Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Đôi điều tản mạn về giáo duc phổ thông Việt- Mỹ

Leave a Comment
Một buổi tối tôi đến thăm hai vợ chồng Cường, Thi. Anh chị đều công tác ở Viện Nông nghiệp, mới sang bên này học sau tiến sĩ được một năm, hiện ở cùng khu làng sinh viên với vợ chồng Giang, Vân. Anh chị là người lớn tuổi nhất, đồng thời lại có đức độ trong số 70 sinh viên đang theo học đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ ở Trường Đại học Missouri nên được anh chị em rất kính trọng. Anh chị có hai cô con gái theo bố mẹ sang bên này học. Cháu đầu tên là Dung đang theo học lớp 8 ở một trường công trong thành phố Columbia. Cháu thứ hai tên là Thảo đang học lớp 5 ở trường công cạnh nhà.
Cháu Dung vừa đạt giải Nhì trong cuộc thi toán toàn bang. Tôi đinh ninh cháu ở Việt Nam được xếp loại học lực giỏi và chắc cũng đã được đi thi học sinh giỏi một số lần rồi. Cháu cười nói “ Ai cũng bảo cháu như thế, nhưng cháu chỉ được xếp loại học lực khá thôi. Và ở Việt Nam, cháu chưa bao giờ được đi thi học sinh giỏi bao giờ. Cháu mới học tiếng Anh năm lớp 6 ở Việt Nam. Tổng kết môn tiếng Anh của cháu có 5,3 thôi”.Tôi rất ngạc nhiên. Học tiếng Anh ở Việt Nam một năm thì chưa chắc học sinh đã thuộc và phát âm đúng bảng chữ cái. Vậy mà sang Mỹ chỉ sau có gần hai năm, làm thế nào cháu theo học được, chứ chưa nói đến là đi thi và còn đi thi được giải nữa. Nhưng quan trọng hơn cái danh hiệu học sinh giỏi cấp bang là tư thế, phong thái và cách cháu Dung nói chuyện với tôi. Đó là cái bản lĩnh trong giao tiếp. Đó là sự tự tin, mạnh dạn và sự thành thực trong ứng xử. Tôi thầm nghĩ nếu cháu còn học ở Việt Nam và  thầm nghĩ nếu cháu còn học ở Việt Namtự giáo dục.nếu gặp tôi không biết cháu sẽ nói chuyện với tôi như thế nào?
Còn cháu Thảo, khi bố mẹ yêu cầu cháu đọc bài văn cuối kì cô giáo yêu cầu về nhà làm để tôi thẩm định. Không một chút do dự, cháu lấy bài ra, đọc rành rọt. Đề bài văn như sau: ẽ nói chuyện với tôi như thế nào? “Mỹ là một nước di dân, mỗi học sinh cần biết về đất nước tổ tiên mình sinh sống. Yêu cầu dựa trên kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa hay dựa vào thực tế hãy nói về đất nước quê hương của mình. Phải nêu ra được ý kiến riêng của mình”. Tiêu đề bài viết của cháu Thảo là“ Việt Nam quê hương tôi”. Bài viết 6 trang gồm các phần: Đất nước hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương, bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, 54 dân tộc anh em chung sống bên nhau, những cánh đồng lúa bát ngát... Cháu chia bài viết ra thành từng mục, trình bày đâu ra đấy, cũng lí lẽ và dẫn chứng, cũng trích dẫn và nhận xét, cũng danh mục liệt kê tài liệu tham khảo không khác gì một bài tiểu luận ở đại học. Thảo đọc bằng tiếng Anh giọng Mỹ chuẩn xác, rõ ràng , mạch lạc. Cháu nhìn vào tờ giấy đọc nhưng thỉnh thoảng vẫn ngẩng đầu nhìn mọi người và tôi như một diễn giả có kinh nghiệm thu hút thính giả. Điều đó càng khiến tôi thêm chú ý. Đọc xong bài viết, cháu còn nhờ tôi góp ý thêm cho bài viết của mình. Không thể tin được nếu tôi không trực tiếp nói chuyện với cháu. Tôi được biết cháu đã đến thư viện sưu tầm tài liệu đến cả tháng, rồi tra cứu thêm trên mạng, được cán bộ thư viện, thầy cô và bố mẹ hướng dẫn làm bài, nhưng cháu mới chỉ là học sinh lớp 5. Tôi cứ băn khoăn tự hỏi liệu học sinh lớp 5 của chúng ta có làm được những bài tập tương tự như thế này?
Liên hệ với tính cách cháu anh Long, cháu anh bạn tôi, năm ngoái thi được 26 điểm nên không đỗ Đại học Y Hà Nội. Cháu cùng bác đến nhà tôi, nhờ tôi tư vấn vào Trường Đại học Y nào đó. Cháu đó cứ nem nép không dám ngẩng đầu lên nhìn tôi, hỏi gì thì trả lời đấy, ấp a ấp úng, đúng kiểu người như các cụ nói “ăn không nên đọi, nói không nên lời”. Khuyên lên Thái Nguyên học thì sợ phải nội trú. Gợi ý xuống Thái Bình học thì sợ vẫn phải đi xa nhà. Cuối cùng anh Long phải đỡ lời thay cho cháu, nhờ tôi tìm hộ một trường nào đó gần gần không đúng với ngành cháu thích cũng được. Đúng là một mẫu học sinh học rất giỏi mà không có một chút bản lĩnh, thiếu tự tin, nhút nhát, không có một chút kĩ năng sống để bước vào đời. So sánh hai nét tính cách cháu anh Long và con chị Cường Thi tôi ngộ ra rằng, đó chính là hình ảnh sinh động đích thực của hai của nền giáo dục Hoa Kì và nền giáo dục Việt nam.
Anh chị Cường, Thi và tất cả những người có gia đình ở khu ký túc xá này đều tâm sự với tôi họ rất lo cho tương lai của các cháu. Không biết sau mấy năm học ở Mỹ, dù các cháu hiện là học sinh xuất sắc, khi theo cha mẹ về Việt Nam các cháu có theo nổi chương trình ở Việt Nam không. Liệu có thi đỗ vào các trường THCS và THPT có tiếng ở Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh hay không. Các anh, các chị còn hỏi thực tôi rằng có biết cửa nào chạy một hai chục vé vào “trường xịn” để sau này còn nhờ vả.
Tôi không biết mình nên vui hay buồn nữa. Có lẽ tôi nên vui vì nhà trường Việt Nam giỏi quá. Thầy cô giáo của mình giỏi quá. Học sinh của mình giỏi quá. Những trường gọi là có tiếng từ tiểu học đến trung học phổ thông đều đạt tỉ lệ 80 đến 100% học sinh giỏi. Lớp học nào chưa đạt 100% giỏi, chỉ cần phụ huynh đóng tiền, cô luyện một thời gian là 100% giỏi. Con em sinh viên người Việt đang theo học tại các nước có nền giáo dục tiên tiến nhất trên thế giới cũng không theo nổi. Tôi tin rằng học sinh được xếp loại khá giỏi ở các nước giáo dục tiên tiến, nếu muốn vào học ở Việt Nam chắc chắn sẽ khó mà thi vào được. Có nghĩa là cả thế giới nên học giáo dục của Việt Nam. Ấy vậy mà một tổ chức quốc tế nào đó láo toét xếp Việt Nam đứng thứ 8 về giáo dục phổ trong số trong số 10 quốc gia Đông Nam Á, thậm chí họ còn xếp Việt Nam sau cả Campuchia và Lào.
Theo thống kê số liệu của các nhà trường và tỉ lệ thi tốt nghiệp hàng năm công bố công khai trên báo chí ở Việt Nam, thì kết quả cứ đều đều 98% đến 100%. Trong khi đó ở nước Mỹ cũng chỉ có 77% học sinh được tốt nghiệp THPT. Nhìn vào số liệu tổng kết của cả thành phố đại học Columbia - Missouri, một thành phố gần như đứng đầu về giáo dục của một bang cũng chỉ có 10% học sinh được xếp loại giỏi. Rõ ràng họ thua xa chúng ta. Cứ cái đà này thành tích giáo dục của chúng ta sẽ đứng đầu thế giới trong nhiều năm nữa. Việc gì chúng ta phải mất thì giờ tranh luận, và tốn không biết bao nhiêu giấy mực để trình đề án cải cách giáo dục một cách căn bản và triệt để lên Quốc hội và Chính phủ xem xét thông qua.
Tôi thấy buồn là trường nào thành tích cũng cao. Vậy mà tại sao con đến tuổi đi học phụ huynh cứ phải chạy trường. Xếp hàng cả đêm để mua đơn xin cho con vào học một trường, xô đổ cả cổng trường với hi vọng cho con được vào học lớp một. Có lẽ chỉ có ở Việt Nam mới có hiện tượng kì lạ đến như vậy. Dù những trường hợp đó là không phải là phổ biến, là hi hữu nhưng đến bao giờ mới hết cái cảnh đáng buồn chạy trường như vậy. Và tệ hơn, khi đã vào được một trường nào đó rồi, phụ huynh lại bắt đầu một cuộc chạy đua nữa. Cuộc chạy đua vào lớp chọn. Học sinh lại bắt đầu ôn luyện, lại thi chọn. Bố mẹ lại phải chạy vạy xin xỏ, lại phong bì phong bao. Và rồi kết quả sau bao nhiueeu năm học, trình độ nhân lực của học sinh Việt Nam khi vào đời thì vẫn ở ngưỡng đáy trong khu vực.
Một lần khác tôi đến nhà anh chị Cường, Thi với hy vọng mượn vở ghi chép, vở bài tập và sách giáo khoa của cháu Dung để tham khảo xem học sinh THCS của Mỹ ghi chép, làm bài tập và học hành cụ thể như thế nào. Hỏi đến sách giáo khoa cháu Dung nói tất cả sách giáo khoa và sách tham khảo đều để ở lớp học. Sách giáo khoa để ở lớp học là sách của nhà trường. Nếu học sinh muốn mang sách về nhà thì phải đến thư viện nhà trường mượn. Như vậy là chẳng có học sinh nào phải mua sách giáo khoa. Tất cả sách giáo khoa, sách tham khảo đều có sẵn ở trường. Đến giờ phút này tôi mới hiểu tại sao các em đến trường không mang theo cái gì cả. Trong khi đó ở Việt Nam hơn 20 triệu học sinh đến trường là phải trang bị hơn 20 triệu bộ sách mới tinh. Ba bốn trăm ngàn một bộ sách. Mỗi năm học mới học sinh các cấp lại vứt tất cả sách cũ đi để mua sách mới. Đất nước rất nghèo nhưng chúng ta lại thật sang. Tuy nhiên tôi có nhiều điều thắc mắc nên hỏi cháu Dung, nếu cô giáo ra bài tập về nhà thì làm thế nào. Cháu trả lời: “Ở đây các thầy các cô thường không ra bài tập về nhà. Gần thi hết môn mới có bài tập.  Khi cần lấy bài tập làm ở nhà hoặc là cháu lấy trên mạng nhà trường hoặc thầy cô in ra giấy phát cho học sinh cả lớp.
Tôi hỏi mượn vở ghi chép của Dung. Cháu lắc đầu rồi nói: “Ở đây thầy cô không yêu cầu học sinh ghi chép gì vào vở, cũng chẳng có học sinh nào ghi vào vở cả. Ban đầu bố mẹ cháu chuẩn bị mỗi môn một hai quyển sách cho cháu như khi còn ở Việt Nam. Cháu mang sách đi, nhưng rồi cháu bỏ không ghi chép một môn học nào, vì không có bạn nào ở đây ghi chép như cháu. Cuối mỗi giờ học chúng cháu chỉ phải trả lời và nhận xét về những nội dung của bài học vào một tờ giấy. Thầy cô thu lại tờ giấy. Bạn nào không nắm được bài thì sẽ phải đến một lớp học thêm”. Thật là lạ. Đi học mà không có bài tập về nhà, không cần vở ghi chép. Ở Việt Nam thì chuyện đó chẳng khác gì người nông dân đi cày mà quên mang theo trâu. Không biết rằng giáo dục của họ có vấn đề hay tôi chưa hiểu hết vấn đề.
Chợt nhớ ra có điều gì đó giúp được tôi, Dung reo lên: “ À, Cháu quên, có hai quyển sách toán lớp 6, lớp 7. Những quyển sách mà bố mẹ cháu tìm mua được khi cả nhà cháu mới sang đây”. Anh Hùng rối rít giục con đi tìm cuốn sách để tặng “ông”. Thì ra lúc mới sang, hai vợ chồng anh chị rất lo con không theo kịp các bạn cùng lớp nên săn tìm mua sách các năm trước để cho Dung ôn tập khi vào học lớp 8; còn Thảo thì cho học lại một năm. Nào ngờ sách giáo khoa toán 6, 7 ở Mỹ ngay cả đến cháu Thảo mới học hết lớp 4 ở Việt Nam cũng làm được gần hết các dạng bài tập.
Chị Thi nói với tôi: “Cháu thật không ngờ học sinh Mỹ học toán ở trình độ thấp hơn nhiều so với ở Việt Nam”. Anh Cường thì lắc đầu không đồng ý với vợ: “ Về lí thuyết mà nói, giáo dục cũng là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng. Nó phản ánh đời sống xã hội và trình độ vật chất và tinh thần của xã hội. Không lẽ xã hội Mỹ, xã hội hậu công nghiệp, xã hội ở giai đoạn văn minh tri thức, người ta lại cho học sinh học kém mình. Không phải năng lực học toán của học sinh họ thấp hơn ta. Phải chăng ta chủ quan duy ý chí, đi tắt đón đầu, đốt cháy giai đoạn nên bắt học sinh đại trà học toán và tri thức ở một số môn khoa học quá cao. Thú thực với bác, ở Việt Nam có nhiều lần hai vợ chồng cháu phải thức đến 11 giờ đêm giúp con làm xong các loại bài tập toán và tiếng Việt. Áp lực làm bài tập không chỉ đè nặng lên vai các cháu mà còn đè nặng lên vai những người làm bố mẹ như chúng cháu. Thật xấu hổ với bác, có lần cháu bảo chúng tôi hướng dẫn cháu làm bài tập sai. Mấy lần hai vợ chồng gắt nhau khi kí vào các bài kiểm tra một tiết của các cháu. Gắt mhau vì điểm của các cháu chỉ trung bình. Vợ đổ lỗi cho chồng rằng không quan tâm đến con. Chồng thì đổ lỗi cho vợ rằng đó là trách nhiệm của người làm mẹ. Bác là nhà giáo, lại làm công tác quản lí về giáo dục các cấp, bác thấy thế nào”?
Tôi lướt qua quyển sách toán 150 trang. Nếu trang bìa không in dòng chữ  in đậm MATH 7 thì tôi tin đó là cuốn sách dành cho học sinh lớp 4 hay lớp 5. Ngoài việc in màu rất đẹp, chữ to, kênh hình nhiều hơn kênh chữ, có rất nhiều bài toán ứng dụng trong đời sống xã hội Mỹ, nhưng tất cả đều đơn giản, không lắt léo, đánh đố. Nhiều dạng bài tập người ta còn cho sẵn công thức để học sinh áp dụng làm bài. Tôi chắc không có bài toán nào trong quyển sách này khó đến nỗi mà các thành viên tổ toán THCS và THPT của trường tôi phải tranh luận với nhau hàng giờ về cách làm như ở Việt Nam.
Tôi cho rằng không dưới 40% học sinh lớp đại trà đến giờ toán và  đến giờ của những môn học không có hứng thú, các cháu không dám nhìn lên bảng, hay nhìn thầy cô khi thầy cô hỏi, vì chúng không hiểu, vì chúng sợ phải đứng dậy để trả lời hoặc lên bảng làm bài tập. Dần dần sinh ra nhiều học sinh tự ti, tự ti với thầy, tự ti với bạn. Bao nhiêu học sinh đến giờ học toán cứ phải cúi mặt xuống, mà cũng không riêng gì bộ môn toán, lý và hóa cũng vậy. Đến lớp đến trường là học sinh sợ, sợ thầy cô hiệu trưởng, sợ thầy cô chủ nhiệm, sợ thầy cô bộ môn, sợ bạn bè chê cười. Và dĩ nhiên về nhà thì sợ bố mẹ. Tất cả đều ép buộc và hăm dọa các em phải trật tự, phải chú ý, phải thuộc bài, phải làm bài tập, phải thế này, phải thế nọ… Thành thử các em sợ tất cả mọi người. Sợ đến mất cả nhân cách. Nếu không sợ thì các em chỉ còn cách trơ lì ra. Đó chính là mảng tối phũ phàng trong thực tế giáo dục Việt Nam.
Ở Mỹ, nhà trường rất coi trọng nền tảng làm người và kĩ năng sống. Nền tảng này được bồi đắp từ tiểu học. Các em đến trường không phải sợ bất kì ai, được khuyến khích nói ra tất cả những điều mình suy nghĩ, điều mình không thích, chính kiến riêng của mình. Và điều đó được thầy cô tôn trọng. Nhà trường luôn tạo dựng ý thức tự tin và sự mạnh dạn, sự thành thực và công bằng, sự bao dung và tính độc lập, tự chủ để học sinh biết làm người, làm việc. Họ không chăm chăm thúc ép học sinh học tri thức ngày đêm như nhà trường Việt Nam chúng ta. Tiếp xúc với hai đứa con anh chị Cường, thi tôi càng cảm nhận rõ đẳng cấp của hai nền giáo dục. Một nền giáo dục trang bị kiến thức, chỉ tạo ra những người người thợ, những người chỉ biết thừa hành và làm theo, những người chỉ biết tuân lệnh hay những người làm thuê và một nền giáo dục đào tạo ra những chủ nhân hay chí ít ra cũng là những con người năng động, sáng tạo, có tư duy phản biện, đầu đội trời chân đạp đất.
Trước khi ra về tôi nói với anh chị Cường, Thi: “Tôi chưa có điều kiện xem xét hết chương trình các cấp học, chưa xem hết sách giáo khoa các lớp học và cũng không phải là nhà nghiên cứu về chương trình cho nên chưa thể kết luận được gì. Chỉ có điều tôi nói lại với hai bạn mấy lời nhận xét của một chuyên gia giáo dục nước ngoài khi nhận xét về sách giáo khoa toán THCS và THPT của Việt Nam. Tôi xin tạm dịch ý như thế này: Các bộ sách giáo khoa của đất nước các bạn rất chặt chẽ, rất lô gíc, rất khoa học. Chỉ đáng tiếc đó là giáo trình đại học thu gọn lại”.
Thì ra có những điều không thể có ở nền giáo dục Việt Nam thì lại có thể có ở nền giáo dục Mỹ và các nước phát triển. Ngay cả việc đào tạo con người cũng vậy. Vợ tôi có người bạn ở bên Đức tên là Bình, người bạn nối khố từ thủa ấu thơ, đi sang Đức theo chương trình hợp tác lao động từ thủa còn Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức. Bình tìm mọi cách định cư không về nước. Sau khi nhập đươc quốc tịch, Bình li dị với chồng ở Việt Nam và lấy chồng người Việt cùng ở bên đó. Cách đây khoảng hơn mười lăm năm, Bình có bảo lãnh cho con sang bên Đức. Cháu học ở Việt Nam chỉ được xếp  loại trung bình khá. Bình nhờ tôi lo hộ cái học bạ của con cho “sáng giá hơn một chút”. Có nghĩa là đánh bóng học bạ của cháu các năm học từ trung bình lên tiên tiến. Bẵng đi một thời gian dài, Bình đưa con trở về thăm vợ chồng tôi. Bình cho biết cháu đang học ở một trường đại học danh tiếng của Đức. Mấy năm cuối ở THPT cho đến bây giờ cháu đều có thành tích xuất sắc và đều được nhận học bổng của nhà trường. Tôi rất mừng cho Bình vì nếu cháu cứ tiếp tục theo học ở cái trường làng mà tôi biết, với cái sức học trung bình thì không biết cháu có thi đỗ vào PTTH không, chứ chưa nói đến vào đại học, lại còn nhận được học bổng nữa chứ. Lúc đó tôi phân vân nghĩ hay là nền giáo dục của Đức kém Việt Nam?
Một trường hợp nữa mà chính tôi phải thay cả cuốn học bạ là trường hợp cháu Hải, con cô giáo Phạm Thị Cúc, giáo viên của trường tôi, đồng thời là học sinh cũ của tôi. Cúc là giáo viên dạy giỏi, có giọng hát hay và từng đoạt hoa hậu ngành giáo dục Hà Nội. Thế nhưng cuộc sống gia đình riêng tư của Cúc lại rất lận đận. Hai vợ chồng Cúc sớm chia tay nhau sau hơn một chục năm chung sống. Một thân một mình nuôi con. Bao nhiêu tình cảm dồn vào cả con. Nhưng bất hạnh cho Cúc là đứa con học hành quá chểnh mảng. Không tháng nào là tháng Cúc không phải lên văn phòng gặp giáo viên chủ nhiệm và ban giám hiệu. Có lần nước mắt Cúc lưng tròng nói với tôi: “Thầy bảo em phải làm gì cho con em bây giờ”. Thật ái ngại, nhưng tôi cũng chỉ biết động viên Cúc hãy cố gắng hiểu con hơn nữa, chịu khó dành thời gian cho con hơn nữa. Năm đó cháu không thi được vào PTTH. Cúc phải đến nhờ tôi xin cho vào học bổ túc tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Thanh Trì. Mọi người đều ái ngại cho Cúc. Con học bổ túc thì phía trước là một tương lai xám xịt với hai mẹ con.
Thật may mắn, tình cờ Cúc quen một giáo sư Mỹ sang Việt Nam dạy một số chuyên đề ở Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Họ tìm hiểu nhau và tổ chức lễ cưới ở Hà Nội. Sau đó hai người về Mỹ đem theo cả đứa con riêng của Cúc mà tôi nâng học bạ môn toán và một số môn học khác từ tổng kết dưới 5 lên 8 điểm.Tôi cứ nghĩ rằng con Cúc khó có thể theo học được ở bên Mỹ. Chỗ đồng nghiệp và tình nghĩa thầy trò tôi đồng ý nâng điểm để cháu dễ dàng được theo học, nhưng trong thâm tâm tôi rất áy náy với các thầy cô bên kia bán cầu. Làm sao có thể qua mặt họ được. Họ nghĩ gì về nền giáo dục của mình.
Vậy mà không ngờ rằng Hải theo học được hết phổ thông trung học ở một trường trung học ở bang Texas. Không những theo học được hết PTTH, Hải còn được nhận vào Trường Đại học Texas, một trường đại học danh tiếng của Mỹ. Điều tôi ngỡ ngàng là khi về Việt Nam, Hải gặp lại các thầy cô thì không còn là một cậu bé chỉ biết cúi đầu trơ lì, im lặng. Đó là một thanh niên cao lớn đầy sức sống, một thanh niên hoạt bát, tự tin. Hải kể lại quá trình học tập của mình bên Mỹ như thế nào, quá trình hòa nhập với các bạn ra sao. Đặc biệt Hải trình bày dự định của mình sau khi tốt nghiệp đại học, sẽ trở về Việt Nam thành lập một doanh nghiệp sản xuất như thế nào. Lần này về nước, Hải bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu thị trường để năm sau có thể bắt tay ngay vào công việc sản xuất kinh doanh của mình. Tôi hoàn toàn ngỡ ngàng, chia vui và chúc mừng cho Cúc, chúc mừng cho Hải. Điều gì đã làm thay đổi một học sinh tưởng như bỏ đi thành một con người mà bất cứ một người mẹ, một nhà trường nào cũng lấy làm tự hào. Câu trả lời là nền giáo dục Hoa Kỳ.
Một trường hợp nữa mà tôi phải kể đến đó là trường hợp của anh bạn tôi, anh Trần Quốc Thắng. Hiện giờ gia đình anh định cư ở Phần Lan. Năm nào anh cũng trở về Việt Nam thăm bố mẹ và dự hội lớp đầu xuân. Lý do anh định cư ở Phần Lan không phải hoàn toàn vì lí do kinh tế. Anh tâm sự với tôi: “Con đầu tôi không đỗ đại học. Con thứ hai không thi được vào PTTH. Con thứ ba đi họp phụ huynh cuối năm cô giáo cho biết thuộc nhóm đội sổ. Thật là buồn tủi. Bao nhiêu ngày đêm tôi trăn trở. Tương lai của gia đình tôi sẽ ra sao đây? Con cháu tôi sẽ ra sao đây? Tôi buộc phải ra đi, phải li dị với nhà tôi. Tôi kết hôn giả với một người có quốc tịch Phần Lan. Sau khi có quốc tịch rồi, tôi lại cưới nhà tôi và đón các cháu sang Phần Lan. Bây giờ hai cháu đầu đã tốt nghiệp đại học, là kĩ sư cơ khí, kĩ sư tin học và đã đi làm ổn định với mức lương trên năm ngàn Euro. Cháu thứ ba đang theo học tiến sĩ. Nói thật với anh, tôi không ân hận gì vì đã từng lừa dối hai nhà nước Việt Nam và Phần Lan”.
Một trường hợp khác ở làng tôi, làng Triều khúc, không ai là không biết, đó là trường hợp hai anh em nhà ông Trung Bè và Nam Bè. Hai ông cho con sang Canada trong tình trạng con chật vật chưa qua nổi PTTH. Vậy mà với thời gian vừa học, vừa làm ở xứ xa lạ, chúng đều trở thành kĩ sư, bác sĩ. Rồi chúng lại tiếp tục bảo lãnh cho mấy đứa em không thi nổi vào trường PTTH sang Canada học. Tôi tin chắc chắn rằng, các cháu đó sẽ đều vào được đại học. Là một nhà giáo, tôi không biết phải giải thích những trường hợp trên như thế nào cho đúng với nền giáo dục của Việt Nam.
Giáo dục của người ta đúng hay của mình đúng. Và nếu chúng ta sai thì chúng ta sai ở chỗ nào? Vấn đề không phải hoàn toàn vì chúng ta nghèo nên cánh cửa PTTH chỉ tiếp nhận khoảng 70% học sinh THCS, còn cánh cửa đại học, cao đẳng chỉ tiếp nhận được khoảng 30% thí sinh thi có điểm cao mà thôi. Ba môn thi bình quân mỗi môn 8 điểm, thậm chí đến 9 điểm vẫn trượt đại học. Vấn đề là những sản phẩm giáo dục bị loại ở Việt Nam tại sao lại tỏa sáng được ở xứ người? Vậy hệ thống đánh giá giáo dục thuần dựa trên thi cử, thuần dựa trên điểm số của ta là đúng hay là sai?
Nói thêm một ví dụ mà nhiều người Việt ở Đức biết đến, đó là Philip Rosler. Ông là bộ trưởng, được bầu làm Chủ tịch Đảng FDP và là Phó Thủ tướng trẻ nhất nước Đức từ trước đến khóa trước bầu cử vừa rồi. Ông là người trực tiếp điều hành nội các Đức khi bà Thủ tướng Angela Merkel vắng mặt. Ông sinh ra ở tỉnh Sóc Trăng, một đứa bé không ai thừa nhận và được người ta đưa vào một nhà thờ. Ông may mắn gặp hai vợ chồng một gia đình người Đức nhân hậu nhận làm con nuôi vào năm 1973. Nếu ông không ở vào cái hoàn cảnh nghiệt ngã ở Việt Nam, kể cả nếu ông ta có bố mẹ, hoặc được một tổ chức từ thiên nuôi nấng ỏ Việt Nam, thì bây giờ ông là ai và làm gì? Tôi không biết có phải do môi trường nước Đức và nền giáo dục Đức tạo ra Philip Rosler hay không, có lẽ nên để các nhà quản lí giáo dục Việt Nam hiện thời trả lời, hẳn sẽ là thỏa đáng.






Read More

Thăm Trường Tiểu học Russel

Leave a Comment
Vân giới thiệu tôi đến trường tiểu học Russell Blvd (Russell Blvd Elementary School) qua một giáo viên của trường Đại học Missouri, tên là John.  8 giờ kém tôi có mặt tại cổng trường. Vào thời gian này ô tô cũng chở học sinh tới trường. Chúng ùa xuống sân trường như những bầy chim. Nhưng bước vào cánh cổng trường thì chúng lại đi theo hàng lối, trật tự, im lặng, tự quẹt thẻ vào máy điểm danh. Và có điều rất lạ là không em nào mang theo cặp sách hay cầm sách vở gì. Mỗi em đeo một chiếc túi lép kẹp sau lưng. Tôi thầm nghĩ chẳng lẽ hôm nay học sinh đi sinh hoạt ngoại khóa nên không mang theo sách vở. Nếu thế, buổi thăm quan của tôi sẽ không được như mong muốn. Trong tâm thức tôi, học sinh phải mang theo cả một ba lô sách. Một ba lô sách mà các bậc phụ huynh ở Việt Nam vẫn còn lo con em mình còn thiếu. Nhưng tôi đã lầm. Đây là một ngày học bình thường.
Ra đón tôi là vợ của thầy john, cô Cindy, giáo viên của trường tiểu học. Cô đưa tôi đến gặp ông Hiệu trưởng (Principal), Tiến sĩ Ed Schumacher. Tôi xin phép ông được đi tham quan nhà trường và được dự một vài giờ dạy của cô Cindy. Ông vui vẻ nói với tôi rằng, tôi và khách đến thăm cũng như phụ huynh học sinh muốn đến thăm nhà trường, vào giờ học nào, dự giờ giáo viên nào, nhà trường đều sẵn sàng đáp ứng. Mà đúng thật, Tôi thấy ở ngoài cổng trường có tấm biển đề: “Vui mừng chào đón khách đến thăm trường”.
Tiến sĩ Schumacher chúc tôi có một ngày làm việc bổ ích và lí thú. Rồi ông giới thiệu tổng quát với tôi một vài nét về lịch sử phát triển của nhà trường, về số cán bộ nhân viên, về số lớp số học sinh và tình hình cơ sở vật chất của nhà trường. Tôi rất cảm động về sự đón tiếp của ông. Nếu ở Việt Nam, tôi muốn vào trong trường, nếu không quen biết, chắc chắn sẽ không qua nổi cổng bảo vệ. Kể cả có quen biết hiệu trưởng thì cũng phải chờ đợi, bị bảo vệ ngoài cổng trường hỏi đến trường làm gì, gặp ai, có hẹn trước không… Phải ngồi ngoài phòng bảo vệ, chờ bảo vệ gọi điện cho hiệu trưởng, xem hiệu trưởng có bận không, có tiếp không. Cái cảnh này tôi đã chứng kiến quá nhiều vì tôi thường xuyên phải đi làm công tác tuyển sinh ở các nhà trường mà. Dù tôi hiện là cán bộ quản lý và đã từng là hiệu trưởng, từng công tác với họ, ấy vậy mà đôi ba lần tôi còn bị từ chối được gặp hiệu trưởng. Huống chi nói đến chuyện vào dự giờ thăm lớp trường của họ. Tuy vậy, tôi không dám trách họ, vì đó là văn hóa trường học Việt Nam.
 Được thành lập từ năm 1958, trường Russell Blvd tiếp nhận học sinh trên địa bàn vào học các lớp từ 4 tuổi: Pre-Kindergarten đến hết lớp 5. Cái tên trường Russell  Blvd bắt nguồn từ tên của địa phương Russell Bolevard. Trải qua hơn nửa thế kỉ phát triển, trường hiện là một trong những điểm sáng của nền giáo dục thành phố. Trường có 5 lớp Pre-Kindergarten với 65 học sinh, 5 lớp Kindergarten với 89 học sinh, 5 lớp 1 với 83 học sinh, 5 lớp 2 với 81 học sinh, 5 lớp 3 với 101 học sinh, 5 lớp 4 với 91 học sinh, 4 lớp 5 với 79 học sinh. Tổng số toàn trường có 60 cán bộ, giáo viên, nhân viên (chưa kể một số hợp đồng); 34 lớp học với 598 học sinh. Bình quân chưa đến 18 học sinh một lớp.
Tiết học tôi dự đầu tiên là bài học khoa học tìm hiểu về Hệ mặt trời của một lớp 5. Vào bài cô giáo dẫn dắt: “Tuần trước cô đưa các em đi xem một bộ phim khoa học về vũ trụ ở Trường phổ thông trung học Rock Bridge. Qua những hình ảnh đã xem chắc các em phần nào hình dung ra được Hệ mặt trời là như thế nào. Để giúp các em phần nào hiểu thêm về Hệ mặt trời của chúng ta, cô và các em cùng tìm hiểu bài Hệ mặt trời”.
Sau khi diễn giảng ngắn gọn vài nét về Hệ mặt trời, tại sao lại gọi là Hệ mặt trời, và Hệ mặt trời của chúng ta, cô giáo phát cho mỗi em một tờ giấy khổ A4. Tôi cũng được phát một tờ giấy như của học sinh. Trên tờ giấy chỉ có mấy dòng vẻn vẹn. Dòng đầu tiên là câu hỏi: Tại sao người ta lại là Hệ mặt trời, có những bộ phận nào hợp thành? Cách vài dòng là một câu hỏi tiếp: Có bao nhiêu hành tinh trong Hệ mặt trời của chúng ta? Tiếp vài dòng nữa là câu hỏi cuối cùng: Tính từ mặt trời, trái đất của chúng ta đứng ở vị trí thứ mấy?
Tôi rất lạ vì trước bàn học, không em nào có sách giáo khoa. Trước mặt mỗi em đều có một máy tính với một tờ giấy cô giáo phát. Và tôi bất ngờ khi thấy giáo viên hỏi những em nào sinh từ tháng 1 đến tháng 3 thì giơ tay, rồi lần lượt từ tháng 4 đến tháng 6, từ tháng 7 đến tháng 9, từ tháng 10 đến tháng 12. Thì ra cô giáo yêu cầu thành lập 4 nhóm theo tháng sinh. Cô chỉ định mỗi nhóm ngồi vào một vị trí. Tôi thấy có nhóm 3 học sinh. Có nhóm 5 học sinh. Cô tiếp tục chỉ định em có ngày sinh đầu tiên trong những tháng kể trên làm nhóm trưởng, chịu trách nhiệm ghi chép vào một tờ giấy khổ A0 mà cô phát cho. Cô treo lên bảng 4 bảng phụ ghi rõ nội dung công việc cho 4 nhóm. 4 nhóm trưởng đại diện lên trước lớp bốc thăm để nhận nhiệm vụ cho nhóm của mình. Nhóm 1 nhận nhiệm vụ: Sử dụng công cụ máy tính (máy tính trong lớp đều được nối mạng) nhóm hãy mô tả mặt trời trong hệ mặt trời của chúng ta là một ngôi sao có hình dáng như thế nào? Bán kính bao nhiêu? thể tích bao nhiêu? Nhiệt độ ở trung tâm mặt trời là bao nhiêu độ? Nhóm 2 nhận nhiệm vụ: Tìm trong công cụ Google nhóm hãy kể ra hệ mặt trời có bao nhiêu hành tinh? Nêu thứ tự các hành tinh từ gần nhất tới xa nhất? Trái đất của chúng ta ở vị trí nào? Nhóm 3 nhận nhiệm vụ: Sử dụng Từ điển Khoa học hoặc công cụ máy tính nhóm hãy mô tả trái đất của chúng ta có hình dáng như thế nào? Bán kính, thể tích bao nhiêu? Nhiệt độ là bao nhiêu? Nhóm cuối cùng nhận nhiệm vụ ghi lại khoảng cách của hành tinh gần nhất và xa nhất với mặt trời, khoảng cách giữa trái đất và mặt trời.
Thời gian cho mỗi nhóm hoàn thành công việc là mười lăm phút. Tôi thấy các em trong các nhóm rất hào hứng với công việc của mình. Cả 4 nhóm các em đều túm tụm vào chiếc máy tính hay đi lấy tài liệu ở trên giá sách của lớp để góp phần hoàn tất phần việc của nhóm mình. Tôi đến với nhóm 3 để xem xem các em làm việc như thế nào. Nhóm 3 có 4 học sinh. Tôi thấy một em đến bên giá sách ở bên phải lớp học cầm lấy cuốn từ điển lúi húi xem. Một em lấy sách giáo khoa cũng ở trên giá đó để tìm kiếm thông tin, còn 2 em chúi đầu vào chiếc máy tính. Mỗi học sinh nói ra một ý. Em nhóm trưởng ghi các thông tin lên trang giấy bằng chiếc bút dạ. Những dòng chữ nguệch ngoạc dần dần hiện kín tờ giấy. Có một số ý trùng lặp các em xóa đi. Cuối cùng các em thảo luận để phân công xem ai lên trình bày trước lớp.
Hết thời gian, lần lượt đại diện các nhóm lên trình bày. Cô giáo nhận xét, bổ sung và đánh giá thái độ làm việc của từng nhóm . Sau đó cô cho các em xem một đoạn phim trên màn hình lớn về hệ mặt trời trên You Tube (mỗi lớp học đều có sẵn một máy projector gắn trên trần lớp học). Kết thúc bài dạy, cô giáo yêu cầu học sinh tự trả lời vào phiếu học tập mà cô phát cho các em từ đầu giờ, sau vài phút cô thu lại. Không thấy em nào có vở ghi chép, cũng chẳng thấy giáo viên ra bài tập giao về nhà cho học sinh làm. Giáo viên căn cứ vào phiếu trả lời để hiểu nhận thức của học sinh. Nếu học sinh không trả lời được, cô yêu cầu vào học thêm ở lớp đặc biệt (có giáo viên chuyên dạy học cho học sinh không nắm được nội dung bài học trong ngày theo khối lớp). Tôi không thấy có một chút áp lực nào về học tập hay áp lực nào về điểm số. Như vậy là ở đây, ngay từ cấp tiểu học người ta đã dạy học sinh cách làm việc hợp tác cùng nhau, dạy học sinh cách lấy thông tin để có kiến thức và cho học sinh xử lý thông tin để hình thành kiến thức, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.
Ở Việt Nam chúng ta, đại đa số là thầy truyền thụ lại kiến thức. Học sinh cắm đầu cắm cổ ghi ghi chép chép. Tùy theo số tiết, mỗi môn học không dưới một đến bốn quyển vở ghi chép từ trang đầu cho tới trang cuối mỗi năm học. Nếu em nào không ghi chép đầy đủ thì đó là biểu hiện của sự lười biếng, không có ý thức học hành. Và sẽ bị thầy đánh giá, bị phê phán. Việc làm như vậy chỉ là biểu hiện của lối dạy học trang bị kiến thức, đọc chép vô bổ theo truyền thống dạy học của một xã hội nông nghiệp cổ truyền. Việc làm như vậy chỉ làm mất thời gian của học sinh, tạo cho học sinh thói quen thụ động, lệ thuộc vào thầy. Trong thời đại kỹ thuật số, lượng thông tin trên mạng của bất cứ lĩnh vực khoa học nào cũng nhiều đến choáng ngợp vậy mà thầy cứ gia công cho học sinh ghi chép kiến thức thì giáo dục của Việt Nam thuộc lớp người muôn năm cũ mất rồi.
Dự giờ ở đây tôi càng thấm thía, giáo dục của mình đã quá lạc hậu so với các nước tiên tiến. Đồng thời nó gợi cho tôi nhớ tới một luận đề của Marx, hình như trong bộ Tư bản luận thì phải. Đại ý là mỗi phương thức làm ăn (Marx gọi là phương thức sản xuất) có một nguyên lí của nó. Mỗi nguyên lí có một đại diện. Cày chìa vôi đại diện cho nền sản xuất tiểu nông. Máy hơi nước đại diện cho nền sản xuất đại công nghiệp. Nếu Marx còn sống đến nay, chắc ông sẽ chỉ ra máy tính đại diện cho nền sản xuất hậu công nghiệp hay nền kinh tế tri thức. Nền sản xuất nào cũng có một đứa con giáo dục do nó sinh ra. Nền sản xuất tiểu nông là nền giáo dục bút lông. Nền sản xuất đại công nghiệp là nền giáo dục bút sắt (bút sắt, bút máy). Nền sản xuất hậu công nghiệp là nền giáo dục máy tính. Ở các trường học Mỹ, ngay từ cấp tiểu học, máy tính và Internet từ những năm 2000 đã trở nên rất phổ biến. Theo thông kê, năm 2010, 100% các trường mầm non và tiểu học ở Mỹ đều sử dụng Internet. Các trường tiểu học và trung học cơ sở sở hữu khoảng 15 triệu máy tính cá nhân cho tất cả các học sinh. Đúng là một nền giáo dục của một nền văn minh tri thức.
Ở việt Nam, ai cũng biết nền giáo dục bút sắt đã thắng bút lông. Cái hình tượng nghệ thuật trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên đã đưa tiễn lớp người muôn năm cũ trở về quá khứ với niềm thương tiếc kính trọng. Thế nhưng cái tư tưởng thâm căn cố đế ngàn năm bắt học sinh phải nhớ nhiều, học để đi thi, học để thoát khỏi chân lấm tay bùn, học để làm quan của nền giáo dục bút lông và cái tư tưởng kĩ trị, lí thuyết, hàn lâm của nền giáo dục bút sắt vẫn đè nặng lên nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Kể cả các nhà lãnh đạo giáo dục, kể cả nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và đặc biệt là các pháo đài trường học bút lông bút sắt Việt Nam vẫn đang công khai chủ trương giữa thanh thiên bạch nhật, học phải ghi chép thật đầy đủ để học sinh biết đường mà học, học theo thầy, học để biết đường mà thi…
     Việc đánh giá nhà trường phải qua thi cử. Thi cử và điểm thi cử là số liệu đánh giá khách quan nhất. Việc chọn xét nhân tài, tuyển chọn công chức cũng phải qua thi cử. Và trong thi cử họ lại không tin thầy cô. Họ cũng không tin cả nhà trường nữa. Họ đổi trường, tráo cụm, hoán quận huyện. Việc tuyển công chức ở các tỉnh, thành phố còn là độc quyền thi cử của sở nội vụ và phòng nội vụ. Cứ cái đà này họ sẽ trở lại cái thời ngày xưa: “Trường Nam thi lẫn với trường Hà” mà nhà thơ Tú Xương đã miêu tả trong buổi xế tà lều chõng thời bút lông. Thăm lớp học ở đây, tôi nhận thấy học sinh rất ít sử dụng bút, học sinh nào cũng sử dụng máy tính, chỗ nào cũng sử dụng máy tính. Rõ ràng giáo dục người ta đang ở thời đại khác về chất so với chúng ta.
 Tiết học thứ hai tôi dự là tiết tập làm văn. Đề bài là: “Tuần trước các em lớp Kindergarten có buổi giao lưu với các anh chị lớp 5. Em hãy tường thuật lại buổi đó”. Đây là bài viết hoàn toàn thực tế, vì tôi nhìn thấy dấu tích trên tường dán đầy những bức tranh vẽ, những lời chúc tụng và ngợi ca của cá nhân hoặc nhóm các em hai lớp Kindergarten. Xem lướt qua những bức tranh, đọc lướt qua những dòng chữ của các em học sinh mẫu giáo. Có cái gì đó cũng làm tôi xốn xang. Thảo nào học sinh trong lớp cứ rì rầm. Khuôn mặt các em hiện lên vẻ phấn khích. Các em chăm chú theo dõi những hàng chữ mình đánh hiện lên trên màn hình. Thỉnh thoảng có em đứng lên, ngồi xuống, thậm chí đi đi lại lại trong lớp, nhưng cô giáo không hề nhắc nhở.
Tôi bất giác nhớ tới cháu Phương, con cô em gái. Cháu được đi thi học sinh giỏi văn cấp huyện. Cháu phải làm hàng chục đề văn nhà trường giao cho. Sau khi làm xong tập đề văn đó. Các cô tập trung đọc sửa, viết lại, thêm thắt và bắt cháu học thuộc. Nếu vào phòng thi, ra trúng đề nào thì cháu cứ việc chép ra. Mà đó cũng chẳng phải là trường hợp cá biệt. Nhiều trường có học sinh giỏi đi thi đều làm thế để học sinh có điểm cao. Kể cả thi tốt nghiệp phổ thông, thi tuyển đầu vào các cấp người ta cũng làm thế. Ngày trước còn thi tốt nghiệp lớp 5, lớp 9, thi vào lớp 10, thi tốt nghiệp lớp 12, đa số giáo viên văn luyện thi theo chủ đề. Vì hướng dẫn thi cũng theo chủ đề mà. Thí sinh vào phòng thi trúng tủ cứ việc chép văn mẫu ra. Thành thử các bài văn của các em như một cái khuôn đúc, giống hệt nhau. Tình trạng đó diễn ra cho cả những môn khoa học xã hội như sử, giáo dục công dân, thậm chí cả những môn học tự nhiên. Nói tóm lại, khái quát lại đó chính là cái công nghệ luyện thi, học thuộc lòng, sao chép, vận dụng đầy áp lực. Và người ta tự hào về cái công nghệ đó, cái công nghệ tạo ra từ khuôn đúc của thầy, giống thầy, càng giống thầy càng điểm cao. Cái lối học để đi thi, để lấy thành tích kiểu này chắc chắn chỉ đào tạo ra những lớp người học vẹt, chỉ biết tầm chương trích cú, sáo mòn, thui chột sự sáng tạo của học sinh.
Tôi rất tiếc là không biết được các đề bài làm văn của lớp trước đó. Hỏi mượn xem vở ghi chép để dò tìm, các em lắc đầu nói không có bất kì quyển vở ghi chép nào. Tôi nghĩ có lẽ phải hỏi cô giáo sau vậy. Chép xong đề bài lên bảng, cô giáo hướng dẫn học sinh làm bài. Học sinh không làm bài ra giấy. Và thực tế trên bàn học cũng không có cái gì để ghi chép. Các em viết bài trên máy tính. Tôi băn khoăn hỏi cô giáo sẽ chấm bài cho học sinh như thế nào. Cô trả lời tôi: “ Có hai hình thức. Hoặc tôi yêu cầu các em gửi bài vào mail cá nhân của tôi hay mail của lớp, hoặc tôi yêu cầu các em tự in bài viết của mình ra nộp lại cho tôi. Nhà trường có phòng để máy phôtô và máy in. Các em cứ việc in từ máy tính cá nhân tại lớp”.
Dự xong hai tiết học, cô giáo hỏi tôi có muốm tiếp tục dự giờ nữa không. Tôi nói nếu có thể tôi muốn dự một giờ toán. Cô giáo nói hôm nay không cô nào trong khối lớp 5 có tiết học toán. Nếu tôi muốn dự thì để ngày hôm sau cô sẽ bố trí cho. Theo kế hoạch, tôi sẽ đi thăm cơ sở vật chất của nhà trường. Cô cử hai học sinh đưa tôi đi thăm các lớp học từ lớp Pre-Kindergarten tới các lớp 5. Tất cả các lớp học và hành lang đều khép kín trong hệ thống điều hòa nhiệt độ. Trước khi vào một lớp nào đó các em đều gõ cửa xin phép giáo viên chủ nhiệm cho tôi được vào quan sát lớp học. Lớp học nào cũng có máy tính trên bàn giáo viên, một số máy tính nối mạng để ở các vị trí khác nhau trong lớp và lớp nào cũng có gắn máy chiếu projector trên trần, máy chiếu đa vật thể trên bàn giáo viên.
Các em dẫn tôi đến thăm phòng học ngoại ngữ. Cô trò một lớp vừa học xong giờ học tiếng Pháp. Tranh thủ lúc phòng còn đang để trống. Tôi vào trong quan sát. Ngoài máy tính, projector như phòng học, phòng ngoại ngữ còn trang bị hệ thống bàn ghế đặc biệt, bảng tương tác, tủ điều khiển đồng thời là bục giảng, đầu đĩa, dàn âm thanh mà tôi chưa từng nhìn thấy bao giờ. Các thiết bị này được điều khiển từ máy tính, cung cấp các giải pháp dạy và học tốt nhất cho giáo viên và học sinh. Nó cũng khai thác tối đa sức mạnh công nghệ thông tin, sự sáng tạo của thày trò trong dạy và học. Đặc biệt trên mặt mỗi chiếc bàn đều có một chiếc ipad gắn liền với một thiết bị nghe, một thiết bị điều khiển tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh…
Mặc dầu tôi là một nhà quản lí giáo dục ở một trường quốc tế, có phòng học ngoại ngữ, từng hướng dẫn thày trò trường mình cách sử dụng các thiết bị ở phòng ngoại ngữ nhưng ở phòng này, thú thực tôi mù tịt. Hai em hoc sinh dẫn tôi đi tham quan mô tả lại cho tôi cách sử dụng các thiết bị trong giờ học. Các em thao tác bằng bút điện tử hỗ trợ nhóm bằng công nghệ không dây. Các em mở ipad lấy chương trình học, lấy các phần mềm tự học cho tôi xem, đeo thiết bị nghe cho tôi thử. Các em còn lấy chương trình trò chơi tương tác với máy để tôi quan sát. Tôi đã được tham quan, đã được thực hành trong phòng máy học ngoại ngữ của các trường điểm cấp thành phố theo đề án dạy ngoại ngữ đến năm 2020 của Bộ giáo dục và Đào tạo. Nếu đem so sánh trang bị kĩ thuật, trình độ công nghệ, phần mềm dạy học, tính năng, công dụng, hiệu quả của phòng máy và khả năng sử dụng của thầy trò, tôi không biết phải nói thế nào cho đúng với tên gọi của sự vật. Hy vọng rằng vài ba chục năm nữa, chúng ta sẽ có những phòng học ngoại ngữ như kiểu thế này.
Tiếp tục các em đưa tôi đến các phòng học nghệ thuật của nhà trường. Phòng học mỹ thuật có mấy chục em đang say sưa bên giá vẽ. Trên bục cao là bức tượng mẫu rất đẹp. Hình như đó là bản sao bức tượng cổ điển Thần Vệ nữ. Ánh sáng vàng dìu dịu từ trên cao hắt xuống làm nổi rõ các góc sáng tối theo các hướng vẽ của học sinh. Tôi thấy có em đưa tay lên nheo mắt nhìn để chuẩn vật mẫu. Có em thì dùng bút chì. Có em thì dùng thước. Trông các em vẽ tôi thấy chuyên nghiệp chẳng khác gì những sinh viên trường mỹ thuật nào đó đang làm việc. Bên cạnh đó, một số em đang xé những tờ giấy màu để dán lại thành những bức tranh. Một số em đang miệt mài lấy đất nặn tượng theo hình mẫu. Một số em thì dùng dao đang gọt cắt những hình khối...
     Các em xin phép cho tôi được vào thăm phòng âm nhạc. Một giáo viên đang dạy hát cho tập thể lớp gật đầu và chỉ tay ra hiệu cho chúng tôi cứ tự nhiên. Phòng học được thiết kế như một sân khấu thu nhỏ. Có dàn âm thanh, có hệ thống đèn chiếu, có hệ thống ghế để học sinh đứng thành tầng lớp biểu diễn. Măc dầu có chúng tôi đang theo dõi trong phòng nhưng thầy trò vẫn cứ say sưa hát theo bè như không hề có sự tồn tại của ai. Các em tiếp tục dẫn tôi qua một của kính sang phòng học ghi ta, rồi qua một phòng học trống, phòng học organ. Phòng nào cũng có hàng chục nhạc cụ để sẵn trong phòng. Tôi hỏi hai em đưa tôi đi thăm trường học, các em học loại nhạc cụ gì. Một em cho biết là học trống. Một em cho biết là học organ.
Em học trống đánh cho tôi nghe một giai điệu Rock đơn giản nhưng mạnh mẽ đầy ấn tượng. Em học organ thì biểu diễn một bài rất quen thuộc với tôi: Lịch sử tình yêu. Bài này là bài đầu tiên cô giáo Xuyên dạy hai con gái tôi ngày đầu học đàn tại nhà. Lúc đó, nhiều đồng nghiệp biết tôi cho con học đàn, những người đó chỉ cho con học toán, lý, hóa và cho rằng việc đàn ca sáo nhị là vớ vẩn, là không phải giáo dục. Rất đáng tiếc cho đến ngày hôn nay, nhiều cán bộ quản lí trường học, nhiều phụ huynh vẫn cứ còn quan niệm như vậy.
Ấn tượng nhất trong chuyến viếng thăm Trường Tiểu học Russell Blvd là 2 em học sinh lớp 5 đưa tôi đi giới thiệu về trường. Một em da trắng, tóc vàng. Một em da đen, tóc quăn. Các em thật gần gũi và đáng yêu. Cả hai em đều rất tỉ mỉ, chi tiết và tự tin khi giới thiệu với tôi từng phòng học, phòng chức năng, phòng âm nhạc, phòng mỹ thuật. Các em hỏi tôi nhiều điều về trường lớp, về các bạn học sinh Việt Nam mà tôi không thể ngờ được. Chẳng hạn nhà trường đã cho học sinh đi thăm trường đại học nào, đi thăm bảo tàng mỹ thuật và bảo tàng khoa học nào. Một tháng được đi tham quan mấy lần, được đi siêu thị và được nhà trường cho bao nhiêu đô để ăn trưa. Tôi cố gắng giải thích cho các em sự khác biệt giữa nhà trường ở Mỹ và nhà trường ở Việt Nam. Các em cứ gặng hỏi tôi tại sao đất nước Việt Nam lại không xây dựng được một bảo tàng khoa học cho học sinh.
Trong khi đó, ở các thành phố Mỹ, dù chỉ có 6 trăm ngàn dân thôi cũng có bảo tàng mỹ thuật và bảo tàng khoa học. Chẳng lẽ tôi nói với các em rằng Việt Nam không có tiền xây dựng hay các nhà quản lý văn hóa, giáo dục Việt Nam chưa nhận thức được tầm quan trọng của các loại bảo tàng như ở Mỹ. Tôi cũng băn khoăn tự hỏi không biết học sinh ở một lớp cấp THCS và THPT mà tôi đã từng là hiệu trưởng, hiệu phó có mấy em được như hai em lớp 5 này. Tôi chứng kiến nhiều lần các chuyên gia giáo dục nước ngoài đến làm việc với học sinh lớp chọn của trường tôi. Phần lớn các em phải tiếp xúc với người nước ngoài thì đều e ngại, rụt rè, thiếu tự tin. Các em không dám hỏi lại bất cứ vấn đề gì. Các em càng không có bất cứ phản hồi gì khi các chuyên gia đặt ra các vấn đề với các em. Điều duy nhất tôi được người ta khen là học sinh của tôi làm bài tập tốt; đặc biệt là làm được nhiều bài tập toán và bài tập các môn khoa học tự nhiên rất khó, khó đến bản thân họ là chuyên gia cũng phải vò đầu mới tìm ra được cách giải. Họ rất “ khâm phục” Việt Nam có nhiều học sinh giỏi quốc tế, nhưng chất lượng giáo dục con người thì hoàn toàn thuộc hai đẳng cấp khác nhau. Một nền giáo dục phát triển năng lực, nuôi dưỡng cá tính, đam mê, tự do và sáng tạo. Một nền giáo dục xoay quanh một số môn học, đào tạo ra lớp người để đi thi, lớp người công cụ, những thợ làm bài tập văn, làm bài tập toán, làm bài tập lý, làm bài tập hóa...
Cuối cùng các em đưa tôi đến thăm thư viện của nhà trường. Thư viện của một nhà trường tiểu học mà có tới vài ngàn đầu sách cùng với mấy chục chiếc máy vi tính nối mạng. Hai em thay nhau giới thiệu sách văn học, sách khoa học, sách lịch sử, địa lý... Đặc biệt các em còn làm tôi vô cùng ngạc nhiên khi lấy ra ba cuốn sách về Việt Nam. Một cuốn giới thiệu về đất nước con người Việt Nam. Một cuốn về các dân tộc ở Việt Nam. Một cuốn về chiến tranh ở Việt Nam. Cầm ba cuốn sách trên tay, phải nói rằng tôi thật sự bị sốc. Sốc vì cách xa nửa vòng trái đất ở Trường Tiểu học Russell có những cuốn sách chuyên đề về Việt Nam. Tôi cam đoan rằng khắp các thư viện tiểu học, trung học cơ sở ở Việt Nam không có lấy một cuốn sách chuyên đề nào nói về nước Mỹ. Phải chăng đó không chỉ là sự khác biệt của hai nền giáo dục mà là sự khác biệt giữa một siêu cường với một nước đang phát triển vừa mới thoát khỏi nghèo như đất nước Việt Nam.
Khi tôi bước vào thư viện, ở đó có khoảng vài chục em đang đọc sách. Học sinh ở đây đều có tiết học trên thư viện và có thời gian hai tiếng tự do một tuần để vào thư viện đọc sách hay chơi thể thao. Học sinh có thời gian, có quyền lựa chọn hoặc ra sân bãi hoặc vào thư viện. Và thư viện trường học của Mỹ thực sự là mái nhà tri thức, nơi thu hút các em học sinh đam mê sách vở. Các em rất trật tự, nghiêm túc tuân thủ nội qui, không làm phiền bất kì ai ở trong phòng.
Thư viện trường học ở Việt Nam thực tế rất hình thức, vừa ít về số lượng vừa nghèo về nội dung. Cả năm có mấy học sinh đến đọc? Vả lại học sinh có muốn đến thư viện đọc sách thì cũng đâu có thời gian, đâu có rảnh để đến thư viện. Chúng còn phải đi học buổi thứ hai kín cả tuần. Thứ bẩy, chủ nhật ở các thành phố và thị xã, các vùng nông thôn gần các đô thị còn phải đi học thêm, thậm chí đến 9 giờ đêm vẫn phải học thêm. Ngay cả khi ông bà ốm, cháu muốn đi thăm ông bà. Bố mẹ nói với con đó là trách nhiệm của bố mẹ, còn nhiệm vụ của con là đi học, không phải thăm nom gì cả. Quan niệm học đến méo mó, học đến mụ mẫm, học đến phi nhân tính. Có gia đình còn bán cả ruộng đất, trâu bò, công cụ lao động để cho con đi học đại học. Tôi cho rằng việc làm đó là đáng khen nhưng cả xã hội hành động như thế thì đồng nghĩa học hành đến nghèo đói, sểnh ra thì cả nhà đi ăn mày ăn xin. Nhưng vì thành tích, vì thi cử, vì tham vọng của người lớn và cả vì tiền mà các nhà trường và phụ huynh đã cố tình đánh mất tuổi thơ của các em.
Một em học sinh ở một trường chuyên, khi được đi học nước ngoài có nói với tôi: “Nhìn lại quãng thời gian học hành ở trong nước, bây giờ cháu nghĩ lại, nó chẳng khác gì địa ngục trần gian”. Từ thực tế đó, tôi thấy vấn đề là chúng ta cho học sinh học đến như vậy nhưng nền giáo dục của chúng ta mấy chục năm trở lại đây có đào tạo ra được nhân tài và lao động chất lương cao đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế? Chỉ thấy người ta kêu thầy không ra thầy, thợ không ra thợ. Các công ty nước ngoài đều  ngán ngẩm với trình độ nhân lực của Việt Nam. Cho nên có người nói giáo dục Việt Nam không phải là lạc hậu, duy ý chí mà là lầm đường, lạc lối. Nhận định quá tả đó cũng không phải hoàn toàn không có cơ sở.




Read More

Đôi điều về giáo dục phổ thông của một thành phố

Leave a Comment
Từ rất sớm, từ trước những năm 1800, người Mỹ đã nhận thức được tương lai của họ, những người tự do, phụ thuộc vào chính trí tuệ của họ. Vì thế giáo dục, chất lượng giáo dục, chi phí cho giáo dục vẫn là mối bận tâm hàng đầu của Hoa Kỳ kể từ ngày lập quốc. Và thực tế, chính các trường công, trường tư từ bậc phổ thông tới đại học ở Hoa Kỳ đã phản ánh lịch sử nước Mỹ và tạo nên bản sắc của nước Mỹ. Những câu hỏi căn bản về mục đích và phương pháp giáo dục đã trở thành những vấn đề quan trọng trong các cuộc tranh luận tại Hoa Kỳ. Từ phong trào trường công lập giữa thế kỉ 19, các cuộc tranh luận về tiêu chuẩn học thuật và thi cử đầu thế kỉ 20 đến Luật No child left behind mới được ban hành đầu năm 2000 và thường được điều chỉnh từ đó đến nay, vấn đề giáo dục vẫn là một chủ đề được tranh luận sôi nổi nhằm thay đổi và bảo tồn những giá trị ở quốc gia này.
Việc tranh luận về vấn đề giáo dục thu hút tất cả mọi người tham gia, từ người dân đến nhà trường, các trí thức, các học giả, các đảng phái đến hạ viện, thượng viện và tổng thống. Nhưng kết quả giáo dục Mỹ vẫn không có một chương trình thống nhất cho toàn bộ quốc gia. Và đương nhiên cũng không thể thống nhất việc dạy - học cho cả quốc gia. Về mặt lý thuyết, có thể coi giáo dục Mỹ như một tòa nhà. Nền móng của tòa nhà gồm hai thành tố, cơ sở vật chất: Trường lớp, phòng thí nghiệm, thiết bị dạy học và văn hóa Mỹ cùng với hệ tư tưởng nhà nước tư sản Mỹ, một xã hội hậu công nghiệp nặng về tiêu dùng, đề cao cá nhân, tự do, nhân quyền, luật pháp... Phía trên của ngôi nhà là những trụ cột của giáo dục. Nó bao gồm chương trình dạy, học, nghiên cứu. Vậy mà Bộ Giáo dục Mỹ không quy định chương trình, cũng không quy định dạy cái gì, không ban hành sách giáo khoa. Người ta để cho bang và địa phương tự quyết định. Trên cùng, cái nóc của tòa nhà giáo dục, là cơ quan cao nhất của giáo dục Mỹ, nơi hoạch định chiến lược, tầm nhìn, nơi quyết định chương trình cho đến tận bữa ăn của học sinh lại là chính quyền bang và cơ quan giáo dục địa phương.
Không giống Việt Nam, có thể nói, Hoa Kỳ không có hệ thống quản lý giáo dục quốc gia. Việt Nam thì ôm chặt từ mầm non tới đại học, từ chương trình đến sách giáo khoa, từ chỉ tiêu số lượng đầu vào đầu ra, thậm chí đến ngày thi, giờ thi, đề thi của các cấp người ta cũng quản lý. Có như thế, họ cảm thấy mới có quyền và theo đó là có tiền. Giáo dục Hoa Kỳ triệt để phân quyền. Trường học thuộc trách nhiêm của bang và địa phương. Các hội đồng quản trị giáo dục địa phương được bầu lên để quản lý 15.500 khu vực trường học khắp cả nước. Hội đồng giáo dục bang giám sát công viêc giáo dục tại địa phương, đề ra các tiêu chuẩn, thông qua chương trình, thông qua việc lựa chọn sách giáo khoa. Vì vậy trên tổng thể 50 bang là 50 chương trình. Đó là chưa kể các địa phương, các thành phố độc lập cũng có quyền lựa chọn chương trình, sách giáo khoa cho riêng mình. Ngay cả đến nhà trường và học sinh cũng có quyền lựa chọn cái gì mình thích để học. Sự đa dạng, sự phong phú của giáo dục Mỹ nằm ở chính những cái trụ,  cái nóc của tòa nhà giáo dục. Nó gắn liền với thực tế địa phương, không độc đoán, quan liêu. Nó đào tạo theo yêu cầu thực tiễn của xã hội chứ không chỉ thuần để chuẩn bị hành trang vào đời trong tương lai cho học sinh như ở Việt Nam.
Tôi cho rằng không một quốc gia nào trên thế giới có một hệ thống giáo dục đa dạng như Hoa Kỳ. Chính vì sự đa dạng, linh hoạt cho nên nó thu hút đại đa số người Mỹ theo học ở tất cả các loại hình trường và sở hữu một nền giáo dục phổ cập lớn nhất thế giới. Theo Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia năm 2013, có trên 76 triệu học sinh, sinh viên  theo học tại các cơ sở giáo dục từ mần non tới đại học ở Hoa Kỳ. Có gần 7 triệu giáo viên được tuyển dụng từ mầm non tới đại học. Giáo dục Hoa Kỳ chủ yếu là nền giáo dục công, 85% học sinh theo học ở các trường công do chính quyền liên bang, chính quyền bang và địa phương điều hành, cung cấp tài chính. Học sinh phổ thông học trường công không phải đóng góp một khoản học phí nào. Các gia đình có thu nhập thấp con em họ còn được ăn trưa miễn phí ở trường, được xe đưa đón đến trường hàng ngày không phải mất tiền. Việc giáo dục mang tính bắt buộc và được phổ cập tới cấp trung học phổ thông. Chính quyền bang thường quyết định các tiêu chuẩn giáo dục và thi cử. Nhưng các địa phương thông qua hội đồng học khu được chọn qua bầu cử có quyền đề ra chương trình học, mức hỗ trợ tài chính, có nhân sự và ngân sách độc lập. Độ tuổi bắt buộc đi học khoảng 4 đến 6 tuổi tùy theo từng bang. Độ tuổi được phép nghỉ học khoảng 16 đến 18 tuổi, tùy theo từng bang.
Học sinh có thể hoàn thành các chương trình giáo dục bắt buộc qua các trường công, trường tư, thậm chí học ở nhà, ở một trung tâm, ở một trại trẻ theo một chương trình giáo dục được cơ quan giáo dục địa phương chấp thuận. Hầu hết các trường phổ thông công lập và tư thục được chia thành ba cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Các lớp học thường được chia theo độ tuổi, từ mẫu giáo đến lớp l, lần lượt đến lớp 12. Trong hệ thống giáo dục, Mỹ không có các trường nhà trẻ và mẫu giáo công. Phần lớn là các trường nhà trẻ, mẫu giáo tư thục. Các gia đình có con nhỏ tự đi tìm trường và phải chi trả một khoản học phí khoảng từ 800 đến 1500 đô một tháng.
Vân, cô con gái thứ hai đang theo học chuyên ngành về lãnh đạo và quản lí giáo dục. Trong lớp học thạc sĩ và tiến sĩ của Vân có nhiều người bạn Mỹ đang là hiệu trưởng, là lãnh đạo ở các nhà trường phổ thông, các cơ sở giáo dục trong và ngoài thành phố Columbia. Vì vậy, qua Vân tôi có điều kiện thuận lợi để đến thăm một số nhà trường phổ thông cụ thể và tìm hiểu tình hình giáo dục chung tại thành phố Columbia.
Có tám người trong ban lãnh đạo giáo dục thành phố. Đứng đầu cơ quan giáo dục này là Tiến sĩ Chris Belcher, Giám thị (Superintendent). Giúp việc cho ông là là Phó Giám thị (Deputy Superintendent) Tiến sĩ Nic D. Boren. Tiếp theo là Chuyên viên phụ trách chuyên môn (Chief Academic Officer), Tiến sĩ Sally Beth Lyon. Chuyên viên phụ trách Tài chính (Chief Financial Officer) Linda Quinley. Trợ tá Giám thị (Assistant Superintendent) giáo dục cấp Trung học, Tiến sĩ Jolene Yoakum. Trợ tá Giám thị giáo dục cấp Tiểu học, Tiến sĩ Peter Stiepleman. Trợ tá Giám thị về Nhân lực, Tiến sĩ Dana Clipard. Nếu so sánh bộ máy lãnh đạo giáo dục của thành phố Columbia với một sở giáo dục ở Việt Nam ta thấy có quá nhiều điểm khác biệt về số lượng và về chất lượng con người. Theo chỗ tôi được biết, số lượng và cơ cấu ban lãnh đạo của các thành phố to hay nhỏ ở Mỹ không khác biệt nhau nhiều lắm.
Thành phố Cumbia có 22 trường tiểu học (Elementary School) bao gồm 8824 học sinh từ độ tuổi 4 tuổi tham gia lớp Pre-Kindergarten, 5 tuổi tham gia lớp Kindergarten, 6 tuổi vào lớp 1cho đến hết lớp 5. Có 8 trường trung học cơ sở trong thành phố (Middle School) bao gồm 5263 học sinh từ lớp 6 đến hết lớp 9 và 4 trường trung học phổ thông (High School) bao gồm 3635 học sinh từ lớp 10 đến lớp 12. Tổng số học sinh trường công của thành phố là 17722 học sinh. Ngoài ra thành phố còn có 5 trường tư thục liên cấp, hàng chục trường nhà trẻ và mầm non tư thục với trên 1800 học sinh.




Read More

Thăm tổ hợp giải trí Recreation của Trường Đại học MU

Leave a Comment
Từ hôm sang Mỹ, đây là buổi trưa đầu tiên tôi ngủ được hơn một tiếng. Tôi cảm thấy trong người rất thoải mái để cùng với mọi người đi cổ vũ bóng đá cho đội sinh viên Việt Nam. Chiều nay diễn ra trận vào tứ kết giữa đội sinh viên Việt Nam và đội sinh viên Iraq. Trời rất nắng nhưng khi tôi ra đến sân bóng của Trường Đại học MU thì gần như tất cả sinh viên Việt cùng với người nhà đã tới sân bóng. Kể cả các cháu nhỏ mới vài tháng tuổi cũng ngồi trên xe đẩy có mái che theo mẹ đi cổ vũ. Đây là một trong số các sân bóng dành cho sinh viên. Sân này có thể nói là sân trung tâm, gần biểu tượng hổ Tiger và Tổ hợp Giải trí Recreation Complex. Kích cỡ sân theo tiêu chuẩn quốc tế. Mặt sân phẳng lừ bằng cỏ nhân tạo. Chỉ có khoảng bảy mươi người Việt vậy mà không khí thật rộn ràng. Mấy cháu năm thứ nhất còn kiếm đâu được cả trống và thanh la. Âm thanh của trống, âm thanh của thanh la nổi lên từng hồi trong không gian xứ người nghe sao giục giã thân thương.
Tôi không ngờ các cháu chuẩn bị chu đáo đến như vậy. Bánh các loại, hoa quả các loại, nước giải khát các loại bày ra la liệt. Thêm vào đó các gia đình lại mang theo đồ ăn uống cá nhân. Nếu gộp đồ ăn thức uống cả lại, thực sự trở thành một bữa tiệc thịnh soạn. Cả Hoài Anh và Giang đều tham dự đá chính thức. Hiệp một hai đội hòa 0 – 0. Đến cuối hiệp hai một sinh viên Việt sút tung lưới khung thành đối phương. Tiếng reo hò, tiếng trống, tiếng thanh la vang dội. Nhưng rất tiếc trọng tài không công nhận bàn thắng, vì người sút rơi vào thế việt vị. Sau bàn thắng không được công nhận đó, đội sinh viên Việt trùng xuống để đội bạn liên tiếp sút vào lưới 2 bàn. Thật tiếc cho đội sinh viên Việt Nam không được vào bán kết. Giá bàn thắng của đội sinh viên Việt được công nhận thì kết quả trận đấu có thể sẽ khác. Nhưng công bằng mà nói, đội Iraq hơn hẳn đội sinh viên Việt về thể lực. Kết quả họ thắng là hoàn toàn đúng.
Ăn uống bàn tán hàng tiếng bên lề sân cỏ, mọi người chia tay chào nhau ra về. Một số rủ nhau vào chơi trong Tổ hợp Giải trí Recreation Complex (Rec). Vợ chồng Thúy và Giang đã thống nhất từ trước, sau trận bóng sẽ dẫn tôi đi thăm Rec và tắm táp nghỉ ngơi đến tối mới về. Tổ hợp giải trí Rec của MU khác với khu Trung tâm thể dục thể thao hiện đại nằm ở phía Đông Nam của nhà trường, nơi chỉ dành riêng cho sinh viên chuyên ngành. Tổ hợp này phục vụ không hạn chế với cán bộ, giáo viên, nhân viên và sinh viên của nhà trường cũng như cán bộ, giáo viên, nhân viên của hai trường đại học liền kề. Rec là một trong năm tổ hợp có qui mô và hiện đại nhất trong số các Rec của các trường đại học cao đẳng Mỹ.
Ở Việt Nam không có tổ hợp thể thao giải trí nào tương tự để so sánh. Nhưng nếu đem gộp cơ sở vật chất của hai trung tâm huấn luyện thể dục thể thao quốc gia và cơ sở vật chất của hai trường đại học thể dục thể thao Từ Sơn, Sư phạm Hà Tây với cơ sở vật chất thể dục thể thao của MU thì có thể nhận xét một cách ngắn gọn, cơ sở vật chất của bốn nơi đó cộng lại bằng ba từ: Nghèo nàn, lạc hậu và nhếch nhác. Và đó cũng là một trong những lí do giải thích vì sao kết quả thi đấu thể dục thể thao ở khu vực và ở trên thế giới của đội tuyển Việt Nam cứ đi xuống dần dần. Chỉ khi có điều kiện tập thể hay cá nhân được đi tập huấn tại nước ngoài, thành tích thi đấu mới có phần được cải thiện.
Khu giải trí và thể thao của MU là cơ sở được các nhà quản lí và chuyên môn đánh giá rất cao, không có một cơ sở nào tốt hơn trên thế giới. Nó cung cấp cho sinh viên tất cả mọi thứ sinh viên cần để đảm bảo một cuộc sống tươi vui, khỏe mạnh. Rec có hàng trăm chương trình với hàng trăm lớp học thích hợp với từng nhóm, từng cá nhân. Có rất nhiều các phòng tập với đầy đủ tất cả các dụng cụ từ cổ điển đến hiện đại. Có một sân bóng cỏ nhân tạo ngoài trời theo tiêu chuẩn quốc tế. Có một bể bơi ngoài trời theo tiêu chuẩn quốc tế. Có ba bể bơi nước nóng trong nhà, một bể bơi nước nóng thiết kế riêng cho cả gia đình, một nhà tắm xông hơi và một nhà tắm khô. Hàng chục sân bóng các loại, hàng chục sân tập đa năng từ cầu lông, bóng chuyền, bóng rổ, bóng bầu dục, bóng bàn đến các đường chạy; hệ thống nhà hàng, nơi nghỉ ngơi thư giãn, nơi chăm sóc sức khỏe... Tất cả đều nằm trong khuôn viên có nhiệt độ ổn định.
Giang dẫn tôi đi thăm và giới thiêu kĩ về khu Jungle Gym. Đây là khu tập thể dục rộng lớn. Toàn bộ khu vực có 24 màn hình phẳng, một nhà hàng cung cấp các loại năng lượng cho người tập luyện, hơn 100 thiết bị đo tim mạch. Người tập vừa tập luyện vừa theo dõi biết được tình trạng của cơ thể qua màn hình hoặc qua các thiết bị. Thậm chí người tập vừa luyện tập vừa nghe nhạc qua các thiết bị tùy chọn có sẵn. Tôi thấy nhiều sinh viên vừa chạy trên máy chạy vừa chọn đĩa DVD để xem trên màn hình. Nghĩa là sinh viên ngay cả khi luyện tập vẫn không bỏ lỡ cơ hội sở thích riêng của mình. Và nếu sinh viên muốn tập một mình, muốn có thời gian nghiên cứu các bài tập qua sách vở, qua băng đĩa, sinh viên có thể vào các phòng tập cá nhân với những thiết bị riêng biệt. Chẳng hạn sinh viên muốn đi trên máy đi bộ, đi xe đạp tại chỗ, tập các loại tạ, xà và các thiết bị tự chọn khác có hình ảnh để tập thì cứ việc chọn phòng và bật hình ảnh lên. Nhưng điều đặc biệt hơn cả là hệ thống chuyên gia, hệ thống giáo viên, hệ thống huấn luyên viên dường như lúc nào cũng túc trực ở những vị trí mà sinh viên cần để giúp đỡ. Tôi hỏi Giang:
-      Ba nghĩ có tới hàng trăm người phục vụ ở đây. Chẳng lẽ nhà trường phải trả lương cho tất cả đội ngũ đông đảo như thế này?
-      Sinh viên vào đây đều phải trả tiền theo năm học. Hơn một trăm đô là có thể vào đây cả năm. Nhưng số tiền hàng chục nghìn sinh viên vào đây một năm thì đâu phải là nhỏ. Nhà trường phải trả lương cho hệ thống chuyên gia, giáo viên và huấn luyện viên. Trong số họ không ít người là sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao. Họ chỉ nhận được trợ cấp đủ sinh hoạt như kiểu học bổng của chúng con. Vì vậy con nghĩ nhà trường chắc không phải bù lỗ đâu.
Tôi tiếp tục khám phá khu vực Downtown Brever. Đây là khu vực có một không gian đặc biệt để sinh viên lựa chọn luyện tập các môn học và hưởng niền vui đầy cảm hứng của mình. Đi dọc khu vực này, tôi có cảm giác như mình vừa khám phá ra cái vẻ đẹp của khu trung tâm thành phố Columbia với những cửa hàng, cửa hiệu và phong cách phục vụ đặc trưng của thành phố. Tạt vào một phòng võ thuật, chứng kiến sinh viên đang luyện tập, đang trình diễn các loại võ thuật trên nền sàn bằng thảm đặc biệt dưới sự chỉ dẫn của giáo viên, xung quanh tường có hệ thống gương điều chỉnh tự động để người tập tự nhìn mình mà điều chỉnh động tác, tôi cảm thấy hình như cái gì cũng chuyên nghiệp. Bên cạnh phòng võ thuật là phòng tập nhảy, phòng tập múa. Không gian của những phòng này cho phép nhiều sự lựa chọn cho cá nhân và cho tập thể. Phòng dành cho tập thể có thể chứa cùng một lúc tới 150 người tập. Các phòng đều có đệm, có gương đặc biệt. Bên cạnh các phòng tập trên, có một hệ thống phòng để tủ, khăn, phòng tắm có dầu gội đầu, kem dưỡng da, máy sấy, phòng thư giãn nghỉ ngơi…
Tôi lướt qua một loạt các phòng như phòng Tiger Lair, phòng tập thể dục trọng lượng, phòng tập yoga, phòng Tiger X Studio, phòng tập được hỗ trợ bởi âm nhạc cao chứa hàng trăm người… Tôi dừng lại trước một ngọn núi sừng sững như một tòa nhà cao tầng. Người ta gọi nó là đỉnh SoroggsPeak, mô phỏng núi đá thuộc vùng Columbia. Sinh viên muốn học leo núi ở đây phải trang bị các dụng cụ leo núi và phải có giáo viên hướng dẫn. Bên cạnh đó là bức tường Boulder Wall, một bức tường dài và rất cao. Trên bức tường thẳng đứng có những núm tua tủa nhô ra như những chiếc sừng bò. Thiết kế như vậy để sinh viên tập leo trèo với những đôi găng tay chuyên biệt, với những bộ quần áo chuyên biệt, tạo ra một cái thú luyện tập giải trí cao cấp.
Cuối cùng chúng tôi vào phòng thay đồ, đến khu vực bể bơi để tắm. Bể bơi Rec có tầng đáy di động, tự động điều chỉnh độ sâu từ 10 mét đến 50 mét. Bể bơi có gần hai chục đường bơi, còn có hệ thống lọc tự động, có hệ thống tia cực tím khử trùng, có sân gạch bao quanh và khoảng trống hơn 1000 chỗ ngồi cho khán giả. Nơi đây hàng năm đều diễn ra các cuộc thi bơi giữa các trường đại học, các giải bơi lớn hàng năm của bang và của liên bang.
Dù đã khởi động đến nóng người, nhưng khi nhảy xuống bơi, tôi và Giang vẫn cảm thấy nước không đủ độ ấm. Càng nấn nuối tôi càng cảm thấy lạnh. Đến lúc không chịu được nữa, tôi bèn nói với Giang:
-      Thế có bể nào nước ấm hơn bể này không?
-      Ba lạnh à?
-      Ở nhà ngay cả mùa hè ba cũng tắm nước nóng nên quen rồi. Tắm ở đây lạnh quá.
-      Ba mà ra bể bơi ngoài trời thì không biết sẽ như thế nào. Thế mà họ vẫn đang tắm ở đó đấy. Nếu ba không chịu được thì hai cha con đến bể bơi gia đình. Anh Hoài Anh và chị Thúy cùng bé Lâm chắc đang bơi ở đó.
Thật buồn vì sức khỏe của tôi có vấn đề. Hàng trăm người đang say sưa tắm, còn tôi thì phải bỏ sang bể bơi khác. Nhưng biết làm thế nào. Trên đường đi đến bể bơi gia đình, tôi cứ run cầm cập. Tôi quấn chặt chiếc khăn tắm quanh người và cố vận động mạnh cho người ấm lên. Vừa đến bể bơi khu gia đình, tôi để khăn tắm trên một cái ghế rồi vội vàng ào xuống. Trời ơi, nước ở bể này lại quá nóng. Mặc dầu vậy tôi vẫn còn chịu được. Khu bể bơi này nông, có nhiều vòng. Có bể nước xoáy chạy vòng theo hình số 8. Vào vòng này ai cũng bị cuốn theo dòng nước, không thể dừng lại, cũng không thể đi hay bơi ngược được.
Bể bơi rất đông người. Có lẽ đến vài ba chục gia đình chứ không ít. Phần đông là gia đình hai thế hệ, cả bố mẹ và con cái. Có gia đình chỉ có mẹ và con. Cũng có gia đình chỉ có bố và con. Cá biệt có gia đình có cả ông bà, bố mẹ và con cái. Khác hẳn với bể bơi ở khu thi đấu, chỉ có tiếng nước ầm ập, tiếng ào ào của động tác tiếp nước. Ở đây tiếng cười, tiếng nói đủ các cung bậc, cứ râm ran, vang động cả khu vực. Tôi để Lâm bám vào một bên vai, cu cậu đập tay cho nước bắn vung lên rồi cười toe toét. Thỉnh thoảng Lâm còn hét lên, vẻ thích thú. Mỗi lần đưa lên bờ, cu cậu lại đòi xuống ngay, để rồi lại đập nước, lại cười, lại hét.
Thúy bảo tôi thử vào hai nhà xông tập thể xem sao. Một nhà xông khô, một nhà xông hơi nằm kề với khu bể bơi gia đình. Tôi mở tấm cửa kính lùa, bước vào nhà xông khô. Ở đó, có hàng chục người lớn tuổi đang ngồi trên những chiếc ghế. Tôi bắt chước mọi người cũng ngồi trên một chiếc ghế. Không khí trong phòng nóng bỏng. Mồ hôi trên người tôi đổ ra ròng ròng. Khoảng mươi phút sau, tôi không chịu được cái nóng trong phòng, phải bỏ ra ngoài. Nghỉ một lúc, tôi bước tiếp vào nhà xông hơi. Cả căn phòng mù mịt hơi nóng, không nhìn rõ, không phân biệt được ai với ai ở trong phòng. Đôi mắt tôi cay sè vì hơi nước, vì mồ hôi chảy xuống. Tôi cứ phải nhắm tịt mắt lại và đưa tay lên mặt lau liên tục. Nhưng cũng chỉ ở được trong phòng khoảng dăm phút. Hơi nóng bỏng khiến tôi không thể chịu đựng được hơn nữa, buộc tôi phải ra bể mát xa nước.
Tắm xong Giang lại hò mọi người đi ăn nhà hàng Trung Hoa. Tất cả chúng tôi lên xe cùng với khoảng một chục gia đình nữa. Tôi cảm thấy bao nhiêu cái mệt mỏi của người già, cả về thể xác lẫn tinh thần trong người dường như tan biến. Thật là dễ chịu. Cảm giác dễ chịu, sảng khoái hơn cả mấy lần trước tôi được đi tắm nước khoáng ở Kim Bôi- Hòa Bình và Thanh Tân, Mỹ An- Huế cùng với các cán bộ quản lí trường học. Ở đây giờ nào, ngày nào sinh viên muốn thì chúng cũng được tận hưởng cái cảm giác tuyệt vời mà cả một đời công tác tôi mới được nếm trải vài lần. Nhớ tới cái thời sinh viên của mình, thường thường ngày nào tôi cũng có cái cảm giác đói thèm cơm. Thỉnh thoảng, mấy bà cấp dưỡng của trường sư phạm cho một vài khoanh cháy, chúng tôi hò nhau uống rượu, mỗi đứa một chén, nhắm với miếng cháy ròn tan. Thế đã là sung sướng lắm rồi. Lấy đâu ra việc đi bơi bể bơi, đi tắm hơi, đi ăn buffet.




Read More

Thăm Trung tâm thương mại Columbia Mall

Leave a Comment
Giang đi học. Vân ở nhà cùng bé Bảo. Hai vợ chồng Hoài Anh đưa tôi đi chơi Trung tâm Thương Mại Columbia Mall. Khu trung tâm này nằm ở phía đông Columbia, cách khu kí túc xá chúng tôi ở khoảng mười lăm phút đi ô tô. Tôi không biết chính xác nó rộng bao nhiêu ha, nhưng đại loại là rất rộng. Trung tâm chia ra làm năm khu vực chính. Mỗi khu vực có kí hiệu bằng một chữ cái, từ A đến F. Mỗi một khu vực lớn lại được chia thành những khu vực nhỏ với những chức năng khác nhau. Chẳng hạn khu vực dịch vụ bao gồm khu phụ kiện, khu ngân hàng, thẻ tín dụng, khu chăm sóc sức khỏe, khu thẩm mĩ, khu vui chơi của người lớn và trẻ em.
Đi sâu vào bên trong tôi không còn phân biệt khu vực nào với khu vực nào. Tôi có cảm giác mình bị ngập chìm, bị lạc lối giữa một chốn mê cung hàng hóa. Chỉ biết tôi đang đi xem ở khu vực bách hóa, rồi khu cửa hàng bán đồ trẻ em, khu cửa hàng bán đồ trang sức, quần áo phụ nữ, khu bán đồ chơi, khu bán đồ dụng cụ thể dục thể thao, khu vực dày dép, khu thiết bị công nghệ thông tin và điện tử, khu vực văn hóa phẩm, khu vực bán lương thực và thực phẩm, khu giải khát, khu nhà hàng ăn uống… Hoài Anh và Thúy mải mua mua sắm sắm, còn tôi đẩy xe bé Lâm tới nơi vui chơi dành cho trẻ. Ở đó có rất đông các gia đình đầy đủ cha mẹ và con cái. Tất cả mọi người đều cuốn vào cuộc chơi. Bé Lâm không chịu ngồi yên trên xe, cu cậu nhoài ra khỏi xe, xuống chỗ các anh các chị người Mỹ đang chơi để chơi cùng.
Cái cách thức tổ chức theo mô hình trung tâm thương mại giống như của Mỹ có lẽ ở Việt Nam chưa có. Một vài siêu thị lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ như một góc nhỏ của trung tâm này. Chức năng của các siêu thị đúng như cái tên của nó chỉ là nơi mua và bán hàng hóa các loại. Dù có hiện đại, văn minh thì cũng chỉ là cái chợ. Trung tâm thương mại ở đây khác, nó không chỉ là nơi diễn ra hoạt động mua và bán. Người ta đã đi đến đây thì chí ít cũng dành vài tiếng hoặc cả ngày ở trong trung tâm mà không cần phải đi đâu nếu không có việc gì bận. Thứ nhất, nó không thiếu bất cứ cái gì người ta cần. Thứ hai, nó như là nơi vui chơi giải trí và thư giãn cho cá nhân và cho cả gia đình. Thứ ba, nó có khu vực chẳng khác gì nhà nghỉ dưỡng hay khách sạn cao cấp, nếu người ta có nhu cầu tĩnh mịch hoặc cần nghỉ ngơi một vài tiếng thì đều rất sẵn. Nhưng tôi có cảm giác tất cả những điều đó không quan trọng với người Mỹ. Hình như họ đến đây là đến một điểm hẹn để gặp gỡ, giao tiếp ngoài việc mua hàng, cho đàn ông, đàn bà và cả trẻ nhỏ.
Khi mua xong một số vật dụng, trong đó có một số đồ dùng cá nhân cho tôi, Thúy tìm đến chỗ hai ông cháu, chúng tôi cùng đến khu văn hóa phẩm. Tôi muốn mua một ít sách giáo khoa và một vài cuốn sách về giáo dục để đem về nước. Nhìn giá sách, đầy ắp những cuốn sách mang tính chất nghiên cứu sau bìa, cuốn đề một trăm năm mươi đô, cuốn đề hai trăm đô, cuốn thì hai trăm ba mươi đô. Tôi nhận ra rằng sách chuyên môn nghiệp vụ ở Mỹ đắt đến rụng rời. Tôi chỉ dám chọn mua một vài cuốn bàn về phương pháp giảng dạy trong nhà trường phổ thông để kỉ niệm chuyến đi. Vả lại, Thúy và Vân cũng đã gửi cho tôi không ít sách về giáo dục, mà tôi đã đọc được hết đâu.
Trong chuyến đi này, một việc tôi cần làm là mua một số sách giáo khoa về khoa học tự nhiên cho nhà trường. Cần thiết nhất là sách giáo khoa toán và khoa học từ lớp 6 đến lớp 12. Tôi tìm lướt qua đến vài chục giá sách, nhưng không tìm thấy một cuốn nào. Chỉ có sách bài tập và sách tham khảo cho thầy và trò thôi. Tôi hỏi nhân viên về địa chỉ cửa hàng chuyên bán sách giáo khoa cho các cấp học phổ thông. Họ nói có lẽ ở thành phố này không có loại cửa hàng đó. Vì ở trường học, các em học sinh đều được cấp phát sách giáo khoa, hoặc được mượn sách giáo khoa ở thư viện mang về nhà, nên ở các cửa hàng có lấy sách giáo khoa về bày bán, chắc cũng chẳng có ai mua. Thì ra là như vậy. Nhưng chẳng lẽ sách giáo khoa lại khó mua đến thế ư. Ở Việt Nam cứ bước ra khỏi nhà là ê hề. Trên trời dưới đất đủ các loại. Người ta bày bán đầy dẫy ở các hiệu sách, ở cả vỉa hè. Thúy cười bảo tôi:
-      Ba đừng lo. Cứ kê ra cho con các loại. Tối về con đặt mua trên mạng. Chỉ mấy ngày sau người ta gửi về tận nhà cho ba. Ba muốn mua cho tất cả học sinh trường ba cũng có.
-      Mua sách giáo khoa trên mạng?
-      Bất cứ thứ hàng hóa gì ba đều mua được trên mạng. Thậm chí mua hàng trên mạng giá rẻ hơn nhiều so với giá mua ở cửa hàng, vì người ta không mất chi phí thuê cửa hàng, kho, bến bãi và cũng không cần đến nhân viên bán hàng. Chỉ mất cước phí bưu điện mà cước phí bưu điện thì lại rất rẻ. Nếu thấy cần thiết, ba mua cặp sách điện tử hay gọi là quyển sách điện tử dùng cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Chỉ cần một thiết bị giống như cái Ipad, khoảng 1kg là ba có đủ tất cả từ sách giáo khoa phổ thông của mười hai lớp học đến sách tham khảo, sách bài tập, kèm theo các loại tự điển bằng kênh chữ  kênh hình, các phương tiện âm thanh giải trí, các phương tiện phục vụ học tập…
-      Nó giống như một cái máy tính bảng à?
-      Đúng như thế. Chỉ có điều nó chuyên dụng cho học sinh.
-      Chắc sẽ đắt lắm?
-      Rất rẻ ba ạ. Con đoán chỉ khoảng một trăm lăm mươi đô thôi. Cái Ipad chúng con gửi cho ba cũng chỉ có hơn hai trăm đô thôi. Nhưng thôi, bây giờ đến giờ ăn rồi, chúng con mời ba đi ăn buffet.
Ở thành phố này, người Mỹ và sinh viên Việt Nam cứ gọi chung là nhà hàng ăn Trung Hoa. Chúng tôi đã đến một vài lần nhà hàng Trung Hoa, nhà hàng Tầu. Thực ra, nhà hàng có tên gọi là Đại tửu lầu Tràng An, có tên số nhà nằm trên đường Providence, nhưng không hiểu sao người ta không gọi theo cái tên vốn có của nó mà cứ gọi chung là nhà hàng ăn Trung Hoa, nhà hàng Tầu. Người Mỹ thì thích dùng từ Siêu, người Trung Hoa thì thích dùng từ Đại. Chỉ một cái tên gọi nhà hàng thôi người Trung Hoa cũng mở đầu bằng từ “Đại”. Hình như nó trở thành cái đặc trưng riêng trong lối định danh của họ. Tôi nghĩ một trong những lí do người ngoài gọi tên nhà hàng ăn Trung Hoa có lẽ là do cách bài trí bên trong nhà hàng hoàn toàn theo nét dân tộc của người Trung Hoa. Từ lối đi vào nhà hàng với những cây cảnh, hòn non bộ theo lối cổ điển cho đến tiểu cảnh, tranh sơn thủy, tranh sinh hoạt bố trí trong phòng và trên tường nhà ăn, tất cả đều toát lên phong cách Trung Hoa, không thể lẫn với bất kì dân tộc nào khác.
Trông bên ngoài thì tưởng là một nhà hàng ăn nhỏ, nhưng vào bên trong mới thấy nó rất rộng. Ngoài khu tiếp tân bày đủ các loại rượu bia và khu thanh toán, nhà hàng chia ra làm ba khu vực. Khu vực dành cho khách ăn khoảng mấy chục bàn ăn. Khu vực để thức ăn khoảng bốn năm chục món ăn Âu, Mỹ, Á đặt trên những chiếc bàn giữ nhiệt và khu vực nấu ăn dành riêng cho đầu bếp. Nhìn trang phục của người quản lí nhà hàng cho đến nhân viên phục vụ, đầu bếp, tôi đoán có lẽ tất cả đều là người Trung Quốc. Khi chúng tôi đến chỉ có khoảng dăm bàn đang ăn. Thúy yêu cầu nhà hàng cho một cái ghế dành riêng cho trẻ nhỏ. Lâm ngồi trên ghế có đai giữ và ăn cùng với bố mẹ.
Thực tình, tôi không thích ăn những món ăn Tây, nhưng cũng vẫn lấy vài món ăn nổi tiếng của các nước, ăn thử mỗi thứ tí chút để biết mùi vị. Cuối cùng tôi chỉ dùng các món ăn theo kiểu Việt, đặc biệt là món cua biển luộc chấm với tương ớt. Đó là món khoái khẩu nhất của tôi. Một mình tôi sài một cặp càng và cả một con cua biển lớn, lớn gấp đôi con cua biển cỡ kha khá ở Việt. Ăn thêm một miếng dưa hấu, vài quả nho tráng miệng, tôi thấy đã quá no bụng. Lúc đó Thúy mới cho Lâm ăn xong. Tôi bế Lâm để hai vợ chồng Hoài Anh tiếp tục dùng bữa.

Hai ông cháu đi chơi quanh nhà hàng. Đến khu vực bể cá cảnh tôi đặt lâm xuống. Hai ông cháu đứng xem đàn cá vàng lớn bơi lội trong bể kính chạy dọc cả hồi nhà đón tiếp khách. Lâm thích lắm. Cháu bước theo mấy con cá lượn quanh thành bể, đưa tay định bắt lấy nhưng vướng tấm kính nên quay lại chỗ ông, kéo tay ông, chỉ vào những con cá đang đớp đớp nhả bọt khí. Tôi sẽ đánh vào tay mình, lắc đầu và nói: Không bắt được đâu cháu ơi.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.