Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Tuyên bố chung Việt-Trung và tuyên bố chung Việt-Mỹ

Leave a Comment
   Một số bạn hỏi tôi quan hệ Việt-Trung quan trọng hay quan hệ Việt-Mỹ quan trọng hơn. Câu hỏi thật khó trả lời. Tôi luôn tin trong quan hệ quốc tế không có bạn bè vĩnh viễn, cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích dân tộc là vĩnh viễn. Vì thế, tôi chưa bao giờ cân đong nặng nhẹ, cao thấp hai mối quan hệ đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Mối quan hệ với hai ông lớn này còn tùy thuộc vào diễn biến của nó trong thực tế đang diễn biến và trong viễn cảnh sắp tới.
   Hai cuộc họp với hai nguyên thủ quốc gia kết thúc bằng hai tuyên bố chung. Giới phân tích có thể qua đó mà đưa ra những nhận xét riêng của mình. Tôi muốn chia sẻ với các bạn đôi điều tổng thể, không đi sâu vào chi tiết.
   Trong cuộc họp ngày 12/11, hai nhà lãnh đạo cao nhất của VN và TQ có đề cập đến việc tránh gây hấn vì Biển Đông chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ngỏ lời sẵn sàng làm trung gian hòa giải các tranh chấp hàng hải. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ khi trả lời phỏng vấn báo chí đã trả lời quan hệ giữa hai bên sẽ do hai bên giải quyết không qua bên thứ ba. Như vậy là quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh khá căng thẳng khi hai bên có va chạm trên bãi Tư Chính. Đặc biệt từ tháng 7, Trung Quốc gây áp lực lên Việt Nam ngừng thăm dò dầu khí với tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha tại vùng biển thuộc thềm lục địa của Việt Nam. Tiếp đó, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương TQ Phạm Trường Long bỏ dở chuyến thăm tới Hà nội, một dấu hiệu cơm chẳng ngọt, canh chẳng lành nữa… Tuy nhiên, hai bên đã quản lý, kiểm soát một cách chin chắn. Tranh chấp và bất đồng cũng dần được hạ nhiệt trước Đại hội ĐCS TQ.
   Tập Cận Bình sang Việt Nam lần này muốn làm sâu sắc thêm mối quạn hệ đối tác chiến lược toàn diện, đặc biệt là mối quan hệ về chính trị và kinh tế để phục vụ cho chiến lược của TQ. Qua Tuyên bố chung, người ta thấy quan điểm của TQ vẫn muốn cùng VN gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác, cố tình lờ đi vấn đề chủ quyền, chỉ nhất trí chung chung về việc đảm bảo hòa bình trong vùng biển có tranh chấp. Xem xét thật kỹ, tôi không thấy có bước đột phá nào trong quan hệ giữa hai nước. Tuyên bố chung giữa hai nước bao gồm 10 điểm, vẫn na ná như các tuyên bố chung trước đó. Nặng về hình thức, không thực sự có điểm gì biến chuyển.
   Tuyên bố chung Việt-Trung lần này, kể cả những tuyên bố chung trước đó, trừ Tuyên bố chung năm 1991, người ta còn thấy một điều lạ là quan hệ giữa hai nước cũng như việc giải quyết bất đồng trên biển, hai bên chỉ dựa vào nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, chứ không dựa vào luật pháp quốc tế, nếu có đề cập đến luật pháp quốc tế chỉ là chung chung, mập mờ. Vì vậy, sau những sóng gió trong quan hệ hai nước, người ta lại thấy một quan chức cấp cao của đảng thuộc hai bên sang nhau để dàn xếp.
   Donald Trump sang Việt Nam cũng muốn làm sâu sắc quan hệ đối tác toàn diện với mục tiêu nước Mỹ là trên hết. Tuy vậy, trong Tuyên bố chung Việt-Mỹ, cũng như tuyên bố chung Việt-Mỹ trước đó, hai nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau. Như vậy là so với quan hệ Việt-Mỹ, quan hệ Việt-Trung có vấn đề, mà là vấn đề còn rất nghiêm trọng, cho nên cả hai bên đều không đưa ra cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của nhau (TQ đã thể hiện thái độ không tôn trọng đó từ năm 1979 đến nay). Theo tôi, những nhận thức chung của lãnh đạo hai nước dù là Đảng hay Nhà nước là quan trọng, nhưng không thể thay thế luật pháp quốc tế. Dù cùng một hệ thống chính trị, dù cùng đi theo một con đường chung do Đảng Cộng sản lãnh đạo nhưng một khi vì lợi ích dân tộc, người ta có thể sẵn sàng hủy bỏ nó bất cứ lúc nào. Vậy thì cái lâu đài hữu nghị truyền thống, lâu dài với 4 tốt và 16 chữ vàng hai bên xây dựng trên cái nền móng gì?
   Về vấn đề thương mại, hai nước Việt-Trung là bạn hàng lớn của nhau. Kim ngạch hai chiều lên tới gần 100 tỷ đô la. Nhưng kim ngạch buôn bán càng tăng thì thâm hụt thương mại của Việt Nam càng lớn. Điều này diễn ra từ năm 1995 đến nay. Thâm hụt từ một vài tỷ đến nay trở thành một vài chục tỷ mỗi năm (28 tỷ đô la năm 2016). Trong khi đó, Tuyên bố chung Việt-Trung tiếp tục kêu gọi đẩy mạnh thương mại. Chắc chắn thương mại giữa hai nước sẽ còn tăng chóng mặt. Và dĩ nhiên, trong những năm tới, thâm hụt của VN sẽ lên đến 40 tỷ, 50 tỷ, thậm chí đến hàng trăm tỷ. Vậy mà tuyệt nhiên trong tuyên bố chung không có một câu chữ nào đề cập đến biện pháp giảm thâm hụt thương mại giữa hai nước để đảm bảo quyền lợi của VN. Có nghĩa là trong quan hệ hai nước Việt-Trung chỉ có TQ mới được hưởng phần lợi, phần thiệt thòi luôn thuộc về  phía Việt Nam. Đây phải chăng là quan hệ đặc sắc kiểu TQ?
   Cũng về lĩnh vực này, hai nước Việt-Mỹ là bạn hàng tương đối lớn của nhau. Kim ngạch thương mại hai chiều lên tới 50 tỷ đô la, nhưng thâm hụt thương mại lại luôn thuộc về phía Mỹ (29,4 năm 2016). So với TQ, Rõ ràng một đứa trẻ lên ba cũng hiểu làm ăn buôn bán với Mỹ có lợi hơn. Trong khi đó, Tuyên bố chung Việt Mỹ vẫn kêu gọi thúc đẩy thương mại song phương, triển khai Hiệp định khung về thương mại và đầu tư… Rõ ràng Chính quyền mới của Mỹ tiếp tục chính sách xích gần hơn nữa với VN. Tôi cho rằng các doanh nghiệp VN nên nhìn thẳng vào sự thật này, chớ ham của rẻ, chớ nên tham bát bỏ mâm.
   Trong Tuyên bố chung Việt-Mỹ, ngoài lợi ích chung là tiếp cận tự do và mở rộng ở Biển Đông, tôn trọng các hình thức sử dụng biển một cách hợp pháp, tránh hành động leo thang căng thẳng, quân sự hóa Biển Đông, hai bên còn nhất trí tăng cường hợp tác về an ninh quốc phòng và chia sẻ thông tin tình báo, một lĩnh vực hết sức nhạy cảm. Nó chứng tỏ độ tin cậy giữa hai nước bắt đầu đi vào chiều sâu.
   Người ta còn phải đi sâu để nghiên cứu giải mã về hai chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tới Việt Nam. Người ta cũng còn phải theo dõi trên thực tế qua một thời gian nữa để có những nhận xét chính xác, nhưng những gì được thể hiện qua hai bản tuyên bố chung, người ta đã thấy khá rõ bản chất, thấy rõ những mảng sáng tối, những nét xa gần trong quan hệ của Việt Nam với hai ông lớn hết sức quan trọng này.

  
     

    
Read More

Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc đến Việt Nam

Leave a Comment
   Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đến Việt Nam vào dịp dự Hội nghị APEC Đà Nẵng là hai sự kiện có tầm quan trọng. Nó thu hút sự chú ý đặc biệt của giới truyền thông, các nhà quan sát trong cũng như ngoài nước.
   Chuyến thăm của Tổng thống Trump, một tổng thống khó đoán định đang định hình chính sách Ấn độ- Thái Bình Dương, trong đó VN là một mắt xích, không chỉ VN mà cả khu vực và thế giới đều rất quan tâm. Bời vì sau chuyến thăm, người ta sẽ thấy được chính sách của Mỹ đối với VN  và khu vực trong các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao và an ninh. Tiếp theo đó là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của một nguyên thủ quốc gia đầy quyền lực sau Đại hội ĐCS TQ cuối tháng 10 vừa qua, người được cho là sẽ cứng rắn trong chính sách ngoại giao, quốc phòng và lấy kinh tế làm áp lực đối với các vấn đề về chủ quyền, càng có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng để VN và các nhà hoạch định chính sách ở một số nước có liên quan định hình những quyết sách ứng phó trong thời gian tới.
   Có lẽ nhiều người đã hình dung ra bức tranh tổng thể qua lời phát biểu, nhận xét của Đại sứ quán Hoa Kỳ và Đại sứ quán TQ trước chuyến thăm. Nhưng những đường nét xa gần và mầu mảng của nó thì người ta vẫn phải chờ đợi sau tuyên bố chung của VN với hai nước nói trên. Người ta thường nói tới chính sách cân bằng quyền lực uyển chuyển của VN trước một đối tác chiến lược và một đối tác toàn diện, giữa một siêu cường trong gần suốt thế kỷ qua và một cường quốc đang lên có tham vọng trở thành siêu cường trong thời gian tới. Chính sách này có lẽ sẽ không thay đổi sau chuyến thăm của “hai ông lớn”. Một số nhà bình luận băn khoăn liệu hai “ông lớn” Mỹ-Trung có thỏa hiệp, ảnh hưởng đến chính sách cân bằng của VN? Người Việt hiểu nước Mỹ và rất hiểu về TQ. Họ là hai đối thủ hợp tác và cạnh tranh, chứ không phải là những đối thủ thỏa hiệp về nguyên tắc. Người VN cũng hiểu mình bị “bán” không ít hơn một vài lần bởi những “ông lớn” vì quyền lợi của họ. Nghi ngại rằng Mỹ và TQ sẽ mặc cả vấn đề Triều Tiên để đổi lấy vấn đề Biển Đông là không có cơ sở. Tôi không tin Chính quyền Mỹ yếu thế đến mức hy sinh Đông Nam Á để tìm kiếm sự ổn định tại Đông Bắc Á.
   Đối với TQ, sự cảnh giác và mất lòng tin của người Việt không chỉ có trong ký ức nghìn năm Bắc thuộc mà nó còn diễn ra trong suốt thiên kỷ thứ nhất và đầu thiên kỷ thứ hai với tất cả các triều đại, các chính thể của TQ. Giới cầm quyền TQ luôn luôn tìm mọi cách đô hộ và xâm lược VN, buộc VN phải nằm trong quỹ đạo của họ. Gần đây nhất là cuộc Chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979, cuộc Chiến tranh trên biển năm 1988 và cuộc xâm chiếm lãnh hải bằng giàn khoan Hải dương 981  năm 2014. Đó là quá trình đối đầu liên tục, không ngừng nghỉ trong quá khứ và hiện tại. Liệu tương lai sẽ ra sao khi TQ kiên quyết phủ nhận Phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế, trắng trợn tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ. Đường lưỡi bò là vùng biển lịch sử và là lợi ích cốt lõi của họ, xâm phạm chủ quyền, vùng đặc quyền kinh tế của VN? Nên nhớ TQ đã xâm chiếm, quân sự hóa các đảo đá trên Biển Đông. Bao giờ thì họ sẽ sử dụng vũ lực?
   Người Việt đã mất lòng tin với TQ. Nó bắt nguồn từ sự bất nhất giữa lời nói và việc làm của những người cầm quyền. Họ tuyên bố trỗi dậy hòa bình, không làm tổn hại đến bất cứ nước nào. Những điều họ nói đều rất tốt đẹp. Nào là tình hữu nghị gắn bó như keo sơn, nào là khúc ruột núi liền núi sông liền sông, nào là môi hở răng lạnh, nào là 4 tốt cùng mười sáu chữ vàng, nào là nhìn về đại cục… nhưng hành động thực tế của họ đã chứng minh hoàn toàn trái ngược lại.
   Lần thứ 3 ông Tập sang VN sẽ nói cái gì, nói như thế nào, mong muốn VN ra sao và rồi có hành động đẹp để người Việt bớt mất niềm tin? Chúng ta hãy chờ xem sao. Tôi nghĩ dù sao đi chăng nữa thì người Việt vẫn phải sống chung với lũ như ông cha ta đã từng sống từ hàng ngàn năm trước. TQ là nước láng giềng lớn đầy tham vọng bá quyền và VN không thể di chuyển được lãnh thổ đi nơi khác. Biết rằng mối quan hệ này là đồng sàng dị mộng nhưng vẫn phải giữ cho mối quan hệ đầy tình hữu hảo. Phải tăng cường quan hệ với họ về mọi mặt, đưa kim ngạch thương mại sắp tới lên đến 100 tỷ đô la, mặc dầu VN thâm hụt thương mại hàng chục năm nay ở mức 20 đến 30 tỷ mỗi năm. Tuy nhiên, giới quan sát đều nhận ra, trò chơi được mất của Tập trên Biển Đông cũng như mỗi bước đi của TQ làm tổn hại đến lợi ích của VN thì là một bước VN xích lại gần hơn với Mỹ.
   Đối lập với thái độ của người Việt với TQ, người Mỹ được người Việt tin tưởng hơn (84%  người Việt tin người Mỹ theo điều tra vào tháng 7/2017) dù người Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến vô cùng tàn bạo suốt hai mươi năm trong thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, hiện tại và tương lai người Mỹ không có lý do gì để xâm chiếm VN. Một mối quan hệ Mỹ- Việt toàn diện, mạnh mẽ, sâu sắc là cần thiết để cân bằng với một TQ đang trỗi dậy đầy cơ bắp. Điều này đã được thể hiện qua chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vào cuối tháng 5/2017 (Xin xem bài viết của tôi trong blogchiasett: Về chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến Mỹ). Mối quan hệ Đối tác toàn diện này cùng với mối quan hệ tốt đẹp với các cường quốc,  với các nước trong khu vực và trên thế giới chắc chắn sẽ giúp VN ứng phó với những thách thức xấu nhất trong thế kỷ 21.
 Tôi nghĩ mối quan hệ Việt-Mỹ không phải là mối quan hệ một chiều. Cả hai nước đều có chung lợi ích là hòa bình, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Mỹ còn có nhiều lợi ích trong quan hệ với VN. Mối quan hệ song phương giữa hai nước có tiềm năng tăng cường thúc đẩy sự thịnh vương của cả hai nước, củng cố vị thế sức mạnh của Mỹ ở khu vực, ngăn ngừa những hành vi bành trướng của TQ, góp phần định hình cho chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ và các cường quốc trong khu vực, góp phần duy trì hòa bình và trật tự đã từng có ở Biển Đông.
 Khi VN tìm kiếm sự cân bằng mối quan hệ giữa TQ và Mỹ, vấn đề còn lại sẽ tùy thuộc vào phía TQ và Mỹ. Nếu TQ còn tiếp tục xâm phạm chủ quyền của VN,  tôi cho rằng phía VN có thể xem xét lại chính sách 3 không (không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, không sử dụng lãnh thổ làm phương hại đến lợi ích của nước khác) hoặc có thể VN tìm kiếm một hình thức liên minh không chính thức nào đó với Mỹ. Phía VN đã nhấn các nút cần thiết của mình để làm sâu sắc mối quan hệ với Mỹ trong chuyến thăm của Thủ tướng VN đến Mỹ. VN đã ký nhiều hợp đồng trị giá 15 tỷ đô la cho các doanh nghiệp Mỹ. VN đã đồng ý thương lượng một hiệp định đầu tư thương mại với Mỹ. VN cũng đồng ý chấp thuận cải thiện môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư Mỹ. VN cũng đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ. Thậm chí VN cho phép tàu sân bay Mỹ cập cảng Cam Ranh. Vấn đề còn lại thái độ của Chính quyền Tổng thống Trump như thế nào? Liệu họ có ủng hộ VN?

   Dù tình hình có như thế nào thì tôi vẫn tin các nhà lãnh đạo VN sẽ ghi nhớ đối sách của cụ Hồ nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi Người đi Pháp năm 1946: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. .  
Read More

Học giả và chính trị gia Trung Quốc

Leave a Comment
   Cho đến ngày hôm nay vẫn có không ít các học giả và chính trị gia Trung Quốc còn hoài niệm về một nhà nước Đại Hán thủa nào. Cái nhà nước ấy bao trùm gần hết Đông Nam Á, trong đó có lãnh thổ Việt Nam. Họ lấy làm tiếc tại sao tổ tiên họ đã đô hộ Việt Nam gần 1000 năm rồi mà lại để tuột tay mất, để đến bây giờ vấn đề Biển Đông gặp quá nhiều trở ngại và giấc mộng "Trung Hoa" siêu cường biết đến thủa nào mới hoàn thành.
   Những cái đầu theo chủ nghĩa dân tộc bành trướng này tựu trung cho rằng: i, Tổ tiên họ tập trung quá nhiều nguồn lực lên hướng Bắc, sao lãng hướng Nam. ii, Tổ tiên họ không nhất quán trong đường lối cai trị người Việt. iii, Chính quyền trung ương luôn luôn sa vào tình trạng tranh giành quyền lực, trong khi đó Việt Nam lại ở quá xa, không quản lý được những viên quan tham lam vô độ, không có tầm nhìn địa chính trị...
   Nói tóm lại là những kiến giải của họ mang nặng tư tưởng thiên hạ là của họ nên không hiểu rằng chính ý thức dân tộc tự lực, tự cường của người Việt, chính sự khác biệt về văn hóa, về phong tục tập quán giữa Nam-Bắc, chính chính sách cai trị và đồng hóa hà khắc, dã man, tàn độc đã khiến dân tộc Việt phải vùng lên đấu tranh trong suốt gần một thiên kỷ, để đến năm 938 vua Ngô Quyền chính thức mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt.
  Tôi cho rằng Trung Quốc không áp đặt được sự thống trị của họ ở Việt Nam bởi vì họ là kẻ xâm lược, phi nghĩa. Tổ tiên họ đã vấp phải một dân tộc biết đoàn kết, kiên cường. Họ hoàn toàn nhầm lẫn, không phải tổ tiên họ đã để vuột mất Việt Nam. Không một triều đại nào, không một chính thể nào của Trung Quốc không xâm lực Việt Nam, Tàu Tống, Tàu Nguyên, Tàu Minh, Tàu Thanh, Tàu Tưởng, Tàu Mao đều đã xâm lược Việt Nam nhưng đều không nuốt nổi. Tổ tiên họ cũng vậy và cha ông họ cũng vậy.
Mong rằng các học giả, các chính trị gia mang nặng tư tưởng Đại Hán Trung Quốc hãy đọc lại lịch của chính dân tộc mình và nên suy ngẫm bài học lịch sử cho tương lai để hai nước Việt-Trung luôn được sống trong hòa bình.
Read More

Hoài niệm Liên Xô và 100 năm Cách mạng Tháng 10 Nga

Leave a Comment
 
Tôi rất xúc động theo dõi Diễn đàn Hoài niệm Liên Xô hướng tới kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga được tổ chức tại Hà nội. Đây là một dịp để những người Việt tỏ lòng biết ơn và tri ân nước Nga cũng như các nước cộng hòa thuộc Liên xô trước đây đã cưu mang hàng chục ngàn sinh viên sinh sống, học tập và lao động trên quê hương Xô Viết. Nói theo nghĩa hẹp là như vậy, còn nói theo nghĩa rộng đó chính là lòng biết ơn và tri ân tất cả những gì mà Liên Xô đã dành cho nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng từ trước năm 1930 đến năm 1991.
Tham tán Công sứ, Đại sứ quán Liên bang Nga Vadimbulikov có phát biểu: "Hôm nay, một lần nữa chúng tôi được chứng kiến người Việt Nam yêu mến và tôn trọng nước Nga và các nước thuộc Liên Xô trước đây như thế nào. Chính Cách mạng Tháng Mười Nga đã đặt nên móng cho tình hữu nghị đó và chúng ta đã vượt qua mọi thử thách". Sự kiện này không chỉ chứng tỏ tình cảm thủy chung của Người Việt Nam, nó còn chứng tỏ người Việt đã đánh giá đúng về Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, cuộc cách mạng làm thay đổi vận mệnh nước Nga, đưa những người lao động lên nắm chính quyền, xây dựng chế độ mới, chế độ Xã hội chủ nghĩa. Cuộc cách mạng này đã làm rung chuyển cả thế giới, làm đảo lộn trật tự thế giới, để lại những bài học quý báu cho giai cấp vô sản, các dân tộc bị áp bức và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nó là tấm gương, là lý tưởng cho các thế hệ người Việt đi theo bao nhiêu năm qua.
Sau năm 1991 tầng lớp lãnh đao chop bu Đảng Cộng sản Liên Xô đã tự chấm dứt sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thay thế nó bằng nền chính trị dân chủ và nền kinh tế thị trường tự do. Người ta cho rằng nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa không có hiệu quả, không thể cạnh tranh được với nền kinh tế thị trường tự do và chính nền kinh tế tập trung, kế hoach hóa đã làm suy yếu, dẫn đến sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết. Tôi không hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên và cũng không muốn bàn sâu vì sao Liên Xô sụp đổ.
Chỉ biết rằng sau 70 năm tồn tại và phát triển, Liên Xô mà nòng cốt là Liên bang Nga, một nước nghèo nàn lạc hậu nhất trong hệ thống tư bản đã trở thành một siêu cường chống chọi với Mỹ và cả thế giới tư bản. Năm 1945 Liên Xô góp phần quyết định đập tan Chủ nghĩa Phát xít. 1949 Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử. Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo. Năm 1961 Liên Xô vẫn là nước đầu tiên đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin bay vòng quanh trái đất. Đến cuối thập kỷ 60 của thế kỷ trước Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai sau Mỹ. Cho đến ngày hôm nay, hàng triệu, triệu người Nga vẫn hoài niệm về một thời oanh liệt, hào hùng đó. Nhiều nhà nghiên cứu, bình luận chính trị- kinh tế Nga đã nhìn nhận lại nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa. Suy cho cùng cả hai nền kinh tế kế hoạch hóa và thị trường tự do đều là sản phẩm của lịch sử.
Nhà bình luận chính trị- kinh tế nga Aleksandr Rusin có viết một bài báo làm chấn động dư luận Nga. Nội dung ông viết tổng thể là tất cả những gì người Nga đang sử dụng, đặc biệt là nền công nghiệp đều nhờ vào nền công nghiệp Xô Viết.
Phần lớn nhà ở của dân chúng Nga hiện nay gần như vẫn sống trong những ngôi nhà được xây dựng từ thời Xô Viết. Kể cả những ngôi nhà được coi là hiện đại ngày nay đều được xây dựng từ những nhà máy sản xuất vật liệu từ thời Xô viết.
Cơ sở hạ tầng giao thông hiện nay chủ yếu cũng được xây dựng từ thời Xô Viết. Những năm gần đây người ta chỉ rải thêm lớp nhựa lên những con đường đã có từ trước. Và người ta vẫn chưa rải hết những con đường đó.
Đại đa số các nhà máy thủy diện, nhiệt điện, điện hạt nhân cũng được xây dựng từ thời Xô Viết. Tất cả những nhà máy lớn hoạt động cho đến ngày hôm nay, chẳng hạn như Tổ hợp sản xuất nhôm, Tập đoàn sản xuất kim loại, Nhà mày sản xuất Nikel và nhiều tổ hợp khổng lồ cũng được xây dựng từ thời Xô Viết. Ngay cả hãng xe ô tô nổi tiếng thế giới KAMAS, GAZ cũng được thiết kế và sản xuất từ thời Xô Viết.
Các tổ hợp quốc phòng thì gần như 100% đã có từ thời Xô Viết. Các nhà máy đóng tàu, các nhà máy chế tạo máy bay, các phòng thiết kế và tất cả những dự án lớn đang triển khai cũng được lên kế hoach từ thời Xô Viết. Thậm chí từ tăng T90, Armata, tên lửa Iskender, các loại pháo phản lực, các loại súng bộ binh mới tung ra thị trường đến tàu ngầm tàu sân bay dự định đóng cũng là những sản phẩm được thiết kế và chưa hoàn thiện từ thời Xô Viết. Đỉnh cao là các lần phóng tàu vũ trụ vẫn được người ta tiến hành từ sân bay vũ trụ Bai Konur, một sân bay từ thời Xô Viết.
Thành phố khoa học hàn lâm Akademgorodok là một thành phố khoa học lớn nhất nước Nga và lớn nhất thế giới cũng được xây dựng từ thời Xô Viết. Các tòa nhà hành chính nhà nước, các công trình điêu khắc, kiến trúc, văn hóa, thể thao nổi tiếng, Tháp truyền hình Trung ương tại thủ đô Matxcova và ở các khu vực cũng đều được xây dựng từ thời Xô Viết...
Người ta ước tính tất cả những gì hiện có sau năm 1991, trừ đi những cái của Liên Xô chỉ có giá trị khoảng trên 5%. Nước Nga dân chủ mới mà Boris Yeltsin đứng đầu với bộ máy lãnh đạo của ông ta đã tàn phá nước Nga còn lớn hơn nhiều so với những tổn thất trong những năm chiến tranh vệ quốc. Một nền kinh tế kế hoach hóa của Liên Xô mạnh như vậy, nó đã bị hủy hoại bởi tầng lớp chóp bu trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản, bọn người chỉ chăm chăm lo cho lợi ích cá nhân, đã biến tài sản quốc gia, thành quả lao động 70 năm của nhân dân Nga thành tài sản riêng. Và đương nhiên bọn họ trở thành tỉ phú, triệu phú.
Có chăng một điều đáng nói là hiện tượng Putin. Ông là người đã vực nước Nga dậy từ đống đổ nát. Ông là người đưa GDP của nước Nga tăng gấp 6 lần trong 3 nhiệm kỳ cầm quyền. Ông cũng là người đưa nước Nga đang trở lại vị thế cường quốc. Nhưng so với Liên Xô, nước Nga vẫn chỉ là một cái bóng. Và bản thân Putin cũng là sản phẩm của Xô Viết (ông vốn là sĩ quan KGB từ thời Xô Viết).
Diễn đàn hoài niệm Liên Xô tại Hà Nội hướng tới kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga là một bữa tiệc tưng bừng nghệ thuật ca múa nhạc, xiếc tổng hợp. Nó thể hiện tình cảm sâu đậm của 14.000 thành viên trên khắp đất nước và hàng triệu người Việt yêu mến Liên Xô trước đây. Tôi tin rằng Cách mạng Tháng Mười Nga và Liên Xô vẫn còn sống mãi trong lòng người Việt.
Read More

Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc

Leave a Comment
Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc ngày ngày 24/10 sau khi bầu ra BCH Trung ương Đảng và Uỷ ban Giám sát kỷ luật Trung ương. Đại hội cũng thông qua bản sửa đổi Điều lệ ĐCS, đưa tư tưởng Tập Cận Bình về Chủ nghĩa xã hội mang đặc điểm Trung Quốc trong thời đại mới vào điều lệ. Nó trở thành một phần trong nguyên tắc chỉ đạo hoạt động của ĐCS. Như vậy ông Tập có được vinh dự ngang bằng với Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.
Đương nhiên ông Tập Cận Bình được Hội nghị Trung ương lần thứ nhất bầu làm Tổng Bí thư ĐCS mà không có một đối thủ nào cạnh tranh. Một màn độc diễn của nguyên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mới đắc cử đã nắm được quyền lực mà không có một người kế vị nào trước đó có được để dẫn dắt nền chính trị của Trung Quốc trong nhiều năm tới. Điều này đã mang lại cho ông Tập sự ổn định và tầm ảnh hưởng mà tất cả các nhà lãnh đạo các nước trên thế giới đều khao khát mong muốn.
Ông Tập đang ngồi trên đỉnh cao của một nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Ông còn nắm trong tay lực lượng quân đội mạnh mẽ chưa từng có để không có bất kỳ những thách thức, trở ngại nào trong việc thực thi mục tiêu phương hướng của ĐCS Trung Quốc.
Một Tập Cận Bình với tất cả quyền lực sẽ có ảnh hưởng như thế nào với khu vực Đông Á và thế giới?
Nỗ lực trong những năm tới của Tập Cận Bình là xây dựng giấc mộng Trung Hoa, một vị thế siêu cường mà Trung Quốc từng có trong quá khứ. Để đạt được điều này, ĐCS và ông phải xây dựng được xã hội khá giả toàn diện, trước năm 2020 sẽ tăng GDP gấp đôi năm 2010; tiếp tục đẩy mạnh chống tham nhũng; thực thi đầu tư cơ sở hạ tầng liên châu lục thông qua sáng kiến "Vành đai, Con đường". Điều này có tác động đáng kể tới thế giới, đặc biệt là cục diện Đông Á.
Trong bài phát biểu trước Đại hội ĐCS được tổ chức 5 năm một lần, Tập Cận Bình tuyên bố một kỷ nguyên mới đang mở ra cho ĐCS và đất nước Trung Quốc để thực hiện tầm nhìn của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Hàm ý ông Tập muốn nói Mao Trạch Đông là người cầm lái vĩ đại đã thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Đặng Tiểu Bình là kiến trúc sư đem lại sự thịnh vượng cho Trung Hoa với chính sách mở cửa và bây giờ ông Tập sẽ mang lại sức mạnh và quyền lực cho Trung Hoa.
Trước đó ông Tập đã tìm cách để Trung Quốc đối trọng với trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo, đề xuất thành lập Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á, thông qua sáng kiến "Vành đai, Con đường". Khi Tổng thống Mỹ Trumpt lấy nước Mỹ là trên hết, tăng cường bảo hộ thương mại, rút khỏi Hiệp định chống biến đổi khí hậu, rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương... ông Tập dường như tìm thấy khoảng trống quyền lực để lấp đầy với nước sơn ủng hộ tự do thương mại và chống biến đổi khí hậu.
Ở Đông Á, ông Tập đã khai thác cơ hội chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông để hạ thấp uy thế của Mỹ. Cứ từng bước một, Trung Quốc lấn tới. Nếu chiến thắng, ông tập sẽ mở đầu kỷ nguyên giấc mộng Trung Quốc.
Thực tế ông Tập đã nắm được ĐCS qua chiến dịch chống tham những, xây dựng giấc mộng Trung Hoa, đẩy mâu thuẫn nội bộ ra bên ngoài, làm phức tạp tình hình với các nước láng giềng và phần còn lại của thế giới. Hiện tại Trung Quốc hiện diện ở khắp nơi trên thế giới. Khi Mỹ và phương Tây lùi bước, Trung Quốc sẽ tiến tới.
Về đối nội, qua Đại hội ĐCS, qua việc bầu nhân sự, nhiều nhà phân tích trên thế giới cho rằng ông Tập vẫn ưu tiên sự ổn định trong nước và thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc. Nhưng về vấn đề nội bộ, ông Tập đã tạm ổn định, tôi cho rằng sắp tới, ông bắt đầu tự tin và quyết đoán hơn trong trong chính sách ngoại giao và quốc phòng.
Ở Biển Đông, chắc chắn Bắc Kinh sẽ tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng và quân sự hóa các đảo, đúng ra là các đảo đá, các rạn san hô để phủ nhận Phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế về đường lưỡi bò. Mặc dầu vẫn cứ to tiếng với Mỹ, Anh, Austrailia và một số nước ở Đông Nam Á, nhưng Bắc Kinh bắt đầu đưa ra lập luận "Tứ Sa", đánh tráo khái niệm tránh đối đầu với công luận, với các bên có yêu sách chủ quyền có thể thách thức họ trong khi Mỹ vẫn tuyên bố tự do hàng hải và diễn tập xung quanh những hòn đảo mà Trung Quốc đã chiếm đóng. Rõ ràng hơn hẳn những người tiền nhiệm, Tập đã thật sự cố gắng tăng cường sức mạnh ngoại giao và quân sự để thúc đẩy tuyên bố chủ quyền trên cơ sở chủ nghĩa dân tộc.
Về vấn đề Đông Bắc Á, chắc chắn ông Tập còn nhiều việc phải làm. Trung Quốc đã siết chặt thương mại và hạn chế kinh doanh với Triều Tiên. Có nhiều suy đoán sau đại hội, ông Tập sẽ có thêm tín hiệu để giải quyết mối đe dọa tên lửa và hạt nhân của đất nước vốn lệ thuộc rất khó chịu với Trung Quốc. Tuy vậy tôi cho rằng rất khó đoán định nếu chính sách của chính quyền Trumpt khăng khăng trừng phạt và yêu cầu phi hạt nhân BắcTriều Tiên ngay lập tức. Chính sách của Mỹ với Triều tiên là không thực tế và gây nguy hiểm cho Trung Quốc. Không biết ông Tập sẽ có những bước đi hiệu quả gì trước sức ép của Mỹ và cộng đồng thế giới.
Về mặt quân sự, ông Tập đã cầm cương điều khiển quân đội qua việc tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của ĐCS với quân đội. Ông cũng kêu gọi đẩy mạnh việc hiện đại hóa quân đội, chống tham những trong quân đội, nêu cao tính sẵn sàng chiến đấu của quân đội...
Cùng với kinh tế, ngoại giao, mục tiêu của ông Tập là khẳng định vai trò lãnh đạo khu vực, tiến tới mục tiêu thống trị an ninh khu vực và chiếm vai trò chủ đạo trong nền chính trị toàn cầu. Chính sách của Bắc Kinh với nhiệm kỳ 2 của Tập Cận Bình chắc sẽ cứng rắn hơn. Tình hình Đông Á sẽ có những bước phát triển mới hoặc thay đổi.
Tôi rất muốn hy vọng Trung Quốc thật sự trỗi dậy hòa bình và không tranh giành xưng bá như Tập cận Bình tuyên bố trong đại hội. Tôi chắc người dân các nước Đông Á và thế giới cũng mong muốn như vậy. Với quyền lực tuyệt đối của mình, ông Tập sẽ không giống như Mao làm cuộc Cách mạng Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa khiến hơn 30 triệu người chết, không giống như Đặng nhúng tay vào Campuchia dẫn đến nạn diệt chủng 2 triệu người vào cuối những năm 1970, không giống như Đặng ra lệnh cho sư đoàn xe tăng nghiến chết tất cả sinh viên biểu tình ở Thiên An Môn và không giống như Đặng tiến hành cuộc xâm lược tàn bạo đối với Việt Nam vào năm 1979.

Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.