Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Tại sao Bắc Triều tiên lại cố tình phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt?

Leave a Comment
Năm 2005 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã tuyên bố rằng mình sở hữu vũ khí hạt nhân và hệ thống phóng tên lửa đạn đạo, thậm chí có cả một kho vũ khí hóa học đáng kể. Mặc dù còn có nhiều người hoài nghi về trình độ công nghệ, hoặc cho rằng nước này cố tình tự đạo diễn về khả năng của mình, thì cho đến ngày hôm nay thế giới phải thừa nhận tuyên bố của Triều Tiên đã trở thành thực tế.
Tôi bay sang sân bay Incheon, Seoul Hàn Quốc vào buổi tối ngày 16 tháng 4, 2016, đúng một ngày sau vụ thử tên lửa đạn đạo tầm trung được cho là bay tới các căn cứ của Mỹ ở Thái Bình Dương. Sự việc này càng làm cho tình hình trên bán đảo Triều Tiên thêm căng thẳng. Rõ ràng chính sách “bên miệng hố chiến tranh” của “hai phe” bắt đầu chạm tới giới hạn.
Cuộc tập trận quân sự thường niên lớn nhất trong lịch sử giữa Mỹ và Hàn Quốc đang diễn ra như tôi đã nói ở phần trước, lệnh trừng phạt khắt khe chưa từng có của cộng đồng quốc tế đã được thực thi. Tuy nhiên Triều Tiên có chịu xuống thang hay chưa, dường như câu trả lời vẫn là chưa. Triều Tiên liên tiếp đáp trả lệnh trừng phạt của Hội đồng Bảo an bằng những hành động cứng rắn, không khoan nhượng, ngoài việc nhiều lần phóng tên lửa tầm trung, tầm xa, họ còn tuyên bố khẩn trương chuẩn bị cho lần thử nghiệm hạt nhân thứ năm, đồng thời tăng cường nghiên cứu, phát triển đầu đạn hạt nhân thu nhỏ.
Nhiều nhà quan sát quốc tế cho rằng thời điểm của cuộc tấn công của liên quân Mỹ-Hàn cùng với đồng minh là Nhật có lẽ đã được quyết định trước khi Triều Tiên có thể sở hữu đầu đạn hạt nhân và tên lửa tầm xa vươn tới Mỹ. Tôi cho rằng dẫu tình hình nước sôi lửa bỏng như vậy nhưng vẫn chưa đến lúc xảy ra chiến tranh, bởi vì nó chỉ trở thành thực tế khi cả Trung Quốc và Nga, hai nước có đường biên chung với Triều Tiên đều đồng ý- hai ông lớn có vai trò gần như quyết định số phận của Tiều Tiên.
Tôi băn khoăn tự hỏi khi cả cộng đồng quốc tế dồn ép Triều tiên vào bước đường cùng, liệu Triều Tiên có liều lĩnh phản ứng tự sát bằng một cuộc chiến tranh thông thường, thậm chí một cuộc chiến tranh hạt nhân với Hàn Quốc, Nhật Bản và có thể là cả Mỹ? Mọi người cứ thử hình dung xem, khủng bố đã làm được những điều vượt xa sự tưởng tượng của con người ta thì Bình Nhưỡng tại sao lại không thể làm được những điều mà chỉ có Trời mới biết được.
Chỉ cần một hành động mạo hiểm, ngông cuồng, dân tộc chủ nghĩa cực đoan- điều mà người ta từng thấy ở phát xít Đức và phát xít Nhật trước đây, giờ đây đang có biểu hiện ở Triều Tiên và Trung Quốc, là có thể sẽ đẩy nhân loại đến bờ vực thảm họa.
Chúng ta hãy nghe cựu ngoại trưởng Mỹ Collin Powell phát biểu trong cuộc gặp gỡ báo chí của đài NBC ngày 6 tháng 9, 2015 : “Tôi đã nói với người Triều Tiên cũng như Iran trong nhiều dịp tiếp xúc rằng: Các anh biết rõ bất kì khi nào các anh sử dụng chúng, các anh sẽ tự sát bởi đất nước và xã hội các anh sẽ sụp đổ vào ngày hôm sau”. Ông nói tiếp: “Các anh có thể giết chết hàng chục ngàn người, phá hủy một phần của một thành phố và ngày hôm sau các anh sẽ thấy hậu quả về những gì mình đã làm”. Ông ta cho rằng việc cố gắng phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt “sẽ là một sự lãng phí tiền của, thời gian. Thay thế vào đó, tôi nghĩ những gì cần làm là nên hợp tác toàn diện”.
Tôi tin phát biểu của Collin Powell sẽ là hành động đáp trả của Mỹ đối với Triều Tiên nếu họ làm liều. Hai quả bom nguyên tử ném xuống Nhật Bản tháng Tám năm 1945 là một minh chứng. Cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO phát động tấn công Cộng hòa Liên bang Nam Tư, cuộc chiến tranh nhân danh liên minh chống khủng bố vào các nước như Afgasnistan, Irac, Libi, hiện tại Xiri là một bằng chứng thuyết phục nữa. Và gần đây nhất, Bộ tưởng Ngoại giao Mỹ John Kery thay mặt cho nước Mỹ đến dự Lễ kỉ niệm về thảm họa bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hirosima và Nagaraki, mặc dù người Nhật đã nhắc khéo về cái chết của hàng trăm nghìn người dân vô tội Nhật, nhưng ông Kery không hề  cậy răng xin lỗi hay lấy làm tiếc về hành động trong quá khứ của nước Mỹ. Tại sao? Vì có thể là ngày mai hay ngày kia đầu đạn hạt nhân của Mỹ sẽ phóng đến một nước nào đó, chẳng hạn như là triều Tiên?
Iran đã phải lùi bước trước áp lực của Mỹ và phương Tây. Vấn đề hạt nhân của Iran coi như đã được giải quyết. Thế giới và khu vực thở phào nhẹ nhõm. Nhưng Triều Tiên thì không. Khó khăn là ở chỗ Triều Tiên đã sở hữu vũ khí giết người hàng loạt, không như trường hợp của Iran mới đang trên con đường tìm kiếm loại vũ khí này. Chính vì vậy, Bộ Ngoại giao Triều Tiên hôm 21 tháng 7, 2015 ra thông báo “không có hứng thú với bất kì cuộc đàm phán nào với Oashington về chương trình hạt nhân” của nước này. Chương trình hạt nhân là sự răn đe cần thiết chống lại chính sách của Mỹ. Sau khi thử thành công lần thứ tư, phía Triều Tiên gọi là thử thành công bom nhiệt hạch, họ tuyên bố: “Chúng tôi là một thế lực hạt nhân, và các thế lự hạt nhân đều có lợi ích riêng của họ”.
Cộng đồng thế giới đã nhiều lần yêu cầu Triều Tiên từ bỏ vũ khí giết người hàng loạt, ngay cả Trung Quốc và Nga, các ông lớn đã từng sử dụng Triều Tiên cho những mục đích  nước lớn của họ, cũng sốt sắng thật sự đưa Triều tiên vào ngồi bàn đàn phán, và họ đã ép được Triều tiên ngồi vào bàn đàm phán, nhưng Triều Tiên vẫn tỏ ra ương ngạnh. Họ đàm phán, rồi lại bỏ đàm phán, việc đó lặp đi lặp lại nhiều lần, cho đến khi họ đạt được mục đích bất chấp bao vây cấm vận. (Thì ra từ các nước lớn đến các nước nhỏ về vấn đề chính trị họ đều là những diễn viên đầy thủ đoạn, tráo trở trước bàn cờ thế sự quốc tế và trong nước).
 Vậy thì nguyên nhân tại sao Triều Tiên lại cố tình đi ngược lại với xu thế của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Chúng ta cần nhớ rằng vào năm 1968 Triều Tiên cùng với hầu hết các quốc gia trên thế giới đã kí Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, có nghĩa là họ có một thời kì dài không có ý định hoặc không công khai có ý định sở hữu vũ khí giết người hàng loạt. Chỉ đến năm 2003 Triều Tiên mới rút ra khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, có nghĩa là sau năm 2003 họ mới có ý định và công khai ý định sở hữu vũ khí giết người hàng loạt cho tới khi đạt được mục đích.
Chúng ta hãy cùng lược lại hồ sơ về hạt nhân của Triều tiên để có một lời giải cho bài toán về hạt nhân của nước này.
Theo Wikipedia tiếng Việt, Triều Tiên đã có tham vọng ban đầu để có được vũ khí hạt nhân là từ năm 1956. Tôi cho rằng nhận xét này không có đủ cơ sở. Phải đến năm 1964, khi Trung Quốc thử thành công bom nguyên tử và sau đó là bom nhiệt hạch thì đó mới là một cú hích thật sự đối với Triều Tiên.
Dẫn đầu phái đoàn Đảng và nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lúc đó là Kim Nhật Thành sang chúc mừng Đảng và Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đồng thời bày tỏ nguyện vọng với Mao Trạch Đông muốn được người anh vĩ đại chia sẻ công nghệ hạt nhân, nhưng Mao Trạch Đông đã thẳng thừng từ chối với lí do Triều Tiên là một nước nhỏ, không cần thiết phải sở hữu loại vũ khí này.
Tất nhiên không để mất lòng người em đầy tham vọng này, “người cầm lái vĩ đại” đã hứa hẹn, cũng giống như họ đã hứa hẹn với người Việt, cứ trường kì mai phục, đánh Mỹ cho đến người cuối cùng, đằng sau đã có 600 triệu người dân Trung Quốc và một đất nước rộng lớn bao la lo liệu và hỗ trợ- bây giờ họ đã xấp xỉ một tỉ tư người với một đất nước mà họ coi là quá chật hẹp cần phải bành trướng để mở rộng “không gian sinh tồn”, như ý tưởng của Đức Quốc Xã trước chiến tranh thế giới thứ hai.
Với tư tưởng Chủ thể của Kim Nhật Thành mà tôi đã đề cập trong bài viết trước, Kim không từ bỏ ý định. Ông đã quay sang nhờ sự cậy sự giúp đỡ của Liên Xô (Liên bang cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết trước đây, đã sụp đổ năm 1991, sau đó Cộng hòa Liên bang Nga kế thừa). Tất nhiên, Liên Xô cũng chối từ. Để khỏi mất lòng “đứa con do mình đẻ ra vào năm 1945”, Liên Xô đã giúp  Triều Tiên xây dựng nền khoa học quốc phòng và cơ sở nghiên cứu khoa học hạt nhân (cũng như đã từng giúp Trung Quốc trước khi hai nước cơm chẳng ngọt, canh chẳng lành- nó là cơ sở cho sự phát triển của Trung Quốc ngày nay. Nguyên nhân cũng chỉ vì Liên Xô không chịu đánh Mỹ cho đến người cuối cùng, để họ Quan sơn tọa hổ đấu).
Liên Xô giúp Triều Tiên xây dựng lò phản ứng nguyên tử ở Yongbyon, lò phản ứng này hoạt động từ năm 1965 đến 1973 và đã cung cấp cho Triều tiên nguyên liệu làm giàu urani 10%. Đây chính là cái cơ sở đầu tiên nuôi tham vọng của dòng họ Kim ở xứ Cao Ly này.
Năm 1974, các chuyên gia Tiều Tiên đã tự thực hiện việc hiện đại hóa lò phản ứng, đồng thời chuyển sang sử dụng nhiên liệu được làm giàu đến 80%. Năm 1979, năm mà Kim Nhật Thành tuyên bố đã hoàn thành công nghiệp hóa, đỉnh cao phát triển của đất nước Thiên Lí Mã, họ đã tự xây dựng lò phản ứng nguyên tử thứ hai cùng với một nhà máy sản xuất các thanh nhiên liệu và chính thức chuyển sang thời kì phát triển vũ khí hạt nhân.
Mặc dầu vậy, con đường để chế tạo được một quả bom hạt nhân không phải là một chuyện đơn giản. Nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí, trình độ nghiên cứu lí thuyết, trình độ công nghệ, việc ứng dụng thực hành mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Có lẽ Triều Tiên đã bế tắc ở một khâu nào đó, vì vậy công việc phát triển dậm chân tại chỗ nhiều năm. Và vì vậy họ đã kí Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân để trở thành một quốc gia yêu chuộng hòa bình, cũng giống như đa số các nước đang phát triển khác.
Tình hình đã trở nên khác vào thập niên 1990 khi người Triều Tiên tiếp cận được với công nghệ hạt nhân của Pakistan. Về vấn đề này còn có nhiều tranh cãi, bởi vì không có một quốc gia nào chịu thừa nhận rằng nước mình đã làm những chuyện phi pháp, vi phạm công pháp và tư pháp quốc tế. Tất cả đều tuân thủ luật pháp quốc tế, tất cả đều hấn hảo lơ, very gút, Kha ra xô… Họ đều đổ lỗi cho các nước khác. Đúng sai hậu xét. Chỉ biết rằng có việc mờ ám trong việc trao đổi công nghệ tên lửa và công nghệ hạt nhân giữa hai nước và vì vậy năm 2003 Triều Tiên đã rút khỏi Hiệp ước không phổ biến hạt nhân để đến năm 2005 Triều Tiên tự nhận mình đã bước vào hàng ngũ các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân.
Ngày 8 tháng 10, 2006 Triều Tiên thử vũ khí hạt nhân lần thứ nhất.
Ngày 25 tháng 5, 2009  Triều Tiên thử  vũ khí hạt nhân lần thứ hai.
Ngày 12 tháng 2, 2013 Triều Tiên thử vũ khí hạt nhân lần thứ  ba.
Ngày 6 tháng 1, 2016 Triều Tiên thử vũ khí hạt nhân lần thứ tư.
Các cơ quan Bắc Triều Tiên thông báo đã thử thành công lần thứ tư không phải là bom  nguyên tử mà là bom nhiệt hạch. Mặc dầu một số chuyên gia nghi ngờ đó là một quả bom phân hạch, chứ không phải là bom nhiệt hạch. Dù sao đi chăng nữa, sức mạnh của nó cũng lớn hơn bom hạt nhân.
Còn về vấn đề tên lửa của Triều Tiên, người ta đã mệnh danh cho nước này là một “đại gia” xuất khẩu loại vũ khí lợi hại này. Theo BBC, chương trình tên lửa Triều Tiên có nền tảng kĩ thuật căn bản là tên lửa đạn đạo chiến thuật Scud do Liên Xô chế tạo, cộng thêm sự hỗ trợ hợp tác với Trung Quốc nên họ đã đạt được trình độ như ngày nay.
Từ năm 1969, Bình Nhưỡng đã nhận được nhiều loại tên lửa chiến thuật của Liên Xô nhưng đến năm 1976 mới sở hữu tên lửa Scud đầu tiên. Sau gần mười năm tự nghiên cứu, Triều Tiên đã ra mắt phiên bản mới của Scud B của riêng mình, gọi là Hwasong-5. Tầm bắn của tên lửa này lên tới 300km và có thể mang theo 1000 kg thuốc nổ. Từ thành công này, Bình nhưỡng tiến tới phát triển Hwasong-6 với đầu đạn khoảng 700 kg thuốc nổ và tầm bắn đạt đến 500 km. Đặc biệt là cả hai loại này đều có thể mang theo đầu đạn hạt nhân, hóa học và sinh học.
Cũng dựa vào nền tảng của Scud, Bình Nhưỡng đã cho phóng thử tên lửa tầm trung Nodong vào thập niên 1990. Tầm bắn vượt xa các đời tên lửa Scud B, nhưng độ chính xác không cao. Tiếp theo Bình Nhưỡng hai lần dùng tên lửa đưa vệ tinh vào quỹ đạo trái đất và nhiều lần thử tên lửa đạn đạo. Vào tháng 4 năm 2016, Bình nhưỡng tuyên bố họ đã chế tạo thành công động cơ tên lửa đạn đạo, có tầm bắn tới 10.000 km, có nghĩa là tên lửa bay tới được đất Mỹ. Như vậy là Triều Tiên không những đã có một kho vũ khí tên lửa mạnh mẽ, thực tế đã xuất khẩu đi nhiều nước, trong đó có cả Việt Nam, mà họ còn có một vị thế nhất định trong thị trường xuất khẩu quốc tế.
Tất nhiên không chỉ vì Triều Tiên đã nắm được công nghệ sản xuất vũ khí hạt nhân và công nghệ tên lửa nên họ mới rút khỏi hiệp ước mà họ đã từng kí. Có nhiều bối cảnh như tình hình trong nước, tình hình quốc tế, đặc biệt là tình hình Trung-Mỹ-Hàn-Triều để lí giải việc làm của Triều Tiên.
Trước hết phải nói đến Trung Quốc, người anh em môi hở răng lạnh của Triều Tiên. Vào những năm 1970, Trung Quốc đã bắt đầu thay đổi chính sách đối ngoại. Họ đã “đi” với kẻ thù không đội trời chung của họ là Mỹ để chống lại Liên Xô, Bình Nhưỡng không thể không thất vọng về việc làm của người anh của mình. Triều Tiên không còn là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Viện trợ cho Triều Tiên bắt đầu cắt giảm. Tiếp đến cái tư tưởng mèo đen hay là mèo trắng của Đặng Tiểu Bình, kiến trúc sư của bốn hiện đại hóa của Trung Quốc, dựa vào Mỹ và phương Tây để phát triển đất nước, tất cả đều không nhận được sự ủng hộ của Triều Tiên. Họ không chuyển mình theo người anh “lạc lối”, vẫn quyết tâm không thay đổi chế độ quan liêu bao cấp của chủ nghĩa xã hội, không công nhận nền kinh tế thị trường, mặc dù kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn.
Trong khoảng ba mươi năm phát triển, Trung Quốc đã tận dụng được thành quả của công cuộc toàn cầu hóa, tức là nhờ tiền vốn, công nghệ, trình độ quản lí của tư bản Mỹ và phương Tây, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội Trung Quốc để cất cánh. Tiềm lực và vị thế của Trung Quốc và Triều Tiên đều đã thay đổi. Trung Quốc trở thành một cường quốc lớn, còn Triều Tiên thì ngày càng tụt hậu. Người anh nối khố chỉ mải mê quan hệ với những nước lớn, giàu có, kể cả kẻ thù của Triều Tiên là Hàn Quốc. Triều Tiên hiểu rằng Trung Quốc có giúp đỡ, nhưng có chăng chỉ là bố thí ít của nả để cầm hơi, thậm chí còn lợi dụng người em trong lúc khó khăn để khai thác, để mua nguyên liệu rẻ, để bán hàng đắt theo phương thúc tư bản. Sự  bất mãn cứ tích tụ dần từ thời Giang Trạch Dân đến Hồ Cẩm Đào và bùng phát từ khi Tập Cận Bình lên nắm quyền Đảng và Nhà nước Trung Quốc.
Tập còn không thèm đến thăm Triều Tiên theo thông lệ khi trở thành người có quyền lực nhất Trung Quốc. Ông ta muốn có quan hệ nước lớn với Mỹ, phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại, đi thăm khắp hang cùng ngõ hẻm, giao hảo mặn nồng với Hàn Quốc và bỏ qua Triều Tiên. Trong khi đó, người Triều Tiên thì coi Hàn Quốc chỉ là “công cụ, là tay sai, là bù nhìn, là cái đuôi” của Đế quốc Mỹ- kẻ thù không đội trời chung của họ. Có thể nói cảm nhận của Triều Tiên là hoàn toàn thất vọng và bất mãn. Cái tâm trạng khó chịu đó của người Triều Tiên đã được Kim Jong Un trút lên tất cả những người bao năm qua ngả theo Bắc Kinh. Cái chết của nhân vật quyền lực thứ hai thân cận với Trung Quốc và là ông chú rể của Kim Jong Un cũng không phải là ngoại lệ.
Theo thông tin từ nhiều nguồn, Triều Tiên đã chính thức coi Trung Quốc là kẻ đồng lõa với Đế quốc Mỹ trong việc ủng hộ Hội đồng bảo an trừng phạt Triều Tiên. Vậy thì tại sao Triều Tiên lại phải tuân theo sự sắp xếp của Trung Quốc. Tại sao họ lại phải trở thành con bài và vật hi sinh cho quyền lợi của Trung Quốc. Họ có được nhờ vả gì từ công nghệ hạt nhân và công nghệ tên lửa của Trung Quốc đâu. Họ biết không thể trông chờ được vào Trung Quốc. Bài học về Việt Nam và Trung Quốc chắc họ luôn khắc cốt ghi tâm. Họ quyết tâm cố gắng có được cái thứ bảo bối quý báu nhất của riêng mình- vũ khí hủy diệt hàng loạt để bảo vệ an ninh và chủ quyền của quốc gia, trong đó có gia tộc họ Kim.
Tiếp theo là nước Nga, người kế thừa Liên Xô trước đây. Có thể nói khi Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết sụp đổ, Triều Tiên đã mất đi sự hỗ trợ đáng kể về công nghệ quốc phòng, về kinh tế cũng như về thị trường. Hơn nữa, nước Nga hiện tại là một nước tư bản. Dưới thời Tổng Thống Nga Gorbachev, Elsin, nước nga còn trông chờ vào Mỹ và phương Tây; gần như họ không muốn quan hệ với Triều Tiên. Họ chỉ quan hệ với Hàn Quốc và coi việc Hàn Quốc sáp nhập Triều Tiên chỉ là vấn đề thời gian. Triều Tiên càng bị cô lập, chỉ còn biết trông chờ vào cái tư tưởng “Chủ thể” và “Tiên quân” của chính mình.
Từ khi Tổng thống Putin lên nắm quyền, quan hệ hai nước đã được cải thiện. Đặc biệt sau khi nước Nga xóa 90% tổng số 11 tỉ đô la tiền nợ thời Liên Xô, 10% còn lại đầu tư vào cơ sở hạ tầng Triều Tiên. Nước Nga thời Putin biết cân bằng quan hệ giữa hai miền Triều tiên. Và quan trọng hơn, khi quan hệ giữa Nga với Mỹ và phương Tây căng thẳng, nước Nga sẵn sàng giúp đỡ Triều Tiên đứng vững, duy trì cục diện chia cắt hai miền như hiện nay. Thậm chí nếu có chiến tranh, nước Nga có thể cùng với Trung Quốc không để người Mỹ áp sát biên giới của họ.
Trong tương lai, nếu quan hệ giữa Nga và Phương Tây có chiều hướng phát triển tốt đẹp, bán đảo Triều tiên có biến động, Bắc Triều tiên sụp đổ, một Cao Ly thống nhất, với người Nga có khi còn là một kết cục tốt đẹp để cân bằng với một Trung Quốc đang lên đầy tham vọng. Nếu kịch bản này xảy ra, dù sao họ cũng không bị áp lực như đối với Trung Quốc. Vì đường biên của họ với Triều Tiên chỉ có 195 km, trong khi đó đường biên của Trung Quốc với Triều Tiên là hơn 1.300 km. Hơn nữa trong lịch sử, quan hệ của Nga với hai miền Triều Tiên không ân oán phức tạp như quan hệ giữa người Triều Tiên với người Trung Quốc.
Cũng như Trung Quốc, lập trường của Nga là phi hạt nhân bán đảo Triều Tiên. Vậy thì Triều Tiên cũng không thể trông mong vào nước Nga. Nhưng với họ, dù sao thì người Nga cũng đòi Mỹ và Trung Quốc phải đưa bản Nghị quyết trừng phạt Triều Tiên cho họ xem xét lại trước khi thông qua, coi như lời nhắc nhở khéo về vị thế của Nga ở bán đảo Triều Tiên, với danh nghĩa là không để người dân Triều Tiên trở thành nạn nhân của các biện pháp cấm vận, trừng phạt.   
Nhìn ra xa bên ngoài, người Triều Tiên đã thấy bài học nhãn tiền của những nước không kiên trì theo con đường phát triển vũ khí hàng loạt hoặc từ bỏ loại vũ khí này như Irắc, Libi,   Ucraina… Các quốc gia này đều bị các thế lực lớn hủy diệt, tàn phá, xâu xé. Các nguyên thủ quốc gia người bị treo cổ, người bị bắn chết, người thì bỏ trốn. Kết cục với đa số người trong bộ máy chính quyền của các nước này thật cay đắng.
Đối diện với sự tồn vong của chế độ xã hội và bộ máy chính quyền Triều Tiên và là nguyên nhân quan trọng nhất, chính là chính sách và hành động của liên minh Mỹ-Hàn. Người triều tiên cho rằng nếu không có sự can thiệp của Mỹ thì họ đã có được một đất nước thống nhất ngay từ đầu những năm 50 của thế kỉ trước. Vì vậy mối thâm thù với Mỹ cứ chồng chất theo thời gian hơn sáu mươi năm qua. Triều Tiên trường kì mai phục nhưng trước một liên minh Mỹ-Hàn lớn mạnh theo năm tháng họ đành bất lực và còn có nguy cơ “mất nước” bởi sức mạnh vũ lực và sức mạnh mềm kinh tế, văn hóa cùng với thủ đoạn diễn biến hòa bình, hay cách mạng mầu. Người Triều tiên cho rằng con đường để tồn tại duy nhất của họ là phát triển vũ khí giết người hàng loạt để đảm bảo chủ quyền và an ninh cho họ. Điều đó không có gì là khó hiểu.
Triều Tiên đã thay đổi chiến lược quân sự, nhưng sự thay đổi diễn ra không liên tục, vừa tạo ra tình trạng ổn định vừa tạo ra tình trạng không ổn định. Và Mỹ-Hàn cũng vậy, họ cũng áp dụng một chiến lược không có chiến tranh và cũng không có hòa bình, tổ chức các cuộc tập trận thường niên áp đảo để răn đe với những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, vừa đủ để kiềm chế cả hai bên. Hàn Quốc bắt đầu từ bỏ chính sách đối thoại, hợp tác phát triển kinh tế, bắt đầu từ bỏ chính sách xây dựng lòng tin đối với Triều Tiên nhằm ngăn chặn nguy cơ hạt nhân và thúc đẩy hòa bình ổn định trên bán đảo, tăng cường gây áp lực lên Bình Nhưỡng.
Quyết tâm của Triều Tiên theo đuổi chương trình phát triển vũ khí giết người hàng loạt đã gặt hái được thành công trong khoảng hơn một chục năm trở lại đây. Triều Tiên tin rằng chiến lược của họ sẽ tạo ra sự răn đe nhất định đối với Mỹ và đương nhiên gây áp lực, thậm chí thách thức Hàn Quốc và Nhật Bản. Triều Tiên dồn 25 % ngân sách cho quốc phòng, tăng cường các cuộc tấn công khiêu khích thông thường bằng việc đánh chìm tàu ngầm của Hàn Quốc, nã pháo ở khu phi quân sự, liên tục thử các loại tên lửa, vũ khí hạt nhân, ráo riết thu gọn đầu đạn hạt nhân vào tên lửa… Tất cả đều tạo ra một sức ép và sự răn đe nhằm tiến tới một hiệp ước hòa bình để bảo vệ an ninh của họ.
Đáp lại, Mỹ-Hàn xây dựng chiến lược chung về nguy cơ xảy ra một cuộc chiến về hạt nhân. Về mặt tác chiến, họ đã thống nhất kế hoạch chống khiêu khích đối với các cuộc tấn công thông thường và kế hoạch răn đe có mục tiêu đối với các mối đe dọa hạt nhân của Triều Tiên (thể hiện rõ nhất trong cuộc tập trận đang diễn ra mà tôi đã trình bày ở phần trước). Cụ thể họ đã triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa các loại kể cả hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối THAAD, phát triển năng lực thực hiện các đòn tấn công phủ đầu các lực lượng hạt nhân theo các mức độ.
Theo tôi bán đảo Triều Tiên thật sự bên bờ vực của một cuộc chiến tranh, thật sự hết sức nguy hiểm. Cán cân rõ ràng đang nghiêng về liên minh Mỹ-Hàn. Họ có được áp lực của cả Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc với lệnh trừng phạt cao nhất, họ có kế hoạch tự bảo vệ mình trong khi vẫn tìm kiếm một giải pháp ngoại giao buộc Triều Tiên phải từ bỏ chương trình phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt. Họ đã chuẩn bị chu đáo cho một cuộc tấn công thông thường chống lại lực lượng hạt nhân của Triều Tiên. Họ đã lựa chọn một cuộc tấn công có giới hạn để đạt được mục tiêu của họ.
Tôi tin rằng người Mỹ có đủ kinh nghiệm để quản lí sự leo thang trong cuộc khủng hoảng ở bán đảo Triều Tiên. Có lẽ họ không cần sử dụng đến lực lượng hạt nhân chiến thuật. Nhưng nếu người Triều Tiên muốn có một cuộc tấn công tự sát bằng vũ khí hạt nhân, thì đúng như ông Collin Powell đã nói, một thảm họa ghê gớm sẽ xảy ra, kể cả Trung Quốc và Liên Xô cũng không ngăn cản nổi. Chỉ có người dân hai miền là nạn nhân phải gánh chịu trong cuộc xung đột này. Riêng cá nhân tôi thấy lo lo, sau ba tháng nữa về, phải qua sân bay quốc tế Incheon, seoul tôi không biết chiến tranh có nổ ra hay không. Chẳng lẽ thế giới này chỉ có người chết mới chứng kiến nhân loại hết chiến tranh? Tôi lại chợt nghĩ tới lời nhà vật lí nổi tiếng nhất thế giới hiện nay “có lẽ những sinh vật sống văn minh trong vũ trụ đã bảo nhau tránh xa cái địa cầu hiếu chiến này”.
Dẫu sao thì tôi vẫn hy vọng rằng vấn đề hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên sẽ có một giải pháp hòa bình.



       





Read More

Đi Mỹ qua Hàn quốc

Leave a Comment
Cuối cùng tôi cũng có được tấm vé điện tử in từ máy in của mình đi Mỹ qua sân bay Quốc tế Incheon, seoul, Hàn Quốc. Vé rẻ hơn quá cảnh qua sân bay Quốc tế Narita, Tokyo, Nhật Bản tới gần hai tháng lương hưu của tôi. Thực ra đi qua sân bay Thượng Hải hay Hồng Kông, Trung Quốc còn rẻ hơn nữa, nhưng vì nhiều lí do tôi không thích dừng lại ở hai sân bay này.
   Tọa lạc cách khoảng 70 km về phía Tây Seoul, thủ đô và là thành phố lớn nhất Hàn Quốc, sân bay Incheon là sân bay quốc tế lớn nhất Hàn Quốc. Đây là một trong những cảng trung chuyển hàng không lớn nhất và nhộn nhịp nhất trên thế giới, là cửa ngõ vào Đông Á và cả châu Á. Theo Hội đồng Cảng Hàng không Quốc tế (Airport Council International) kể từ năm 2005 sân bay Incheon lọt vào danh sách những sân bay tốt nhất thế giới và được đánh giá là một trong ba sân bay 5 sao cùng với sân bay Hồng Kông và sân bay Changi Singapore.
   Hiện tại sân bay Incheon có một sân golf, các dịch vụ spa, nhiều phòng nghỉ cá nhân, khách sạn, sòng bạc, các khu vườn trong nhà ga, các khu mua sắm giải trí, các khu ăn uống rộng lớn, và đặc biệt là có Bảo tàng Văn hóa Hàn Quốc, nơi tôi dùng thời gian năm tiếng chờ đợi để thăm thú, tìm hiểu và thưởng thức.
   Chỉ có một điều tôi hơi ngài ngại là qua Seoul vào thời điểm Mỹ và Hàn Quốc đang triển khai cuộc tập trận Đại bàng Non (Foal Eagle), cuộc tập trận lớn nhất trong lịch sử Mỹ-Hàn, cuộc diễn tập tấn công chính xác vào bộ phận lãnh đạo và vũ khí hủy diệt hàng loạt của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên với 17.000 lính Mỹ và 300.000 ngàn lính Hàn Quốc. Cuộc tập trận diễn ra trong thời điểm cực kì căng thẳng khi cộng đồng quốc tế, đặc biệt là liên minh Mỹ, Nhật, Hàn nỗ lực trừng phạt cứng rắn nhất đối với Bình Nhưỡng vì cuộc thử nghiệm hạt nhân lần thứ tư mà phía Bình nhưỡng gọi là vụ thử thành công bom nhiệt hạch. Bình Nhưỡng cũng liên tục thử tên lửa đạn đạo để phản ứng với các động thái của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về các biện pháp cấm vận. Kim Jong Un tuyên bố sẽ tiếp tục thử nghiệm thu nhỏ vũ khí nguyên tử và “sẽ có biện pháp quân sự đáp trả, tấn công phủ đầu, giáng đòn tiêu diệt quân thù một cách không thương tiếc”. Ông ta đã ra lệnh cho quân đội lên kế hoạch tấn công phủ đầu “không chỉ biến Seoul thành biển lửa mà còn trở thành tro bụi”. Ngôn từ thật đáng sợ.
   Hàn Quốc có chủ trương thống nhất bán đảo Triều Tiên với chính sách Ánh dương từ những năm 2000. Bắc Triều Tiên cũng có chủ trương thống nhất hai miền thông qua đàm phán hòa bình với đề xuất phương án Liên bang Koryo (Cao Ly). Tuy nhiên với sự nghi kị sâu sắc giữa hai bên, cùng với các biện pháp đe dọa vũ lực bằng các cuộc tập trận của liên quân Mỹ-Hàn và việc thử vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, chúng vẫn được coi là biện pháp hữu hiệu để giữ nguyên hiện trạng lệnh ngừng bắn kể từ sau cuộc chiến tranh Triều tiên năm 1950-1953.
   Nhiều người cho rằng hai bên chỉ giễu võ gương oai, cả hai bên đều đưa ra những bài diễn với thế giới suốt  hàng chục năm, sau đó đâu lại vào đấy, nhưng tôi thấy cho đến nay, thế giới này chỉ có người chết mới thấy nhân loại chấm dứt chiến tranh; mọi người cứ nhìn vào khu vực Trung Đông và Bắc phi, cũng như những vụ khủng bố gần đây nhất ở Pari và Brussels mà xem, nên tôi nghĩ những động thái và lời đe dọa của cả hai bên đều có cơ sở. Theo tính toán của phía Hàn Quốc, Bắc Tiều Tiên có số lượng pháo lớn hàng đầu thế giới, pháo có tầm bắn 60 km, chưa kể tới đạn tăng tầm và pháo phản lực 240mm. Trong một phút Bắc Triều Tiên có thể bắn được 10.000 quả đạn pháo vào Seoul và các vùng phụ cận. Chính Bình Nhưỡng cũng tuyên bố mình có khả năng tấn công phủ đầu “ngoài sức tưởng tượng và sức tàn phá còn mạnh hơn vũ khí nguyên tử”.
   Các cụ nhà ta thường nói “Trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết”, câu nói đúng cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, đúng cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng. Tại sao tôi lại chọn cái sân bay Incheon, seoul trong một thời điểm nước sôi lửa bỏng để quá cảnh? Nhưng nếu sợ, cũng như sợ khủng bố, sợ tai nạn thì chẳng có ai trên đời dám đi đâu cả. Cuộc sống vẫn cứ phải theo guồng của nó. Vả lại chắc gì đi qua Thượng Hải hay Hồng Kông an toàn hơn Incheon. Theo cá nhân tôi, Trung Quốc đối với thế giới còn đáng ngại hơn cả bán đảo Triều Tiên.
   Ngược dòng thời gian, từ 1905 đến 1945 cả hai miền Triều Tiên đều là thuộc địa của Nhật. Khi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, Hội nghị tam cường Liên Xô, Mỹ Anh đã họp đầu tháng 2 năm 1945 ở Yanta để phân chia thành quả thắng lợi chiến tranh giữa các lực lượng tham chiến. Cuộc họp này đã trở thành cơ sở hình thành trật tự hai cực Xô-Mỹ, cuộc đối đầu giữa hai siêu cường kéo theo hai phe XHCN và TBCN trong cuộc chiến tranh lạnh suốt nửa cuối thể kỉ thứ hai mươi. Về vấn đề Triều Tiên, các nước đã thỏa thuận quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc Triều Tiên, quân đội Mỹ chiếm đóng Nam Triều Tiên, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới (cũng giống như Đông Đức và Tây Đức, miền Bắc và miền Nam Việt Nam). Và từ đó hình thành nên hai nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc.
   Đến nay, hơn bảy mươi năm đã trôi qua, có lẽ sau khi quốc đảo Cu Ba xinh đẹp bình thường hóa quan hệ với Hoa kì thì tàn dư của cuộc Chiến tranh lạnh chỉ còn lại một điểm duy nhất đó là bán đảo Triều tiên. Việt Nam đã thống nhất đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nước Đức đã tái hợp sau khi bức tường Berlin sup đổ ngày 9 tháng 11 năm 1989. Hiện tại hai miền Triều Tiên vẫn đang trong tình trạng chiến tranh, bởi vì mới chỉ có hiệp định đình chiến sau cuộc chiến năm 1950-1953, cuộc chiến của quân đội Bắc Tiều Tiên cùng với hàng triệu chí nguyện quân Trung Quốc đương đầu với hàng triệu quân Nam Hàn cùng với quân lính Liên Hiệp Quốc đứng đầu là Mỹ trong gần ba năm. Cuộc chiến này không giải quyết được vấn đề gì, chỉ để lại gần 3 triệu người chết, hàng triệu người bị thương, hàng triệu gia đình chia lìa, li tán…
   Tuy trong tình trạng chiến tranh, nhưng từ những năm 1960 đến những năm 1980 cà hai miền đều có nhũng bước phát triển kinh tế ngoạn mục. Đặc biệt là CHDCNN Triều Tiên, với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, hơn ba mươi năm đất nước này phát triển với tốc độ Thiên Lý Mã, bình quân tăng trưởng gần 25%. Năm 1979 Kim Nhật Thành tuyên bố nước này đã hoàn thành công nghiệp hóa. Thế giới đã coi Nhật Bản và Triều Tiên là hai nước công nghiệp điển hình cho châu Á. Bình quân GDP thời kì hoàng kim của Triều Tiên xấp xỉ 5000 đô la đầu người, vượt xa Hàn Quốc. Mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm hơn 20% GDP nhưng Triều Tiên đã đạt sản lượng trên 10 triệu tấn lương thực, thỏa mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
   Kết quả của sự tăng trưởng kinh tế dẫn đến Triều Tiên có một cơ sở hạ tầng cho đến nay nhiều nước nằm mơ cũng không có. Hệ thống đường bộ, đường sắt hiện đại. Tầu điện ngầm tiên tiến. Khách sạn cao tầng nhất thế giới. Thư viện lớn nhất thế giới. Giáo dục  bắt buộc hết PTTH, miễn phí từ mầm non tới đại học. 99% người dân biết chữ. Mạng lưới y tế đảm bảo phục vụ tự do cho tất cả mọi người…
   Nền kinh tế của Triều Tiên chỉ giảm sút từ cuối những năm 1980 trở đi do sự sụp đổ của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Đặc biệt trong thập niên 1990, trước nguy cơ tụt hậu, không giống như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam tiến hành đổi mới và cải cách, Triều Tiên không chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường; không công nhận nền kinh tế thị trường. Những sai lầm về chính sách kinh tế, cộng thêm thiên tai, lũ lụt khủng khiếp cùng với chính sách bao vây cấm vận của Mỹ đã dẫn đến nạn đói ước chừng trên dưới nửa triệu người chết. Họ bắt đầu tụt hậu dần từ đó, mặc dù có một thời kì dài phát triển hơn Hàn Quốc.
  Mấy năm gần đây đà phục hồi kinh tế và tăng trưởng kinh tế của Triều tiên đã khởi sắc. Triều Tiên đã lập một số đặc khu kinh tế nhằm thu hút đầu tư, hết sức coi trọng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp. Nhưng kết quả còn phải chờ thời gian kiểm chứng. Tuy nhiên việc bao vây, cấm vận của Liên Hợp Quốc sẽ khiến đất nước này khó có thể tiến tới được. Hy vọng Triều Tiên, đất nước với dân số 25.200.000 người, bình quân thu nhập xấp xỉ 2000 đô la có thể vượt qua được thử thách giống như đất nước Iran.
   Truyền thông của phương Tây và Hàn Quốc, thậm chí một số báo điện tử của Việt Nam trích dẫn theo, thường mô tả nền kinh tế của CHDCND Tiều Tiên đang đứng trên bờ sụp đổ và điêu tàn. Người ta có cảm giác rằng Triều Tiên là một đất nước đói nghèo, lạc hậu, độc tài, tàn nhẫn… Phần lớn những tin đó đều là tin đồn đại, không được kiểm chứng. Thậm chí chúng bị xuyên tạc và bôi nhọ, kể cả những vấn đề về chính trị nội bộ của Triều Tiên cũng bị người ta bóp méo. Bất chấp lệnh cấm vận và trừng phạt bao nhiêu năm nay, tôi thấy Triều Tiên vẫn đứng vững. Tinh thần “tự chủ, tự lực, tự cường, tự cấp, tự túc” của người Triều Tiên cùng với những thành quả phát triển của hơn ba mươi năm xây dựng CNXH đã khiến họ có thể đương đầu với những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua.
  Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, mỗi nước đều phải tùy thuộc vào nhau, tư tưởng Chủ thể (Juche) của Triều Tiên quá cứng nhắc. Thêm vào đó cái nguyên tắc Tiên quân (Sogun), quân đội trên hết, một phần tư ngân sách dành cho quân đội đã làm suy kiệt nguồn lực của họ. Tôi không biết họ còn trụ được bao nhiêu lâu. Mặc dầu phải thừa nhận rằng họ có một nền công nghiệp nặng, một nền công nghiệp quốc phòng, cơ khí chế tạo hơn hẳn các nước đang phát triển (trừ Trung Quốc), kể cả so với nhiều nước trong nhóm G20. Họ đã đưa được vệ tinh lên quỹ đạo. Họ đã thử thành công bom nguyên tử. Họ đã thử thành công bom nhiệt hạch (dù vẫn có nhiều người nghi ngờ). Họ có đủ các loại tên lửa, đã thử thành công tên lửa đạn đạo. Họ đã tự sản xuất được điện thoại thông minh (martphone) và máy tính bảng (dù có nhiều người nghi ngờ). Bao nhiêu nước trên thế giới làm được điều này? Phải thừa nhận rằng đó là một dân tộc tuyệt vời, đầy tiềm năng. Chỉ tiếc rằng sau Kim Nhật Thành, con cháu của ông không có được tầm vóc xứng đáng với ông.
   Đối lập với CHDCNN Triều Tiên, Hàn Quốc đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Mặc dầu trong những năm đầu, nền kinh tế của Hàn Quốc phát triển chậm chạp, gặp nhiều khó khăn. Chính trường rất  phức tạp. Nhưng nhờ những biện pháp cứng rắn khắc khổ, từ giữa thập niên 1960 trở đi, tốc độ phát triển kinh tế tăng dần. Bắt đầu từ những năm 1980 Hàn Quôc đã có những bước chuyển mình để trở thành một trong những nước công nghiệp hóa mới (NICs). Từ những năm 2000 đến nay Hàn Quốc có những bước phát triển vượt bậc về chất. Thành công trong phát triển kinh tế được người ta gọi là “kì tích sông Hàn”.
    Hàn Quốc đã có bước đi vững vàng trong nền kinh tế toàn cầu, có một vị thế nhất định trong  giới toàn cầu hóa. Hàn Quốc phát triển công nghiệp cơ khí, chế tạo, công nghiệp quốc phòng và công nghệ cao như chế tạo máy bay, tầu ngầm, ô tô, ti vi, smartphon cao cấp có thể sánh vai với các nước phát triển. Năm 2015 dân số Hàn Quốc là 50. 617.405 người. Tổng sản phẩm quốc nội 1,85 ngàn tỉ đô la. Bình quân đầu người 37.413 đô la.
   Nếu so sánh sức mạnh tổng hợp quốc gia, rõ ràng giữa hai nước là quá chênh lệch. Liệu CHDCNN Triều Tiên và Hàn Quốc có một cuộc chiến tranh?
  Sự xoay trục của Mỹ về châu Á- Thái Bình Dương, việc củng cố khối liên minh Mỹ-Nhật-Hàn, các cuộc tập trận chung giữa Mỹ và Hàn Quốc, nhất là cuộc tập trận đang diễn ra làm cho Triều tiên cảm thấy bất an về an ninh, càng củng cố quyết tâm phát triển chương trình hạt nhân và trở thành một cường quốc hạt nhân; đồng thời họ luôn sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh với Hàn Quốc. Tất cả những điều trên đồng nghĩa với việc đẩy an ninh khu vực Đông Bắc Á ở trong tình trạng bất ổn, căng thẳng và khuấy động một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực. Chẳng hạn Nhật Bản phải bố trí hệ thống tên lửa để đối phó với mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc phải tăng cường sức mạnh quân sự, cho phép Mỹ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD bất chấp sự phản đối của Trung Quốc và Nga… Tất cả những việc làm trên rồi sẽ đi đến đâu?
   Cách đây khoảng hai năm, một nhà nghiên cứu chính trị Hàn Quốc nói với chúng tôi trong những phút ngoài lề của một hội nghị, đại ý là, ông ấy không vui khi nhận lời ca ngợi kì tích sông Hàn của người Việt. Theo ông ấy, ba mươi năm tới Việt Nam có thể phấn đấu đạt được nền kinh tế tương đương như Hàn Quốc bây giờ. Nhưng không biết ba mươi năm tới hai miền Nam-Bắc thuộc dân tộc Triều Tiên có thể thống nhất như dân tộc Việt Nam hay không. Bởi vì việc thống nhất đâu chỉ có phụ thuộc vào CHDCNN Triều Tiên và Hàn Quốc.
   Có thể nhà nghiên cứu chính trị Hàn Quốc đã có lí. Cái di sản của cuộc Chiến tranh Lạnh ở bán đảo Triều Tiên còn có thể kéo dài năm năm, mười năm, hai mươi năm… cho đến khi nào các nước lớn gạt bỏ quyền lợi của họ sang một bên. Nhưng đến khi nào?
  Bán đảo Triều Tiên có một vị trí địa chính trị, địa kinh tế rất quan trọng. Nước nào kiểm soát được bán đảo Triều Tiên nước đó có thể khống chế cả Đông Bắc Á, Biển Hoàng Hải- một khu vực nối liền lục địa Á-Âu, cửa ngõ ra vào châu Á. Chính vì vậy bán đảo này có “duyên nợ” với nhiều nước lớn từ xưa đến nay như Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Mỹ. Những nước này đều có lợi ích đan xen, chồng lấn ở ở cả hai miền Triều Tiên. Cuộc họp ba bên Mỹ-Trung-Triều tháng 4 năm 2003, cuộc họp 6 bên Mỹ-Nhật-Trung-Nga-Hàn-Triều đổ vỡ đã phản ánh rõ sự phức tạp của vấn đề.
   Trước mắt có những kịch bản sau, i, CHDCND Triều Tiên giành được mục tiêu thống nhất đất nước bằng vũ lực như trường hợp của Việt Nam. ii, CHDCND Triều Tiên tự sụp đổ hòa nhập với Hàn Quốc giống như Cộng hòa Dân chủ Đức tái thống nhất với Cộng hòa Liên bang Đức. iii, hai nước giữ nguyên hiện trạng chia cắt lâu dài. iiii, Hàn Quốc phát động cuộc chiến tranh thống nhất  đất nước bằng vũ lực. iiiii, hai nước thành lập nhà nước liên bang tiến tới thống nhất đất nước.
   Khả năng thứ nhất và khả năng thứ tư khó có thể xảy ra, vì cả hai nước đã trải qua một cuộc chiến nhưng cuối cùng vẫn phải lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới chia cắt. Cả hai sẽ không mạo hiểm phát động một cuộc chiến tranh dẫn đến những hậu quả khôn lường, trừ phi Triều Tiên tiếp tục thử vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo thách thức cộng đồng quốc tế.
   Khả năng thứ hai có thể xảy ra nếu Trung Quốc hoàn toàn từ bỏ CHDCNN Triều Tiên. Liệu Trung Quốc có muốn dứt tình với người anh em khó bảo? Tôi nghĩ rằng họ rất khó xử. Nếu bỏ rơi Triều tiên, một Đại Hàn Dân Quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự vốn mạnh, lại thừa hưởng cơ sở  công nghệ tên lửa đạn đạo, công nghệ hạt nhân, cộng với sự hiện diện quân sự của Mỹ ở sát nách, khác nào bắt họ ngồi trên đống lửa. Nếu không ép được Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân, thực tế là họ đã không làm được, thì hiện tại hệ thống phòng thủ tên lửa Mỹ THAAD đặt tại Hàn Quốc sẽ vô hiệu hóa tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Trung Quốc. Khi Triều Tiên tham gia câu lạc bộ các quốc gia hạt nhân thì Hàn Quốc và Nhật Bản chắc không thể không theo đuổi chương trình hạt nhân của riêng mình. Ứng cử viên tổng thống Donald Trum đã tuyên bố, nếu ông ta lên làm tổng thống Mỹ, ông ta sẽ cho phép hai nước phát triển chương trình hạt nhân. Nếu vậy thì Trung Quốc phải làm gì?
  Khả năng thứ ba là khả năng hiện thực nhất. Khả năng này phù hợp với quyền lợi của Trung Quốc, phù hợp với tính toán chiến lược trong cả quá khứ (sau chiến tranh năm 1950-1953), hiện tại và trong tương lai. Trung Quốc chỉ muốn một bán đảo Triều Tiên chia cắt, phi hạt nhân hóa và Triều Tiên là vùng đệm, phụ thuộc vào Trung Quốc, là con bài mặc cả với Mỹ, thậm chí là cả với Hàn Quốc. Mỹ cũng vậy, việc giữ nguyên hiện trạng, không hòa bình, không chiến tranh ở bán đảo Triều Tiên nằm trong tính toán chiến lược của Mỹ. Họ chỉ muốn một bán đảo Triều Tiên chia cắt, phi hạt nhân hóa, duy trì lực lượng quân sự của mình ở Hàn Quốc, không chỉ để bảo vệ Hàn Quốc mà còn để kiềm chế Trung Quốc và cả Nga ở Đông Bắc Á. Rõ ràng là hai miền Triều Tiên khó có thể quyết định được vận mệnh của mình.
   Khả năng cuối cùng cũng có thể xảy ra nếu thời gian tới hai nước đều có thiện chí, không nghi kị lẫn nhau, đồng thời Bắc Triều tiên phải từ bỏ chương trình hạt nhân, thay đổi nguyên tắc Tiên quân, đổi lại Mỹ-Hàn đồng ý kí một hiệp ước hòa bình, tôn trọng chủ quyền của Triều Tiên, xóa bỏ bao vây cấm vận, giống như Hội đồng Bảo an đã làm với Iran. Hai nước sẽ từng bước hội nhập theo mô hình “một nhà nước hai chế độ”. Nếu như vậy liệu Mỹ có rút hệ thống tên lửa phòng thủ và quân đội Mỹ ra hỏi Hàn Quốc không?

   Khả năng nào thì tương lai của hai miền Triều tiên vẫn còn mù mịt lắm. Vấn đề quan trọng đối với tôi là chiến tranh chưa thể nổ ra vào thời điểm này. Tôi có thể đi qua Incheon bình yên vô sự và ghé thăm Bảo tàng Văn hóa Hàn Quốc năm tiếng trong khi chờ đợi quá cảnh sang Mỹ.
Read More

Sự thật về cuộc chiến tranh Việt Trung năm 1979 và đôi điều cảm nghĩ

Leave a Comment
  Ngày 17 tháng Hai, ba mươi bảy năm về trước, Trung quốc phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trên các tỉnh biên giới phía bắc, chủ yếu ở ba hướng Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Cuộc chiến tranh này theo các phương tiện thông tin đại chúng phương Tây, người ta gọi là cuộc chiến tranh giữa những người anh em đỏ, cuộc chiến tranh của những nước theo hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lê nin.
  Trước cuộc chiến tôi có một thời gian dài đi thực tế ở Lào Cai, chính xác là ở thị xã Lào Cai ngày trước và ở huyện Bát Xát, Bắc Hà, Sa Pa… Lúc đó, tôi không ngờ chiến tranh giữa hai nước sẽ xảy ra. Một số bạn bè ở Lào Cai hỏi liệu chiến tranh giữa hai nước có xảy ra không? Tôi đã trả lời: Không thể.
  Thời niên thiếu tôi vẫn thường hát bài hát về tình hữu nghị Việt-Trung: Việt Nam Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, chung một Biển Đông mối tình hữu nghị sớm trưa rạng đông, bên sông tắm cùng một dòng, anh nhìn sang đấy tôi  nhìn sang đây, sớm sớm trưa nghe tiếng gà gáy dậy… Trưởng thành tôi nhập ngũ vào chiến trường B, khẩu súng tôi mang theo, đôi dép cao su tôi đi, chiếc bi đông, bộ quần áo đến bao tượng gạo, lạng mì chính, chiếc mũ cối, tất cả là hàng viện trợ của Trung Quốc. Tôi luôn thầm cám ơn nhân dân Trung Quốc đã chia sẻ ngọt bùi với dân tộc Việt tron những năm tháng gian nan của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Rồi những câu nói của các nhà lãnh đạo Trung quốc, đại loại như đất nước Trung Quốc rộng lớn bao la là hậu phương vững chắc của nhân dân Việt Nam, 600 triệu nhân dân Trung quốc là chỗ dựa đáng tin cậy của dân tộc Việt Nam… Đã có lúc tôi nghĩ, những bài học lịch sử chống giặc ngoại xâm phương Bắc mãi mãi chỉ còn lại trong những trang sách lịch sử. Đúng là chủ nghĩa xã hội có khác. Sẽ không còn cảnh cá lớn nuốt cá bé, người với người là chó sói. Chỉ có tình hữu nghị anh em như môi với răng. Ấy vậy mà răng đã cắn môi, Bắc Kinh phát động cuộc chiến tranh để “dạy cho Việt Nam một bài học” (ngôn ngữ của bọn lưu manh anh chị đầu đường xó chợ).
  Ngày đó tôi thật sự bị bất ngờ và cũng không hiểu hết nguyên nhân tại sao. Có lúc tôi nghĩ đến Bác, nếu Bác còn sống, chiến tranh có thể sẽ không xảy ra. Nhưng đó là nếu, sự thật cay đắng là 60 vạn quân Trung Quốc ở thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vẫn như hàng ngàn năm phong kiến phương Bắc trước đây, một hằng số trong quan hệ Việt-Trung, theo lệnh của Đảng cộng sản Trung quốc, nhà nước Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh tàn bạo xuống phía Nam.
  Từ ngày lập nước, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã phát động bốn cuộc chiến tranh lớn: Chiến tranh Triều Tiên mà Bắc Kinh gọi là kháng Mỹ viện Triều, Cuộc chiến tranh biên giới Trung-Ấn mà họ nói là để thu hồi lãnh thổ, Cuộc chiến tranh Trung-Xô mà họ lớn tiếng là chống quân bành trướng và cuộc Chiến tranh biên giới Việt Trung mà họ tuyên truyền là phản công tự vệ. Trong số các cuộc chiến tranh đó, chỉ có cuộc chiến tranh với Việt Nam, chắc có nhiều lí do đáng hổ thẹn nên họ cố tình bưng bít để chìm trong im lặng, thậm chí còn cấm các nhà trí thức trong nước nghiên cứu và bàn luận.
  Trước đây, về cuộc chiến tranh Trung-Việt, tài liệu trong nước tôi đã nghe và đọc, nhưng tài liệu nước ngoài tôi được đọc rất ít, chủ yếu qua mạng, những cũng rất sơ lược. Những năm gần đây tôi mới có điều kiện tiếp xúc với một số các tác giả phương Tây, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc. Các tác giả thường thường chỉ ra nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh giữa hai nước là do: i, Bắc kinh cho rằng Việt Nam xây dựng giấc mộng xưng bá tại Đông Nam Á; ii, Việt nam xâm phạm biên giới Trung Quốc; iii, Việt Nam ngược đãi người Hoa; iiii,Việt nam xây dựng đồng minh chiến lược với Liên Xô chống Trung Quốc; iiiii, sau đó người ta cho rằng lí do chủ yếu là do Bắc Kinh chuyển hướng sự tập trung quân của Việt Nam ở Cănpuchia và làm mất uy tín của Liên Xô.
  Trong số những tướng lĩnh và học giả của Trung Quốc có một nhân vật đáng chú ý, đó là Thượng tướng Lưu Á Châu, con rể của cố Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Lý Tiên Niệm, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc, cánh tay phải của Tập Cận Bình, người vừa mới từ chức. Ông đề cập đến hai nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc Đặng Tiểu Bình quyết định phát động cuộc chiến tranh Việt nam, Đó là: i, Đặng thông qua cuộc chiến tranh để nắm quyền lực, nắm quân đội; ii, Đặng chứng tỏ với người Mỹ Trung Quốc hoàn toàn đoạn tuyệt với Liên Xô, nhằm tranh thủ tiền vốn, công nghệ của Mỹ và phương tây để thực hiện bốn hiện đại hóa và chấn hưng đất nước sau cuộc Cách mạng văn hóa long trời lở đất và thời kì đấu tranh giành giật quyền lực dẫn tới trên ba chục triệu người chết (theo số liệu của các nước phương Tây).
  Có một bài của tác giả Tân Viễn đăng trên tờ Epotimes của Hồng Kông, ông cho rằng chính Đặng Tiểu Bình là chủ mưu, là kiến trúc sư của cuộc chiến. Ông viết: “Ông ta(Đặng Tiểu Bình) đã lấy các sĩ quan và binh lính làm bia đỡ đạn và làm bậc thang leo lên quyền lực. Đây là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới cuộc chiến tranh Việt Nam” (Thật là đê tiện và độc ác).
  Vogel trong cuốn “Thời đại của Đặng”, tác giả đã phân tích  những sự kiện trong nước(Trung Quốc), quốc tế và chỉ ra dã tâm của Đặng Tiểu Bình: “Bất kể về ý đồ hay về mục tiêu hay về quy mô tác chiến, đều do cá nhân ông Đặng định ra.
  Ông ta lựa chọn các tướng lĩnh chỉ huy làm tư lệnh, đi động viên lãnh đạo các tỉnh, các địa phương ủng hộ cuộc chiến tranh, tự tay phê chuẩn các kế hoạch tác chiến, ra mệnh lệnh, nên có thể nói đây là cuộc chiến tranh của cá nhân ông Đặng. Chính vì vậy, ông bị một số ủy viên Quân ủy Trung ương và tướng lĩnh sĩ quan phản đối. Nhiều cán bộ cấp cao cho rằng việc Đặng phát động và trực tiếp chỉ huy cuộc chiến tranh này xuất phát từ quyền lợi của bản thân ông ta nhằm thâu tóm quyền kiểm soát quân đội… Dù hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng thực sự rõ ràng dã tâm của Đặng đối với Việt Nam là rất sâu sắc”.
  Có lẽ chính kiến của Lưu Á Châu, Tân Việt và Vogel đã gần đi đến đúng bản chất của sự việc.
  Như vậy là những ý kiến cho rằng do Việt Nam bá quyền ở Đông Nam Á (Trung Quốc tuyên truyền Liên Xô là Đại bá, Việt Nam là tiểu bá), việc Việt Nam xâm phạm biên giới Trung quốc, tấn công lãnh thổ Trung Quốc, ngược đãi cộng đồng người Hoa (về vấn đề người Hoa ở Việt nam tôi đã viết một chương về người chú nuôi của bà nội tôi khi đi thăm California có trong Blog này), tất cả đều do giới lãnh đạo cùng phe Đặng dàn dựng, tuyên truyền dối trá hòng lừa bịp bộ máy chính quyền các cấp và nhân dân Trung Quốc.
  Là người Việt đương nhiên tôi phải tin vào đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn là tôi được kiểm chứng trong suốt thời gian cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt từ sau năm 1975 đến năm 1979. Suốt thời gian ở Lào Cai, đi thăm các bạn bè, nhiều người vẫn còn trong quân ngũ trên biên giới, tôi không bao giờ thấy và nghe thấy chuyện Quân đội Việt Nam tấn công lãnh thổ Trung Quốc như thống kê có tới hàng trăm, hàng nghìn vụ (giống như sự việc giàn khoan Trung Quốc năm 2014 đi vào lãnh thổ Việt Nam, Trung Quốc tố cáo Việt nam dùng tàu đâm hàng nghìn vụ vào các tàu Trung quốc. Tôi không hiểu sao họ có thể đổi trắng thay đen, ăn không nói có vô liêm sỉ đến như như vậy. Trên thế giới chỉ có lãnh đạo Trung hoa là hành xử  như vậy mà thôi). Làm khoa học thì phải hoài nghi nên có lần tôi hỏi anh vợ và các bạn tôi là các sĩ quan đóng trên biên giới Lạng Sơn, Cao Bằng rằng có lần nào bộ đội ta đột nhập vào lãnh thổ Trung Quốc không, mọi người trả lời rằng chắc tôi nghe đài Trung quốc nên bị chúng tuyên truyền.
  Qua ông chú nuôi của bà nội tôi (ông là người Hoa nằm trong mạng lưới tình báo Hoa Nam cục), tôi còn được biết những kẻ bành trướng đã lợi dụng người Hoa từ bao đời nay được người dân Việt dung nạp, bao bọc yêu thương khi họ phải tha hương cầu thực hoặc bị đất nước chối bỏ từ bao đời nay, những người nhẹ dạ nghe theo lời bè lũ cầm quyền Bắc kinh gây nên vụ “Nạn kiều”. Họ đã huấn luyện những thanh niên, trung niên người Hoa ở Việt Nam cầm súng quay trở lại Việt Nam tàn sát người Việt và làm lá chắn cho quân đội Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Bè lũ Đặng thật táng tận lương tâm.
  Chính trị cường quyền là thế. Theo ý kiến của nhiều học giả, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là nhằm nâng cao vị thế chiến lược của Bắc kinh trên trường quốc tế, nhằm củng cố thế lực của Đặng, nhằm tranh thủ vốn công nghệ của Mỹ trên xương máu của người Việt… Thì ra họ giúp Việt Nam để giữ vùng đệm an toàn cho họ và lấy Việt Nam làm con bài mặc cả với Mỹ để đạt mục đích vì quyền lợi dân tộc của họ. Nhưng những vấn đề mà các tác giả nêu ra vẫn chưa đủ. Người ta phải đọc cuốn Sự thật về mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 mươi năm qua do Nhà xuất bản Sự thật tháng 10 năm 1979 của Bộ Ngoại giao Việt Nam thì sẽ còn thấy thêm nhiều vấn đề nữa. Đặc biệt là phần nói về Việt nam trong chiến lược toàn cầu và chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á.
  Nếu như nhà cầm quyền Bắc Kinh coi Liên Xô và Mỹ là đối thủ bành trướng cần phải thắng, thì Việt Nam là đối tượng quan trọng cần phải khuất phục và thôn tính để dễ bề đạt được lợi ích chiến lược và chính sách bành trướng cố hữu trong lịch sử Trung Quốc xuống Đông Nam Á. Họ chỉ muốn duy trì một nước Việt nam bị chia cắt, suy yếu lệ thuộc vào Trung Quốc (như Triều Tiên). Cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam thắng lợi là một trong những nguyên nhân sâu xa làm rạn nứt quan hệ Việt Trung, ảnh hưởng đến kế hoạch ngông cuồng của “người cầm lái vĩ đại” Mao Trạch Đông đưa 500 triệu nông dân xuống Đông Nam Á đất rộng người thưa, tài nguyên phong phú.
  Vì mục tiêu của mình, Trung Quốc đã ngăn cản Việt Nam đánh Mỹ, thống nhất đất nước. Theo Giáo sư R. Hager ở Trường Đại học Jacson (Mỹ), trong thời gian ông ông là sĩ quan tình báo trực tiếp tham gia tại chiến trường Việt Nam, ông đã khẳng định theo các dữ liệu tình báo Trung Quốc đã lấy tất cả những loại vũ khí tốt nhất mà Liên Xô cung cấp cho Việt Nam quá cảnh qua Trung Quốc. Họ đã biển thủ các loại tên lửa hiện đại, bán đứng Việt Nam, chứ không phải “dành cho Việt Nam sự giúp đỡ vô tư hào phóng” như vẫn thường rêu rao.
  Họ xây dựng lực lượng hạt nhân, phát triển lực lượng kinh tế, đe dọa quân sự, hứa hẹn viện trợ  nhằm khuất phục các nước, trong đó có Việt Nam. Họ chia rẽ khối đoàn kết ba nước Đông Dương và các nước trên thế giới. Họ dựng lên tập đoàn Polpot, Ieng sary thực hiện chính sách diệt chủng ở Cămpuchia, dùng lực lượng này xâm chiếm Việt Nam, hòng làm suy yếu Việt Nam…
  Để kết thúc luận đề này đề này, tôi xin trích dẫn lời của một tướng Trung Quốc, Thượng tướng Trần Tích Liên để bạn đọc thấy rõ thêm bản chất của cuộc chiến tranh và sự thất bại thảm hại của cuộc chiến tranh phi nghĩa: “Nếu nói đến tuyến Đông trong biên giới Việt Nam thì Hứa Thế Hữu (Tư lệnh quân phía Đông) là tên điên, kẻ làm càn, mê muội… Ba quân đoàn, mười mấy sư đoàn, 60% là bộ binh cơ giới, khi đột phá trung tâm, thì một tuyến phòng ngự cũng không có, để cuối cùng bị đối phương phản kích đánh cho thảm hại.
 Đây gọi là cuộc chiến gì? Là cuộc chiến tranh dốt nát, là cuộc chiến ngu xuẩn, là cuộc chiến điên rồ, lính chết đầy ra đấy nhưng không ai dám kêu oan”.
  Về phía Việt Nam sau những năm 90 của thể kỉ trước, có lẽ trong một thời gian dài các phương tiện thông tin đại chúng cũng ít đề cập đến cuộc Chiến tranh Trung-Việt. Tôi hiểu có nhiều lí do nhậy cảm. Nhưng có một lí do thuộc về văn hóa Việt, không thù dai, dễ tha thứ (không giống như Trung Quốc, lúc nào cũng nhắc đến người Nhật xâm lược họ, đòi chính phủ Nhậtluôn luôn phải xin lỗi, đòi con cháu họ phải hối cải. Vậy thì hàng chục cuộc viễn chinh xâm lược trong lịch sử Trung quốc đối với Việt Nam trong hàng ngàn năm qua và năm 1956, 1974 Mao Trạch Đông quyết định xâm chiếm đảo các đảo Hoàng Sa, năm 1979  Đặng Tiểu Bình ra lệnh 60 vạn quân tràn qua biên giới Việt Nam, năm 1986 xâm chiếm 5 đảo ở Hoàng sa của Việt Nam thì sao? Tôi nhớ không lầm chỉ mới có Chu Ân Lai, thủ tướng quốc vụ viện Trung quốc sinh thời có một lần ngỏ ý lấy làm tiếc về các cuộc chiến tranh của tổ tiên ông đối với người Việt mà thôi). Tuy không nói, không có nghĩa là người Việt quên đi hay sợ không dám nói. Trong tâm thức người Việt, câu chuyện Mỵ Châu-Trọng thủy luôn luôn nhắc nhở về mối họa người Tầu. Sự thật này bao đời nay tổ tiên ông cha ta luôn truyền cho con cháu bài học nước mất nhà tan .
  Vậy thì người Việt đánh giá về các lãnh tụ cộng sản Trung Quốc như thế nảo? Đánh giá về Đặng Tiểu bình như thế nào? Về tầm vĩ mô tôi không dám nói, nhưng với cá nhân Đặng, dù ông ta là người Hùng của Trung Quốc, kiến trúc sư, người thực thi cải cách và đưa Trung Quốc nghèo nàn, lạc hậu trở thành một cường quốc phát triển kinh tế, thực hiện thành công bốn hiện đại hóa, đối với tôi, ông ta vẫn là kẻ thù của dân tộc Việt, một tội phạm chiến tranh Việt Nam. Ông ta cũng chẳng khác gì những kẻ sát nhân như: Đồ Thư, Mã viện, Hoàng Thao, Quách Qùy, Thoát Hoan, Ô Mã Nhi, Vương Thông, Liễu Thăng, Tôn Sĩ Nghị cùng với các triều đại của chúng.
  Tôi không thể viết khác được nếu đọc tổng kết những thiệt hại người và của do Trung Quốc gây ra trong cuộc chiến. Đúng như Nguyễn Trãi xưa viết trong Bình Ngô đại cáo: Chặt hết trúc Lam Sơn không ghi hết tội, Tát cạn nước Đông hải không rửa hết mùi. Nếu người nào hoài nghi về những số liệu của Việt Nam thì nên đọc các bài phóng sự của Ilínki, phóng viên Nga có mặt suốt thời gian chiến tranh ở biên giới, sau này là Viện sĩ Viện Hàm lâm Liên Xô, ông đã chứng kiến lính Trung Quốc giết và làm bị thương hàng trăm trẻ em Việt Nam, cắt cổ tất cả các thành viên của nhiều gia đình còn khủng khiếp hơn vụ thảm sát ở Mỹ Sơn. Vậy thì tôi kết luận về Đặng như trên là còn nhẹ.
  Từ những năm 1990 hai nước Việt Trung đã bình thường hóa quan hệ. Nhưng tôi vẫn muốn nhìn về quá khứ để thấy tương lai. Tình thế chiến lược của hai nước Trung Việt bây giờ không như những năm 1980 đến những năm 2000. Trung Quốc bây giờ đã trở thành một nước lớn. Việt Nam mặc dầu có vị thế  hơn, có lực hơn, nhưng vẫn là một nước mới thoát nghèo. Tiềm lực kinh tế còn nhỏ bé.
  Trong bảng xếp hạng các cường quốc năm 2016, Trung quốc được giới chính trị quốc tế xếp thứ hai sau Mỹ. Tuy mới chỉ là nền kinh tế lớn thứ hai sau Mỹ, nhưng với sự tăng trưởng mạnh, mặc dù năm 2015 có giảm tốc đạt 6,9%, mức thấp nhất trong vòng 25 năm qua, nhưng khả năng tới Trung Quốc có thể vượt Mỹ trở thành nền kinh tế hàng đầu thế giới (12,6 ngàn tỉ USD so với 15,5 ngàn tỉ USD năm 2014). Năm 2012 Trung Quốc đã trở thành quốc gia xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, là điểm đến thứ hai về đầu tư sau Mỹ. Về quân sự, Trung Quốc đang cải cách để trở thành đội quân hiện đại xứng tầm với sự phát triển kinh tế. Chi ti tiêu cho quốc phòng chiếm 10% tổng chi tiêu quốc phòng toàn thế giới. Năm 2012 chi tiêu của họ đã vượt chi tiêy của cả Nga và Anh cộng lại. Không kể đến lực lượng hạt nhân, tên lửa. giờ đây họ đã đi được vào không gian, xây dựng được hệ thống vệ tinh riêng không phụ thuộc vào Mỹ. Đặc biệt lực lượng hải quân và không quân của họ bắt đầu có khả năng vươn ra xa các đại dương…
  Sau 30 mươi năm phát triển, Trung Quốc đã thực sự trỗi dậy. Họ cần những Điều kiện để trở thành một Siêu cường, họ không cần phải giấu mình chờ thời như thời Đặng Tiểu Bình căn dặn nữa. Họ ôm mộng phục hưng một đế chế Trung Hoa vĩ đại thống trị Châu Á thủa nào và họ đã thể hiện tham vọng về mặt lãnh thổ: Gây căng thẳng với Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku; gây căng thẳng với Philippine, Việt Nam xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; và đặc biệt họ xác định hiện trạng chủ quyền ở Biển Đông là lợi ích cốt lõi. Cụ thể họ giành giật Bãi cạn với Philippine, mời thăm dò dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam và một số nước khác, cấm bắt đánh cá, thành lập thành phố Tam Sa trên Đảo Phú Lâm của Việt Nam, kéo giàn khoan vào thềm lục địa của Việt Nam, liên tục tuần tra và tập trận ở Biển Đông, nạo vét biển làm đảo nhân tạo xây dựng đường băng ỏ các đảo đá cho các công trình quân sự… Mục đích của họ là hiện thực hóa đường lưỡi bò, độc chiếm Biển Đông nhằm khai thác tài nguyên biển, kiểm soát tuyến đường quan trọng nhất Châu Á-Thái Bình Dương, kiềm chế Nhật Bản, Hàn Quốc, giành vị thế chiến lược quan trọng chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ, đẩy Nga và Ấn Độ ra khỏi “vùng biển lịch sử” của họ.
  Với một Trung Quốc trỗi dậy cơ bắp đầy tham vọng như vậy, liệu có thể xẩy ra những điều như họ đã làm với dân tộc Việt mà nhiều người từng lo ngại, không một triều đại nào, không một chính thể nào, từ xưa đến nay mà không xâm lược Việt Nam. Tần xuất xâm lược Việt Nam trong nửa cuối thế kỉ hai mươi tới nay còn tăng lên rất dày.
  Về vấn đề Biển Đông, dân tộc chúng ta đang đứng trước ba kịch bản: i, Trung quốc trở thành một đế chế nhân từ, từ bỏ tham vọng đường lưỡi bò, trả lại các nước trong đó có Việt Nam quần đảo Hoàng Sa và 6 đảo ở Trường sa; ii,Trung Quốc và các nước trong đó có Việt Nam giữ nguyên hiện trạng cùng chung sống hòa bình; iii, Trung Quốc dùng vũ lực hoặc các dạng chiến tranh phi truyền thống thu hồi các đảo hoặc buộc các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam phải lệ thuộc vào họ.
  Trong tình hình thế giới hiện tại, khả năng thứ nhất là mò kim đáy biển. Khả năng thứ hai có thể trở thành hiện thực. Khả năng thứ ba không thể loại trừ. Nếu đã như thế thì chúng ta phải chuẩn bị. Tôi biết Đảng và nhà nước đã chuẩn bị từ trước rồi.
   Tập Cận Bình, nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc trong chuyến thăm Việt Nam ngày 5 đến ngày 6 tháng 11 năm 2015, ông ta hứa hẹn “nguyện cùng Việt Nam nhìn về đại cục, hướng về lâu dài, tôn trọng lẫn nhau”. Ông nhắc đến tình hữu nghị mà Mao Chủ tịch và Hồ Chủ tịch dày công vun đắp cùng với bao nhiêu lời lẽ tốt đẹp giống như các lãnh tụ trong các thời kì trước đây đã từng nói với nhân dân Việt Nam. Ấy vậy mà ngày hôm sau khi Tập sang Singapo hội đàm với Mã Anh Cửu, Tổng thống Đài Loan, ông ta lại nói Hoàng Sa và Trường Sa là do tổ tiên họ để lại từ thời cổ đại, Trung Quốc quyết không từ bỏ chủ quyền. Không biết các cụ nhà ta có nói sai không “miệng quan trôn trẻ”.
  Dù sao đi chăng nữa, tôi vẫn tin vào tương lai tốt đẹp. Tôi vẫn tin rằng một đất nước có nền văn hóa vĩ đại như Trung Quốc, nơi sản sinh ra kinh thi, đường thi, tống thi, tiểu thuyết Minh Thanh bất hủ, đầy tính nhân văn; nhân dân Trung Quốc đời nào cũng yêu chuộng hòa bình, căm ghét  chiến tranh phi nghĩa, nhất là trong cái thế giới siêu phẳng không ai có thể bưng bít được sự thật, với truyền thống nhân văn, người dân Trung Quốc sẽ không để cho những cái đầu bành trướng làm mưa làm gió, biến họ trở thành công cụ,  nạn nhân đi cướp đất và cướp biển của dân tộc khác và của nhân loại. Và đương nhiên, các dân tộc khác cũng như nhân loại cũng không thể để cho những cái đầu nóng ở Trung quốc làm chuyện quá xằng bậy.
  Viết đến đây, đêm đã về khuya, tôi lại xem lại và lần dở những trang nhật kí viết tản mạn trong chuyến đi Lào Cai vào những tháng cuối năm 1978, tức là còn hơn một tháng sau nổ ra cuộc chiến tranh giữa hai nước. Thế mà đã 37 năm trôi qua rồi. Bao nhiêu kỉ niệm lại ùa về trong kí ức. Có một truyện kí mà tôi viết vào cuối chuyến đi đó, bài viết được in báo đầu tiên trong đời viết của tôi.
   Nói là truyện kí nhưng đó là một câu chuyện có thực. Thầy kh chính là thầy Khánh, nhân vật trong chuyện, là người Hoa bị ép buộc sang bên kia biên giới cùng với gia đình. Thầy đã mất năm 2005; còn nhân vật L chính là Liễu, em gái của một người bạn tôi ở Bát Xát, học sinh của thầy. Tôi được biết thầy đã mấy trở lại ngôi trường THPT chứ không phải là THCS như trong câu chuyện. Thầy đã khóc khi gặp lại một số học trò cũ. Thầy nói mặc dù bị buộc làm một số việc, nhưng  chưa bao giờ thầy là kẻ phản bội. Thầy nói: “Dù ván bài cuộc đời đã được chia, người ta không thể chia lại được, nhưng nếu được quyền làm lại thì thầy sẽ không bao giờ nghe theo những kẻ xấu sang Trung Quốc, vì chí ít mộ ông bà, cha mẹ thầy vẫn còn ở Việt Nam. Thầy cho biết thầy sẽ không bao giờ đưa hài cốt họ về Trung Quốc, vì nơi đó thực sự không thuộc về họ. Thầy muốn họ và thực sự họ là con dân của nước Việt Nam.
  Tôi xin chép lại câu chuyện xa xưa đó, tiêu đề là “Một câu chuyện thày trò trên biên giới”. Hy vọng rằng con cháu của thầy Khánh, con cháu của em Liễu, giống như nhân dân hai nước không bao giờ phải tham gia, phải chứng kiến những cuộc chiến như năm 1979.



Một câu chuyện thày trò trên biên giới

Bọn học sinh “lớp 6 Gấu”, tên gọi đùa vui của lớp 6G, rủ nhau ra bờ sông học. Chúng ngồi rải rác ở các gốc cây. Chốn này thoáng và tương đối yên tĩnh. Chỉ có am thanh dào dạt đều đều của con sông Hồng, một dải lụa đỏ nối liền vùng núi trập trùng của hai nước Việt Trung. Thục ra, không phải ở đây bọn học sinh mới học nhóm được, chúng có thể học ở nhà, ở trường và ở nhiều nơi khác. Nhưng tụ tập ở đây, chúng hi vọng: Một lúc nào đấy, may ra được gặp hoặc dò biết được tin túc về thầy Kh- thầy chủ nhiệm của chúng. Không hiểu duyên cớ gì, thầy bỏ nhà cửa, trường lớp sang bên kia sông. Bọn học sinh nghe ngườ lớn nói, thầy giáo chúng ở trong một nông trang, đối diện với chỗ chúng ngồi học. Vì vậy, chiều chiều chúng đến đây, đến gần một tuần lễ rồi.
  Chủ trì việc này là L, một học sinh nữ nhỏ nhắn, da trắng, khuôn mặt trái xoan, lấm chấm tàn hương và có đôi mắt nhịch ngơm pha chút bướng bỉnh. L không khải là lớp trưởng mà cũng không phải là đội trưởng. Thế nhưng nghiễm nhiên L trở thành một “nhân vật quan trọng” được các bạn tin cậy. L được ủy nhiệm thay mặt cho lớp nói lên nỗi lòng của mọi người khi nào được gặp thầy. L lo lắng hỏi các bạn:
- Nếu gặp thầy thì phải nói những gì?
- Đằng ấy nói như thế nào thì chắc chúng tớ cũng muốn nói như vậy.
  Thế rồi bọn học sinh sôi nổi bàn bạc. Chúng thảo ra một chương trình vận động thầy trở về và sắp xếp thứ tự những điều cần nói khi gặp thầy. Tuy vậy, cứ sau mỗi ngày, chúng lại bổ sung một vài ý, thành thử nhiều ý quá, L càng lo.
  Mở vở ra học nhưng trong lòng L rối bời. Nó cố gắng đọc đi đọc lại những dòng chữ thầy cho ghi trong vở mà vẫn không đọng lại tí gì. Nó nhẩm lại những điều các bạn góp ý. Phải thêm chỗ này, bớt chỗ kia. Rồi nó hình dung ra cảnh thầy giáo đang nói chuyện với nó. Xoá những hình ảnh đó đi, nó lại tưởng tượng ra những cuộc gặp gỡ khác… Rốt cục, nó vẫn không bằng lòng với những lời nó định nói. Nó nghĩ miên man nhiều chuyện và băn khoăn liệu có thuyết phục được thày trở lại trường không. Nó ôn lại những kỉ niệm trong năm học. Các sự việc lướt qua trong tâm trí nó như những tia chớp trong cơn mưa đuổi nhau, từ cái ngày nó thập thở cửa trường cấp 2 đến lúc nó rụt rè đứng vào hàng lớp học sinh do thầy chủ nhiệm. Từng cử chỉ ân cần, trìu mến của thầy nó vẫn nhớ như in.
  Một lần nó bận không làm bài tập- hôm ấy trong lớp nhiều học sinh cũng không làm bài, thầy bắt đứng lên một loạt. Thầy bực dọc hỏi nó:
- Tại sao em không làm bài?
  Lớp lặng như tờ, không một tiếng động nhỏ, nó ngượng ngùng, đầu cúi, miệng lúng búng không nói lên lời. Thật là không may! Đúng vào hôm duy nhất nó không chuẩn bị bài vở. Gần như cả học kì nó mới có một lần sơ xuất thế. Nó không dám ngước nhìn thầy, nhìn các bạn. Còn thầy, mãi không cho các học sinh không làm bài ngồi xuống. Chuyển thái đọ bực dọc, thầy đùa:
- Em quên không làm hay không làm được hở “con hươu sao”?
  Hôm ấy nó mặc chiếc áo mới có những đốm chấm như chấm con hươu sao. Cả lớp được một phen cười thích chí, phá tan không khí căng thẳng trong lớp. Riêng nó.. thì tự ái. Chờ cho các bạn yên lặng, nó trả lời sẵng:
- Em không làm được.
  Thầy cười xòa. Khi ngồi xuống, nó cảm thấy nét thoáng buồn và hình như thầy không bằng lòng. Nó ân hận, định sẽ xin lỗi thầy, thế mà cứ dùng dằng mãi, bây giờ thầy đã đi rồi, nó vẫn chưa bày tỏ được.
  L đăm đắm nhìn sang bên kia bờ. Những ngôi nhà nhấp nhô dựa vào lưng đồi. Những chùm khói trắng mờ ngoằn ngoèo từ đó bay lên. Bên ấy đã nấu cơm chiều. Chắc bây giờ thầy giáo cũng chuẩn bị nấu cơm. Con thầy giáo còn bé lắm. Nó oe oe quấy rầy mẹ nó suốt ngày, thế thì vợ thầy không thể vào bếp được. Còn thầy thì không biết cách dỗ cho nó nín. Như thế chắc chắn là thầy lại phải bỏ bài không chấm được. Ngày thầy còn ở bên này, đi học về, nó và mấy đứa bạn gái thường tạt vào nhà giúp đỡ thầy cô. Không biết bây giờ có ai giúp đỡ thầy không? Gía sang thăm thầy được, dù nước sông có lên to nó và các bạn cũng sang. Nó nghe người lớn nói, bây giờ không như trước sang đó người ta bắt đấy.
  Đằng xa có nhiều con thuyền đang trôi lại. Đấy là những con thuyền của người Hoa hoặc người Việt. Mấy hôm đầu cứ trông thấy một con thuyền là tim nó lại rộn lên. Bao hy vọng lóe sáng. Nhưng những con thuyền cứ dần trôi qua… Các bạn nó, lác đác có đứa không ra bờ sông học nữa. Nó bắt đầu nản.
  … Nắng chiều dìu dịu như những sợi tơ tỏa xuống lòng sông. Những con thuyền lướt qua lấp loáng trên mặt nước.
- L đấy em?
  L giật mình. Quyển sách trên tay nó rời ra. Thầy Kh từ trên con thuyền nhảy lên bờ.
- Thầy giáo- mấy đứa học sinh reo lên.
  L bàng hoàng. Đúng là thầy giáo. Thầy đội nón làm nó không nhận ra. Bọn học sinh xúm lại, vây quanh thầy. Tại sao thầy lại phải đội nón  sùm sụp và cứ nhớn nhác nhìn quanh quất như vậy. Thầy giáo gầy dộc. Mắt sâu hoắm, má tóp lại, xương gò má nhô lên như người chịu đói đến cả tháng… Khuôn mặt thầy đầy vẻ mệt mỏi, chán chường… L thốt lên:
- Sao thầy lại gầy thế?
  Mấy đứa ngây thơ liên tục hỏi:
- Thầy bị làm sao thế?
- Thầy giáo mọc bao nhiêu râu kìa.
- Thầy ốm nặng hay sao ạ.
  Thầy kh lại nhìn quanh. Nét đau khổ trên khuôn mặt dãn dần, rồi mỉm cười’
- Ôi … Chào các em. Thầy xin lỗi, xin lỗi.
  Thầy Kh chăm chú nhìn từng học sinh. Chúng nó cũng thay đổi. Cả cái con bé L nữa. Đôi mắt thường ngày có vẻ bướng bỉnh, gan lì, anh đã nghĩ sau này con bé “ghê gớm” lắm. Vậy mà bây giờ anh thấy không phải như vậy. Nó ngước nhìn anh đầy lo âu và xót xa. Phải, chúng lo âu và xót xa cho anh vì anh đã trở thành một con người đáng thương, bị sai bảo, bị ngờ vực, bị khinh bỉ, bị ép buộc làm những điều trái lương tâm. Số phận thật xót xa nên gặp các em lo âu và xót xa cho mình anh cảm thấy mủi lòng.
- Thầy biết các em ở bên này… Thầy có lỗi với các em, với cha mẹ các em, với nhà trường… Thầy trốn sang gặp các em và nhờ các em chuyển giúp bức thư cho nhà trường, cho lớp.
- Không, thầy không có lỗi gì cả- L vin vào cánh tay thầy giáo- chắc chúng em không ngoan nên thầy chán bỏ sang bên kia. Chúng em chờ thầy mãi. Bên ấy thầy có dạy học không? Thầy về dạy chúng em đi.
  L quên hết những điều các bạn căn dặn. Nó cũng quên tất cả những điều nó nghĩ, nó định nói, nó tiếp tục hỏi:
- Các bạn bên ấy chắc ngoan và giỏi lắm phải không thầy?
  Nước mắt thầy Kh muốn ứ ra. Anh cúi đầu không trả lời. Những câu hỏi vô tình làm anh đau đớn. Dưới chân anh dòng sông cuộn chảy, bọt sủi ngầu, mang theo phù sa đỏ nhức nhối. Anh thấy mình giống hạt phù sa, không biết dòng nước sẽ đưa anh về đâu? Anh cảm thấy xấu hổ. Xấu hổ vì đã quá vội vàng. Trả lời học sinh thế nào đây? Dạy học? Ai cho anh dạy học? Tại sao anh lại sợ và ra đi? Điều này đã giày vò anh bao ngày. Những ngày bên đất khách như hàng thần lơ láo, anh đã sảy nhà ra thất nghiệp. Năm tháng đẹp đẽ anh từng có mới ngọt ngào làm sao. Liệu nó có còn quay trở lại với anh và gia đình anh? Về xây dựng đất mẹ ư? Thì đấy, cô giáo từ Ân Độ về những năm trước mà anh gặp ở nông trang, chẳng đã héo hắt trên cái mảnh đất ngục tù đó sao. Anh rùng mình. Những sự việc long trời lở đất mà người ta gọi là Cách mạng văn hóa, biết bao số phận con người trên cái đất mẹ của anh… Trả lời học sinh, ở cái tuổi nhỏ như thế này thật không phải dễ, anh gượng cười chua chát:
- Đừng hỏi thầy nữa các em. Gắng học, sau này các em sẽ hiểu, sẽ tha thứ cho thầy.
  Anh ngắm nhìn từng khuôn mặt. Chúng vẫn yêu thương anh, quí mến anh, tôn trọng anh. Điều đó càng khiến anh đau lòng. Gía chúng ghét anh, tẩy chay anh… Anh lúng túng lấy ra hai phong thư, nhìn nhanh sang bờ bên kia, rúi vội vào tay L.
- Thầy nhờ em gửi hộ. Thầy phải đi đây. Tạm biệt các em, đừng ra đây nữa.
  L ngơ ngác, nhưng chợt hiểu. Nó níu lấy tay thầy, nước mắt giàn giụa.
- Thầy về ư!
  Anh ngập ngừng gỡ tay L. Tất cả học sinh xuống thuyền. Bọn chúng níu kéo không để cho anh đi… Trong đời anh chưa có cuộc chia li nào đau đớn đến như vậy, kể cả khi anh li biệt bố mẹ. Anh thấy không thể phũ phàng bỏ đi. Ôi những đứa trẻ thật đáng yêu. Cho đến lúc này anh mới hiểu, anh đã gắn bó với mảnh đất này như thế nào, với những con người ở đây như thế nào.
- Thầy không thể bỏ gia đình, anh em- anh nghẹn ngào nói.
- Thầy về đưa tất cả sang đây.
Thầy Kh khẽ gật đầu.
- Một ngày nào đó thầy sẽ sang. Thầy đã hiểu tất cả.
- Thầy nhớ đưa cả cô và em sang nữa nhé!
  L nói những gì chính nó cũng không biết nữa. Nó bước ùm sau con thuyền. Nó dặn với:
- Ngày mai hay ngày kia thầy nhé!
  Hoàng hôn vàng thắm đầy dòng sông. Con thuyền bập bềnh xa dần.

                                                                                              30/12/ 1978.         
 


Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.