Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Nước Nga đã trở lại vị thế của một cường quốc

Leave a Comment
Cuối năm 1991, Liên Xô bao gồm 15 nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết chấm dứt sự tồn tại với tư cách là một thực thể địa- chính trị. Cộng hòa Liên bang Nga thay thế cho Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết hay còn gọi là Liên Xô. Đó không phải là sự thay đổi tên gọi mà là sự thay đổi thể chế chính trị- kinh tế. Liên bang Nga bước ra vũ đài chính trị quốc tế như là một nước kế thừa Liên Xô. Biểu hiện trước hết là Liên bang Nga được Liên Hợp Quốc trao cho chiếc ghế Uỷ viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
Sau đó, trên thực tế, nước Nga không còn có vị trí và vai trò quốc tế mà Liên Xô đã nắm giữ trong suốt thời gian tồn tại hơn 70 năm. Chiến tranh Lạnh kết thúc, chiến thắng thuộc về Hoa Kỳ. Tương quan lực lượng thay đổi bất lợi cho nước Nga. Vai trò địa- chính trị của Nga bị suy giảm đến mờ nhạt, không những ảnh hưởng trên thế giới bị mất đi mà khả năng tác động đến tiến trình vận động của các sự kiện ở khu vực Á- Âu kề cận cũng hạn chế. Nhiều vấn đề trên thế giới và ngay cả ở châu Âu được Mỹ và phương Tây giải quyết mà không có tiếng nói của Nga. Chẳng hạn như các cuộc chiến tranh ở Nam tư với các hiệp định hòa bình và việc mở rộng NATO là một ví dụ. Rõ ràng thực trạng này không tương xứng với tiềm lực của nước Nga. Vì sao vậy?
Sự suy thoái kinh tế
Nước Nga chiếm 76% lãnh thổ, 62% kinh tế của Liên Xô trước khi tan rã. Nga kế thừa 60% tiềm lực kinh tế mà Liên Xô đã tạo dựng trong hơn 70 năm cạnh tranh với Mỹ và phương Tây. Tuy nhiên gần một thập niên sau khi ra đời, nước Nga triền miên chìm trong khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội. Nước Nga rơi vào vòng nợ nần chồng chất. GDP của Nga giảm khoảng 60%, tiềm lực kinh tế của Nga chỉ bằng ¼ so với Liên Xô cũ. GDP tính theo đầu người của Nga cũng liên tục giảm từ 5634 đô la trên đầu người năm 1990 xuống còn 3942 đô la năn 1997. Nguy hiểm hơn, khoảng trên 50% dân chúng sống dưới mức nghèo khổ. Mâu thuẫn xã hội, dân tộc, khủng bố, bãi công, biểu tình diễn ra gay gắt… Tình hình hỗn loạn gần một chục năm trong những năm cầm quyền của Tổng thống Boris Yeltsin dần chấm dứt sau khi Vladimirovich Putin lên cầm quyền vào đầu năm 2000. Trong tám năm làm tổng thống, Putin đã đưa nước Nga ra khỏi cơn khủng hoảng với GDP tăng gấp 6 lần.
Sự suy giảm sức mạnh quân sự
Sự suy giảm về kinh tế dẫn đến sự suy giảm về sức mạnh quân sự. Sức mạnh quân sự toàn cầu của Liên Xô trước đây bắt đầu co lại trong phạm vi Liên bang Nga. Gần như tất cả các căn cứ quân sự ở nước ngoài bị cắt bỏ. Lực lượng vũ trang Nga với quân số 3 triệu người giảm xuống còn 1,7 triệu. Tiến sỹ CM Rogov, Giams đốc Viện Bắc Mỹ của Nga đã nhận xét “Tình trạng thiếu tiền đang tiêu diệt lực lượng vũ trang Nga, nó có hậu quả hơn bất kỳ quả bom hạt nhân nào”.
Nga kế thừa 85% lực lượng vũ trang, phần lớn tiềm lực quân sự khổng lồ hải, lục, không quân và lực lượng hạt nhân Liên Xô. Nhưng toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật quốc phòng mà Liên Xô để lại đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Các tổ hợp công nghiệp quân sự của Nga chỉ có thể sản xuất được 18% khối lượng sản phẩm mà Liên Xô sản xuất trước đó. Khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Nga giảm thiểu nghiêm trọng. Tình trạng vô kỷ luật, tham nhũng, tội phạm trong quân đội gia tăng. Trong khi đó ngân sách dành cho quốc phòng của Nga chỉ có khoảng 4% GDP èo uột, kém xa so với Mỹ và Trung Quốc cùng thời điểm (Năm 1996 chi cho quốc phòng của Nga là 40 tỷ đô la, của Mỹ là 263,5 tỷ, của Trung Quốc là 56,2 tỷ). Tình hình trên chỉ được cải thiện sau nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Putin.
Những ưu thế và sự phục hồi của Nga
Những ưu thế của Nga
Mặc dầu suy giảm về sức mạnh kinh tế và quân sự, mặc dù trong cuộc cạnh tranh địa- chính trị, một bên là Mỹ và các nước NATO ở châu Âu, một bên là Trung Quốc và Nhật Bản ở châu Á, nhưng quốc gia Âu- Á này vẫn được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng sớm muộn họ sẽ khôi phục được vị thế cường quốc trên chính trường quốc tế. Một nước Nga dưới thời các Sa hoàng từ năm 1547 đến năm 1917, một nước Nga với Cách mạng tháng Mười làm rung chuyển thế giới và là thành phần quan trọng nhất của Liên Xô từ năm 1917 đến 1991 đã chứng minh điều đó. Brezinsky, một nhà khoa học chính trị, chiến lược gia địa- chính trị, Cố vấn Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa kỳ thời Tổng thống Jimmy Carter đã viết từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước “Nước Nga là một nước, do số phận quy định, bằng cách này hay cách khác vẫn là một cường quốc trong các vấn đề quốc tế, bất luận những khó khăn mà nó đang gặp phải”.
Thực tế nước Nga rất giàu tài nguyên, nhất là về dầu và khí đốt, trữ lượng lớn nhất thế giới, đủ cung cấp cho nhiều nước mặt hàng năng lượng chiến lược mà cả châu Âu, Trung Quốc và Nhật bản đều khao khát. Nước Nga còn có thể hoàn toàn tự cung tự cấp tất cả các loại nguyên liệu cho các ngành công nghiệp hiện đại. Ngoài ra, nước Nga còn là một nước có trình độ khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật, khoa học vũ trụ khá cao. Công nghiệp chế tạo động cơ và công nghiệp quốc phòng hoàn toàn có thể cạnh tranh với Mỹ. Con người Nga có trình độ học vấn tốt, có đội ngũ khoa học, kỹ thuật chuyên môn hóa và công nhân lao động lành nghề. Dân tộc này luôn sản sinh ra những con người tài năng, có nghị lực, có tham vọng, có kỷ luật đủ để đưa đất nước vượt qua những cơn sóng gió.
Sự phục hồi của Nga
Nước Nga dưới sự lãnh đạo của Putin đã thật sự khôi phục được vị thế cường quốc. Nền kinh tế Nga đã vượt qua được khủng hoảng và trở thành nước có tổng sản phẩm quốc nội 3450 tỷ đô la, đứng thứ 5 thế giới theo sức mua tương đương năm 2016 và đứng thứ 12 về quy mô nền kinh tế. Chính quyền Nga đã khôi phục lại được niềm tin của người Nga vào đất nước; vượt qua được các cuộc khủng hoảng tại các nước láng giềng; tái sáp nhập bán đảo Crimea vào lãnh thổ Nga; duy trì được các tổ chức liên vùng và quốc tế, tham gia thành lập Tổ chức hợp tác Thượng Hải. Nga cũng khôi phục được ảnh hưởng đã mất ở các khu vực ảnh hưởng truyền thống như Việt Nam, Trung Đông, Trung Quốc, Ấn Độ và phát triển mối quan hệ với những đối tác mới ở châu Mỹ La tinh.
Khi cuộc nội chiến ở Syria nổ ra vào tháng 3 năm 2011, Mỹ và EU hậu thuẫn cho các cuộc biểu tình, chính quyền nước này đã dùng vũ lực đàn áp. Vì lo ngại về chính trị và ngoại giao, vì bị Mỹ và phương Tây lấn lướt nên Nga và Trung Quốc đã bỏ phiếu chống lại nghị quyết về Syria của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, giúp chế độ Bashar al Assad tránh được vết xe đổ của chế độ Gadhafi tại Lybia, đồng thời khiến nỗ lực của Mỹ và phương Tây nhằm thay thế chế độ Assad thất bại. Có thể nói đó là bước đi đầu tiên đáng chú ý của Nga trên bàn cờ chính trị quốc tế.
Nhìn vào Trung Đông trong những năm vừa qua, giới quan sát thấy rõ một cuộc chiến hai phe. Mỹ, Anh, Pháp, Arập Xê-út, Qatar và một số nước Trung Đông về một phe với những toan tính địa chiến lược riêng của từng quốc gia. Đối lập với những quốc gia trên, Nga và Trung Quốc cùng với Iran tỏ ra rất kiên định trong lập trường ủng hộ Tổng thống Syria chống lại mọi nỗ lực lật đổ Tổng thống Assad. Nga vốn là một đồng minh quan trọng của Syria. Nếu để mất Syria, Nga sẽ mất rất nhiều lợi ích không những ở nước này mà còn không giữ được vị trí ở Trung Đông. Sự can thiệp của Nga được hiểu là sự trỗi dậy chiến lược.  
Có nhiều nguyên nhân khiến Nga can thiệp vào Syria, đương nhiên chủ yếu là vì lợi ích của họ. Nga không tin quân đội Syria có thể đánh bại các phe phái và nhà nước khủng bố tự xưng IS. Nga giúp đỡ chế độ Assad đánh IS là nhằm bảo vệ sườn phía nam của mình ở khu vực Kavkaz, khu vực bất ổn và nhiều tiềm ẩn chủ nghĩa khủng bố Nga. Và còn một nguyên nhân nữa là Nga muốn tìm cách thay đổi cục diện, vị thế; có thể cùng Mỹ và phương Tây chống IS, tạo cơ hội thoát khỏi sự cô lập; gây ảnh hưởng với các nước ở Trung Đông…
Tổng thống Putin sớm nhận thấy Mỹ không còn có thể áp đặt ý chí của siêu cường này ở Trung Đông, dù Nga đang phải gồng mình đối phó với lệnh trừng phạt kinh tế do Mỹ và phương Tây áp đặt với cáo buộc sáp nhập bán đảo Crimea và hỗ trợ lực lượng nổi dậy miền Đông Ucraina, tháng 9 năm 2015 Putin quyết định can thiệp quân sự vào Syria, cứu chính quyền Assad và với hơn một năm, chỉ bằng không kích cộng với sự trợ giúp vũ khí, Nga đã làm thay đổi cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho phe chính phủ Syria trong cuộc chiến tại nước này.
Putin tiến hành can thiệp quân sự vào Syria theo yêu cầu của chính phủ Syria và được Thượng viện Nga thông qua. Đây là chiến dịch đầu tiên Nga tiến hành ở bên ngoài khu vực Liên Xô cũ. Thời điểm tháng 10 năm 2015, theo tin tức các báo, có khoảng 2000 binh lính, cố vấn và nhân viên kỹ thuật Nga đóng chủ yếu tại hai căn cứ Latakia và Tatus thuộc Syria. Lực lượng viễn chinh của Nga vào tháng 11 năm 2015 bao gồm có 34 máy bay Su các loại, một số loại trực thăng vũ trang Mi-24, Mi-28, trực thăng chiến đấu K-52, cộng với một số xe  tăng, pháo; một lực lương lính thủy đánh bộ và một số vũ khí phòng không, tên lửa, kể cả S-400 để bảo vệ các cơ sở quân sự. Tổng số lực lượng viễn chinh khoảng 2000 binh lính.
Sự kiện này chứng minh quân đội Nga đã được hiện đại hóa và tăng cường mạnh mẽ kể từ cuộc cải cách từ năm 2008, nhằm lấp đầy những khiếm khuyết bộc lộ trong cuộc chiến tại Chechnya và Gruzia.  Sự kiện này cũng phát đi tín hiệu Nga có khả năng tiến hành các chiến dịch can thiệp quân sự ở những địa điểm xa bằng việc sử dụng không kích, hỗ trợ hậu cần cùng với lực lượng bộ binh, kết hợp với các chiến dịch của hải quân ở biển xa. Giới phân tích quân sự cho rằng, trước đó khoảng 10 năm việc Nga can dự vào Syria là không thể. Cho đến khi Nga sáp nhập Crimea tháng 3/2014, quân đội Nga đã mang một tầm vóc hoàn toàn mới.
Trong khoảng 10 năm, từ 2005 đến 2015, chi tiêu quốc phòng của Nga tăng gấp đôi. Năm 2016, Nga gặp nhiều khó khăn trong kinh tế nhưng ngân sách quốc phòng vẫn giữ ở mức 5%. Nga đã trang bị những vũ khí, khí tài hiện đại, bổ sung đóng mới các tàu chiến tối tân cho lực lượng hải quân, xây dựng các lực lượng tác chiến đặc biệt bên ngoài lãnh thổ. Chỉ trong vòng vài năm trở lại đây, vị thế của Nga đã được khôi phục. Từ những chuyến tuần tra định kỳ của máy bay ném bom chiến lược Tu-160 như thời Liên Xô trên không phận Đại Tây Dương và Thái Bình Dương đến các cuộc tuần tra tàu ngầm hạt nhân trên hải phận quốc tế đạt tới 72.000 giờ, sánh ngang với thời chiến tranh lạnh…
 Đặc biệt là những gì mà Nga đang thể hiện ở Syria. Nga thử nghiệm gần 170 các loại vũ khí, khí tài mới. Sau những thắng lợi về quân sự, Nga cùng với Iran và Thổ Nhĩ Kỳ bảo trợ hội nghị hòa bình cho Syria ngày 23/1/2017, nhằm tìm kiếm thêm một thắng lợi về ngoại giao, gạt Mỹ và phương Tây ra ngoài. Rõ ràng Nga đang làm chủ cuộc chơi và đạt được những kết quả nhanh hơn và chắc chắn hơn. Quân đội của Nga tỏ ra sánh ngang với các đối thủ NATO. Trong khi Mỹ và phương Tây gần như bất lực ở chiến trường Syria, Nga đang trở thành một quốc gia không thể thiếu trong việc giải quyết vấn đề xung đột ở đất nước này. Phải chăng 59 quả tên lửa hành trình Tomahawk phóng từ Địa Trung Hải sáng ngày 7/4 vào các mục tiêu thuộc tỉnh Horn miền trung Syria là cách Mỹ “lên gân” thể hiện mình với Nga và Trung Quốc?
Điều đã thay đổi sau năm 2016 là Nga không chỉ còn bảo vệ lợi ích của mình nữa mà đã mở rộng hành động ra bên ngoài biên giới. Nga đang mở rộng ảnh hưởng, không còn bị giới hạn trong khu vực lân cận truyền thống thuộc các nước Liên Xô cũ. Nga đã xây dựng một mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hiệu quả với Trung Quốc, xây dựng được kế hoạch hợp tác đầu tư, kinh tế, thương mại dài hạn hàng trăm tỉ đô la với một nền kinh tế khổng lồ và đã hóa giải được nhiều vấn đề khó khăn do cấm vận của Mỹ và phương Tây.
Nga đã tham gia vào cuộc họp OPEC gần đây, trong đó Putin đóng vai trò trung gian giữa Iran và A Rập Xê-út nhằm thúc đẩy một thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu mỏ để đẩy giá dầu lên. Nga cũng bắt tay với Nhật bản, nước có nhiều năm tranh chấp với Nga về  quần đảo Kuril, nhưng lại đồng ý với yêu cầu của Nga, thiết lập hàng chục dự án kinh tế chung trên quần đảo và vùng viễn đông. Ngay cả Thủ tướng Israel Bẹniamin Netanyahu, một đồng minh của Mỹ cũng tỏ ra rất nồng hậu với Kremlin trong chuyến thăm vừa diễn ra.
Nga đã giành được vị thế nể trọng tại EU thông qua sự ủng hộ của các đảng cánh hữu. Thực tế Hy Lạp và một số đảng đã ký hiệp định hợp tác với điện Kremlin. Báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Dân chủ tháng 10/2016 của Bulgary cho rằng, ở một số nước Đông Âu như Bulgaria, Hungary, Latvia, Serbia, Slovakia “Ảnh hưởng của Nga đã trở nên quá rộng rãi và lan đến từng địa phương, thách thức sự ổn định quốc gia cũng như là sự định hướng của các nước phương Tây và sự ổn định của khu vực châu Âu”. Đương nhiên Putin đã đạt được điều mà Liên Xô trước đây chỉ có thể mơ ước, đó là gây ảnh hưởng, nếu không nói là tác động đến kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ và kết quả bầu cử tổng thống một số nước phương Tây có lợi cho nước Nga.
Không ai có thể ngờ một cường quốc bậc trung bị NATO bao vây lại nổi lên một cách ấn tượng như vậy trong mấy năm qua. Nga thực sự đã trở thành biểu tượng một quốc gia không bỏ rơi bạn bè đồng minh trong cơn khó khăn hoạn nạn, không những khôi phục được uy tín của Liên Xô sau chiến tranh Lạnh mà còn trở thành một nhân tố không thể thiếu trong cuộc đấu tranh chống khủng bố IS, nhân tố không thể thiếu cho hòa bình, ổn định tại Trung Đông. Nga đang chứng minh cho một số nước trong khu vực mơ tưởng vào EU và NATO, xâm phạm đến quyền lợi của nước Nga, những nước đó cần phải thận trọng. Gruzia và Ucraina là một bài học sống động. Nga không phải là con gấu bông. NATO không còn đe dọa được Nga nữa. Chính NATO đang lo sợ về sức mạnh của Nga và đang tìm cách đối phó với Nga. 
Kết luận    
Mặc dù Nga đã đạt được nhiều thành tựu nhưng nước Nga vẫn còn nhiều việc phải làm, nhất là về vấn đề kinh tế, một nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu năng lượng. Thêm vào đó nước Nga vẫn còn thiếu sức mạnh mềm, khó tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của các quốc gia. Kế hoạch nhằm thiết lập một liên minh kinh tế Á- Âu của Putin bị suy yếu do thiếu đi mắt xích Ucraina. Việc đưa Ucraina trở về với ảnh hưởng của Nga hiện tại là không khả thi. Việc can thiệp quân sự vào Syria vẫn không bảo vệ được nước Nga khỏi chủ nghĩa khủng bố. Nga có thể kiểm soát được bán đảo Crimea, hậu thuẫn chính quyền ly khai Abkhazia và Nam Ossetia rời khỏi Gruzia, thậm chí sắp tới có thể tác động tới chính quyền ly khai Lugansk và Donestk ở Ucraina, nhưng sẽ có ít nước ủng hộ việc làm đó của Nga.
Mặc dầu vậy, nhiều nhà quan sát quốc tế cho rằng Mỹ và phương Tây không thể áp đặt ý chí của mình ở mọi nơi và mọi lúc như trước đây nữa. Dù nước Nga chưa thể sánh được với Liên Xô trước đây nhưng chính sách đối ngoại của Nga lại thể hiện như một cường quốc có ảnh hưởng. Sức mạnh quân sự hỗ trợ chính trị, ngoại giao của Nga tỏ ra rất hiệu quả. Nền kinh tế của Nga bắt đầu tăng trưởng lại sau cấm vận. Nga có nền tảng tư tưởng trong học thuyết phục hồi chủ nghĩa Á- Âu, học thuyết này khẳng định vị thế, quyền lực của Nga là kết quả tự nhiên của vị trí địa- chính trị nằm giữa châu Âu và châu Á. Điều đó thật đúng như những gì Brezinsky đã từng nhận xét. Trên thực tế, Putin đã bắt đầu hành động ở tư thế của một cường quốc toàn cầu có quyền lực và sự ảnh hưởng.
                                                                      29/4/2017
                                                               
Read More

Liên minh châu Âu 60 năm qua

Leave a Comment
Cách đây 60 năm, ngày 25/3/1957, xuất phát từ ý tưởng hợp nhất châu Âu thành một liên minh hòa bình, tránh mọi nguy cơ xung đột, không còn cảnh chiến tranh tàn phá, sáu quốc gia châu Âu đã ký kết một hiệp định thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC)- tiền thân Liên minh châu Âu (EU) ngày nay. Sáu mươi năm đã trôi qua, cộng đồng này đã không ngừng gắn kết, mở rộng và phát triển thành một đại gia đình châu Âu với 28 nước thành viên trên cơ sở những giá trị chung: Dân chủ, tự do, công bằng xã hội và tôn trọng nhân quyền.
Quá trình hình thành và phát triển
Mục tiêu ban đầu của sự hợp tác là hòa cho châu Âu (1945-1959)
Hai cuộc chiến tranh thế giới đã làm cho người dân châu Âu vô cùng kinh hoàng. Họ không muốn trong tương lai có thêm bất kỳ một cuộc chiến tranh nào nữa. Nhưng trật tự quốc tế sau thế chiến thứ hai đã tạo nên một Tây Âu thân Mỹ, một Đông Âu chịu ảnh hưởng của Liên Xô với hai khối kinh tế đối lập nhau. Một số nước Tây Âu muốn tạo lập các nước  châu Âu thống nhất theo kiểu Liên bang châu Âu. Năm 1950 một liên minh ra đời với 6 thành viên tham gia là Đức, Pháp, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc xăm bua. Liên minh này lấy tên là Cộng đồng than thép châu Âu. Để tránh những ảnh hưởng tiêu cực của Chiến tranh Lạnh, sáu nước trên đã ký Hiệp ước ở Rôm thành lập một thị trường chung hay còn gọi là Cộng đồng Kinh tế châu Âu ngày 23/7/1957.
Thời kỳ tăng trưởng kinh tế (1960-1969)
Cộng đồng kinh tế châu Âu bước vào thập kỷ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục nhờ việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan trong trao đổi thương mại. Cảnh khó khăn đói nghèo đã bị xóa bỏ. Sáu nước thống nhất kiểm soát, hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản. Lần đầu tiên cả cộng đồng đã trở thành những nước xuất siêu về lương thực, thực phẩm.
Mở rộng lần thứ nhất (1970-1979)
Lần đầu tiên Cộng đồng Kinh tế châu Âu tiến hành mở rộng với việc kết nạp ba nước Anh, Ai len và Đan mạch. Tổng số nước thành viên trong khối lên 9 nước. Trong giai đoạn này, việc tăng trưởng không cao do ảnh hưởng khủng hoảng dầu mỏ vào đầu những năm 70. Cộng đồng châu Âu đã hướng tới các chính sách vùng, thúc đẩy kinh tế ở những vùng kém phát triển nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng thông qua việc hỗ trợ việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng. Bắt đầu từ năm 1979, Nghị viện châu Âu được bầu trực tiếp, vai trò của cơ quan này bắt đầu được tăng cường.
Sự biến động của châu Âu và sự mở rộng lần thứ hai (1980-1989)
Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, chính trường châu Âu trở nên phức tạp do sự sụp đổ của bức tường Bec-lin và sự sụp đổ của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Lần lượt Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha gia nhập cộng đồng. Năm 1986 Hiệp ước về châu Âu đơn nhất ra đời nhằm xóa bỏ những rào cản lưu thông tự do về hàng hóa trong khối, đồng thời cộng đồng thực thi sáng kiến biến châu Âu thành một thị trường chung.
Châu Âu nhất thể và mở rộng lần thứ ba (1990-1999)
Năm 1993 Thị trường chung châu Âu đã được hoàn tất với quyền tự do lưu thông hàng hóa, dich vụ vốn và lao động. Hiệp ước Maxtơrich được các nước ký kết năm 1993 và Hiệp ước Amxtecđam ký kết năm 1997 đã đánh dấu bước chuyển từ Cộng đồng Kinh tế sang liên minh chính trị với các giá trị chung châu Âu, hay còn gọi là Liên minh châu Âu (EU) và khẳng định nguyên tắc tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, quan tâm tới môi trường, an ninh. EU đã thông qua các hiệp ước quy định về quyền tự do đi lại của công dân châu Âu với cái tên đường biên Schengen. EU tiếp nhận thêm 3 thành viên mới là Thụy Điển, Phần Lan và Áo.
Mười bẩy năm phát triển mở rộng (2000-2017)
Thời gian này, phần lớn các nước thành viên trong EU thay thế đồng nội tệ bằng đồng tiền chung châu Âu, đồng Ơ-rô. Đồng thời với quá trình sử dụng đồng Ơ-rô là quá trình mở rộng các thành viên mới thuộc khối Đông Âu, bắt đầu từ Hung ga ri cho tới Ru ma ni, đưa các thành viên của EU lên 28 nước. Bắt đầu từ đây những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với thị trường tài chính bắt đầu bộc lộ. Đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và khủng khoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp lan ra nhiều nước, khiến EU phải đối mặt với nhiều thách thức.
Những thành tựu của EU
Nhìn lại chặng đường dài 60 mươi năm qua, rất nhiều người đánh giá EU đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. EU với khoảng 500 triệu người, trải rộng hơn 4 triệu kilômét vuông đã hội tụ được nhiều nền kinh tế phát triển, chiếm gần khoảng 1/3 tổng sản phẩm kinh tế toàn cầu. EU không chỉ giữ được nền hòa bình cho khu vực mà còn tạo ra được một thị trường chung, một đồng tiền chung.
Những giá trị chung của EU là tự do, dân chủ đã phát huy mạnh mẽ tại châu lục này. Những bản sắc văn hóa đa dạng của các nước thành viên đều được EU trân trọng đón nhận. Các đường biên giới nội khối ngày càng mở rộng. Một EU giàu bản sắc văn hóa, nơi khai sinh và nhanh chóng hội nhập các cuộc cách mạng công nghiệp là chìa khóa của sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và hòa hợp dân tộc. Phần lớn người dân EU được sống bình đẳng, được thụ hưởng các quyền tự do di chuyển, học tập, sinh sống lập nghiệp trong liên minh.
Sự thịnh vượng, phồn vinh đã đến với nhiều nước trong EU, nhất là các nước Tây Âu, Bắc Âu. Ở những nơi đó, người dân được hưởng mức sống, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống cao nhất thế giới. EU là niềm mơ ước của nhiều dân tộc, của rất nhiều người dân trên thế giới. EU đã thành công trong việc tạo dựng một hình mẫu xã hội công bằng và dân chủ.
EU có sức mạnh kinh tế, sức mạnh về khoa học công nghệ, có một uy tín và vị thế vững chắc trên trường quốc tế. Các nước thành viên đã từng sát cánh bên nhau trong cuộc chiến chống khủng bố, tội phạm, kêu gọi giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công trong khu vực. EU thực sự góp phần đẩy lùi đói nghèo, bệnh dịch, bảo vệ môi trường và đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động nhân đạo trên thế giới…
Những thách thức làm rạn nứt châu Âu
Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2010 đến nay, EU bắt đầu chao đảo bởi hậu quả khủng hoảng kinh tế, tài chính từ năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp. Trong khoảng bảy năm trở lại đây EU đã phải trả giá cho chính những tham vọng quá lớn của mình, tham vọng mở rộng theo số lượng, tham vọng mở rộng liên kết sang quá nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên nhiều nhà chính trị cho rằng EU không thể không kết nạp các nước thuộc khối Đông Âu. Nếu không tạo động cơ chính trị trở thành thành viên EU cho tầng lớp lãnh đạo và nhân dân ở các nước và số đông người dân ở các nước Đông Âu đang hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo, thì rất có khả năng một số nước quay trở lại chế độ cũ và kèm theo đó là sự mất ổn định ở một số quốc gia. Đó là lý do khiến EU và NATO phải chấp nhận tư cách thành viên của một số nước Đông Âu.
 Đồng thời trong thời gian qua, nhiều thách thức đến từ bên ngoài và xuất hiện trong chính nội bộ liên minh. EU bắt đầu bộc lộ nhiều khiếm khuyết trong cơ chế khi đứng trước những vấn đề khó khăn chung. Sự ủng hộ của người dân với  EU đã suy giảm. Các bất đồng giữa các nước bắt đầu nảy sinh, xu hướng ly khai đã xuất hiện với việc nước Anh kích hoạt Điều 50 Lisbon, bắt đầu đàm phán rời khỏi mái nhà chung EU.
Về kinh tế
Do sự phát triển không đồng đều giữa các thành viên, giữa các nước Tây Âu và Đông Âu. Từ đó phát sinh những mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ. Các nước lớn và Uỷ ban châu Âu đã không kịp thời điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh. Tiếp theo do sự hạn chế trong cơ chế phối hợp và điều hành ở khu vực Euzone trong vấn đề tiền tệ và tài khóa, sự không bền vững và mất cân đối trong các khoản vay nợ của các quốc gia, đặc biệt là khủng hoảng nợ công bắt đầu từ năm 2010… Kinh tế EU rơi vào suy thoái, kèm theo đó là tỉ lệ thất nghiệp cao, khiến mâu thuẫn giữa các nước phát triển và các nước mới gia nhập càng trở nên gay gắt.
Về chính trị
Tổ chức siêu nhà nước bao gồm Nghị viện châu Âu, Uỷ ban châu Âu với nhiều ban bệ cồng kềnh đã tỏ ra thiếu linh hoạt, kém hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề. Nổi lên gần đây nhất là vấn đề khủng bố và người tị nạn. Hàng loạt vụ tấn công khủng bố xảy ra tại Pháp, Đức, Bỉ, Anh dưới nhiều cấp độ, nó đặt châu Âu vào một cuộc chiến hết sức khó khăn. Các nhà lãnh đạo các quốc gia phải xem xét lại tính hiệu quả trong hợp tác an ninh, kiểm soát đường biên cùng với việc đi lại trong khối Schengen.
Những khó khăn về kinh tế, tỉ lệ thất nghiệp 11% trong EU gia tăng chưa từng thấy cùng với các cuộc khủng bố đang tạo áp lực lên EU khá nghiêm trọng. Bên cạnh đó một nước Nga cứng rắn dưới sự lãnh đạo của Vladimir Putin kiên quyết bảo vệ lợi ích dân tộc, chống lại việc mở rộng NATO, một nước Mỹ với Donald Trump không mặn mà với EU và NATO- tất cả khiến EU lâm vào thế yếu, dễ bị chia rẽ. Và đương nhiên nó kích thích thái độ kỳ thị, bài ngoại, bài Hồi giáo, đòi bảo vệ bản sắc, bảo vệ lợi ích dân tộc ở các quốc gia trong EU.
Brexit là sự phản ứng của người dân Anh trước một cơ chế EU khiến họ mất đi quyền độc lập tự chủ, nhưng lại phải đóng góp những nghĩa vụ và trách nhiệm của một nước trụ cột mà theo họ là quá nặng. Sự hoài nghi, cân nhắc thiệt hơn đã khiến nước Anh luôn giữ thái độ nước đôi với EU. Điều đó thể hiện ở việc nước Anh vẫn duy trì đồng Bảng của mình. Nước Anh vẫn thích một vị trí quốc đảo độc lập hơn là hội nhập với nhóm Schengen tại châu Âu lục địa. Và việc người dân Anh chọn ra đi là điều tất yếu.
Không chỉ có Brexit, tư tưởng ly khai có ở mọi thành viên EU. Chỉ chờ điều kiện sẽ trở thành hiện thực ở Hà Lan, Pháp, Đức. Nếu một cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính mới tác động tiêu cực tới đồng Ơ-rô hay một cuộc trưng cầu dân ý ở một quốc gia nào đó thì EU có nguy cơ tan đàn xẻ nghé. Trong bối cảnh hiện nay các nhà lãnh đạo EU buộc phải đổi mới. Nhưng đổi mới như thế nào là một vấn đề vô cùng phức tạp. Ngày 1/3, Chủ tịch ủy ban châu Âu Jean Junker đã công bố sách trắng về tương lai châu Âu. Ông đã dề ra 5 kịch bản cho việc đổi mới của EU. Một là tiếp tục phát triển theo hướng đã định. Hai là chỉ còn thị trường chung. Ba là hội nhập theo nhiều tốc độ. Bốn là thu hẹp lại sự hợp tác nhưng có hiệu quả. Năm là thiết lập theo mô hình liên bang.
Đa số các nhà chính khách và giới phân tích cho rằng EU với nhiều tốc độ là kịch bản phù hợp với tình hình hiện nay, do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các thành viên làm nảy sinh những mâu thuẫn khó giải quyết và gặp nhiều khó khăn khi đưa ra các quyết định chung. Châu Âu nhiều tốc độ cho phép những thành viên những thành viên muốn cùng nhau liên kết nhiều hơn trong các lĩnh vực cụ thể, hợp tác nhiều hơn nữa trong các lĩnh vực quốc phòng hay quản trị khu vực Eurozone sẽ không bị cản trở bởi những thành viên còn đang lưỡng lự.
Một châu Âu đa tốc độ sẽ là thực tế khi đưa ra các quy định cho mỗi cấp. Chẳng hạn các quốc gia ở vòng ngoài có thể không hoàn toàn ủng hộ quyền tự do đi lại của công dân, nhưng không vì thế mà ngăn cản họ gia nhập thị trường đơn nhất của EU. Đồng thời các quốc gia phát triển, nòng cốt không được coi các quốc gia khác là quốc gia hạng hai. Bên cạnh đó có nhiều con đường cho các quốc gia ở những tốp khác nhau tham gia vào việc hoạch định chính sách kinh tế. ngoại giao, quốc phòng… Như vậy mấu chốt để EU tồn tại và tiếp tục phát triển chính là sự linh hoạt.
Quyết tâm và tương lai của EU
Cuối cùng ngày 25/3, sau sáu mươi năm thành lập, các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu đã ký Tuyên bố Rome tại thủ đô Italia, nơi đã khai sinh ra EC, tiền thân của EU. Tuyên bố đã cam kết hướng tới một tương lai chung không có nước Anh. Tuyên bố Rome nhấn mạnh tới một liên minh độc đáo với các thể chế chung và các giá trị chung, một cộng đồng hòa bình, tự do, dân chủ, nhân quyền và thượng tôn pháp luật. Theo Tuyên bố Rome, các nhà lãnh đạo EU khẳng định quyết tâm làm cho liên minh trở nên mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn thông qua sự thống nhất, đoàn kết và tôn trọng các nguyên tắc chung với sự phát triển thịnh vượng, sức cạnh tranh bền vững và có trách nhiệm xã hội trong mười năm tới.
Như vậy là một châu Âu đa tốc độ đã được các nước chủ chốt, các nước phát triển trong EU xem là động lực mới để EU phát triển. Từ nay EU 27 sẽ chia thành các ngả khác nhau, với những quốc gia có nhu cầu hợp tác nhiều hơn, và phát triển như một liên minh mở, có nghĩa là EU sẽ linh hoạt hơn, thực tế hơn. Tuy nhiên nó lại mâu thuẫn với tinh thần cùng nhau phát triển và có thể dẫn tới chia rẽ nội khối. Chính vì thế một số nước Đông Âu e ngại mình sẽ trở thành công dân hạng hai của EU.
Trong mười năm tới việc dung hòa hòa lợi ích của tất cả 27 nước thành viên là một bài toán hết sức khó khăn với EU. Chính vì thế Tổng thống Pháp Francois Hollande đã giải thích “Thống nhất không phải là đồng nhất” và một số nước thành viên EU có thể đi nhanh hơn, tiến nhanh hơn nếu một châu Âu đa tốc độ được hình thành. Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donal Tusk cho rằng “Tại sao hiện giờ chúng ta lại mất niềm tin vào mục tiêu thống nhất”. Ông nói “Các bạn cần biết rằng đoàn kết và thống nhất là con đường duy nhất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của EU”.

Với những diễn biến gần đây, EU kỷ niệm 60 năm hình thành và phát triển trong bối cảnh một đám mây đen đang phủ bóng lên EU. Việc ra đi của nước Anh đang đặt ra cho EU một câu hỏi tồn tại hay không tồn tại. Mặc dù Tuyên bố Rome đã được các nhà lãnh đạo 27 quốc gia thông qua với quyết tâm mạnh mẽ nhưng người ta vẫn trông chờ một EU không chỉ đoàn kết và thống nhất mà còn biết hợp tác và chia sẻ, coi trọng yếu tố con người để tiếp tục tồn tại và phát triển, để xứng đáng với những gì mà EU đã đóng góp cho nhân loại trong suốt 60 năm qua.     
Read More

Tình hình thế giới và sự lựa chọn của Việt Nam

Leave a Comment
Nhìn tổng thể bức tranh của thế giới trong năm qua hình như người ta có cảm giác tình hình chính trị ngày càng không ổn định. Ở châu Âu, Quan hệ Nga-NATO thêm những căng thẳng mới. Nội bộ Liên minh châu Âu có nhiều vấn đề sau khi người dân Anh quyết định rời khỏi mái nhà chung EU. Ở châu Á, quan hệ Mỹ-Trung có xu hướng đối đầu. Nhà nước khủng bố tự xưng IS hoành hành vượt khỏi Trung Đông đang ngập chìm trong bạo loạn, nội chiến. Bán đảo Triều tiên luôn dậy sóng bởi Bắc Triều tiên thử bom nguyên tử và các loại tên lửa. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản cùng với nhiều nước ASEAN vẫn căng thẳng bởi mâu thuẫn chủ quyền biển đảo và chính sách quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc. Và cuối cùng Tổng thống Donal Trump trúng cử Tổng thống Mỹ với những chính sách đối nội, đối ngoại hết sức khó lường, làm cho chính sự quốc tế càng thêm bất ổn.
Phải chăng tình hình thế giới không ổn định, thậm chí đang rối loạn và không có trật tự vì nó đang định hình một thế giới đa cực trên bình diện quốc tế và ở cả bình diện cấp khu vực? Xu hướng đa cực đang định hình và triển vọng trong tương lai có thể hình thành. Có khả năng thế giới còn phải tiếp tục phải trải qua một thời kỳ rối loạn và không có trật tự. Thời kỳ này kéo dài bao nhiêu lâu còn phải xem tình hình khách quan và nỗ lực chủ quan của cộng đồng quốc tế. Mặc dầu quy luật khách quan quyết định xu thế thời cuộc, nhưng suy cho cùng chính con người làm nên lịch sử.
Việt nam là một nước nhỏ nhưng có số dân vào loại khá lớn. Trong xu thế phát triển của thế giới, Việt nam phát triển như thế nào, phát triển cùng với ai trong thế giới toàn cầu hóa, trong thời đại phát triển công nghiệp 4.0, tất cả đều có liên quan đến tình hình chung của thế giới. Chỉ cần kiên trì giữ vững độc lập dân tộc, như Bác Hồ nói “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Việt Nam chúng ta sẽ tìm được bước đi đúng đắn thích hợp và có một vị trí xứng đáng trên bản đồ thế giới.
Một vài xu hướng phát triển của thế giới
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thế giới chia làm hai phe, có thể nói thế giới chia thành hai trận tuyến lớn Đông và Tây cùng với cuộc chiến tranh Lạnh gần nửa thế kỷ. Hoa kỳ và Liên Xô, hai siêu cường đối đầu đã tạo nên trật tự hai cực. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ, chiến tranh Lạnh kết thúc, Hoa Kỳ trở thành siêu cường còn lại duy nhất tác động tới trật tự thế giới. Nhưng vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 đã làm xáo trộn trật tự một siêu đa cường. Tình hình chính trị quốc tế ngày một diễn biến phức tạp. Mỹ không còn đủ sức một mình chi phối trật tự thế giới theo mong muốn. Tiếp theo, cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính năm 2008 đã giáng một đòn mạnh vào phương Tây mà đứng đầu là Mỹ, cho đến nay về tổng thể tình hình vẫn chưa hoàn toàn hồi phục.
Trật tự đa cực trên thế giới đang định hình, xu thế chung của thế giới vẫn là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục đẩy mạnh. Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế, chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ cùng với một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo trong khu vực và trên Biển Đông sẽ diễn ra gay gắt.
 Quyền lực đang dịch chuyển về châu Á-Thái Bình Dương
Sau hơn ba mươi năm mở cửa, Trung Quốc nhanh chóng trở thành một trong những nền kinh tế mới nổi. Đến năm 2013 tính theo GDP Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản. Theo xu hướng phát triển hiện nay, mặc dầu nền kinh tế Trung Quốc có giảm tốc, chỉ cần họ duy trì phát triển kinh tế với tốc độ bình quân 6% trong trạng thái bình thường, sau hơn một thập kỷ nữa chắc chắn họ sẽ trở thành nền kinh tế đứng đầu thế giới.
Sau Trung Quốc là Ấn Độ, một nước có dân số là 1,2 tỷ đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một vài năm trở lại đây, Ấn Độ là nước có tốc độ phát triển cao nhất thế giới. Năm 2016 Ấn Độ đạt tốc độ phát triển 7.4% . Theo OECD dự báo, Ấn Độ có thể đạt 7,9% trong năm 2017. Ấn Độ đã vượt qua Trung Quốc để giành vị trí là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới với tổng GDP 2300 tỷ USD, đứng thứ 10 thế giới và thứ 3 châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Điều quan trọng là Ấn Độ phát triển kinh tế chủ yếu nhờ nội lực, dựa vào khai thác thị trường trong nước, không dựa nhiều vào xuất khẩu nên ít bị ảnh hưởng bởi những biến động của kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng đang hết sức nỗ lực tranh thủ mọi nguồn lực của quốc tế như từ Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản… Chắc chắn trong những năm tới họ sẽ trở thành một nền kinh tế không thua kém Trung Quốc.
Cùng với sự phát triển kinh tế của châu Á, quyền lực đang dịch chuyển về châu Á. Ở châu Á, xét về thực lực kinh tế và quốc phòng, cùng với mục tiêu của Đảng Cộng sản Trung Quốc và giấc mộng Trung Hoa của Tập Cận Bình, Trung Quốc là nước có tham vọng trở thành một thế lực đứng đầu châu Á và toàn cầu. Một số học giả, giới chiến lược trên thế giới, kể cả ở Mỹ và Trung Quốc tin rằng Mỹ đang suy yếu, quyền lực đang dịch chuyển về Trung Quốc.
Quyền lực chuyển dịch đã từng xuất hiện vài lần trong lịch sử cận đại. Từ Italia đến Hà Lan, đến Anh và từ Anh sang Mỹ. Trong thời gian chuyển dịch xuất hiện nhiều cuộc chiến tranh, bao gồm hai cuộc thế chiến. Ngay cả khi quyền lực đã chuyển sang Mỹ, người Mỹ và phương Tây vẫn phải ngăn chặn Liên Xô bằng cuộc chiến tranh Lạnh dài hơn 40 mười năm để duy trì quyền bá chủ của mình. Với sự trỗi dậy ngày càng mang tính cơ bắp ở Hoa Đông và Biển Đông, một kiểu trỗi dậy đầy toan tính không phải hòa bình như Trung Quốc từng tuyên bố, người Mỹ lo lắng địa vị lãnh đạo toàn cầu của mình. Họ không phải cảnh giác với Nhật Bản hay Ấn Độ. Họ cảnh giác với Trung Quốc là điều hoàn toàn đúng đắn.
Nhìn vào sức mạnh tổng hợp quốc gia như kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quyền lực mềm, giữa Mỹ và Trung Quốc còn có một khoảng cách rất xa. Hiện tại bản thân Trung Quốc cũng không có ý đồ thay thế Mỹ, trừ khi Mỹ từ bỏ vai trò của mình. Tuy nhiên người Mỹ không muốn trở thành kẻ đã từng là bá chủ, bắt đầu từ những năm 2010, Mỹ  thực hiện chiến lược “Xoay trục trở lại châu Á-Thái Bình Dương” hay chiến lựợc “Tái cân bằng châu Á Thái Bình Dương”. Chiến lược này lấy châu Á làm trung tâm chứ không phải là Trung Đông với cuộc chiến chống khủng bố hay tiếp tục bố trí lực lượng quân sự nghiêng về châu Âu. Đương nhiên Mỹ sẽ không dùng phương thức tiến hành cuộc chiến tranh giống như ở Triều Tiên, Việt Nam hay các phương thức trong cuộc chiến tranh Lạnh.
Cuộc đọ sức Mỹ-Trung (Xin xem bài Mối quan hệ Mỹ-Trung sẽ đi về đâu cũng trong blog này)
Cuộc đọ sức Mỹ-Trung thực sự đã bắt đầu từ những năm 2010 khi lực lượng hải quân và không quân Trung-Mỹ va chạm trên Biển Đông. Mặc dù chủ quan Trung Quốc không muốn thách thức Mỹ, nhưng sự phát triển về kinh tế cùng với sự đầu tư về quân sự đã nuôi khát vọng cho tầng lớp lãnh đạo mới, Bắc Kinh muốn chia đôi Thái Bình Dương bằng đường lưỡi bò (Trung Quốc đã biến năm bãi nửa chìm nửa nổi mà họ xâm chiếm của Việt Nam năm 1988 thành những căn cứ quân sự trên Biển Đông). Bằng việc làm này, Trung quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, thách thức quyền tự do đi lại trên Biển Đông của Mỹ và các nước khác trên thế giới. Thái Bình Dương rộng lớn thật nhưng người Mỹ không muốn chia cho Trung Quốc, cũng như không muốn xây dựng mối quan hệ nước lớn kiểu mới với Trung-Mỹ.
Người Mỹ không đơn giản lặp lại cuộc chạy đua vũ trang, cân bằng răn đe hạt nhân với Trung Quốc như ở cuộc đối đầu Xô-Mỹ trong chiến tranh Lạnh. Họ thực hiện chiến lược hợp tác và cạnh tranh, tiếp xúc và kiềm chế. Cuộc đọ sức diễn ra trên tất cả các mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Cả hai bên đều đang ra sức phát huy sức mạnh và tập hợp lực lượng ở trong nước lẫn ngoài nước. Trung Quốc đang ra sức hiện đại hóa lực lượng quân sự. Mỹ đang cùng đồng minh và các đối tác hình thành một mặt trận bao vây đối thủ từ Hàn Quốc cho tới Australia.
Cuộc đọ sức này có dẫn tới đối kháng, có phát triển đến mức chiến tranh, điều đó phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo Nhà Trắng và Trung Nam Hải. Chiến tranh xảy ra chắc chắn không ai là kẻ chiến thắng. Khi đó, ngay cả ASEAN và Việt Nam cũng khó tránh khỏi ảnh hưởng nặng nề, như câu nói người xưa “Trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”. Tuy nhiên, kịch bản này khó có thể xảy ra. Chỉ có điều trong cuộc đọ sức, không chỉ có Mỹ-Trung tham gia trò chơi này, người chơi cũng không chỉ có hai nước, một nước đứng đầu thế giới phát triển, một nước đứng đầu thế giới đang phát triển.
Thế giới đa cực
Với sự phát triển như hiện nay, Trung Quốc đã trở thành một cực ở khu vực châu Á, khu vực đông dân cư nhất, tốc độ phát triển nhanh và mạnh nhất. Trung Quốc có sức chi phối mạnh ở khu vực. Song Trung Quốc lại có hai người láng giềng khổng lồ là Nhật Bản và Ấn Độ, một nước là đồng minh của Mỹ, một nước là đối tác chiến lược dân chủ của Mỹ. Nhật Bản án ngữ phía đông Trung Quốc, là nước có nền kinh tế phát triển vào hàng tiên tiến nhất thế giới. Ấn Độ án ngữ phía nam Trung Quốc, là một nước đang phát triển trỗi dậy mạnh mẽ nhất sau Trung Quốc. Cực Trung Quốc trên bước đường tiến tới có lẽ còn gặp nhiều thách thức. Đa số các nhà quan sát quốc tế cho rằng cục diện thế giới không có khả năng bị chi phối bởi cuộc đọ sức Mỹ-Trung như giai đoạn chiến tranh Lạnh Xô-Mỹ.
Liên minh châu Âu (EU) là một trong những lực lượng chủ yếu của văn hóa, chính trị, kinh tế thế giới. Tuy bị chê là lục địa già nhưng có thể nói EU là một trong những cực mạnh nhất về sức mạnh tổng hợp. Châu Âu đã từng sản sinh ra những đế quốc hùng mạnh, quê hương của cuộc cách mạng công nghiệp trong quá khứ và hiện tại. Mặc dù phát sinh hiện tượng Brexit nhưng châu Âu là nơi khởi nguồn cho nền văn minh hiện đại, nơi lực lượng sản xuất phát triển hàng đầu thế giới, nơi xây dựng ý tưởng nhất thể hóa khu vực sau hai cuộc chiến tranh thế giới.
Có một vấn đề tồn tại giữa EU và nước Nga, người kế thừa siêu cường Liên Xô, quốc gia có chiến lược phát triển và chính sách ngoại giao trong thời gian gần đây hết sức đáng chú ý. Và ngược lại, có một vấn đề còn tồn tại giữa nước Nga và EU. Liệu hai bên có thể tháo gỡ những mâu thuẫn kéo dài hàng thập kỷ về vấn đề mở rộng NATO, hệ thống phòng thủ tên lửa và những rắc rối hiện tại trong việc giải quyết vấn đề Ucraina? Trong thời gian tới, chiến lược của Nga theo hướng Đông hay hướng Tây hoặc cân bằng cả hai hướng khiến cục diện thế giới có những diễn biến khác đi.
Còn lại là Mỹ, một siêu cường đang cố gắng giữ lại vị trí bá chủ thế giới, trong tương lai có thể chỉ còn là một cực? Thực ra không phải là Mỹ suy yếu, mà chính là phần còn lại của thế giới đang phát triển đã phát triển lớn mạnh. Tuy nhiên đó một cực có nhiều ưu thế nhất, bởi nó thừa hưởng sức mạnh di sản khổng lồ của một siêu cường, một siêu cường cho đến giờ vẫn có sức mạnh tổng hợp quốc gia lớn nhất thế giới. Hơn nữa, khu vực Bắc Mỹ, Canada, Mehico và có thể tất cả các nước ở khu vực Mỹ Latinh hoàn toàn không phải là thách thức đối với Mỹ. Liệu với chính sách của Tổng thống Donal Trump có thể đưa nước Mỹ một lần nữa vĩ đại trở lại?
Theo cách nhìn nhận này, nếu nói thế giới hiện nay đã và sẽ vẫn tiếp tục thể hiện xu thế đa cực hóa, nhưng còn phải mất nhiều năm nữa để định hình. Trong cuộc tranh đấu này không chỉ có các cực tham gia mà còn có nhiều bên tham gia trong sự vận động chung của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nhiều khả năng khác vẫn có thể xảy ra. Quốc gia nào mạnh hơn, quốc gia nào yếu thế vẫn còn đang định hình. Hiện tại, quốc gia mạnh vẫn tồn tại những điểm yếu. Quốc gia yếu hơn cũng có những ưu thế nhất định. Tất cả đều đang ra sức tập hợp lực lượng để giành lấy vị trí tốt nhất. Trong xu hướng thế giới đa cực này, quốc gia mạnh hay yếu, đối tác tốt hay xấu đều tác động tới phần còn lại của thế giới.
Rối loạn và không có trật tự
Thế giới đang định hình, sự tương tác giữa các cực vẫn chưa đi vào ổn định nên trật tự thế giới vẫn chưa được cộng đồng quốc tế công nhận và tuân theo. Tình hình chính trị thế giới đang diễn ra rối loạn và không có trật tự. Chiến tranh xung đột dân tộc, tôn giáo, khủng bố, bạo loạn diễn ra ở nhiều nơi. Xung đột chủ quyền biển đảo diễn ra căng thẳng. Kể từ khi các nước châu Âu ký Hòa ước Westphalia năm 1648, đặt cơ sở cho mối quan hệ quốc tế đến nay, các trật tự thế giới đều phải trải qua các cuộc chiến tranh vô cùng đẫm máu để xác lập trật tự ổn định. Hiện tại rất rối loạn và không có trật tự.
 Sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, thế giới đón nhận một làn sóng toàn cầu hóa chưa từng có; vốn, công nghệ, trình độ quản lý từ các nước tư bản phát triển đã làm thay đổi bộ mặt hành tinh. Thế giới ngày càng tùy thuộc vào nhau. Nhưng những vấn đề toàn cầu như chiến tranh, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, khủng bố, đói nghèo, bệnh tật, biến đổi khí hậu… Tất cả các vấn đề trên vẫn thách thức và treo lơ lửng trên đầu nhân loại. Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế vẫn không có khả năng kiểm soát và khống chế. Mặc dù có nhiều cố gắng, cộng đồng quốc tế vẫn chưa xây dựng được một hệ thống trật tự thế giới có hiệu quả, được tất cả các nước công nhận. Cần phải bao nhiêu thời gian nữa? Phải bỏ ra cái giá như thế nào cho trật tự sắp tới ? Xảy ra chiến tranh như bao thề kỷ qua hay thỏa hiệp, đàm phán, đối thoại, hợp tác?
Lựa chọn nào cho Việt Nam
Trong bàn cờ thế giới, Trung Quốc ít nhất là một cực. Nhưng vấn đề là các chính sách của Trung Quốc từ 2010 trở lại đây đang chứng tỏ nước này đang cố gắng tìm mọi cách thay đổi trật tự địa chính trị thế giới vốn đã được định hình từ sau chiến tranh Lạnh. Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là lực lược hải quân, xây dựng chiến lực chống tiếp cận, cân bằng quyền lực tại khu vực, thực hiện các bước đi quyết đoán tại Hoa Đông và Biển Đông, phá vỡ nguyên trạng và bất chấp luật quốc tế. Nhiều nhà quan sát cho rằng Đông Á, trong đó có Đông Nam Á sẽ phải đối mặt với cường quốc bành trướng nguy hiểm này.
Hơn bất cứ nước nào, Việt Nam hiểu rất rõ Trung Quốc trong quá khứ và hiện tại. Không thể di chuyển được lãnh thổ, người Việt chỉ còn cách sống chung với lũ như hàng nghìn năm qua. Trung Quốc tồn tại và phát triển thì Việt Nam cũng tồn tại và phát triển được cùng với họ. Về truyền thống chống giặc ngoại xâm thì người Việt Nam không có gì đáng ngại, vấn đề là phát huy truyền thống đó với sức mạnh của thời đại như thế nào để thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới?
Giữ vững độc lập chủ quyền
Phải giữ vững được độc lập, chủ quyền. Đó là vấn đề sống còn. Muốn giữ được độ lập, chủ quyền thì phải có thực lực. Có thực mới vực được đạo. Suy cho cùng thì vẫn là vấn đề nội lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng xuất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản nền giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực… để không bị nền kinh tế Trung Quốc chi phối, không bị lệ thuộc về chính trị. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển
Chiến tranh là thảm họa cho dân tộc. Muốn không có chiến tranh phải sẵn sàng chuẩn bị cho chiến tranh, phải cố gắng hết sức để đảm bảo và tăng cường an ninh, quốc phòng quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. Phải thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Phải đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với các cường quốc, các nước, các tổ chức, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.
Tiếp tục đổi mới 
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam trải qua trên ba mươi năm. Đất nước đã đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt. Song Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nguy cơ lớn nhất là tụt hậu về kinh tế. Vì vậy, tiếp tục sự nghiệp đổi mới là công việc sống còn của Việt Nam. Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, văn hóa, giáo dục… để hội nhập quốc tế sâu hơn nữa, để đáp ứng với sự phát triển của đất nước, khu vực và quốc tế trong thời đại kinh tế số.
Dù tình hình thế giới có thay đổi thế nào đi chăng nữa, dù thế giới có đơn cực hay đa cực thì Việt Nam vẫn đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Giữ vững độc lập chủ quyền, vượt qua mọi thách thức, tận dụng mọi cơ hội để đảm bảo môi trường hòa bình và phát triển, đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Với bản lĩnh của Đảng và của dân tộc, chắc chắn dân tộc ta sẽ tồn tại và phát triển trong cái thế giới đầy biến động này.



  
  


Read More

Nước Mỹ đã chọn Donal Trump là Tổng thống

Leave a Comment
Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 diễn ra vào ngày 8/11. Người dân xứ cờ hoa đi bỏ phiếu để chọn ra người lãnh đạo quốc gia. Đó là cuộc đối đầu giữa hai ứng cử viên đại diện cho hai đảng Cộng hòa và Dân chủ: Donal Trump và Hillary Clinton. Để đi tới cuộc đấu song mã này, hai đấu thủ đã phải trải qua một cuộc chiến đầy cam go, quyết liệt trong nội bộ đảng của họ. Ít nhất trước ngày bầu cử cả hai người đều là những người chiến thắng.
Do quan điểm của mỗi ứng cử viên Tổng thống Mỹ có thể nói là trái ngược nhau trong rất nhiều vấn đề, từ chính trị, quân sự, an ninh, ngoại giao, đến kinh tế, môi trường… Nói không ngoa, cả thế giới đều quan tâm, chú ý đến sự kiện bầu cử Tổng thống Mỹ. Đặc biệt là các nước phương Tây, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Điều này thật dễ hiểu vì Mỹ là một siêu cường có sức chi phối mạnh mẽ trong quan hệ quốc tế, cho nên việc ai lên làm tổng thống không còn là vấn đề riêng của một quốc gia.
Tôi nghĩ Việt nam cũng nằm trong cái vòng xoáy tâm lý chung. Nhất là sau cái dư âm chuyến thăm của Tổng thống Mỹ đương nhiệm tới Việt Nam. Nhiều người Việt có thiện cảm với Chính quyền Tổng thống Barack Obama, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng bành trướng ở Biển Đông. Một nước Mỹ kiên quyết cứng rắn bảo vệ tự do hàng hải trên cơ sở luật pháp quốc tế sẽ có lợi hơn cho Việt Nam trong tương lai.
Chính quyền của Tổng thống Obama trong tám năm cầm quyền đã làm được khá nhiều điều cho châu Á-Thái Bình Dương. Về chính trị, Mỹ lên án mạnh mẽ hành động cơ bắp của Trung Quốc trong việc bồi đắp và tôn tạo các đảo ở Biển Đông thành các căn cứ quân sự. Về quân sự, Mỹ đã tiến hành chiến lược xoay trục, tái cân bằng các lực lượng quân đội sang châu Á để đối phó với tham vọng của Trung Quốc. Về kinh tế, Mỹ đã hoàn tất việc đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) tạo ra sân chơi của Mỹ trong khu vực lòng chảo Thái Bình Dương, có thể nói TPP là cái cốt vật chất chống lại sự bành trướng của Trung Quốc về kinh tế trong khu vực.
Bà Hillary Clinton nằm trong ê kíp chính quyền của Tổng thống Obama, bà là con người tôn trọng Việt Nam, là người trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Hà Nội tuyên bố Mỹ có lợi ích quốc gia ở Biển Đông, người đã khiến Ngoại trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì bỏ cuộc họp ra ngoài để phản đối. Bà còn là người đến Việt Nam rất nhiều lần, lần đầu tiên với tư cách là đệ nhất phu nhân theo Tổng thống  Bill Clinton tới Hà Nội ngày 17/1, 2000. Bà đã từng mặc áo dải Việt Nam, đội nón lá Việt Nam…
Tôi đã tin rằng bà Hallary Clinton sẽ trở thành Tổng tống Mỹ, vì bà từng học về khoa học chính trị, một thượng nghị sỹ, một ngoại trưởng, một nhà chính trị chuyên nghiệp. Tôi tin rằng bà có thể đưa quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm cao mới. Còn Donal Trump chỉ là một thương nhân, một nhà tài phiệt, chưa hề trải qua chính trường, không có kiến thức về chính trị, về quan hệ quốc tế, thậm chí đến nhiệm vụ và quyền hạn của một tổng thống ông ta cũng không nắm được; một con người như vậy chắc gì biết đến Việt Nam là ai, tôi không hy vọng ông ta có thể vun đắp cho mối quan hệ Mỹ-Việt trong những năm tháng ông ta cầm quyền.
Mấy tháng trước khi diễn ra cuộc bầu cử, tôi đã đến thăm ngôi nhà riêng của Bill Clinton trong thời gian ông dạy học ở Trường Đại học Arkasas, bây giờ trở thành Bảo tàng Clinton (Clinton House Museum). Ngôi nhà nằm trên một sườn đồi, cạnh Trường Đại học Arkansas. Đó là ngôi biệt thự một tầng xinh xắn có chín phòng theo phong cách kiến trúc Tudor của người Anh và một vườn hoa sau nhà.
Tôi đã dành cả một buổi sáng để thăm ngôi nhà-bảo tàng Clinton, thăm phòng khách nơi tổ chức lễ cưới của Bill và Hillary vào năm 1975, xem xét kỹ cái lò sười do chính tay Bill tự làm; thăm căn phòng “chiến tranh” (War Room), nơi ông bà cùng bạn bè thảo luận giúp ông bà khởi nghiệp; thăm phòng bếp có treo những bức tranh những người bạn, những người thầy có ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông bà như Thượng nghị sĩ j. William Fulbright, Robert Leflar; thăm phòng nghỉ ngơi giải trí (Rec Room); thăm phòng đọc nay là thư viện… Tôi thích nhất là Vườn hoa các đệ nhất phu nhân, nơi tập trung các loại hoa yêu thích của mỗi một đệ nhất phu nhân từ Martha Washington cho đến Michelle Obama.
Điều quan trọng là thăm ngôi nhà-bảo tàng tôi hiểu thêm về con người Bill và Hillary. Họ đều là những con người có quan điểm chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Họ là những người đầu tiên mở ra cánh cửa bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Riêng với Hillary Clinton, tôi còn biết thêm bà đã từng sáng lập ra Tổ chức Những người ủng hộ trẻ em và gia đình bang Arkasas và đặc biệt là bà đã lãnh đạo một lực lượng nhằm giúp đỡ cải cách các trường công của bang Arkansas. Tôi thực sự có tình cảm với cả hai con người này. Và thực sự tôi mong bà Hillary Clinton trúng cử.
Theo giới tinh hoa, ở Hillary Clinton người ta thấy có đầy đủ tố chất, năng lực, phẩm chất, bản lĩnh của một tổng thống Mỹ. Ngược lại với bà, Donal Trump không có cái gì để nói ngoài một tỉ phú bất động sản. Thế nhưng ông Trump đã trở thành Tổng thống Mỹ mặc dù bà Hillary hơn ông Trump hơn hai triệu phiếu phổ thông. Đó là sự lựa chọn ngoài sự mong đợi của số đông người Mỹ, của phần lớn các nước trên thế giới, kể cả các nước phương Tây, nhưng lại rất đúng với hiến pháp Mỹ, bầu tổng thống theo phiếu Đại Cử tri. Ông Trump được 276 phiếu đại cử tri, bà Clinton chỉ có 218 phiếu.
Một bầu không khí buồn thảm bao trùm khắp nước Mỹ trong đêm kiểm phiếu và kéo dài cho đến mấy ngày hôm sau, nhiều người dân Mỹ thẫn thờ, bàng hoàng. Không ít người thuộc giới chính trị thuộc Đảng Cộng hòa, trong  số đó có người từng là thượng nghị sĩ, từng là bộ trưởng đã thốt lên thật xấu hổ cho nước Mỹ. Ngay cả đến học sinh ở rất nhiều trường học phổ thông của Mỹ cũng khóc sướt mướt, nhất là các em học sinh da mầu, học sinh Mêhicô. Đặc biệt khoảng gần 1 triệu học sinh, sinh viên quốc tế đang theo học ở các trường của Mỹ đều hoang mang, Đến nỗi rất nhiều trường phải ra thông báo trấn an học sinh, sinh viên…
Tại sao nhiều người dân Mỹ lại chọn ông Trump làm tổng thống mà không phải là bà Hillary Clinton?
Tôi nghĩ có thể bà Clinton là dân trí thức thuộc Đảng Dân chủ, đảng nắm quyền trong tám năm qua dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Obama không làm cho kinh tế Mỹ bứt phá, đời  sống của người dân không đủ giàu, vẫn có từ 6 đến 7% người thất nghiệp không tìm kiếm được công ăn việc làm. Mặc dù ông Obama đã lấy tiền đóng thuế của nhà giàu chia cho dân nghèo, thúc đẩy cho chương trình bảo hiểm y tế toàn dân (Chương trình ObamaCare). Chừng ấy là chưa đủ đối với họ. Người dân Mỹ cần một sự thay đổi, một luồng gió mới, một đặc tính của người Mỹ. Có phải vì thế mà người dân Mỹ cần một người ngoại đạo, một tổng thống biết kinh doanh như tỉ phú Trump để dẫn dắt nền kinh tế Mỹ, một nền kinh tế đã chuyển hàng triệu việc làm ra bên ngoài nước Mỹ? Người dân Mỹ cần một nước Mỹ vĩ đại trở lại như khẩu hiệu tranh cử của Trump “Make America great again”, họ cần giàu có hơn và không có ai thất nghiệp, chứ không nhạt nhòa như thời của Tổng thống Obama.
Khi đã bình tâm lại, tôi nghĩ người dân Mỹ có lý do riêng của họ. Và như thế mới đúng với tính cách Mỹ. Donal Trump không phải là một trường hợp đặc biệt. Người dân Mỹ trước đây đã từng bầu cho Franklin Delano Roosevelt, một tổng thống ngồi trên xe lăn, trên thế giới không có một nước nào bầu cho một người tàng tật làm tổng thống, nước Mỹ đã làm như vậy. Roosevelt, Tổng thống Mỹ thứ 32 đã không phụ lòng nước Mỹ. Ông được biết đến như một huyền thoại trong lịch sử nước Mỹ. Ông lãnh đạo nước Mỹ vượt qua khủng hoảng kinh tế kinh hoàng nhất trong lịch sử, lãnh đạo nước Mỹ vượt qua những năm tháng tối tăm trong chiến tranh thế giới thứ hai để nước Mỹ xác lập vị trí siêu cường của nước Mỹ. Có lẽ người dân Mỹ hy vọng ở ông Trump có thể dẹp bỏ được nhà nước khủng bố tự xưng IS và một lần nữa đưa nước Mỹ đến một tầm cao mới như Roosevelt đã từng làm được.
Đã có những tổng kết nêu ra những lý do khiến Trump chiến thắng. Một trong những lý do đó là sự định hướng của các phương tiện truyền thông Mỹ hay nói đúng hơn là sự thiên vị cho bà Hillary Clinton, cùng với các cuộc thăm dò sai lầm tỉ lệ chiến thắng của Clinton có lúc lên tới 90 đã phản tác dụng. Đó là sự thất bại của giới truyền thông, giới quyền lực thứ tư trong đế chế truyền thông Mỹ thất bại trước người dân Mỹ độc lập mà tư tưởng dân chủ ăn sâu vào máu của họ. Thực sự người dân Mỹ không còn tin vào giới chính trị tinh hoa, không tin vào giới truyền thông.
Ngoài ra người ta còn nói đến thủ pháp khôn ngoan của Trump, trong đó có việc tạo ra các nhóm cử tri giấu mặt; biết khai thác những điểm yếu của Chính quyền Obama; đánh đúng vào tâm lý cần phải thay đổi nước Mỹ; rồi đến việc đặt nước Mỹ lên trên hết; cấm nhập cư; đem lại việc làm cho người dân Mỹ…
 Đặc biệt nhất là “những bất ngờ tháng 10”. Hàng loạt tiết lộ từ Wikileaks đã hủy hoại danh tiếng của bà Clinton, đẩy thêm sự nghi ngờ của cử tri về sự trung thực cũng như uy tín của bà qua những câu chuyện bê bối email cá nhân. Ngoài ra đòn giáng điều tra của FBI liên quan tới vụ email chỉ mười ngày trước bầu cử đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến lá phiếu. Phe Trump đã có thêm cơ hội, sinh khí trong cuộc đua vào phút chót.
Donal Trump trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ làm rung chuyển giới chính trị Washington và giới chính trị các nước trên thế giới. Cũng giống như kết quả của cuộc trưng cầu dân ý về Brexit, nhiều người Mỹ đã rùng mình khi nhận ra rằng mình đã bỏ phiếu cho một điều khủng khiếp như thế nào. Thị trường tài chính sụt giảm. Một loạt các nước đồng minh của Mỹ triệu tập các cơ quan an ninh và tài chính họp khẩn để đánh giá tác động của việc Trump lên làm tổng thống. Hội nghị APEC lo ngại vấn đề tự do thương mại và chủ nghĩa bảo hộ. EU họp tăng cường ngân sách quốc phòng và chuẩn bị thành lập quân đội riêng… Dường như một nửa dân số Mỹ và cả thế giới chưa biết sẽ ra sao dưới một tổng thống Mỹ rất khó lường.
Trong bài phát biểu mừng chiến thắng, Trump tuyên bố “Chúng ta sẽ sửa chữa bên trong các thành phố, xây dựng lại các đường cao tốc, cầu cống, đường hầm, sân bay, trường học, bệnh viện, đồng thời sẽ xây dựng lại cơ sở hạ tầng, sử dụng hàng triệu lao động cho những công việc xây dựng này.” Trước đó ông đã hứa sẽ chi tiêu mạnh tay vào các chương trình tạo ra rất nhiều công ăn việc làm trong ngành xây dựng, sản xuất thép, phục hồi, phát triển ngành chế tạo máy, đưa những nhà máy xí nghiệp ở nước ngoài về Mỹ… Tất cả những điều này được kỳ vọng sẽ thay đổi về chất nền kinh tế Mỹ hiện tại.
Ngoài những chi tiêu cho hạ tầng, theo truyền thống của Đảng Cộng hòa, chính sách kinh tế của Trump còn cắt giảm thuế doanh nghiệp từ 35% xuống còn 15%. Ông cũng cam kết bãi bỏ những quy định mà ông cho là gánh nặng của doanh nghiệp và kìm hãm tạo việc làm. Ông cũng tuyên bố bãi bỏ chương trình bảo hiểm y tế toàn dân. Ông khẳng định rằng nền kinh tế nước Mỹ sẽ tăng trưởng nhiều hơn sự thâm hụt so với hiện tại và không cần tăng thuế để chi trả cho các chi tiêu cơ sở hạ tầng. Nhiều nhà phân tích nhận định rằng Chính sách của Donal Trum có thể đem lại lợi ích cho nước Mỹ nhưng sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế thế giới.
Thắng lợi của ông Trump có thể làm trầm trọng hơn chủ nghĩa bảo hộ trong thương mại toàn cầu, làm cho quá trình toàn cầu hóa giảm tốc, thương mại tăng trưởng chậm lại. Các thỏa thuận thương mại tự do như TPP, NAFTA và nhiều hiệp định song phương sẽ bị hủy bỏ hoặc xem xét lại vì nó không có lợi cho nước Mỹ. Trump đích thực là con người theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy. Ông sẽ kiên quyết tăng ngân sách bằng việc đánh thuế nặng đối với các hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Các cuộc chiến thương mại tiềm ẩn sẽ có khả năng bùng phát. Kinh tế thế giới chắc chắn sẽ chao đảo.
Về chính trị và an ninh, trong chiến dịch tranh cử, Trump cho rằng nước Mỹ không nên tiếp tục bảo trợ an ninh không công cho các đồng minh chủ chốt như Hàn Quốc, Nhật Bản. Ông còn hứa hẹn sẽ giải tán khối NATO, thậm chí còn chỉ trích các đồng minh đang lợi dụng nước Mỹ. Với những tuyên bố như vậy tôi không thể hiểu hệ thống quan hệ quốc tế sẽ ra sao khi Trump làm như lời ông nói. Có thể chính sách của Trump ít đối đầu với một số cường quốc, một số nước đang có mâu thuẫn với Mỹ, mở ra cơ hội cho hòa bình và phát triển. Nhưng có một điều tôi không thể tưởng tượng được khi ông phát biểu đại ý nếu Bắc Triều Tiên có bom nguyên tử thì cứ để Hàn Quốc và Nhật Bản phát tiển bom nguyên tử.
Nhiều nhà quan sát quốc tế cho rằng khi còn là ứng cử viên ngoài cuộc, người ta tưởng rằng sẽ làm được rất nhiều điều theo ý muốn, nhưng khi đã ở cương vị tổng thống, nghĩa là vào cuộc họ sẽ sớm nhận ra rằng trật tự quốc tế và thị trường không cho phép họ làm theo ý muốn riêng. Đặc biệt với nền chính trị Mỹ, một thể chế tuyệt đối tôn trọng quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, nói theo ngôn từ chính trị là tam quyền phân lập. Chắc chắn Trump không thể làm điều gì ngoài quy định mà luật pháp Mỹ cho phép. Liệu Donal Trump có phải là một người ngoại lệ? Chỉ biết rằng hiện tại có nhiều người Nga ca ngợi chiến thắng của ông Trump, cho đó là bước đi tích cực với thế giới. Riêng với tôi, việc Trump lên làm tổng thống là điều đáng lo hơn là điều đáng mừng.

   
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.