Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

ĐI Kansass đón Hoài Anh

Leave a Comment
Hoài Anh, chồng Thúy đi công tác một tháng ở Tô Châu Trung Quốc. Hôm qua Hoài Anh từ sân bay Thượng hải bay về sân bay quốc tế Denver thuộc bang Colorado, nơi Vợ chồng Thúy đang sống và làm việc. Hôm nay về đến Colorado, Hoài Anh lấy vé máy bay, bay ngay sang bang Missouri đoàn tụ với gia đình. Hoài Anh đã học xong chương trình tiến sĩ chuyên ngành điện tử tự động nhưng chưa hoàn thành thí nghiệm đo nồng độ ôxy và cacbonic trong máu bằng thiết bị máy sử dụng ánh sáng, nên chưa được bảo vệ luận án. Trong thời gian chờ đợi hoàn chỉnh thí nghiệm, Hoài Anh xin vào làm ở phòng kĩ thuật của một công ty máy tính ở Longmont. Mức lương khởi điểm ban đầu công ty trả cho Hoài Anh là 5000 đôla, chưa kể thưởng và các khoản trợ cấp khác.
Năm trước Thúy có nói với tôi, nếu Hoài Anh không xin được việc thì cả nhà sẽ trở về Việt Nam, nhờ hai bên bố mẹ xin cho một công việc gì đó để làm. Công việc học hành tiếp sẽ tính sau. Tôi đã nhờ PGS tiến sĩ Nguyễn Duy Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ Thực phẩm Đại học Bách khoa Hà nội, hiện là thủ trưởng trực tiếp của tôi xin cho Hoài Anh về làm giảng viên tại Đại học Bách khoa. Tôi cũng xin được cho Thúy về làm giảng viên Trường Đại học Sư Pham Hà Nội. Mức lương khởi điểm của cả hai đứa chỉ có hơn hai triệu đồng một tháng. Tôi chưa nói với chúng, vì mức lương đó chỉ đủ xăng xe, gửi ô tô và ăn sáng. Thế còn tiền nuôi con ăn học, tiền sinh hoạt hàng ngày sẽ xoay sở ra sao.
Đã đành người ta sống được thì mình cũng sẽ sống được. Nhưng chúng đã ở bên Mỹ một thời gian khá dài, chưa bao giờ phải lo cơm áo gạo tiền. Về nước chắc chúng sẽ rất chật vật. Vả lại, Thúy cũng còn hai năm nữa mới hoàn thành chương trình học tiến sĩ của mình. Cho nên tôi vẫn còn do dự chưa biết khuyên các con thế nào. May quá, Hoài Anh được một người thầy giới thiệu cho vào làm việc tại bang Colorado. Công ti máy tính lại hứa bảo trợ cho việc tiếp tục nghiên cứu của Hoài Anh. Thế nhưng Thúy thì phải bỏ công việc trợ giảng, bỏ dở chương trình nghiên cứu sinh ở trường đại học để theo chồng tới nơi làm việc mới. Và dĩ nhiên Thúy cũng mất luôn một khoản trợ cấp hàng tháng của trường gần hai ngàn đô. Tôi nghĩ sự lựa chọn của Thúy hoàn toàn đúng đắn theo lẽ tự nhiên. Người Việt Nam có câu nói “Thuyền theo lái, gái theo chồng” là vậy.
Giang và tôi sẽ cùng đi Kansass đón Hoài Anh. Quãng đường từ thành phố Columbia đi thành phố Kansass khoảng độ 200 km. Giang cho biết đi xe trên đường cao tốc mất khoảng hai giờ. Theo lịch trình, mười lăm giờ chuyến máy bay chở Hoài Anh hạ cánh. Nhưng mới tám giờ sáng Giang đã giục tôi chuẩn bị để ra xe. Tôi đoán Giang có kế hoạch gì đó nên mặc thêm áo, cầm máy ảnh, tạm biệt mọi người xuống bãi để xe.
Đến một trạm xăng, Giang dừng lại. Tôi và Giang xuống xe. Trạm xăng được xây rất lớn. Có năm đường một chiều cho các loại xe vào. Mỗi đường vào có ba máy bán xăng tự động. Không có một nhân viên bán xăng nào ở đó. Giang xuống xe, phải tự bỏ tiền mua xăng vào một chiếc máy, cầm vòi bơm, mở nắp xe, tự bơm xăng vào xe của mình.
Tôi bỗng nhớ tới chi tiết về Học thuyết năm cây xăng thế giới trong cuốn sách Chiếc xe lexus và cây oliu của nhà báo Mỹ nổi tiếng Thomas L. Friedman. Tác giả đã khái quát nền kinh tế thế giới ngày nay theo mô hình năm cây xăng. Cây xăng thứ nhất là cây xăng Nhật Bản. Tại cây xăng này, giá một gallon xăng là năm đô la. Ở đó có bốn người phục vụ bơm xăng, thay dầu, lau cửa kính, chào hỏi và tạm biệt chủ xe lúc đến lúc đi. Cây xăng thứ hai là cây xăng Mỹ. Tại cây xăng này giá một gallon xăng chỉ có một đô la. Ở đó không có lấy một người phục vụ. Người lái xe phải tự bơm xăng lấy và tự chăm sóc chiếc xe của mình. Cây xăng thứ ba là cây xăng Tây Âu. Tại cây xăng này giá một gallon xăng là năm đô la. Ở đó có một người phục vụ theo đúng nghĩa vụ và hợp đồng làm việc nhưng lại có một người bác và hai người anh trai thất nghiệp của người phục vụ được hưởng trợ cấp rất cao đang chơi bóng gần đấy. Cây xăng thứ tư là cây xăng của những nước đang phát triển. Tại cây xăng này giá một gallon xăng chỉ có ba nhăm cent (hơn một phần ba đô la) vì được chính phủ trợ giá. Ở đó có tới mười lăm người phục vụ và đều là người thân với nhau. Nhưng bình quân cứ sáu cây xăng mới có một cây xăng hoạt động. Cây xăng thứ năm là cây xăng của các nước xã hội chủ nghĩa. Tại cây xăng này giá một gallon xăng là năm mươi cent (nửa đô la) vì cũng được nhà nước trợ giá. Xong không có xăng để bán vì bốn nhân viên phục vụ đã mang xăng ra chợ đen bán với giá năm đô la một gallon.
Tác giả của cuốn sách nhận định, ở cái thế giới toàn cầu hóa, mọi người đều phải hướng tới cây xăng của Mỹ, nghĩa là phải hướng tới một nền kinh tế hiệu quả nhất. Nếu không phải là người Mỹ, người ta phải học cách tự đổ xăng, tự phục vụ cho chính bản thân mình. Đúng là ở trạm xăng này, tôi thấy Giang đã làm cái điều mà Friedman từng khuyên trong cuốn sách rất nổi tiếng của ông.
Giang đi với tốc độ tối thiểu trên đường cao tốc hai làn đường tới Kansass City để tôi có thể nhìn ngắm cảnh hai bên đường. Hệ thống đường cao tốc của liên bang, của bang đan xen chằng chịt với hệ thống đường đi các đô thị, các hạt. Nếu cứ nhìn hệ thống đường ngang dọc trên xe thì người ta không biết đường nào mà đi. Suốt quãng đường, tôi không thấy một phương tiện giao thông nào khác ngoài ô tô. Cũng không có lấy một bóng người đi bộ. Chỉ thấy những chiếc xe vun vút qua lại với tốc độ rất cao. Tôi băn khoăn, nhỡ đi nhầm đường biết ai mà hỏi. Chẳng lẽ Giang đi sớm là vì đề phòng lạc đường. Nhưng rồi tôi thở phào nhẹ nhõm. Thì ra trên mặt kính, trước tay lái của Giang có gắn thiết bị GPS hình chữ nhật, một chiều khoảng mười hai cm, một chiều khoảng mười tám cm. Màn hình của thiết bị hiện rõ con đường đang đi. Mũi tên trên màn hình cũng chỉ hướng đi, đi thẳng hay rẽ phải, rẽ trái cứ theo hướng chiều mũi tên mà đi. Thỉnh thoảng, một giọng nữ phát thanh viên lại vang lên, chỉ dẫn hướng đi một cách ngắn gọn khi có một con đường nào đó nhập vào hoặc tách ra khỏi đường cao tốc.
Cũng giống như trên đường từ St. Louis đến Columbia, hai bên đường từ Columbia tới Kansass chỉ thấy những cánh rừng rậm, rừng thưa trập trùng đặc trưng của vùng Trung Mỹ xen lẫn những trang trại rộng mênh mông trồng cỏ, trồng ngô, nuôi bò và những khu đất trải dài tít tắp mới được cày của những hộ nông dân nào đó. Ngắm nhìn những trang trại hai bên đường, tôi nhận thấy trang trại của em trai tôi thật nhỏ bé. Cũng gọi là trang trại, một trang trại 5 ha lớn nhất nhì trong vùng, tôi ngỡ tưởng là lớn lắm rồi. Vậy mà so với một trang trại ở đây thì chỉ là cái đuôi của một con voi. Cả bang Missouri có 108.000 trang trại, bình quân mỗi trang trại trong bang là 109 ha. Thế nhưng so với nhiều bang khác của Mỹ, Missouri vẫn bị coi là bang mà các hộ nông dân sở hữu những trang trại quá nhỏ.
Theo tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp Mỹ, Trang trại nhỏ là trang trại có diện tích cho sản xuất nhỏ, qui mô sản xuất nhỏ, doanh thu nhỏ và thu nhập nhỏ. Nó khác với trang trại làm ăn không có hiệu quả. Nếu một trang trại có doanh thu một năm 100.000 đô la thì được coi là một trang trại nhỏ. Và nếu một trang trại chỉ bán được 50.000 đô la giá trị sản phẩm một năm thì gọi là trang trại phi thương mại. Theo tiêu chí đó thì 80% nông dân ở Missouri là những nông dân sở hữu những trang trại nhỏ.
Tổ chức khuyến nông bang Missouri cùng các nhà khoa học, các trường đại học nông nghiệp đã đặt vấn đề cứ cho là bình quân tổng doanh thu 100.000 ngàn đô la một trang trại, thì liệu nó có đủ cung cấp cho một gia đình nông dân đủ sống ở mức khá giả sau khi đã trừ đi các chi phí đầu vào, khấu hao, thuế? Vì vậy người ta đặt vấn đề các hộ gia đình phải áp dụng và sử dụng công nghệ sinh học, phải tổ chức quản lí sinh hoạt gia đình, quản lí sản xuất, sử dụng lao động, tối đa hóa sức lao động trong gia đình là những điều hết sức quan trọng để tạo ra giá trị lợi nhuận từ tổng doanh thu. Việc tạo ra giá trị lợi nhuận là 50% hay 60% hoặc 70% của 100.000 đô la là tùy thuộc vào các gia đình nông dân sở hữu trang trại quyết định.
Cơ quan khuyến nông, các trường đại học nông nghiệp, các trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học của bang Missouri hàng năm đưa ra hơn 200 dự án nghiên cứu khoa học về cây trồng và hàng ngàn dự án chăn nuôi cùng với khoảng 25.000 địa điểm thực nghiệm để thu hút sinh viên, nông dân có cơ hội tham gia, lựa chọn phát triển nghề nghiệp. Những phát minh về công nghệ, những thành tựu khoa học mới nhất về cây, con và về phòng chống sâu bệnh trong nông nghiệp đều được kí hợp đồng chuyển giao cho các trang trại thực hiện. Với một cách làm như vậy các trang trại nhỏ vẫn có thể tạo ra một giá trị lớn. Phương châm của những nhà quản lí nông nghiệp, của công tác khuyến nông là: Trang trại thành công là trang trại của gia đình. Các thành viên của gia đình không tách rời trang trại. Phải xem trang trại như là một phần quan trọng của cuộc sống, một nguồn sống hay cuộc sống chính là bản thân trang trại. Để có được thành công cho trang trại, vấn đề không phải là trang trại to hay nhỏ, không phải là việc họ sản xuất trên một diện tích nào, bao nhiêu cây, bao nhiêu con. Vấn đề nằm ở chỗ, hộ gia đình phải sử dụng tất cả nguồn lực của gia đình và của xã hội trong điều kiện kinh tế tri thức, mà cụ thể là công nghệ quản lí và công nghệ sinh học ở trang trại.
Đến gần cây cầu bắc qua sông Missouri, Giang cho xe đi chậm lại, rẽ vào con đường dẫn tới một trang trại. Trên vòm cánh cổng trang trí hình bán nguyệt của trang trại có dòng chữ: Chào đón bạn đến Trang trại Đào (Peach Tree Farm). Giang cho xe đi thẳng vào. Đón chúng tôi là chủ trang trại, một nông dân cao lớn, da trắng, tóc vàng, trạc khoảng năm mươi tuổi. Chúng tôi xuống xe, tự giới thiệu, ngỏ ý muốn ông cho đi thăm trang trại và xin lỗi vì không báo trước.
Ông cười rất tươi và nói ông rất hân hạnh được đón chúng tôi đến trang trại. Ông dẫn chúng tôi đi thăm trang trại trên chính chiếc xe của Giang. Nếu là khách theo lệ thường, thường vào ngày nghỉ cuối tuần thì vợ hay con trai, con gái hoặc người làm công của ông sẽ dẫn đi trên xe ngựa để giới thiệu. Nhưng vì chúng tôi đến ngày thường, không có nhiều thời gian, lại đến bất ngờ nên ông ngồi luôn trong xe, vừa chỉ dẫn đường đi vừa giới thiệu về gia đình và về trang trại của mình. Ông có một con trai, một con gái đang theo học ở Khoa Sinh Trường Đại học Columbia. Vợ ông thì đang theo học một chương trình ở một trung tâm nghiên cứu nông nghiệp thuộc Trường Đại học Missouri. Hôm nay họ đều phải đến trường.
Đến khu vực trồng đào, chúng tôi dừng xe đi bộ. Là một trang trại, nhưng tôi có cảm giác như mình đang đi trong một khu rừng. Nhiều loại cây cối, hoa cỏ, hồ ao, chim chóc, muông thú đan xen lẫn nhau. Nhưng bao trùm lên tất cả là màu xanh, màu xanh mơn mởn của lá đào, màu xanh non tơ của đào quả, màu xanh bạt ngàn của cả cánh rừng đào. Cái màu xanh mênh mông cộng thêm cái âm thanh xao động của sự sống như đang trỗi dậy, như bật lên từ lòng đất phì nhiêu bên bờ sông Missouri.
Đến Trang trại đào và chứng kiến bao trang trại trên đường đi tôi mới phần nào mường tượng ra hình ảnh nền nông nghiệp Mỹ, một nền công nghiệp nông nghiệp theo xu hướng công nghệ sinh học, dựa trên kinh tế trang trại sản xuất hàng hóa. Tôi bắt đầu vỡ lẽ ra tại sao tổng sản phẩm nông nghiệp của Mỹ lại chiếm đến một nửa tổng sản phẩm nông nghiệp của cả thế giới cộng lại.
Trang trại đào rộng trên 500 ha, chủ yếu là trồng đào. Ông chủ trang trại cho chúng tôi biết, ông trồng mười lăm giống đào khác nhau bao gồm 110.000 cây. Thời điểm này, cây đào bắt đầu nuôi quả. Tháng sáu, tháng bảy, và tháng tám các khu vực đào luân phiên chín ngọt. Ông phải thuê đến dăm chục người làm để thu hoạch, bảo quản, vận chuyển, đóng gói.  Ngoài đào, ông còn trồng một số loại cây ăn quả khác cũng như một số loại rau, củ. Ông còn có một đàn bò, một đàn dê và một số loại gà vịt. Ông nói với chúng tôi chăn nuôi chỉ để làm phong phú thêm trải nghiệm cho khách du lịch đến từ thành phố.
Khách từ thành phố, đặc biệt là trẻ em rất thích ngắm nhìn và trực tiếp chăm sóc gia súc, gia cầm nên ông mới đưa loại hình chăn nuôi vào trang trại để thu hút thêm khách. Ông cho chúng tôi biết, khu vực này có nhiều trang trại: Trang trại cam, trang trại táo, trang trại chăn nuôi bò thịt bò sữa, nhưng phần nhiều là trang trại đậu nành, ngô. Theo đúng nghĩa, trang trại của ông là trang trại đào, chuyên canh đào. Ông nói với chúng tôi, vợ chồng ông đến với đào là cả một câu chuyện rất dài. Lần sau nếu chúng tôi đến thăm, ông hứa sẽ kể mọi người cùng nghe. Là trang trại đào nhưng đồng thời trang trại của ông cũng là nơi nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần cho các gia đình, các nhóm bạn bè hay sinh viên, học sinh thành phố đến thăm thú, tìm hiểu thực tế. Khách có thể nghỉ tại ngôi nhà ba tầng của gia đình ông hay ở một nhà nghỉ hai tầng nằm cạnh đấy. Hoặc nếu thích, khách có thể chọn những ngôi nhà nhỏ một tầng, dành riêng cho gia đình ở quanh một hồ lớn nằm cuối trang trại. Theo thông lệ, cứ một người lưu trú trong ngày sẽ phải trả năm đô la, qua đêm mười đô la. Ăn uống thì tùy theo thực đơn của khách, có thể từ vài đô la cho đến mười đô la. Trang trại đào đúng là một nơi tuyệt vời, thích hợp cho cả người có tuổi và cho cả thanh thiếu niên sau một tuần làm việc đến nghỉ ngơi thư giãn.
Trên con đường trở ra đường cao tốc, tôi bắt gặp mấy chiếc xe ngựa chở người như kiểu xe thời trung cổ đi ngược lại. Phía trước, người đàn ông ngồi điều khiển, phụ nữ và trẻ em đứng ngồi ở phía sau. Dường như mỗi xe là một gia đình. Đàn ông ai nấy đều vận áo sẫm tối, để râu, đội mũ màu nâu giống như mũ phớt. Đàn bà thì đều mặc váy màu sẫm, dài đến mắt cá chân giống như áo váy của các bà sơ, trên đầu có phủ một tấm vải trắng hay một kiểu mũ bằng vải trắng gì đó. Trẻ em đứa nào cũng đồng loạt mặc áo trắng, đội một kiểu mũ nan trắng. Có điều gì đó thật kì lạ. Đoán được suy nghĩ của tôi, Giang cười và nói:
-      Ba quên rồi à. Con nhớ nhà con có lần đã kể cho ba nghe về chuyến đi thăm khu định cư của người Amish, một tộc người thủ cựu, chối bỏ cuộc sống văn minh hiện đại.
-      Có phải cái tộc người không dùng điện, không sử dụng  tivi, máy tính, tủ lạnh và bất cứ thiết bị máy nổ nào trong cuộc sống của mình?
-      Đúng thế ba ạ.
-      Ba nghe Vân kể là tất cả các gia đình đều dùng đèn dầu vào buổi tối. Họ xúc tuyết vào nhà kho để giữ tươi thực phẩm thay cho tủ lạnh.
-      Dạ, đúng thế ba ạ. Ở đây thiếu gì máy cày máy kéo, mà những thứ đó rẻ như bèo ấy. Ba vừa thấy đấy, một trang trại đào thôi mà có tới mươi mười lăm ô tô, máy cày máy kéo các loại. Rồi cả một xưởng chế biến bảo quản với đủ các thiết bị máy móc. Nhưng người Amish ở đây vẫn dùng ngựa cày đất để canh tác, gieo trồng các loại cây lương thực… Trang trại của người Mỹ, kể cả người Mỹ bản địa hàng trăm, hàng ngàn ha, nhưng trang trại của người A mish đa phần chỉ trên dưới chục ha thôi.
-      Vài ba ha mà sản xuất theo lối thủ công thì cũng đã đủ ốm rồi. Nhưng tại sao họ lại tự làm khổ mình như vậy?
-      Con có đọc một số tài liệu nghiên cứu qua mạng mấy tháng trước. Hiện nay có khoảng 200.000 người Amish sống ở Canada và Mỹ. Riêng ở bang Missouri có hơn 9.000 người sống rải rác ở 38 khu định cư. Tổ tiên của người Amish ở Đức và Thụy Sĩ. Họ đi theo một giáo phái Tin Lành bị kì thị, bị ngược đãi khắp châu Âu nên di cư sang Bắc Mỹ từ những năm 1720. Gần 300 năm đã trôi qua tộc người này vẫn sống theo lối sống của cha ông họ và tuân thủ theo giáo lí tôn giáo từ xa xưa. Họ không tiếp nhận bất cứ thành quả khoa học kĩ thuật nào từ bên ngoài. Họ vẫn mặc những bộ quần áo như tổ tiên họ mặc cách đây ba thế kỉ. Nếu ba vào nhà họ, thì thấy họ vẫn sử dụng những chiếc nồi gang cũ kĩ để đun nấu. Sinh hoạt, ăn mặc thì giản dị. Đi lại thì bằng đôi chân hoặc bằng ngựa. Từ người già đến trẻ em đều làm quần quật ngoài đồng. Tối về cả nhà quây quần dưới ánh đèn dầu. Ngay cả đến khí đốt họ cũng không dùng. Tối đến làng xóm tối om. Tuy nhiên, họ không bao giờ phàn nàn về cuộc sống của họ. Họ cũng không bao giờ phàn nàn về những người xung quanh. Vì thế, những ngôi làng của họ trở thành tâm điểm du lịch. Mọi người đến chiêm ngưỡng cuộc sống của họ. Có người không thể tưởng tượng sống được một cuộc sống như họ, coi họ như những người không thể hội nhập được vào xã hội văn minh, coi họ như những động vật trong vườn thú. Mặc dầu vậy, họ cũng không hề có phản ứng hay giận dữ gì.
-      Đúng là một dân tộc bảo thủ nhưng đầy bản sắc riêng.
-      Nếu ba hỏi họ, tại sao họ vẫn cứ sống một cuộc sống không thay đổi như vậy, thì họ sẽ trả lời là “Nếu bạn biết những gì tôi biết thì bạn cũng muốn trở thành người Amish”. Người Amish rất mộ đạo. Trước bữa ăn họ đều hát thánh ca. Họ quan niệm rằng khi chết chắc chắn họ được lên thiên đường bởi vì họ sống tốt ở thế gian này và tuân theo đúng lời dạy của chúa. Không ai bị ép buộc phải sống trong cộng đồng, gia nhập cộng đồng hay ở lại cộng đồng cho tới khi qua đời. Họ không cho con em học ở trường công, chỉ học ở trường tư do cộng đồng lập ra. Phần lớn trẻ em học hết trung học cơ sở rồi thôi học để về làm đồng giúp gia đình. Đến tuổi trưởng thành, 17 tuổi các em có quyền ra sống ngoài xã hội hai năm trước khi quyết định ở lại hay ra đi khỏi cộng đồng. Mặc dù được lựa chọn, nhưng số người rời bỏ cộng đồng rất ít. Người ta tính đến trên 99% sau khi đã hết thời gian ở bên ngoài, người Amish đều quay lại với cuộc sống biệt lập của cộng đồng. Với họ, gia đình và cộng đồng là tất cả. Họ sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, làm thủ công. Họ thường chỉ kết hôn với người Amish, không li dị, không tránh thai. Đàn ông là chủ gia đình, lo chuyện đồng áng. Đàn bà lo chuyện nhà cửa, nấu nướng giặt giũ. Tất cả đều chung lo cho cái gia đình của mình. Ngoài ra, họ còn có một cộng đồng lớn người Amish xung quanh. Họ thường làm việc chung với nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Cuộc sống của họ không vụ lợi, không bon chen, không thù hận.Theo họ, đó là cuộc sống mà chúa muốn họ sống. Họ không tham gia đảng phái chính trị, không đi bầu cử, không đi lính, không nhận tiền trợ cấp, lương hưu hay bảo hiểm của chính phủ và họ cũng không giao dịch ngân hàng, không đi bệnh viện, không đi xe ô tô, xe lửa hay máy bay. Tóm lại là họ không tham gia vào xã hội Mỹ, không thuộc về xã hội Mỹ.
-       Và chính quyền bang, chính quyền liên bang cũng để họ mặc sống theo lối sống của họ.
-      Đúng như vậy, một đất nước tự do mà. Bây giờ con mới hiểu tại sao người Pháp lại tặng người Mỹ bức tượng Nữ thần tự do. Và thực sự tượng nữ thần đã trở thành một biểu tượng cho tính cách của người Mỹ.
-      Cuối tuần này, nếu không mắc gì con mời ba và anh chị Hoài Anh đến một làng Amish cách khu kí túc xá khoảng một giờ đi xe.
Chúng tôi loanh quanh ở trang trại đào mất gần tiếng đồng hồ. Thời gian thăm Thành phố Kanssas City chỉ còn khoảng hai tiếng nên ra tới đường cao tốc, Giang cho xe đi với tốc độ nhanh hơn. Trong năm thành phố lớn của bang Missouri, Kanssas City là thành phố lớn nhất và cũng là một trong 40 thành phố đẹp nhất của Mỹ. Diện tích thành phố theo qui hoạch là 826 km2. Dân số thành phố năm 2013 ước chừng 468. 000 người. Quản lí thành phố có một hội đồng thành phố 12 thành viên, mỗi thành viên được bầu đại diện cho một quận theo nhiệm kì 4 năm. Người đứng đầu thành phố là thị trưởng được người dân bầu trực tiếp. Kanssas City là thành phố sầm uất và đông đúc, bởi nếu tính cả khu vực đại đô thị Kanssas rộng lớn, thì dân số lên tới hai triệu người. Thành phố tập trung khá nhiều trường đại học và cao đẳng: Đại học Missouri – Kansas, Đại học Rockhurst, Viện Nghệ thuật Kansas City, Đại học Kansas City, Đại học Avila, Đại học Baker, Đại học Devry, Đại học Grantham, Cao đẳng cộng đồng Metropolitan, Cao đẳng William Jewell.
Kanssas chính thức thành lập năm 1838 tại khu vực hợp lưu của hai con sông Missouri và Kanssas. Nhưng phải đến năm 1850 nơi đây mới phát triển thành một thị trấn bao gồm 2500 người, một điểm quan trọng của người Mỹ trong công cuộc mở rộng lãnh thổ về phía tây. Đến đầu thế kỉ XX, trong khoảng ba thập kỉ đầu, thành phố có bước phát triển nhanh chóng về qui mô cũng như về dân số. Nhiều tòa nhà và công trình nổi tiếng đã được xây dựng trong thời gian này, trong đó có Tòa Thị chính, Khu Trung tâm Thương mại thành phố, Đài Tưởng niệm Tự do, Bảo tàng Nghệ thuật, các Country Club Plaza, Thính phòng thành phố, Sân Vận động Arrouhead và một số tòa nhà chọc trời. Cho đến những năm 1940 thành phố gần như định hình gần giống như ngày nay.
Nằm ở miền Trung Tây Hoa Kì, gần trung tâm địa lí của đất nước, Kanssas City nối liền với nhiều trung tâm kinh tế, dân số và địa kí của hơn 40 bang lân cận. Nơi đây, bốn mùa rõ rệt, có khí hậu tương đối ôn hòa, đất đai phì nhiêu, sông núi hữu tình. Quả thật thiên nhiên đã tạo cho Kanssas một cảnh quan đẹp đẽ, độc đáo và thơ mộng. Tôi có cảm nhận Kassas City là thành phố tự nhiên, thành phố của sông hồ. Thành phố có hai con sông lớn chảy qua, có 40 hồ nước các loại. Có hồ rộng mênh mông nhìn hút tầm mắt, chỉ nhìn thấy một vệt xa mờ bên kia bờ. Có hồ uốn lượn quanh co chạy dài ôm lấy những con phố, những sườn đồi, những cánh rừng. Có hồ tròn chặn như một tấm gương mờ ảo soi bóng những tòa nhà cao tầng ven bờ…
Có 47 công viên trong thành phố, mà hầu hết những công viên này đều được tạo ra trên cơ sở của những cánh rừng xưa còn lại. Công viên Swope rộng 1.805 mẫu Anh, là một trong những công viên thành phố lớn nhất quốc gia, gấp hai lần công viên trung tâm thành phố New York. Nó là một khu rừng tự nhiên, một vườn thú tự nhiên, một trung tâm cứu hộ động vật hoang dã. Hay công viên Hodge rộng 1.029 mẫu Anh nằm ở ngoại ô thành phố cũng được nhiều người biết đến. Nếu người ta muốn giải trí thư giãn trong rừng, rừng trong thành phố với tất cả đặc trưng của hệ động thực vật của một khu rừng miền Trung Mỹ, thì cứ đến việc đến đó.
Điểm nổi bật của Kanssas là hệ thống đường giao thông vừa hiện đại vừa mang dáng dấp cổ kính, một hệ thống đường đại lộ san sát đẹp như tranh vẽ bởi cây cối thảo mộc, hoa cỏ hai bên đường. Và ẩn sâu bên trong mới là những ngôi biệt thự cao thấp, hài hòa. Thành phố này có nhiều đại lộ hơn bất cứ thành phố nào trên thế giới ngoại trừ Thủ đô Pari hoa lệ của nước Pháp. Càng đi vào trung tâm thành phố tôi càng bị cuốn hút bởi những căn nhà cũ, mới xinh xắn, bởi hệ thống các quán ăn, quán ba, nhà hàng thịt nướng nổi tiếng các loại, cửa hàng tạp hóa, các Country Club Plaza (nơi tổ chức các sự kiện văn hóa thường nhật), các nhà hát…
Đặc biệt là những đài phun nước các kiểu. Có loại đài phun nước hình tròn, hình elip, có loại hình vuông, hình chữ nhật. có loại to, loại vừa, loại nhỏ. Theo tôi, đó chính là biểu tượng văn hóa của thành phố. Đến ngã ba, ngã tư nào người ta cũng bắt gặp một đài phun nước. Có hai trăm đài phun nước các loại khác nhau trong thành phố. Nếu tính số lượng đài phun nước đa dạng và phong phú, thành phố chỉ đứng sau Roma thơ mộng của nước Ý. Nhưng nếu tính những đài phun nước lớn nhất thế giới thì Kanssas không nhường cho bất cứ một thành phố nào. Đó là những đài phun nước đường kính rộng đến vài chục chục mét cho đến vài mét. Có những dòng nước lớn phun thẳng lên trời từ toàn bộ mặt đài; có những dòng nước phun thẳng lên trời từ tam cấp đài trung tâm; có những dòng nước phun thẳng lên trời từ miệng những con vật bên cạnh những con ngựa như đang bay lên không trung; có những dòng nước nhỏ phun thấp hơn từ nền đá cầm thạch bao quanh đài phun nước; có những dòng nước ứ ra từ miệng những con cá như những chiếc bong bóng khổng lồ; có những đài phun nước như một dài phun nước nghệ thuật, lúc tạo ra hình thác đổ, lúc tạo ra những đường cong nghiêng, lúc tạo ra những li nước trào, lúc tạo ra một khoảng núi sương mù… tất cả tạo nên những cơn mưa nhân tạo bất tận trong một thành phố chan hòa ánh nắng của miền Trung Mỹ. Những đài phun nước của thành phố không chỉ tạo ấn tượng độc đáo mà nó còn gợi cho tôi nét riêng biệt rất đặc trưng về một thành phố thiên nhiên, thành phố sông hồ.
Hai tiếng đi ô tô ngắm thành phố chẳng khác gì cưỡi ngựa xem hoa, nhưng nó vẫn để lại trong lòng tôi một ấn tượng không phai mờ về thành phố xinh đẹp này. Tôi cứ lấy làm tiếc, giá mình giục Giang đi từ sáng sớm thì sẽ có thời gian ở lại thành phố được lâu hơn. Nhưng rồi tôi lại tự nhủ với mình, được ngắm nhìn thành phố một cách tổng thể như vậy, thôi thế cũng tàm tạm đủ, vì tôi chắc mình còn nhiều dịp quay trở lại đây thăm một vài điểm nổi tiếng nữa. Vả lại mục đích của chuyến đi là ra sân bay quốc tế Kanssas để đón Hoài Anh, chứ đâu phải đi tham quan thành phố.
Sân bay quốc tế Kanssas nằm trên địa phận quận Plate, phía tây bắc thành phố. Sân bay này là sân bay lớn thứ năm của Mỹ. Sân bay có 49 điểm bay thẳng đến sân bay quốc tế và sân bay nội địa trong ngoài nước. Năm 2013 nó đón gần 11 triệu lượt khách đi đến. Sân bay phục vụ cho khách đi đến thành phố và cả vùng đô thị Kanssas. Đôi khi nó còn phục vụ cả hành khách những thành phố nhỏ trong bang, chẳng hạn như thành phố Columbia. Nói như vậy không có nghĩa là thành phố Columbia không có sân bay riêng. Sân bay Columbia là sân bay nội địa, nằm phía đông nam thành phố. Sân bay này do hai hãng hàng không nội địa đảm nhiệm công việc chuyên chở. Lượng hành khách nhỏ. Năm 2013 mới có gần 40.000 hành khách nên giá vé đi đến sân bay khá đắt. Vì vậy sinh viên quốc tế ở Columbia thường đi thẳng từ sân bay quốc tế St. Louis hoặc Kanssas về thành phố bằng xe ô tô mà không bay thẳng hoặc chuyển tiếp về sân bay riêng của thành phố.
Xe chúng tôi chờ ở bãi đỗ khoảng dăm phút thì Hoài Anh gọi điện báo đã xuống máy bay và đang chờ ở cổng A.
-      Con căn giờ thật chính xác, tôi nói với Giang.
-      Không phải con căn giờ chính xác được mà this flight is on time (chuyến bay đúng giờ).
Xe dừng lại trước cổng A. Tôi mở cửa xe bước xuống. Chỉ một lát sau, trong đám đông hành khách, tôi thấy Hoài Anh đang kéo vali ra khỏi cổng.
-      Chào ba. Ba khỏe không?
-      Ba vẫn ổn. Con thế nào?
-      Con thấy bình thường.
Đi liên tục mấy chục ngàn km mà trông Hoài Anh không có vẻ gì là mệt mỏi. Chỉ gầy đi một chút so với lúc chưa đi làm. Cái vẻ thư sinh hiền hậu ngày trước nay được thay bằng nét rắn rỏi đầy tự tin. Chúng tôi lên xe trò chuyện, một mạch hai tiếng về đến Columbia.


Read More

Đi dạo phố sớm và vào bệnh xá

Leave a Comment
 Sáng nhìn đồng hồ mới 6 giờ. Nhìn qua của sổ, bên ngoài gió mạnh khiến cây cối, cành lá đều uốn ngả theo một chiều. Tôi mặc thêm áo len và áo khoác để đi bộ ra khu phố trung tâm. Mở cửa bên ngoài khu căn hộ tôi mới biết trời lạnh hơn tôi tưởng. Gió ập vào mặt sắc như kim châm. Có lẽ nhiệt độ ngoài trời chỉ khoảng 8 độ c. Biết là lạnh nhưng tôi vẫn đi vì quay lại nhà thì cũng chỉ bật ti vi hoặc nằm chờ các con, các cháu dậy. Thời gian đó thật chẳng lãng phí sao. Mong muốn được mục sở thị cái mảnh đất này đã thôi thúc tôi quyết đi, gạt bỏ cái ham muốn nằm trong phòng điều hòa ấm áp để co mình trong cái thế giới riêng mặc cho con tạo xoay vần.
 Khác với mấy buổi sáng hôm trước, sáng nay im bặt tiếng chim. Cái âm thanh hối hả, rộn rã như reo vui chào đón một ngày mới bỗng nhường cho cái âm thanh hun hút gợi cảm giác lạnh lẽo, đơn chiếc, cơ hàn. Phố xá dưới ánh đèn sáng trắng mờ sương chìm trong trong tĩnh lặng, không một bóng người. Những ngôi nhà, văn phòng, cửa hàng, cửa hiệu ở trung tâm vẫn im lìm trong giấc ngủ. Ở đây mọi người đều dậy muộn. 7 giờ mà thành phố vẫn vắng teo. Thỉnh thoảng mới có một chiếc ô tô chạy vụt qua đường. Tôi thì cứ 5 giờ đã dậy, không thể nào ngủ tiếp được nên gần một tuần kể từ khi đến thành phố Columbia, sáng nào tôi cũng dành một vài tiếng đi bộ, đi hết phố này đến phố khác nhưng tôi vẫn thấy mới lạ. Không phố nào giống phố nào. Không nhà nào giống như nhà nào. Cả đến quần áo con người và phong cách sống, không ai bắt chước ai. Chỉ có hệ thống đường nhựa to nhỏ, ngang dọc là giống nhau, giống nhau đến mức không nhìn biển đề tên phố, tên đường và không nhìn bản đồ thì không biết đâu mà đi.
 Đi ra khỏi trung tâm thành phố, tôi đến khu ở của người da mầu, chủ yếu là người da đen. Đất ở hẹp hơn, khoảng hai ba trăm mét vuông một nhà. Nhà ở cũng hẹp hơn, cũ hơn, phần lớn hai tầng và một tầng. Hàng rào,vườn hoa và những chậu hoa trước cửa nhà ít được chăm chút, đầu tư nên kém lộng lẫy kiêu sa như trong các khu phố sầm uất của tầng lớp giàu có và tầng lớp trung lưu. Tuy nhiên nhà nào cũng có một vài chiếc xe ô tô con để trong khuôn viên. Xung quanh nhà, nhà nào cũng có khoảng trống trồng cây, trồng hoa, trồng cỏ.
 8 giờ 30 tôi về đến nhà. Thúy đang trong bếp chuẩn bị ăn sáng cho cả nhà. Vợ chồng Giang, Vân vừa dậy, bế Bảo ra phòng khách. Hôm nay là ngày cháu đi đến bệnh xá kiểm tra sức khỏe. Đây là lần kiểm tra thứ 2 từ hôm cháu sinh (mới được 7 ngày). Vân đặt Bảo vào trong chiếc nôi lót chăn ấm. Cháu bé tí tẹo, quấn trong chiếc khăn tắm, nằm lọt thỏm trong nôi. Bố, mẹ, ông xúm lại kê đệm bên trái bên phải, trên đầu dưới chân để lát nữa đi xe cháu khỏi lắc. Cháu sinh ra nơi đất khách quê người nhưng được các bác sĩ, y tá chăm sóc rất đầy đủ, tận tình. Ngoài bố mẹ, ông bà, các bác, cháu còn được bạn bè nơi xa xôi của bố mẹ cháu bao bọc trong tình yêu thương trìu mến. Cháu sinh ra vào mùa xuân, mùa xuân đầu tiên của một con người trong cuộc đời, mùa xuân đầu tiên của bố mẹ cháu, của mọi người trong gia đình. Ngày tháng năm sinh cháu theo dịch số của người phương Đông khá đẹp. Hy vọng ánh nắng ấm áp, hương hoa ngào ngạt, sức sống đang bừng lên của mùa xuân đất trời tại đây sẽ nâng bước cuộc đời cháu, khi cháu bước ra khỏi chiếc nôi đối mặt với thế giới đầy bất trắc này.
 Giang ra xe trước nổ máy để bật điều hòa sưởi nóng không khí trong xe. Tôi trùm khăn tắm lên chiếc nôi và xách nôi ra sau. Tôi cảm thấy thương thương Bảo vì mới có 7 ngày đã phải đi lại đến hai lần. Tôi hỏi Giang:
       -       Bắt buộc phải đưa cháu đi à?
       -       Mình phải tuân theo qui định chứ ba.
 Giang đưa cho tôi một quyển sổ, giống như một quyển y bạ. Trên y bạ có ghi mã số, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, tình trạng thể chất, sức khỏe, cân nặng, chiều cao của Bảo. Ngày khám thứ nhất sau 3 ngày. Ngày khám thứ hai sau 3 ngày. Ngày khám thứ 3 sau một tuần. Ngày khám thứ tư sau một tháng. Rồi tiếp theo là những ngày khám kết hợp tiêm chủng… Một lịch trình được số hóa ngay từ khi cháu lọt lòng. Bố mẹ cháu cứ theo đó mà thực hiện. Tôi trả lại quyển y bạ cho Giang và hỏi tiếp:
       -       Thế chẳng may trái gió trở trời, cháu ấm đầu thì làm thế nào?
       -       Cháu có bác sĩ trực tiếp theo dõi riêng do chúng con chọn. Khi cần thì gọi điện hỏi, kể cả nửa đêm        gà gáy. Bác sĩ có thể nghe bố hay mẹ mô tả bằng lời, có thể kiểm tra trực tuyến qua iphone, ipad,            máy tính cá nhân để ra quyết định chỉ dẫn. Trường hợp cần thì mới phải đi viện.
       -       Đúng là một xã hội hậu công nghiệp. Ba nghe chị Thúy nói về việc khám định kì của bà bầu ở bệnh           viện, rồi việc hàng tháng nhân viên cứu trợ xã hội(Social worker) đến tận nhà hướng dẫn chế độ ăn         uống từ tháng thứ nhất đến tháng thứ chín và những tháng sau khi sinh đến việc kê khai, kiểm tra xem       xét tiền lương, cấp phát thực phẩm cho mẹ, cho con hàng tháng nếu thuộc diện thu nhập thấp. Một         gia đình ba người mà thu nhập chỉ có 2900 đô la một tháng là thuộc diện thu nhập thấp ở bang                 Kansas.
       -       Bang này cũng thế ba ạ
       -       Ba thấy điều đặc biệt là hàng tháng theo lịch người ta đến tư vấn, kiểm tra sức khỏe và kiểm tra sự         nhận thức của đứa trẻ cho tới khi đứa trẻ đến tuổi đi học thì thôi. Thành thử những nhân viên cứu trợ       này lại trở thành những người thân, những người bạn của gia đình. Nhớ lại khi mẹ con sang với chị           Thúy trong những ngày sinh bé Lâm ở bệnh viện, mẹ con một phòng, anh Hoài Anh một phòng, chị         Thúy một phòng đặc biệt dành cho thai sản. Bé chưa ra đời bệnh viện đã hỏi ý kiến bố mẹ về việc có       lưu giữ thai nhau như một cách giữ tế bào gốc không. Với những tiến bộ của khoa học hiện nay, từ         tế bào gốc, người ta có khả năng phát triển thành những loại tế bào khác để sau này từ tế bào gốc           của bé có thể nhân bản thành các bộ phận bên trong cơ thể cháu nếu cần. Qua sky máy tính cá nhân,       ba thấy trong các phòng bệnh viện tiện nghi sạch sẽ không khác khách sạn năm sao. Cứ nửa tiếng           đến một tiếng lại thấy bác sĩ, y tá đẩy bàn máy tính chuyên dụng cùng các dụng cụ y tế hiện đại đến          xem xét kiểm tra. Mới ngày thứ hai đã lấy mẫu máu của bé và kiểm tra thính lực. Đến ngày thứ ba          kiểm tra thị lực để hoàn chỉnh hồ sơ chăm sóc ban đầu. Giường nằm là giường nệm hơi tùy mình              điều chỉnh độ dốc, cao thấp.  Ăn uống thì theo thực đơn hộ lí mang đến tận phòng. Cả đến bàn ăn          cũng tự động điều chỉnh thích hợp cho thai sản ngay tại giường nằm. Khi ra viện, bệnh viện mời cả            gia đình dự tiệc chia tay chúc mừng. Điều kiện chăm sóc bà mẹ, trẻ em như thế này thì không biết           đến bao giờ Việt Nam mới phấn đấu theo kịp. Chẳng trách báo chí đưa tin phụ nữ giàu có Trung             Quốc tìm mọi cách nô nức đến Mỹ và các nước Bắc Âu để sinh đẻ.
        -       Không hẳn như vậy ba ạ. Không hẳn họ sang Mỹ vì nền y học tiên tiến. Theo luật Mỹ, đứa trẻ sinh          ở Mỹ sẽ mang quốc tịch Mỹ. Lí do họ sang đây còn vì muốn con họ có quốc tịch Mỹ. Kể cũng lạ,          người Trung Quốc có tiếng là hướng nội, có tinh thần dân tộc, không hiểu sao bây giờ người giàu lại        nô nức sang Mỹ mua nhà và sinh đẻ, rồi ùn ùn cho con sang Mỹ học, thậm chí sang học từ cấp tiểu          học. Con cái các quan chức to nhỏ thì đua nhau cho con vào đại học Mỹ. Trường đại học nào cũng       nhan nhản sinh viên Trung Quốc. Và đặc biệt con biết là đại đa số sinh viên Trung Quốc đều không         ưa gì chế độ và họ không có ý định trở về nước sau khi đã học xong. Chẳng lẽ đất nước có nền kinh       tế đang phát triển năng động và là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới có điều gì bất ổn? Chẳng lẽ xã       hội họ đang có vấn đề gì đó?
       -       Đất nước nào mà chẳng có vấn đề. Trung Quốc, Việt Nam và ngay cả Mỹ.
Mỹ là một quốc gia hậu công nghiệp, một quốc gia tiên tiến trong những nước phát triển. Nhưng những vấn đề xã hội, vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe có nhiều vấn đề phải giải quyết. Tuổi thọ trung bình của người Mỹ là 78 tuổi, thấp hơn tuổi thọ trung bình của người dân Tây Âu  một tuổi. Trong hơn hai mươi năm qua, tuổi thọ trung bình của quốc gia này liên tục sụt giảm thứ hạng. Đặc biệt tỉ lệ chết của trẻ sơ sinh là 6,3 trên một ngàn trẻ, xếp sau tất cả các nước Tây Âu. Khoảng một phần ba dân số béo phì, cộng với một phần ba có trọng lượng cân quá qui định, Mỹ đã trở thành quốc gia có tỉ lệ người béo phì và trọng lượng cân quá qui định cao nhất thế giới. Bệnh ung thư, tiểu đường, căn bệnh thế kỉ rất đáng quan ngại ở đất nước này. Ngoài ra tỉ lệ có thai ở vị thành niên, khoảng 80 trên 1000 phụ nữ, cũng là một vấn đề xã hội và là tỉ lệ cao nhất thế giới.
Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ vượt mức chi tiêu so sánh với bất cứ quốc gia nào nếu tính theo số chi tiêu cho mỗi đầu người và phần trăm GDP. Không như các nước Tây Âu, hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ không hoàn toàn được xã hội hóa, thay vào đó nó dựa vào sự tài trợ thêm của tư nhân. Bình quân những năm 2000, bảo hiểm tư nhân đã trả khoảng 36 % chi tiêu về sức khỏe cho cá nhân, người bệnh phải bỏ ra 15 %, chính quyền liên bang cùng với chính quyền bang và địa phương chi trả khoảng 44 %. Có thể nói viện phí là nỗi kinh hoàng với nhiều người Mỹ. Hóa đơn thanh toán viện phí với một số bệnh điều trị dài ngày thường là lí do khiến cá nhân khai báo phá sản. Năm 2013 khoảng 50 triệu người không có bảo hiểm y tế. Khoảng một phần ba số người không đóng bảo hiểm y tế sống trong các hộ gia đình chỉ có thu nhập 50.000 đô một năm và một nửa số hộ gia đình chỉ có thu nhập 75.000 đô một năm. Một phần ba số người khác có điều kiện, có tiêu chuẩn nhưng không muốn xin đăng kí bảo hiểm y tế công cộng.
Vấn đề bảo hiểm y tế là vấn đề gây tranh cãi căng thẳng ở Mỹ. Năm 2010 Tổng thống Obama đã ráo riết vận đông quốc hội Mỹ thông qua Luật Bảo hiểm Y tế bắt buộc. Đây là bộ luật cải tổ y tế quan trọng nhất kể từ thập niên 60 của thế kỉ XX. Luật qui định tất cả công dân Mỹ buộc phải có bảo hiểm sức khỏe trước năm 2014. Trước mắt, Luật cũng đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe tối thiểu cho tất cả mọi người, đặc biệt nó giúp người dân thu nhập thấp tránh khỏi cảnh bần cùng khi lâm bệnh. Nhưng luật này vấp phải sự phản đối quyết liệt từ phía Đảng Cộng hòa và những người giầu có, những người có tư tưởng tự do. Vì để đạt được mục tiêu giúp 50 triệu người được hưởng các dịch vụ y tế và để có kinh phí cung cấp bảo hiểm sức khỏe cho người dân, chính quyền Obama đề xuất tăng 5% thuế đối với người có thu nhập từ 1 triệu đô la trên một năm trở lên; đồng thời tăng mức đánh thuế vào các thiết bị y tế, tăng sự ràng buộc đối với các chủ doanh nghiệp.
 Đối thủ trong cuộc vận động tranh cử của Obama, Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa Romney tuyên bố nếu thắng cử sẽ hủy bỏ Luật Bảo hiểm Y tế đang gây tranh cãi trong dư luận Mỹ. Và đương nhiên ông Romney không trúng cử, vì nếu ông trúng cử 50 triệu người hiện đang hưởng trợ cấp y tế sẽ bị cắt giảm mạnh. Chẳng hạn như chương trình Madicaid, chương trình Madicare đã trợ cấp, tạo điều kiện chăm sóc y tế và thuốc men cho tất cả những người già, những người lao động trẻ có mức thu nhập thấp, những người tàng tật không có điều kiện chi trả khi nhập viện. Đối với 50 triệu người Mỹ đang hưởng lợi từ Luật Bảo hiểm Ytế của Tổng thống Obama, nó không chỉ đơn giản là một sự hỗ trợ về mặt tài chính mà còn là chiếc phao cứu sinh cho họ. Họ đã ủng hộ ứng cử viên Obama vì ông hứa sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ Luật Bảo hiểm Ytế.  Đó là một trong những lí do Tổng thống Obama tái đắc cử. Và cuộc chiến giữa Obama và đảng của ông với phe cộng hòa về vấn đề bảo hiểm vẫn tiếp diễn, ngay cả khi chính phủ vì việc đó mà phải đóng cửa. Họ vẫn không chịu nhượng bộ nhau.
Hai cha con còn đang dở nói chuyện về hệ thồng y tế của Mỹ thì xe đã đến bệnh viện. Đây là một trong những bệnh viện đa khoa (clinic) của Đại học Y thuộc MU. Từ xa tôi đã nhận ra ngay biểu tượng bệnh viện trường đại học. Nó nằm trên đường Provident, ở Đông Nam thành phố Columbia. Clinic này bao gồm nhiều dãy nhà một tầng khép kín. Tất cả bệnh viện, từ hành lang, lối đi, chỗ vui chơi giải trí, phòng chờ, phòng khám, phòng điều trị đến nhà vệ sinh đều có chung một nhiệt độ ổn định. Quan sát tôi không biết hệ thống điều hòa để ở đâu và hoạt động như thế nào. Tôi không dám hỏi ngay cả đối với con rể vì sợ bị nghĩ là mình dốt. Chỉ biết rằng khi bước qua cửa bệnh viện tôi cảm thấy rất ấm áp, dễ chịu. Và một điều tiện lợi cho người bệnh đến viện trong bất kể điều kiện thời tiết nào là bước xuống ô tô thì đồng thời có thể mở ngay cửa viện vào các phòng chức năng. Bước vào viện là bước ngay trên nền thảm rất dầy và êm, trải từ cổng cho tới tất cả các phòng mà không phải bỏ dày dép ở ngoài. Tôi nghĩ có lẽ đây là thứ thảm mà người ta đặt riêng dành cho bệnh viện. Nó khác một trời một vực với thảm Trung Quốc, thảm Thái, thảm Inđônêsia mà tôi được biết. Nó cũng hoàn toàn khác với thảm trải ở các khu nhà sinh viên thuê ở kí túc xá. Không lẽ người ta trang bị là vì người bệnh?
Ở phòng đầu tiên khi tôi bước vào, phòng tiếp nhận bệnh nhân, một tấm bảng lớn đập vào mắt mọi người. Đó là tấm bảng ghi các quyền của bệnh nhân (Patien Rights). Mở đầu là dòng chữ “Bạn có quyền, và nên hiểu quyền lợi của bạn. Điều này sẽ giúp bạn nhận được sự chăm sóc tốt nhất từ bệnh viện. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng trong khả năng của mình để đáp ứng sự tin cậy của mọi người. Bạn cũng có quyền đòi hỏi phiên dịch riêng theo ngôn ngữ của bạn nếu không thạo tiếng Anh”. Trong mấy chục ngôn ngữ được lấy ra làm ví dụ tất nhiên là có cả tiếng Việt, mặc dù theo tôi biết số người Việt ở thành phố này không nhiều lắm. Tiếp theo là 14 đề mục ghi lại 14 quyền của bệnh nhân. Đề mục đầu tiên là: Được điều trị và đối xử với sự quan tâm, tôn trọng của tất cả cán bộ nhân viên y tế theo tiêu chuẩn an toàn. Không ai được phép lạm dụng và quấy rối; tuyệt đối tôn trọng quyền riêng tư của bạn. Đề mục cuối cùng là: Được biểu lộ sự băn khoăn nghi vấn hay sự phàn nàn và được nhận sự phản hồi trực tiếp của cán bộ nhân viên bệnh viện. Nếu bạn không thỏa mãn, bạn có quyền trình bày lại ý kiến của mình, lãnh đạo bệnh viện có trách nhiệm phải giải quyết. Lướt qua 14 quyền của bệnh nhân tôi cảm thấy có phần nghi ngờ, phải chăng là thực hay chỉ là hình thức. Làm gì mà bệnh nhân có lắm quyền đến thế. Chia sẻ ý nghĩ này với Giang, con rể tôi cười:
        -       Người ta có đầy đủ các quyền đó đấy ba ạ. Ba còn đến đây với bé Bảo, ba sẽ biết thực hư. Và             chắc chắn không bao giờ có chuyện bệnh nhân hay người nhà bệnh nhân phải phong bì hoặc phải              nịnh nọt, húm núm như ở bệnh viện của chúng ta đâu.
          -       Ta vẫn nêu cao y đức đấy chứ? Tất nhiên có một bộ phận thái hóa biến chất thì không kể làm gì.
          -       Ta chuộng khẩu hiệu và hình thức. Đại loại những dòng chữ như “lương y như từ mẫu” thì tràn               ngập các bệnh viện. Nhìn và nghe thì thật là hay. Nhưng thực tế lại khác. Bà ngoại mổ ruột thừa tại một viện danh giá, có sổ bảo hiểm, nhà mình vẫn phải bồi dưỡng kíp mổ mấy triệu. Ngày Vân sốt xuất huyết nằm viện, mặc dầu có bảo hiểm, nhưng vẫn phải mua thuốc ở bên ngoài. Nằm có năm ngày cũng mất đến mấy triệu. Trường hợp của Vân thì đã đành. Trường hợp của bà ngoại 90 tuổi, nay sống mai chết mà họ cũng đang tâm cầm tiền được thì chẳng còn chút lương tâm gì cả. Ngay cả chú Tuấn nhà mình, có cương vị, có chức sắc, nhập viện một đêm một ngày có bác sĩ nào hỏi han gì đâu. Đêm hôm đó người nhà mình và cả đại diện chính quyền chẳng phải đi đến nhà riêng lãnh đạo bệnh viện làm việc là gì. Ai cũng biết hiện tượng vào viện người ta thường đưa hối lộ từ nhân viên y tá trở lên. Tiêu cực đầy dẫy, từ khâu chạy bảo hiểm đến việc mắc ngoặc giữa bệnh viện với nhà cung cấp thuốc, giữa thầy thuốc kê đơn với cửa hàng thuốc, giữa bác sĩ, nhân viên với bệnh nhân nhưng khi đưa ra quốc hội bàn thảo thì bộ trưởng tỏ vẻ    ngạc nhiên, yêu cầu phải có bằng chứng để kỉ luật làm gương. Văn hóa Việt là văn hóa tình, người nhà và    người bệnh ai người ta đi làm chứng, ai người ta đi tố cáo.
Bên cạnh chiếc bảng viết bằng chữ in hoa đậm 14 qui định về quyền của bệnh nhân, có hai chiếc bảng nhỏ hơn nằm cân đối ở bên trái và bên phải. Cái bên phải in bằng chữ thường về 10 điều nghĩa vụ và trách nhiệm của bệnh nhân. Cái bên trái cũng in bằng chữ thường, nội dung của nó là bức thư ngỏ của giám đốc bệnh viện gửi cho mọi người. Người Mỹ rất rõ ràng, bạn có quyền đồng thời với việc bạn phải có nghĩa vụ. Nghĩa vụ đầu tiên trong 10 điều nghĩa vụ và trách nhiệm là bạn phải tuân theo tất cả các qui định của bệnh viện đề ra. Điều cuối cùng là phải hoàn thành, thanh toán nhanh chóng, kịp thời tất cả các hóa đơn theo qui định và nếu có thắc mắc gì về tài chính, bạn cần liên hệ ngay với bộ phận tài chính của bệnh viện.
Nội dung thư ngỏ của giám đốc ngắn gọn, toát lên mong muốn chân thành được trở thành đối tác tin cậy của tất cả mọi người. Người lãnh đạo cao nhất của bệnh viện cũng bày tỏ ý nguyện nhận được sự đóng góp về những điều bệnh viện đã làm được, những điều chưa làm được, những ý tưởng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị, thuốc men cũng như nhận được sự phản hồi việc vi phạm của tập thể cán bộ, nhân viên bệnh viện về các quyền của bệnh nhân. Người đóng góp có thể trực tiếp gặp giám đốc hoặc trình bày, gửi thư theo điện thoại, địa chỉ email, fax…
Ở phòng chờ khám và điều trị cho trẻ em tôi thấy chỉ có bốn hay năm đối tượng. Những cháu đã lớn, đi lại được thì hầu hết được mẹ đưa đi. Những cháu mới sinh thường được bố đưa đi. Đến bàn lấy số, ai đến trước lấy trước, ai đến sau lấy sau. Trên tường treo một bảng nhỏ xin lỗi vì đã để mọi người phải chờ đợi. Ngoài ra trên tường còn dán một số tờ giấy khổ Ao. Đó là những phác đồ phòng chống và chữa trị một số các loại dịch bệnh. Chẳng hạn một tờ tuyên truyền phòng chống dịch cúm viết: “ Mọi người cần thường xuyên rửa tay, nhất là khi đi đâu về, trước bữa ăn. Không đưa tay lên mắt, mũi, miệng. Khi hắc xì hơi thì phải dùng khăn che miệng hoặc che bằng tay áo, không che bằng lòng bàn tay. Khi bị cúm nên nghỉ ngơi ở nhà, không đến chỗ đông người” . Điểm đáng chú ý của các phác đồ không phải là việc tuyên truyền qua kênh chữ, vì rất ít chữ mà nổi bật và dễ nhớ chính là qua kênh hình, các hình vẽ biểu thị được in màu, rất sinh động và rất ấn tượng.
Khoảng mười lăm phút kể từ lúc đến, Giang theo một y tá đưa con vào phòng khám. Tôi tranh thủ đi thăm một số phòng trong bệnh viện. Ở phòng kế tiếp, vẫn là phòng dành cho trẻ em, nhưng là trẻ em độ tuổi mầm non và tiểu học. tôi thấy rất nhiều đồ chơi bày ở các góc phòng. Một vài em tụm lại bên cạnh mô hình chiếc xe lửa đang chạy trên đường day. Hai em khác có vẻ quen nhau đang  đá đi đá lại quả bóng nhỏ màu nâu. Một em đang giở xem một cuốn sách gì đó bên giá sách. Tôi đi đến chỗ giá sách. Nó có ba ngăn, ngăn thứ nhất và thứ hai gồm vài trăm quyển truyện tranh mỏng. Ngăn thứ ba ở trên cùng là những cuốn sách cũng rất mỏng dành cho người lớn đọc trong lúc chờ đợi. Bên cạnh giá sách có một chiếc tủ cánh lùa nhỏ để một số nhật báo, tạp chí. Trên mặt tủ in mấy dòng chữ “Tủ sách, giá sách và sách ban đầu của gia đình Carvalho tài trợ. Chúng tôi hy vọng bạn sẽ thấy những điều hay ý đẹp và tình yêu trong mỗi cuốn sách nào đó. Bạn có thể đem sách về nhà cùng chia sẻ với người thân. Và cũng mong rằng nếu bạn có sách gì ở nhà mà không dùng đến nữa và nếu bạn muốn chia sẻ những điều hay ý đẹp và tình yêu với người khác, hãy đem sách đến tặng tại phòng này”.
Tôi đi hết phòng này sang phòng khác. Phòng nào cũng chỉ có dăm ba đối tượng. Người ta đi khám bệnh theo lịch hẹn nên chỉ ngồi ít phút là đến lượt mình. Tất cả mọi người đều lặng lẽ, tuần tự. Có nói chuyện, trao đổi nhưng rất nhỏ nhẹ. Các nhân viên của bệnh viện người nào việc nấy, tất bật, mau lẹ, điềm đạm. Đến mỗi phòng tôi đều được nhân viên chào hỏi “Rất vui lòng nếu chúng tôi giúp gì được cho ông”. Tôi trả lời, tôi là khách đến thăm. Vì ở ngoài cửa bệnh viện có biển đề “ Bệnh viện hân hạnh được đón tiếp, phục vụ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và khách đến thăm” nên đến mỗi phòng tôi đều đáp lại như vậy khi có nhân viên hỏi. Điều cảm động là tôi đều nhận được một nụ cười tươi kèm theo câu nói: “Cám ơn vì đã đến. Ông có cần chúng tôi giới thiệu không”.
Nhớ đến cái cảnh phải đến bệnh viện, cái cảnh đưa người nhà đi bệnh viện, rồi thăm người thân, bạn bè, đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới đi bệnh viện, nhất là trong những năm gần đây, tôi rất ớn. Chắc chắn tôi đã đến bệnh viện không dưới hàng trăm lần. Rất ái ngại và thật đáng buồn. Nói với con rể, thực ra tôi đã nói giảm nhẹ đi nhiều, và không muốn vạch áo, bới lông ngành y tế. Vì thực tế họ cũng giống như ngành giáo dục của tôi thôi. Tôi đã thấy gì ở một số không ít bệnh viện Việt? Sự chật chội quá tải. Sự đợi chờ mệt mỏi. Sự chạy vạy lo lắng. Sự gắt gỏng. Sự thấp thỏm. Sự thờ ơ. Sự lạnh lùng…
Ở đây tôi chỉ là một kẻ xa lạ, một khách vãng lai, nhưng tôi được trải nghiệm những giây phút ấm lòng. Tất nhiên tôi cũng có nhiều lần cảm động rơi nước mắt vì những tấm lòng cao đẹp ở bệnh viện Việt. Nhưng theo thời gian, cái đẹp, cái cao thượng cứ ít dần trong y đức... Chắc có người sẽ bảo tôi là kẻ nhẹ dạ cả tin, kẻ chỉ nhìn thấy cái hình thức của xứ người. Người ta biểu hiện như thế là vì túi tiền của đối tượng hoặc vì mục đích quảng cáo, đánh bóng cho bệnh viện. Có thể tôi dễ bị ai đó lừa, nhưng chắc chắn túi tôi không có tiền, mà tôi cũng không cho bệnh viện ở đây được đồng nào. Chắc nhân viên người ta biết rõ và tôi cũng chẳng có động cơ gì mà phải quảng cáo cho cái bệnh viện này.
 Mỗi phòng cầm lấy một vài tờ rơi, đi hết một dãy phòng tôi có trong tay một tập dày tờ rơi. Đó là những tờ giấy cứng in mầu khổ A4  hoặc nhỏ hơn một chút, thường đặt cố định trên bàn nhân viên trực ở các phòng. Mỗi tờ rơi đề cập một vấn đề gị đó. Chẳng hạn như hướng dẫn ban đầu cho bệnh nhân, những cách thức liên hệ với bệnh viện, việc khai báo thông tin bệnh tình và xử lí kết quả chẩn đoán qua hồ sơ điện tử, những biểu hiện bệnh lý một số bệnh, việc tiêm chủng và báo cáo lại việc tiêm chủng, cách đăng kí và sử dụng thuốc men, giới thiệu các thiết bị y tế hỗ trợ người bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Riêng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thì rất đa dạng, từ dịch vụ trẻ em cho tới dịch vụ người có tuổi, từ bà mẹ mới mang bầu tới sau sinh, từ phòng bệnh và điều trị đến sau điều trị, từ dịch vụ ở bệnh viện đến dịch vụ ở nhà…
 Ngay cả đến việc du lịch trong ngoài nước, bệnh viện cũng cung ứng và đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ví dụ trên một tờ bìa cứng in màu khổ A4, người ta gấp ngang thành ba phần bằng nhau, rồi gấp lại. Mặt ngoài, phía trên cùng in biểu tượng bệnh viện chăm sóc sức khỏe MU. Ở giữa là hai dòng chữ in hoa đậm. Dòng thứ nhất: Những vấn đề liên quan đến du lịch. Dòng thứ hai: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi đi du lịch quốc tế. Dưới cùng là hình bản đồ thế giới. Mở tờ rơi, phía bên trong có lời nói đầu: “ Trước khi gấp hành lí, bạn phải kiểm tra xem đã đủ thuốc men cho chuyến đi ra nước ngoài của mình hay chưa. Những bác sĩ tại Trunng tâm nối kết du lịch tại bệnh viện MU sẽ cung cấp những dịch vụ y tế đảm bảo giúp bạn có đầy đủ sức khỏe cho cá nhân, nhóm hoặc gia đình bạn. Trung tâm cung cấp thông tin các loại thuốc nhằm giúp đỡ người du lịch chống lại những bệnh tật, đảm bảo sự an toàn. Đội ngũ nhân viên trung tâm hơn 35 năm kinh nghiệm sẽ cung cấp đầy đủ tất cả những điều bạn cần cho một cuộc hành trình. Bạn sẽ nhận được sự tư vấn ban đầu và nhận biết được những khả năng rủi ro, những căn bệnh truyền nhiễm và cách thức sử dụng thuốc trong tình trạng khẩn cấp khi ở nước ngoài. Chúng tôi cũng tiêm chủng các loại vaccine cần thiết, cấp giấy chứng nhận quốc tế trong hồ sơ du lịch của bạn”. Phần tiếp theo tờ rơi giới thiệu:
      -       Các loại dịch vụ tiêm chủng cho người lớn và trẻ em.
      -       Tư vấn đơn thuốc phòng ngừa và điều tri bệnh sốt rét.
      -       Thông tin tài liệu những căn bệnh và các loại thuốc thích hợp cho từng quốc gia.
      -        thông tin về những vấn đề môi trường bao gồm điều kiện thời tiết, bệnh tật lây truyền qua thực phẩm, nước uống và các loại côn trùng.
      -       Những phong tục tập quán địa phương và những điều cần chú ý về an toàn cá nhân
      -       Những thông tin liên lạc cần thiết với Đại sứ quán Mỹ.
      -       Những cách thức chữa trị các căn bệnh kinh niên như tiểu đường, tim, hen trong khi đi du lịch.
      -       Làm thế nào để thuyết phục trẻ nhịn được đi tiểu trong hoàn cảnh đặc biệt.
      -       Những vấn đề chăm sóc sức khỏe sau khi đi du lịch tại bệnh viện.
Phần cuối bên trong tờ rơi là những lời khuyên cho người đi du lịch. Cụ thể là:
      -       Bạn cần tiêm chủng ít nhất bốn tuần trước khi khởi hành.
      -       Đặt lịch hẹn sớm ngay khi bạn có kế hoạch đi du lịch.
      -       Chuẩn bị sắp xếp túi thuốc cấp cứu trong đó có những loại thuốc thông dụng, thuốc dùng hàng ngày.
      -       Kiểm tra thuốc chống côn trùng.
      -       Đem theo kính đề phòng vỡ hoặc mất.
      -       Lường được sự tác động của tình trạng tress, độ cao, áp suất không khí, khí hậu, thời tiết với những căn bệnh mãn tính như tiểu đường, bệnh tim, hen.
      -       Tránh tiếp xúc với động vật hoang dã hay đã thuần dưỡng, đặc biệt ở những quốc gia có bệnh dại.
      -       Nếu tới những quốc gia đang phát triển bạn tránh không uống nước chưa được xử lí hoặc chưa được đun sôi; không dùng nước đá, không ăn thực phẩm tươi sống hay chưa được nấu chín.
      -       Để giảm thiểu tai nạn giao thông bạn nên tránh lái xe vào giờ cao điểm và vào ban đêm.
      -       Tránh đi xe đạp gắn máy, xe mô tô bánh nhỏ, xe máy nếu bạn không có bằng lái và đi thạo các phương tiện đó.
      -       Nếu bạn ốm sau chuyến đi thì phải thông báo với bác sĩ toàn bộ lịch trình đi của mình.
Gấp lại tờ rơi, ở trang cuối của mặt ngoài nổi bật tấm ảnh về một gia đình mà mọi thành viên đang cười vui vẻ. Nó như một thông điệp về cuộc sống hạnh phúc. Bên dưới tấm ảnh là số liệu cảnh báo của Tổ chức Ytế Thế giới:
       -       20 % tới 70 % lữ hành phải dùng thuốc để chữa trị những mầm bệnh phát sinh trong quá trình đi du lịch.
       -       Mỗi năm có khoảng 40.000 người Mỹ tử vong từ những căn bệnh có thể ngăn ngừa được nếu tiêm phòng vaccine.
       -       Trên 70 % lượng khách du lịch bị tiêu chảy khi đến những điểm nhiều rủi ro.
       -       Trên một triệu người chết vì tiêu chảy mỗi năm, phần lớn là ở những nước đang phát triển.
       -       Có hơn 500 triệu người mắc bệnh sốt rét và hơn một triệu người chết hàng năm trên khắp thế giới.
 Đi lướt một số phòng tôi vội quay trở lại, sợ bác sĩ khám xong cho Bảo, hai cha con phải chờ ông. Quả nhiên ngồi chờ ít phút thấy Giang bế Bảo từ phòng khám ra. Giang cười vui nói với tôi:
        -       So với ba hôm trước cháu đã cao lên được mấy phân và tăng lên được gần hai lạng ông ạ.
        -       Thế người ta khám cho cháu những gì, tôi tò mò hỏi.
        -       Cũng đầy đủ các mục như người lớn khám sức khỏe toàn diện. Chỉ có điều bà bác sĩ hỏi nhiều về việc ăn ngủ của cháu. Bà cũng xem rất kĩ rốn của cháu. Rốn cháu đã se lại. Mọi chỉ số đều tốt. Con có hỏi mắt cháu hơi đo đỏ, thỉnh thoảng có dử. Bà ấy xem xét rất lâu rồi nói không có vấn đề gì, nhưng vẫn căn dặn chúng con cần theo dõi tiếp. Nếu mấy hôn nữa còn có triệu chứng thì tiếp tục đưa cháu đến viện.

Đặt Bảo vào trong nôi. Hai cha con kê đệm chăn, khăn cẩn thận cho Bảo. Giang ra trước để bật điều hòa và lái xe vào trước cửa. Tôi xách nôi ra sau ít phút. Bên ngoài, nắng vàng rực rỡ, chan hòa khắp đất trời. Tôi thật sự thỏa mãn với quyết định đi cùng hai cha con Giang đến bệnh xá. Đóng cửa xe, đặt nôi nằm của cháu yên vị, tôi tranh thủ lấy các tờ rơi ra đọc. Những tờ rơi này hấp dẫn đối với tôi không chỉ vì nội dung và hình thức của nó mà chính vì tính hữu dụng của nó cho bản thân tôi. Nó giúp tôi hiểu ra rất nhiều điều vấn đề về các loại bệnh, đặc biệt là chứng huyết áp, về vấn đề phòng tránh, về vấn đề tự chăm sóc sức khỏe. Thú vị là tôi tìm thấy thông tin về một loại máy đo tiện dụng, tự theo dõi huyết áp bản thân kèm những chỉ dẫn sử dụng thuốc trong các trường hợp ở nhà, ở cơ quan, khi đi đường trên các phương tiện giao thông khác nhau. Thật là tuyệt vời...
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.