy đại đội thúc dồn lên tấn công, chúng tôi hò nhau theo đội hình tiếp tục phản kích thì chỉ kịp thấy lóe sáng. Cả một dàn mìn định hướng bắn vào, có thể nói gần như cả trung đội tôi bị xóa sổ. Tôi bị ngất đi không biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy thấy mình nằm ở bệnh viện dã chiến Phú Bài. Cả một bệnh viện đến hàng trăm binh lính Mỹ . Ơn Chúa, may mà tôi còn sống sót. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nổi tại sao người Mỹ không trụ được ở Khe Sanh, không hiểu nổi tại sao người Mỹ không chiếm được A Bia. Một chiến dịch thì giữ không được, một chiến dịch thì chiếm không xong. Trong khi so sánh tương quan lực lượng người Mỹ hơn hẳn về phương tiện chiến tranh, về nhân lực.
-       Nếu tôi nhớ không nhầm thì Sư đoàn Thủy quân Lục chiến của các ông chỉ làm nhiệm vụ hỗ trợ chiến dịch, tức là đánh ở bên ngoài, còn Sư đoàn dù 101 Mỹ mới trực tiếp đánh A Bia.
-       Chính xác như vậy.
-       Về trận A Bia tôi biết tương đối tường tận, có thể nói với ông nhiều giờ, vì tôi đã ở Sư 324, lại ở Trung đoàn 3, tiểu đoàn 8, đại đội 5, đơn vị trực tiếp đối đầu với Sư dù 101 ở đồi A Bia. Về thời gian, chiến dịch chính thức bắt đầu từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 20 tháng 5 năm 1969. Phía Mỹ huy động 2.000 quân do Tướng Melvin Zais chỉ huy, 10 tiểu đoàn pháo, 272 phi vụ oanh tạc, 450 tấn bom phá, 69 tấn bom napalm. Về phía chúng tôi có 3 tiểu đoàn do Trung tá Ma Vĩnh Lan chỉ huy, quân số ước chừng 800 người và thực tế trên đồi A Bia chỉ có tiểu đoàn 8 chốt giữ, vũ khí tối tân nhất là cối 82mm. Kết quả gần 1.000 binh sĩ Mỹ chết và bị thương,  phải rút quân khỏi A Bia. Phía chúng tôi gần 300 người chết và bị thương. Ông nói không hiểu tại sao với binh lực vượt trội như vậy lại thất bại? Ông đã xem cuốn Hamburger Hill (Đồi thịt băm) của Samuel Zafiri và cuốn Đại bàng gào thét trong vòng vây của Keith W. Nolan chưa? Người Mỹ cũng đã dựng thành những bộ phim, nhưng phim thì tôi chưa xem.
-        Tôi có một trong hai cuốn sách ông nói và tôi cũng có biết một trong hai tác giả. Keith đã sang Việt Nam nhiều lần. Ông ấy đã gặp gỡ phỏng vấn một số sĩ quan cao cấp, sĩ quan chỉ huy trực tiếp đánh các trận ở A Sầu, A Lưới. Tôi biết trong số những người được phỏng vấn có Tướng Chu Phương Đới, Sư đoàn trưởng Sư 324, người từng tham gia đánh đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, người chỉ huy một sư đoàn chủ lực địa phương thách thức ba sư đoàn chuyên nghiệp Mỹ tại chiến trường Trị Thiên: Sư đoàn Kị binh bay, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Sư đoàn dù. Ông Đới cũng là người trực tiếp duyệt phương án, chỉ đạo Trung đoàn 3 của Ma Vĩnh Lan chôn vùi người Mỹ ở A Bia. Đồi A Bia hay Đồi thịt băm đã đi vào lịch sử quân đội Mỹ như một nỗi khổ nhục. Các tướng lĩnh Mỹ, Thượng, Hạ viện Mỹ tranh cãi gay gắt, chia rẽ gay gắt về việc đánh chiếm A Bia. Nó được coi là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Sau thất bại A Bia người Mỹ buộc phải xem xét lại chiến lược ở Nam Việt Nam. Tướng Abram chỉ huy quân đội Mỹ tại chiến trường phải hủy bỏ chính sách gây áp lực tối đa chống lại quân đội Bắc Việt. Tổng thống Richard Nicxon phải thúc đẩy nhanh Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, chiến lược mà  phía các ông lên án là chiến lược thay đổi màu da xác chết. Tôi đã xem kỹ cả hai cuốn sách, nhưng vẫn chưa thấy thỏa đáng, vẫn chưa thấy hết khúc mắc.
-       Tôi không cùng quan điểm với các tác giả của hai cuốn sách, có nhiều sự kiện miêu tả hoàn toàn không đúng sự thật, nhưng đó là cuốn sách đáng để xem. Còn để trả lời câu hỏi tại sao để David thấy thỏa đáng thì thật khó. Nói như Tướng Macnamara thì người Mỹ đã không hiểu gì về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Hoàn toàn đúng, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Chúng tôi thắng vì có chính nghĩa, vì chiến đấu để bảo vệ mảnh đất thân yêu của chính mình. Chúng tôi hoàn toàn chủ động đánh theo cách đánh của mình. Chúng tôi buộc người Mỹ phải đánh theo cách đánh của chúng tôi. Ví dụ ở A Bia, mục đích cụ thể của các tướng tá Mỹ là chiếm được quả đồi và tiêu diệt hết sinh lực của chúng tôi. Vì vậy công thức của các tướng tá Mỹ là dùng hỏa lực bom đạn đào xới cho đến lúc có cảm giác không còn sinh vật nào, thậm chí đến cỏ cây cũng không còn dấu vết gì, sau đó mới cho trực thăng đổ bộ binh xuống tấn công chiếm chốt. Trong khi đó, Phương án tác chiến của Ma Vĩnh Lan và cũng là của tất cả cán bộ chiến sĩ là vận động tiến công kết hợp giữ chốt, có nghĩa là lấy cơ động tấn công để giữ quả đồi; giữ chốt trên quả đồi để tấn công, không ở cố định nơi nào. Chúng tôi lấy đại đội, trung đội xuất kích, tập kích vào từng cụm quân, lấy tiêu diệt sinh lực đối phương là mục đích. Vì vậy lúc bom đạn đổ xuống ngọn đồi, đội hình chủ yếu của chúng tôi có ở đó ở đâu. Lúc bộ binh Mỹ từ các hướng và trực thăng trên trời đổ quân xuống để tấn công chiếm đồi thì từ các vị trí bí mật chúng tôi mới bất ngờ vận động tấn công vào đội hình, tiêu diệt, chia cắt, kết hợp với một ma trận chốt trên đồi được nối với nhau bằng hệ thống hầm hào, có lựu đạn, mìn định hướng được bố trí sẵn chờ đợi đối phương lọt vào trận địa. Sau đó chúng tôi lại cơ động rút đi, chỉ còn một vài tổ ba người giữ chốt.
-       Tôi hiểu rồi. Chúng tôi thua về phương án tác chiến, hoàn toàn bị động, không thấy rõ đối phương, lại không thông thuộc địa hình.
-       Đúng vậy. còn một yếu tố nữa, đó là con người. Khi cần chúng tôi phân tán lực lượng, để tránh thương vong, nhưng đòi hỏi người chiến sĩ phải quả cảm, phải mưu trí lấy ít địch nhiều. Tôi lấy ví dụ vào hồi 16 giờ ngày 16 tháng 5, Sư dù thay một đại đội mới, gọi pháo yểm trợ tối đa, tưởng như trận địa đối phương bị hủy diệt. Binh sĩ Mỹ dồn lên tấn công một chốt có ba người. Chiến sĩ Nguyễn Trọng Phôn dùng súng AK hạ gục hai binh sĩ Mỹ. Mấy chục lính Mỹ đổ xô lại, xả súng bắn như mưa đạn về phía trước, Phôn bấm phát nổ hai quả mìn ĐH 10, gần một trung đội Mỹ bị tiêu diệt. Chiến sĩ thứ hai Hoàng Văn Đợi tiếp tục dùng AK xả bắn vào đội hình. Chiến sĩ thứ ba bắn bồi một quả B41. Như vậy chỉ có ba người thôi, chúng tôi vẫn giữ vững trận địa. Đặc biệt ở mũi chốt phía nam động A Bia, một chiến sĩ hy sinh, một bị thương, còn lại một mình chiến sĩ Nguyễn Văn Hiệu vẫn không rời bỏ trận địa, đảm nhiệm một hướng, linh hoạt sử dụng ba loại vũ khí: Mìn, lựu đạn, hai loại súng AK và trung liên bẻ gãy năm đợt tấn công, hạ gục 31 lính Mỹ trong ngày. Số còn lại lầm tưởng còn nhiều đối phương nên thoái thủ không dám tấn công nữa. Tôi hỏi David những người lính Mỹ có làm được những việc tương tự như vậy không?
-       Tôi bắt đầu hiểu tại sao người Mỹ thua. Theo ông còn lý do nào nữa?
-        Còn nữa nhưng tôi không phải là chuyên gia quân sự.
-       Thế lúc đó ông ở đâu?
-       Lúc đó tôi vẫn ngồi trên ghế nhà trường, tôi trả lời, đến đầu năm 1972 đơn vị tôi mới vào chiến trường Quảng Trị. Tôi được bổ sung vào Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3 Sư 324, đúng đại đội tiểu đoàn trung đoàn được phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng, đơn vị nổi tiếng đánh trên đồi A Bia ba năm trước. David mới chỉ trải qua và chứng kiến sự ác liệt, sự tổn thất ở một, hai cao điểm của một đại đội, một tiểu đoàn, còn chúng tôi đã trải qua và chứng kiến sự ác liệt, sự tổn thất ở cửa ngõ một mặt trận của hàng trung đoàn, hàng sư đoàn. Không phải chứng kiến vài ba chục người chết, bốn năm chục người bị thương mà là hàng nghìn người chết, mấy nghìn người bị thương. Ở Mặt trận Khe Sanh, Không lực Mỹ ném xuống trên 114.000 tấn bom, còn ở Mặt trận Quảng Trị sử dụng tới 328.000 tấn, tương đương với sức công phá 7 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima. Chắc David hình dung được mức độ ác liệt và sự tổn thất như thế nào?
-       Tôi có thể hình dung được phần nào. Nhưng với chúng tôi, những người tham gia Lực lượng Thủy quân Lục chiến và Sư Dù thì Khe Sanh, A Bia mãi mãi đi vào ký ức như là những nơi phải trả giá đắt nhất bằng xương máu của lính Mỹ. Khi trở về Mỹ, tôi cùng các bạn bè đã hòa trong dòng người xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh. Có thể nói chúng tôi đại diện cho một thế hệ nước mắt, sự chia rẽ và nỗi hổ thẹn của dân tộc. Vào những năm 1970, người dân Mỹ đã biết được quân đội Mỹ ở Việt Nam tiến hành hàng trăm vụ thảm sát. Trên một trăm vụ được các cơ quan điều tra của quân đội xác minh là có chứng cứ cụ thể. Sốc nhất với chúng tôi là vụ thảm sát ở Mỹ Lai. Hơn 500 thường dân từ một tuổi đến tám hai tuổi, đa số là phụ nữ, người già, trẻ em bị giết hại. Chính xác là 182 phụ nữ và trong đó có 17 người đang mang thai, 173 trẻ em và trong số đó có 56 trẻ em sơ sinh, 60 cụ già và 89 trung niên. Tôi cảm thấy vô cùng thất vọng và buồn chán vì không một người lính nào trong Đại đội Charlie, đơn vị trực tiếp sát hại dã man dân Mỹ Lai, cũng như những chỉ huy cấp trên trực tiếp ra lệnh thảm sát dân làng bị xét xử thỏa đáng. Chính quyền và tòa án Mỹ cố tình bưng bít, bao che tội ác man rợ, nhục nhã này. Thật xấu hổ thay cho quân đội Mỹ. Thật xấu hổ cho người dân Mỹ. Tôi chỉ còn cách phô tô phân phát cho mọi người hàng ngàn bản về đoạn tin mà Hãng BBC News đã mô tả. Tôi vẫn còn nhớ như in. Tôi đọc cho ông nghe “ Lính Mỹ xả súng vào đàn ông không mang vũ khí, vào đàn bà, cả trẻ em sơ sinh. Những gia đình tụm lại ẩn nấp trong các căn lều hoặc hầm tạm bị giết không thương tiếc. Những người giơ cao hai tay đầu hàng cũng bị giết… Những nơi khác trong làng, sự bạo tàn của lính Mỹ mỗi lúc một chồng chất. Phụ nữ bị cưỡng bức hàng loạt. Những người quỳ lạy xin tha bị đánh đập và tra tấn bằng tay, bằng báng súng, bị đâm bằng lưỡi lê. Một số bị cắt xẻo với dấu C Company trên ngực…”
David David nghẹn ngào. Nước mắt đầm đìa khuôn mặt. Ông lấy khăn lau, rồi nấc lên:
-       Suốt thời gian đó, đêm đêm tôi cứ nằm mơ thấy những đứa trẻ. Nó bé giống như những đứa con tôi, David mếu máo.
Tôi vội nắm lấy tay ông và cũng không cầm được nước mắt. Đúng là quá khứ đã qua đi, nhưng vẫn còn đó bao nhiêu điều đau xót. Những người đã chết, những người còn sống, những người đang sống; quá khứ, hiện tại, tương lai, những người ở cuối bên kia dốc cuộc đời thuộc lứa chúng tôi vẫn rất cần phải chiêm nghiệm về lẽ sống,về cái tốt xấu, cái chân thiện mỹ .Thực tế cả tôi và David đều không biết phải an ủi nhau như thế nào. Chẳng lẽ bảo nhau tại chiến tranh nên quên đi tất cả ư?
Kể từ lúc đó cho đến sáng, David không nói chuyện gì. Ông lấy ra một chai rượu nhỏ trong chiếc cặp để máy tính, ra hiệu với tôi uống cùng, tôi lắc đầu. Thỉnh thoảng ông lại làm một ngụm. Còn tôi, tôi nhớ đến bao kỷ niệm về những người bạn thuở thiếu thời còn nằm lại trên khắp các chiến trường miền Nam. Họ là những người cùng xóm, cùng làng, cùng chơi bi đánh đáo, cùng nô đùa dưới ánh trăng khuya, cùng bắt cua bắt ốc, cùng trộm khoai trộm vải, cùng tung tăng ngày ngày cắp sách đến trường, cùng học nhóm học tổ, cùng nhau ước mơ, cùng yêu… Giờ thì những người ấy đã đi đâu? Bạn Phạm Ngọc Bình, Giang Nguyên Dân, Vũ Văn Qúy, Nguyễn Huy Hải, Nguyễn Minh Hồ, Triệu Văn Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Duy Tấn, Nguyễn Huy Thọ, Nguyễn Văn Vinh... Tất cả đã trở về với cát bụi ở độ tuổi 20.
Tôi nhắm mắt cố ngủ, nhưng trong tâm trí vẫn hiện lên những hình ảnh về Thủ trưởng Ma Vĩnh Lan, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3, sau được lên chỉ huy Sư 324, người con tuyệt vời ở chợ Rã- Bắc Cạn, anh hùng mặt trân B5, người chỉ huy xuất sắc nhất trong chiến dịch đánh Mỹ vây hãm đồi A Bia, vây hãm Động Tranh. Ông đã sáng tạo ra cách bố trí hầm chốt mới để chiến sĩ ít bị thương vong nhất. Ông đã cụ thể hóa cực kì sáng tạo phương án vận động tấn công kết hợp chốt, kiên cường bám chốt để vận động tấn công. Ông chỉ đạo cách ém quân, cách đánh gần, cách đánh xen kẽ tránh phi pháo và hỏa lực địch. Tôi nhớ lần gặp ông cuối cùng ở Nghệ An, một ông già hiền lành đôn hậu đọc hàng chục bài thơ cho chúng tôi nghe, những bài thơ về chiến trường chan chứa tình đồng đội. Tứ thơ của ông thật mộc mạc, độc đáo. Ông đã chứng kiến hàng ngàn, hàng vạn chiến sĩ hi sinh nên thơ của ông là máu và nước mắt, là nỗi nhớ khắc khoải những người đồng chí đồng đội, những lời tâm sự đời thường thật tha thiết, thật trong sáng thủy chung. Hôm đó ông còn nói với tôi “mình già rồi, chắc không còn cơ hội gặp được anh em đồng chí đồng đội nhiều nữa. Em còn trẻ, đơn vị có dịp mời cố gắng mà đi. Cố gắng cùng anh em giữ vững truyền thống đơn vị”. Tôi rất ân hận vì khi ông mất ở Thái Nguyên vì lí do gì đó tôi không đến tiễn biệt ông được.
Tôi nhớ Trung đoàn trưởng Hồ Hữu Lạn, quê ở Nghệ An, từ một người lính công binh quả cảm, mưu trí, sáng tạo, trải qua hàng trăm trận đánh kiên cường, trở thành người chỉ huy xuất sắc từ cấp đại đội, tiểu đoàn đến chỉ huy trung đoàn. Ông trực tiếp dẫn Trung đoàn 3 vào Tây nguyên đánh phối thuộc ở Đắc Pét, rồi tham gia đánh địch trong chiến dịch Thượng Đức. Ông cùng chiến sĩ bao lần bò vào tận trận địa địch để trinh sát nắm tình hình theo phương châm đã nhận nhiệm vụ là hoàn thành, đã đánh là thắng. Ông góp phần không nhỏ trong thắng lợi Chiến dịch Thượng Đức, Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Khi về đời thường, ông tự học trở thành một lương y mẫu mực chữa bệnh cho mọi người.
Tôi cũng lại nhớ tới Tướng Chu Phương Đới, người con ưu tú của dân tôc Tày, người anh hùng của rừng núi Trị Thiên, người bạn của các dân tộc Lào, quê xã Hưng Đạo, Hòa an, Cao Bằng. Ông chỉ  huy Sư đoàn 324 đánh Mỹ-Ngụy ở Quảng Trị, Thừa thiên từ những năm 1960. Sư đoàn ra quân đánh Mỹ đầu tiên đã tiêu diệt căn cứ Đầu Mầu, đánh bại cuộc hành quân hắc tinh tinh của Mỹ. Sư đoàn chiếm cứ Cù Đinh, Ba De mở ra một thời kỳ mới thu hút chủ lực Mỹ - Ngụy ra Mặt trận đường 9 để tiêu diệt vào năm 1966-1967. Ông còn gắn bó mãi với Sư đoàn đến năm 1987 sau khi nhận nhiệm vụ làm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào.
Năm 2006 khi Tướng Chu Đới nằm ở Bệnh viện Y học Dân tộc Quân đội tại Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội, tôi đã cùng đoàn cán bộ chiến sĩ cựu chiến binh Hà Nội thuộc sư 324 đến thăm hỏi bệnh tình ông. Lúc đó ông vẫn còn khỏe, còn kể lại cho chúng tôi nghe thời hoạt đông cách mạng, thời trai trẻ đánh Pháp ở Việt Bắc, ở Điện Biên Phủ như thế nào. Ông cũng kể cho chúng tôi nghe thời kì học ở Nga, ông chọn một đề tài giả định gây sốc cho toàn học viện. Đó là cuộc chiến tranh xâm lược do Trung Quốc phát động mà ông là một chỉ huy quân đoàn phụ trách bảo vệ vùng biên cương hai tỉnh Cao bằng và Lạng Sơn. Ông buồn rầu nói “Thế mà sau đó có chiến tranh thật”. Tôi rất tò mò về đề tài này. Tại sao ông lại giả định về cuộc chiến tranh Trung - Việt? Hỏi ông, ông cười “mình cũng chỉ nhân đọc về cuộc chiến Trung – Ấn và cuộc chiến Trung – Xô mà chợt nghĩ ra thôi.
Lúc đó tôi rất ngạc nhiên và đã nảy ra ý định viết một cuốn sách về Chu Phương Đới. Tôi đã dự định dành thời gian đến Viện Y học để khai thác tài liệu sống từ con người ông. Thật đáng buồn, vì mải bận bát cơm manh áo mà tôi không thực hiên được điều đó. Tôi rất ấn tượng với phong cách điềm đạm, cởi mở, quần chúng của vị tướng này. Hôm đó ông vẫn còn hát theo anh em chúng tôi bài hát Vang mãi khúc quân hành: Đời mình là một khúc quân hành, đời mình là bài ca chiến đấu, ta ca vang, triền miên qua tháng ngày… Chúng tôi hát, hát say sưa để ngợi ca, tưởng nhớ những người lính và cũng để tôn vinh cuộc đời binh nghiệp sáng ngời của ông.
Năm 2007 tôi cùng anh em lính tráng cựu chiến binh thuộc Trung đoàn 3 ở Hà Nội lên Cao Bằng thăm ông. Lúc đến nhà ông, trời về chiều, chỉ còn vài tia nắng nhạt nhòa. Chúng tôi đều ngỡ ngàng, ngậm ngùi. Ba gian nhà ngói nhỏ bé ông ở cùng gia đình hòa lẫn với tất cả những ngôi nhà xung quanh bản người Tày. Trước ngôi nhà còn có một khoảng sân lát gạch nung cũ kỹ. Cách sân vài mét là hàng rào cây gốc tần, ô rô. Trong cái khoảng trống tạm gọi là khu vườn, các đồng đội của ông đã trồng vài khóm thanh long, một số loại hoa đặc trưng của các vùng miền khi về thăm ông.
Bước vào nhà, tất cả đều rất đơn sơ, giản dị. Từ nền gạch hoa bằng xi măng xa xưa cái thời bao cấp đến mọi đồ vật bày biện trong nhà đều không có dấu hiệu gì là nhà của một ông tướng. Cái tủ ba ngăn kê sát vách giữa nhà đồng thời là giường thờ, bên trên có bát hương thờ ảnh Bác Hồ. Phía trước tủ là một bộ bàn ghế tràng kỷ như của bao gia đình nông thôn Việt Nam. Ông ngồi trên giường, người trông gầy sọp hẳn đi. Bên cạnh ông, Tướng Nguyễn Nam Long, người đồng đội đã bỏ nhà cửa ở Thành Phố Hồ Chí Minh lên Cao Bằng chăm sóc ông như người em ruột, phải quàng tay ôm đỡ lấy ông. Ông bắt tay từng người. Đến lượt tôi, tôi chúc ông nhanh chóng khỏe mạnh, để lần sau cùng chúng tôi lên thăm hang Pác Pó. Ông dường như không muốn rời tay tôi. Đôi mắt ông nhìn tôi rất lạ, giống như ánh mắt níu kéo của cụ tôi, bà tôi nhìn người thân trước lúc đi xa. Linh cảm mách tôi chuyện chẳng lành. Đúng như vậy, khoảng nửa đêm hôm đó, chúng tôi nhận được tin ông mất.
Ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa và có thể là nhiều ngày hôm sau nữa, người thân, làng xóm, bạn bè, anh em đồng chí ở trong và ngoài nước, khắp ba miền Bắc, Trung, Nam đổ về đưa tiễn Tướng Chu Phương Đới tới nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi biết còn có nhiều người không có điều kiện về Cao Bằng vĩnh biệt người chỉ huy, vị tướng của các vị tướng, người đồng chí, đồng đội trong suốt hai cuộc kháng chiến chống hai đế quốc. Họ sẽ đưa tiễn ông theo cách riêng của mình. Tôi biết ông không phải là vị tướng có cấp bậc cao, không phải là vị tướng thật xuất chúng, nhưng biết bao tướng tá thuộc Sư đoàn Kỵ binh bay, Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Sư đoàn dù Mỹ sau này khi nói về ông phải kính trọng, kinh ngạc trước ý chí và tài thao lược của ông. Sự ra đi của ông khiến nhiều người trong chúng tôi không cầm được nước mắt. Cả một đời binh nghiệp, qua hai cuộc kháng chiến, trải qua hàng trăm trận đánh với đội quân viễn chinh nhà nghề thực dân Pháp và đội quân nhà nghề khét tiếng của đế quốc Mỹ, công lao với quân đội với dân tộc là không nhỏ, nhưng ông về hưu sống thuần với đồng lương hưu, sống một cuộc sống thanh bạch, tĩnh lặng ở một làng dân tộc hẻo lánh. Đặc biệt ông vẫn ấp ủ một mơ ước cho tới trước lúc qua đời, đó là có đủ tư liệu để viết một cuốn sách về người Âu Việt mà có thể hậu duệ sau này là người Tày. Ước mơ đẹp đẽ đó đã theo ông về bên kia thế giới.

Tôi biết đơn vị chính sách quân đội đã xây dựng cho Tướng Chu Phương Đới một căn nhà dưỡng già. Thế nhưng ông lại đem tặng ngôi nhà đó để làm trường mầm non cho các cháu tại quê hương. Tôi cứ tự hỏi mình tại sao nhiều người lính già lại rơi lệ, thậm chí òa khóc nức nở như đứa trẻ trong đám tang ông. Nước mắt những người lính này đã khô cạn trong mấy chục năm chinh chiến rồi. Họ đâu có dư nước mắt. Vả lại, có người từng giữ cương vị trong bộ máy của  Đảng, Nhà nước, Chính phủ, chết đi họ có chút mảy may động tâm đâu? Thậm chí có người đang sống còn bị họ chỉ trích, ca thán vì họ nghi ngờ tham nhũng, lợi dụng thành quả xương máu của hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trên đất nước này. Như vậy ngay cả cái chết của Tướng Chu Phương Đới cũng để lại một bài học làm người thật thấm thía...
Read More

Những công việc chuẩn bị

Leave a Comment
 Tôi đã có sẵn hộ chiếu từ trước. Bước đầu tôi cảm thấy mọi việc đều suôn sẻ, không giống như lần đầu tôi đi Thái. Nào là phải xin phép cơ quan, xin phép phòng nội vụ, sở ngoại vụ. Hàng tháng trời chạy đi chạy lại chạy giấy tờ. Thật là phiền toái. Bây giờ về hưu đi làm “ngoài”, tôi chẳng cần phải xin phép ai cả. Nhưng tôi vẫn hơi lo lo. Bà chị vợ tôi và một số người khác, mặc dù có sổ đỏ chứng nhận quyền sở hữu hàng trăm m2 đất, có nhà cửa riêng, có sổ tiết kiệm gửi ngân hàng nhà nước hàng tỉ đồng, vậy mà mấy lần đóng tiền xin visa vẫn không qua được vòng phỏng vấn. Trong khi đó, tôi chẳng có gì hết. Tiền tiết kiệm gửi ngân hàng không có. Giấy tờ sở hữu đất đai không có. Nghề nghiệp có thu nhập cao cũng không.
Hôm đến làm thủ tục, một nam nhân viên đứng trong quầy kính, hỏi tôi bằng tiếng Việt khá thành thạo:
-       Tôi được biết giáo viên ở Việt Nam có thu nhập rất thấp. Vậy vợ chồng ông vẫn có tiền để chu cấp cho hai con ăn học ở Mỹ. Hẳn hai vợ chồng ông phải dạy thêm rất nhiều hoặc có những thứ tiền nào đó?
-       Ông nhầm rồi, tôi trả lời không đắn đo suy nghĩ, một số cán bộ, giáo viên ở Việt Nam có tiền, thậm chí có rất nhiều tiền. Họ có đủ tiền mua đất đai, nhà cửa và cho con cái đi du học nước ngoài. Tôi không nằm trong số đó. Gia đình tôi cũng không nhận trợ cấp của ai. Đơn giản con tôi sang Mỹ học là chúng nhận được học bổng.
 Không biết tôi có suy diễn quá không, nhưng tôi cảm thấy trong câu hỏi của nhân viên đại sứ quán có một hàm ý gì đó. Tôi nghĩ chắc họ vừa đọc Báo cáo thường kì hàng năm của Tổ chức Minh bạch Quốc tế có trụ sở tại Berlin. Báo cáo đã kết luận giáo dục Việt Nam là ngành tham nhũng thứ hai sau ngành hành pháp ở Việt Nam. Là nhà giáo, mới đầu tôi cảm thấy rất bất bình. Nhưng công tâm ngẫm kỹ, tôi thấy kết luận như vậy không hẳn là oan sai.
 Không ít cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên hàng ngày hàng giờ vẫn đang kinh doanh, kiếm tiền và làm giàu trong số 20 triệu học sinh, sinh viên ở Việt Nam. Họ tư túi từ tiền ngân sách, tiền dự án đến tiền học phí; đặt ra đủ các thứ tiền, từ tiền gửi xe đạp đến tiền vệ sinh trường lớp; xoay sở từ tiền xây dựng đến tiền học thêm, từ tiền quỹ hội phụ huynh đến tiền bán trú, từ tiền đồng phục đến tiền sách giáo khoa... Có khoảng hơn ba mươi thứ tiền lạm thu mà người ta đã thống kê ra. Đơn giản chỉ chạy cho con vào một trường học mầm non chất lượng cao trái tuyến cũng đã mất đến hàng nghìn đô, và cũng khoản tiền như vậy để chạy vào các trường chuyên lớp chọn. Thậm chí xin đổi chỗ ngồi cho con trong một lớp học thôi, có người cũng phải mất một vài tờ. Đó là chưa kể đến hàng trăm chuyện thường ngày khác xảy ra ở các nhà trường.
Cái ý nghĩ bị người ta móc máy mình khiến tôi rất khó chịu. Tuy nhiên tôi vẫn thận trọng trong từng câu chữ. Tôi không nói “chúng xin được học bổng”. Tôi nói “chúng nhận được học bổng”. Tôi hoàn toàn bằng lòng với câu trả lời của mình. Nó đúng với thực tế, vừa chứa đựng một ẩn ý, vừa không có vẻ nhờ vả, xin xỏ. Tuy vậy việc xin và nhận trong trường hợp của các con tôi có khác gì nhau nhiều lắm đâu. Lúc đó tôi ước rằng mình có nhiều tiền, trách mình đã không biết tận dụng cơ hội kiếm tiền như người ta. Tiền không phải để cho mình mà để cho con, để được nói với họ theo truyền thống của người phương Tây là “tôi trả tiền cho con tôi đi học”.
 Lúc đó sĩ diện nên tôi đã nghĩ như vậy. Hồi tâm lại thấy mình sai. Chẳng lẽ mình dạy con từ nhỏ phải sống cho ngay thẳng, phải sống trung thực, còn mình thì lại làm cái chuyện khuất tất, trái với lương tâm để được cái không phải là của mình, để rồi đời cha ăn mặn đời con khát nước. Theo thuyết của nhà Phật “nhân nào quả ấy”, sớm muộn người ta đều phải trả giá cho cái tham, sân, si của chính mình.
Kết thúc buổi phỏng vấn, người nhân viên cười vui vẻ chúc mừng. Tôi cám ơn, thở phào nhẹ nhõm. Xin được visa sang Mỹ có thể nói là xong mọi việc. Tôi chỉ còn việc mua vé là lên đường. Có nhiều hãng hàng không, trong đó có hàng không Việt Nam, nhưng tôi quyết định chọn chuyến bay của hãng hàng không Mỹ sau khi đã tham khảo kỹ giá cả ở trên mạng. Việc lấy vé đi máy bay bây giờ khác xưa rất nhiều. Không phải đi lại, chạy vạy, nhờ vả như khoảng chục năm về trước. Tôi chỉ lên mạng, đăng ký trực tuyến, trả tiền qua thẻ tài khoản của mình, tự in vé điện tử cùng lịch trình bay. Tất cả mọi cái đều thay đổi nhanh chóng. Cái thay đổi lớn nhất, theo tôi, là thay đổi theo hướng đơn giản hóa và minh bạch. Tôi chỉ việc đúng giờ ra sân bay và lên máy bay.
 Thì ra các hãng hàng không trên thế giới và các hãng hàng không trong nội địa đang cạnh tranh với nhau một cách khốc liệt. Họ hạn chế đến tối đa việc sử dụng nhân lực. Khách hàng đồng thời trở thành người bán vé, trở thành nhân viên thủ quỹ tự gửi tiền cho các hãng hàng không. Đổi lại, khách hàng đi máy bay của hãng với giá rẻ, tiện ích và chất lượng phục vụ tốt nhất. Nếu hãng nào không làm được như vậy thì sẽ không có khách và nếu không nhanh kịp điều chỉnh thì tất phá sản. Giờ thì phần nào tôi hiểu tại sao một số tập đoàn, tổng công ty độc quyền được nhà nước ưu đãi, trong đó có Vinalines lại làm ăn thua lỗ đến hàng ngàn tỉ đồng.
 Trước hôm lên đường, hai cô con gái ở bên Mỹ gọi, nhắc nhở tôi phải đến sân bay trước hai tiếng để đề phòng những trục trặc không đáng có. Bởi tính tôi dù đi đâu cũng tính đến sát giờ, không muốn phải đợi chờ. Cũng chính vì vậy, năm trước khi Thuý cho con về nước chơi, tôi tính toán đưa hai mẹ con đến sân bay Nội Bài để vào Thành phố Hồ Chí Minh thăm bố mẹ chồng quá sát giờ, nên đến trễ một ít phút. Một ít phút thôi, Thúy và con cũng không được làm thủ tục vào cửa, phải mua vé đi chuyến sau.  Khi Thúy thắc mắc: “Ở Mỹ hành khách trễ đều được đổi chuyến không phải mất tiền”. Nhân viên quầy bán vé bổ sung sẵng giọng: “Đây là ở Việt Nam. Vì ưu tiên có con nhỏ nên chị mới được mua vé đi chuyến sau. Nếu là người khác thì hôm sau hay hôm sau nữa cũng chưa chắc mua được vé”. Tôi vội vã đưa hai triệu đồng cho cô gái xinh đẹp, mặc bộ áo dài tím thướt tha đang đứng trong quầy bán vé bổ sung, rồi cầm lấy chiếc vé để được đi chuyến sau hai tiếng nữa. Mặc kệ Thúy phàn nàn rằng chuyến hiện thời còn nửa tiếng nữa mới bay, rằng ở Mỹ chẳng ai để một bà mẹ có con nhỏ trong tình trạng chờ đợi như thế này.
 Tôi cứ áy náy vì cái tính không biết lo xa của tôi nên Thúy mới trễ chuyến bay. Vấn đề không phải là tiền nong mà là sức khỏe của cháu Lâm. Tôi biết Thúy xót con vì phải chờ đợi quá lâu nơi công cộng, đành nhận lỗi về phần mình: “Tại ba lề mề, nếu không giờ con đã ở trên máy bay rồi”. Biết tôi buồn Thúy nói chuyện để tôi khuây khỏa. Thúy kể về những chuyến đi từ Việt Nam qua Nhật sang Mỹ, kể về những chuyến bay nội địa ở Mỹ được các tiếp viên, được mọi người giúp đỡ như thế nào. Cuối cùng Thúy kết luận: “Ba đã đi nước ngoài dăm ba lần, chắc hẳn có cái cảm giác cứ đi hoặc đi về đến sân bay của mình là y như rằng có chuyện bức bối. Bác Thắng (bạn tôi định cư ở Phần Lan) đã có lần chẳng nói với ba là về nước thường bị gây khó khăn và thường bị vặt là gì”. Tôi chỉ cười xòa, không trả lời, vì thực ra tôi chẳng có gì để bức bối, và cũng chẳng bao giờ bị ai vặt cái gì trong những lần từ nước ngoài về. Tôi không muốn tranh luận với Thúy. Nếu ta cứ so sánh phong cách ứng xử của một xã hội hậu công nghiệp đi trước hàng trăm năm với một xã hội nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa thì thật khập khiễng.
 Khoảng 70 % dân số Việt Nam đang làm ruộng với tư duy nông nghiệp lúa nước. Phần lớn cán bộ, viên chức của nhà nước cũng mới chỉ vừa thoát thai từ cái xã hội nông nghiệp. Thậm chí nhiều người trong số họ, ngày đi làm việc công, chiều tối về vẫn tranh thủ ra đồng “chồng cày vợ cấy”, thế thì người ta làm sao tránh khỏi cái tâm lý tiểu nông: Tự tư, tự lợi. Tôi chợt nhớ đến anh Hùng, bạn học xưa có thời học tập ở Liên Xô vào đầu những năm 70. Khi anh về nước, nói chuyện với bạn bè, anh thường so sánh ở Nga với ở Việt Nam, phong cách làm việc giữa người Nga và người Việt, trường học Nga và trường học Việt. Chúng tôi thường châm chích anh là sính Tây. Lúc đầu anh còn phân bua, sau cũng chẳng chấp chúng tôi làm gì. Bây giờ đến lượt Thúy, lại so sánh giống như bạn tôi ngày trước.
 Có một chuyện tôi đồng cảm với Thúy. Chẳng là tháng trước, chồng Thúy ở bên Mỹ được cử sang Trung Quốc công tác, có ghé về thăm bố mẹ đẻ tại thành phố Hồ Chí Minh. Vé khứ hồi do bộ phận văn phòng của cơ quan bên Mỹ đặt mua. Từ Mỹ qua Nhật về đến Thành phố Hồ Chí Minh thì không có vấn đề gì. Nhưng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Thượng Hải thì chồng Thúy không đi được. Lý do là vì tên của chồng Thúy trong vé không đúng với tên trong visa. Chồng Thúy giải thích thế nào cũng không được qua cửa.
Trong tất cả các giấy tờ, kể cả vé đi máy bay, người Mỹ thường ghi tên người Việt nói riêng, người châu Á nói chung lên đầu, tên đệm và họ ở sau. Điều này thì hình như không đúng với visa thông lệ chung của riêng hai nước Việt - Trung, đặc biệt là quy định riêng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Thượng Hải. Cuối cùng sợ lỡ chuyến bay, bố chồng Thúy phải bỏ ra mấy chục triệu đồng mua vé mới  kịp chuyến bay cho con trai. Điều đó làm cả gia đình đằng chồng Thúy rất bức xúc. Nhưng điều lạ là sau đó, cũng vẫn chiếc vé ban đầu ấy, chồng Thúy từ Thượng Hải trở về Mỹ lại không gặp sự cố gì. Vậy thì trong chuyện này ai đúng ai sai?
 Điều Thúy không hiểu là vẫn còn rất nhiều cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân trong nước theo thói quen thời quan liêu bao cấp, thường bắt các cá nhân, các cơ quan, doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài phải theo thông lệ của nước mình, thay cho việc mình phải theo thông lệ quốc tế. Ngay cả ở trường nơi tôi công tác vào đầu năm 2008, khi văn phòng yêu cầu giáo viên chủ nhiệm đăng kí họ tên học sinh và ngày tháng năm sinh cho một cuộc khảo sát quốc tế, theo phần mềm thông lệ quốc tế, lúc in ra giấy để giáo viên kiểm tra lại, việc máy tính đưa tên lên trước tên họ và tên đệm, đưa tháng lên trước và ngày sau đã bị gần như cả hội đồng xì xào, cười chê. Họ lập luận với tôi rằng: “Tưởng thế nào, thì ra máy tính lại có tháng 13 đến tháng 31. Máy tính đấy. Máy với chả móc. Tất cả đều thua con người hết”. Và trong con mắt họ, tôi trở thành kẻ kỹ trị lạc lõng bênh vực cho phương Tây. Nhưng điều đáng buồn hơn là cho đến tận ngày hôm nay, phần lớn các nhà trường phổ thông vẫn quản lý nhân sự, quản lí học sinh bằng các loại sổ sách truyền thống. Người ta vẫn tính điểm trung bình các môn học bằng cách tính toán như những năm 60 của thế kỉ trước.
 Thì ra vấn đề hội nhập của Việt Nam, ngay cả đối với các cán bộ và công chức trong nhà máy xí nghiệp, trong trường học, bệnh viện vẫn còn là một vấn đề rất nan giải. Nhưng thôi, đó là vấn đề của xã hội, không liên quan gì đến tôi. Vấn đề của tôi là phải cố gắng để hội nhập, nếu không, tôi sẽ không lên được máy bay của bất kì hãng hàng không quốc tế nào, chứ đừng nói đến việc sống và làm việc ở nước ngoài.


Read More

Tôi đi sang Mỹ

Leave a Comment
Mục đích tôi đi sang Mỹ lần này là thăm các con, các cháu, đồng thời dự lễ phát bằng tốt nghiệp của cô con gái thứ hai. Ngoài ra, tôi cũng muốn thăm một số trường học ở vài tiểu bang để tìm hiểu thực tế về nền giáo dục Mỹ, nhất là về chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy và thăm dò khả năng hợp tác, trao đổi học sinh trong dịp hè giữa trường tôi và một trường đối tác X nào đó nếu có thể. Đặc biệt trong chuyến đi này, bố mẹ tôi còn muốn tôi đi thăm đáp lễ ông chú, người con nuôi gốc Hoa của bà nội tôi ở bang California. Mấy năm vừa rồi, tết nào ông cũng về Việt Nam thăm gia đình tôi và mời gia đình tôi sang Mỹ chơi, nhưng bố mẹ tôi đã già, không thể đi xa được.
Ngoài lý do cá nhân riêng tư, đã từ lâu tôi rất muốn được đặt chân đến nước Mỹ, quốc gia lớn thứ 3 trên thế giới với diện tích 9,83 triệu km2, 50 bang, dân số ba trăm mười bốn triệu người. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ năm 2013 trên 15,4 nghìn tỉ đô la, chiếm gần 23% GDP toàn cầu. Thu nhập bình quân xấp xỉ 50 nghìn đô la đầu người trên năm. Người dân nước Mỹ thuộc nhóm nước có thu nhập bình quân cao nhất thế giới. Dù trải qua khủng hoảng kinh tế, dù nhiều nhà phân tích cho rằng Mỹ đang trên con đường suy yếu thì sức mạnh tổng hợp của quốc gia, sức mạnh về kinh tế, sức mạnh về quân sự, sức mạnh về khoa học công nghệ đến giữa thế kỷ 21 cũng chưa chắc có quốc gia nào cạnh tranh với Mỹ được.
 Riêng đối với mỗi người Việt Nam thuộc thế hệ trước, và thế hệ chúng tôi, nước Mỹ còn có quá nhiều duyên nợ kích thích trí tò mò để tìm hiểu, để khám phá. Đầu những năm 50 của thế kỷ trước, khi đã chuẩn bị xong khúc dạo đầu cuộc Chiến tranh lạnh với học thuyết mang tên Tổng thống Harry Truman, Kế hoạch phục hưng châu Âu (kế hoạch Marshall) và thành lập Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhằm chống lại Liên Xô và bao vây các nước Xã hội chủ nghĩa, Tổng thống Mỹ Harry Truman  đã thay đổi thái độ về cuộc chiến tranh ở Đông Dương, tuyên bố viện trợ trực tiếp cho quân đội Pháp. Thực tế, Đế quốc Mỹ đã chi bình quân mỗi năm 1 tỷ USD, đảm  nhiệm đến 80% chi phí cho thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương.
Năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ về việc lập lại hòa bình, thống nhất cho dân tộc Việt Nam chưa giáo mực, đế quôc Mỹ đã thay thế Pháp tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam cho đến năm 1975. Đây là một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Từ năm 1954 đến năm 1975, trải qua 5 đời tổng thống, Nhà Trắng đã chi hàng trăm tỉ USD, huy động hàng triệu lượt binh sĩ Mỹ và binh sĩ của 5 quốc gia khác vào chiến trường Việt Nam. Kết quả là người Mỹ đã thua trong cuộc chiến sau khi để mất trên ba ngàn máy bay, hàng trăm tàu chiến hiện đại, 57.259 binh sĩ tử trận, 303.704 người bị thương. Và đặc biệt là cuộc chiến này đã để lại một hậu quả hết sức nghiêm trọng cho nước Mỹ, như nhiều sử gia Mỹ đã viết, một “ Hội chứng Việt Nam” trong lòng nước Mỹ.
Với Việt Nam thiệt hại còn lớn hơn đối phương rất nhiều, vì trong chiến tranh , đế quốc Mỹ quyết tâm đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá. Tất cả những vũ khí hiện đại nhất, tất cả những phương tiên chiến tranh trừ bom nguyên tử đều được huy động tối đa vào cuộc chiến trong những năm 1960 đến nửa đầu những năm 1970. Suốt mấy chục năm, qua ba cuộc chiến tranh, rồi bao vây cấm vận thù địch từ những năm 1980 đến năm 1995 đã để lại cho đất nước này một di sản hoang tàn, khủng hoảng trầm trọng. Đau thương nhất là hơn hai triệu người con ưu tú hy sinh và ngần ấy bà mẹ, người vợ quặn thắt nỗi đau mất con, mất chồng. Gần 40 năm đã trôi qua, hàng triệu bà mẹ vẫn mòn mỏi mơ về con, có người đến lúc hấp hối vẫn còn hy vọng một ngày nào đó con mình sẽ trở về. Có biết bao người phụ nữ Việt Nam đêm đêm vẫn run run thắp nén hương cho con, cho chồng... Đến giờ, khi  tôi nhớ lại cảnh nhiều bà mẹ, nghẹn ngào tiễn con ra trận trong chiến tranh, trong số đó nhiều người chết lặng đi trong lễ báo tử mà không cầm được nước mắt.
Tôi biết một bà mẹ ở miền Trung, bà mẹ Thứ ở thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hồi trẻ bà là một cô gái đẹp của vùng trồng dâu nuôi tằm bên dòng sông Thu Bồn. Lớn lên khi lập gia đình, mẹ Thứ sinh được mười hai người con. Năm 1949 cùng lúc mẹ nhận được ba giấy báo tử của các con hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tiếp đến, sáu người con lần lượt hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ. Cũng trong thời điểm ấy, mẹ lại nhận được giấy báo tử của con rể và cháu ngoại. Tôi không hiểu người Pháp, người Mỹ có ai đo được nỗi đau xé lòng của bà mẹ này? Và có người Pháp, người Mỹ nào bù đắp để làm vợi đi một phần sự đau thương đến tột cùng này? Riêng cá nhân tôi, cứ đến ngày 27 tháng 7 hàng năm, khi đi viếng nghĩa trang liệt sĩ, găp lại những bà mẹ, những người vợ nức nở bên mộ chồng, mộ con, lòng tôi lại nghẹn ngào, nước mắt giàn giụa.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc. Tôi ngỡ tưởng hòa bình sẽ trở lại dài lâu. Nào ngờ hết chiến tranh ở mặt trận Tây Nam lại đến mặt trận phía bắc. Tôi càng thêm thấu hiểu câu nói của ông cha mình “Vật đổi sao dời” và mới thấy hết ý nghĩa lời của một chính khách người Anh “Không có đồng minh vĩnh viễn, cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích dân tộc là vĩnh viễn”.
Trong bối cảnh mới, Việt Nam phải tìm cách chuyển hướng đối ngoại, thương thảo gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á, thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 7 của ASEAN. Đó là kết quả của của việc thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng, đa phương hóa, chủ động hội nhập của Việt Nam. Gia nhập ASEAN là một quyết sách đúng đắn, kịp thời, có ý nghĩa lịch sử và chiến lược quan trọng. Nó vượt qua cái thời kỳ nghi kỵ, thù địch giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. Nó có thể chấm dứt cảnh tan đàn xẻ nghé do những tác động từ bên ngoài. Kể từ đây, Việt Nam bắt đầu đi chung trên một con thuyền ASEAN, cùng các nước hợp tác làm ăn, đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cùng chèo chống trước bão giông sóng cả để giữ vững hòa bình và ổn định khu vực. Điều này, trước đó chưa hề có, vì một thời các nước Đông Nam Á bị lôi cuốn vào chiến tranh Việt Nam và sau đó là bao vây cô lập Việt Nam khi Việt Nam cứu giúp Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.
Với Mỹ, Việt Nam có những cam kết và thiện chí trong vấn đề nhân đạo tìm kiếm lính Mỹ bị chết trong chiến tranh. Đáp lại, tháng 3 năm 1993 Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm các khoản vay song phương, đa phương dành cho Việt Nam, mở đường cho Việt Nam tiếp cận các khoản vay tín dụng nước ngoài. Sau hai mươi năm kể từ khi kết thúc cuộc chiến, ngày 12 tháng 7 năm 1995, Việt Nam và Hoa Kỳ mới chính thức bình thường hóa quan hệ. Thực ra trước đó hai nước đã có những cuộc tiếp xúc vào những năm 1977 và 1978, nhưng có lẽ tình hình thế giới và quan điểm hai bên còn quá khác biệt, thêm vào đó là thời gian chưa đủ cho hai bên quên đi tiếng súng đạn của một thời để đến với nhau.
Từ chỗ là kẻ thù của nhau, bây giờ quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã phát triển mạnh mẽ. Hai nước đã tạo được nền tảng vững chắc trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị , an ninh , quốc phòng đến kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật, các vấn đề nhân đạo, giải quyết hậu quả chất độc da cam, hợp tác trong các vấn đề khu vực và toàn cầu như ứng phó với biến đổi khí hậu, chống khủng bố, không phổ biến vũ khí hạt nhân… Tính đến hết năm 2013, kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước đạt trên 20 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư đăng ký của Mỹ vào Việt Nam lên tới 13, 24 tỷ USD. Nếu người tiêu dùng Mỹ biết đến hàng may mặc, giày dép, cà phê, cao su, đồ gỗ, con tôm, con cá, hoa quả của người Việt Nam thì người Việt Nam đã biết đến Citibank, Intel, Microsoft, IBM, GE, Chevron, máy bay Boing của Mỹ.
Hai nước đã xây dựng được khuôn khổ quan hệ đối tác tích cực, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Bước phát triển trong quan hệ giữa hai nước không chỉ là hàn gắn vết thương chiến tranh, thể hiện ở sự mở rộng các lĩnh vực hơp tác cùng có lợi mà còn ở sự khẳng định ủng hộ lẫn nhau trong quan hệ quốc tế, nhất là hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực Đông Nam Á và cả châu Á Thái Bình Dương. Đặc biệt trong chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang theo lời mời của Tổng thống Obama từ ngày 24 tháng 7 đến ngày 26 tháng 7 năm 2013, hai bên đã nâng mối quan hệ hai nước thành mối quan hệ đối tác toàn diện; định hình và làm sâu sắc hơn mối quan hệ song phương trong giai đoạn mới cả về bề rộng và chiều sâu trong các lĩnh vực kinh tế , thương mại, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, kể cả an ninh và quốc phòng. Kết quả chuyến thăm cũng khẳng định sự cam kết của hai bên nhằm hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định có thể giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, thúc đẩy các mục tiêu phát triển, tạo thêm nhiều công ăn việc làm ở Việt Nam.
Nhìn lại mối quan hệ Việt – Mỹ, bắt đầu từ năm 1845, khi chiếc thuyền Constitution của Hoa Kỳ cập bến Đà Nẵng, thuyền trưởng John Percival đến liên lạc với triều đình nhà Nguyễn nhằm đặt mối quan hệ bang giao. Rồi đến năm 1873, vua Tự Đức cử sứ thần sang Mỹ cầu viện nhưng không thành. Năm 1919, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi Bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam tới Hội nghị Vécxây cho Tổng thống Mỹ Wooddrow Wilson nhưng không được hồi âm. Đến đầu những năm 40 của thế kỷ trước, cơ quan OSS, tiền thân CIA đã giúp đỡ Việt Minh thuốc men, vũ khí để chống phát xít Nhật. Việt Minh cũng giúp lực lượng Mỹ tin tức tình báo, cứu giúp các binh lính Mỹ ở Việt Nam. Và ngay sau khi giành độc lập, tháng 3 năm1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư cho Tổng thống Truman đề nghị phía Mỹ Công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thiết lập mối quan hệ bang giao giữa hai quốc gia. Nhưng do những lý do lịch sử, những cơ hội đó đã bị phía Hoa Kỳ bỏ qua. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước có thể ví như “ Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”. Tiếp đến, có thêm cả một chương hơn hai mươi năm dài đầy máu và nước mắt cho cả hai dân tộc. Theo tôi, đã đến lúc nên biến cái di sản đau buồn của hai nước thành tài sản, biến chúng thành tình hữu nghị, hơp tác; vì hai nước có những lợi ích chung và vì nó có thể giúp Việt Nam mạnh lên trong thử thách hiện tại và tương lai.
Vả lại, những người lính thuộc hai chiến tuyến năm xưa trực tiếp xung trận, sinh tử đối đầu nhau cũng đã gác lại quá khứ, trao cho nhau những kỷ vật đầy xúc động của những người đã mất như cuốn Nhật ký của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Nhật ký của liệt sĩ Vũ Đình Toàn, những bức thư được viết chưa kịp gửi trong thời khắc cuối cùng cuộc đời của Trung sĩ Steve Flaherty. Cựu binh Mỹ Homer ở bang Virginia, người đã bắn chết một chiến sĩ mà người ta gọi là Cộng sản, cũng đã tìm đến một làng quê hẻo lánh ở Thái Bình sau gần 40 năm chiến tranh kết thúc, để trao lại chiếc ba lô cho vợ người lính bên kia chiến tuyến và cầu xin sự tha thứ sau bao nhiêu năm đằng đẵng dằn vặt... Tôi tin rằng những lợi ích trước mắt và những lợi ích lâu dài sẽ tiếp tục đưa mối quan hệ hai nước tới một tương lai tốt đẹp hơn.


Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.