Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Đâu là cành sen trong bài ca dao Tát nước đầu đình

Leave a Comment
Ai trong chúng ta cũng biết bài ca dao Tát nước đầu đình. Bài ca dao viết về đề tài giao duyên của đôi trai gái trong một bối cảnh thật thơ mộng.
Trong thi pháp ca dao người ta thường chú ý đến nhân vật trữ tình trong bài ca dao là ai? Ai nói với ai và nói như thế nào? Nhân vật trữ tình ở bài ca dao này là một chàng trai, bày tỏ mong muốn làm quen, kết duyên với cô gái.
Tôi không muốn đi phân tích cái hay, cái đẹp, cái ý nhị, cũng như nghĩa đen nghĩa bóng trong cái cách tỏ tình của chàng trai nặng tình nặng nghĩa trong bài ca dao này. Tôi muốn nói tới bối cảnh của câu chuyện. Bối cảnh có thể do nhân vật trữ tình hư cấu như là cái cớ để bày tỏ, dãi bày tâm sự, đôi khi là tỏ tình, cầu duyên. Bối cảnh cũng có thể rất thực, rất quen thuộc như cây đa, giếng nước, sân đình. 
Chàng trai trong bài ca dao thì viện vào một lí do để quên áo, nhưng là để quên áo trên cành hoa sen. Từ thời còn là sinh viên anh em trong lớp chúng tôi đã bàn luận điểm vô lí ở đây. Đó là hoa sen đâu có cành, người ta muốn vắt áo thì sẽ tìm một nơi khác chắc chắn hơn chứ không tìm một nơi yếu ớt như hoa sen. Nếu vắt trên cành hoa sen chiếc áo cũng có thể rơi xuống nước bất cứ lúc nào. Chúng tôi cho rằng hình ảnh trên vốn mang tính ước lệ. 
Mấy chục năm qua đi tôi bỗng đọc một bài viết khẳng định cành hoa sen trong bài ca dao là cành sen đất/sen núi chứ không phải là bông hoa sen nước. Sen đất thân gỗ, có rất nhiều hoa giống hệt như hoa sen trắng. Đặc biệt nó cũng có đài có nhụy và thơm như hoa sen nước. Tôi cứ bán tín bán nghi vì tôi đi rất nhiều đình chùa ở vùng đồng bằng bắc bộ nhưng chưa lần nào nhìn thấy cây sen đất.
Năm nay tôi có dịp đến thành phố San Jose, California, Hoa Kỳ. Tôi thấy dọc các đại lộ, các khu đô thị có một loại cây đúng như tôi đã được đọc. Dân Việt ở thành phố này nói với tôi đó là cây sen đất. Tình cờ lại gặp vợ chồng cô bạn cùng trường ở Thung lũng Silicon, dưới một dãy cây sen đất. Hoa nở trắng xóa cùng với hương sen nồng nàn. Chúng tôi có bàn luận về đề tài này.
Về nhà tôi tra từ điển Wikipedia. Thì ra cây sen đất có xuất xứ từ Trung Mỹ. Theo thời gian nó đến Trung Quốc, Đài Loan… Thế nhưng tại sao nó lại có mặt ở Việt Nam? Tôi đoán chắc nó đi theo đường truyền đạo, sen đất được các nhà sư đưa về cửa chùa, cửa đình từ rất sớm. Hoặc cũng có thể nó có sẵn trong tự nhiên như ở Mỹ có cây dâu, cây mận đỏ, mận vàng, cây hồng... Người Mỹ cho đó là những loại cây dại. Họ không ăn, nhưng tôi ăn vẫn thấy ngon. 
Tôi tìm đọc tài liệu ở chùa Bối Khê, ở chùa Quán Sứ Hà Nội và một số nơi khác cũng có cây sen đất hàng trăm năm tuổi. Thậm chí có cây mấy trăm năm tuổi. Chẳng qua là nó ít khi ra hoa người ta không để ý. Tương truyền sen đất còn mọc rất nhiều ở vùng cánh cung Đông Triều - Quảng Ninh, trên các dãy núi Yên Tử, nhưng nay không còn vì sự khai phá của con người.
Người dân còn tương truyền rằng, khi vua Trần Nhân Tông chọn chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang làm nơi tu hành đầu tiên, ngài đã trồng ở đây một cây sen đất nhưng cây đã bị giặc bắn cháy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp…
Vậy thì cành sen trong bài Tát nước đầu đình mấy chục năm nay chúng tôi ngỡ tưởng là cành hoa sen nước/bông hoa sen có thể là cành sen đất. Và có như vậy thì ta mới lý giải được câu ca dao: Lên chùa bẻ một cành sen…
Read More

Thăm Bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Denver

Leave a Comment
Bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Denver nằm bên cạnh Vườn Thú và Công viên Trung tâm thành phố Denver (Denver là thủ phủ của bang Colorado). Bảo tàng cùng với hai địa điểm nổi tiếng trong ngoài nước này tạo thành một khu vực tham quan, học tập không chỉ cho người trong dân trong thành phố mà còn là điểm thu hút du khách quốc tế và người dân đại đô thị thuộc khu vực xung quanh núi Rocky.
Bảo tàng Denver là một bảo tàng lớn, thuộc một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận. Diện tích xây dựng rộng tới 46.452m2. Điều hành bảo tàng là hội đồng quản trị 25 thành viên, 350 nhân viên biên chế và 1.600 tình nguyện viên. Bảo tàng được nhà tự nhiên học Edwin Carter thành lập vào năm 1900.
Carter đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nghiên cứu khoa học về các loài chim, các loài động vật ở bang Colorado. Từ những bộ sưu tập đầu thế kỷ thứ 20 của ông, đến nay người ta đã sưu tập được hơn một triệu hiện vật theo sáu lĩnh vực chính: Nhân chủng học, địa chất học, khoa học sức khỏe, cổ sinh vật học, khoa học không gian vũ trụ và động vật học. Ngoài ra bảo tàng còn cung cấp nhiều chương trình triển lãm, chương trình chiếu phim, các bài giảng, thuyết trình và hội thảo theo chuyên đề, các lớp học...
Khi xe chúng tôi đến bảo tàng thì bãi đỗ xe ngoài trời đã không còn lấy một chỗ trống. Chúng tôi phải đi xe vào nhà để xe 3 tầng và cũng phải lái ra lái vào, tìm mãi mới thấy một chỗ đỗ. Người Mỹ có thói quen thứ 7 và chủ nhật cả nhà cùng đi nghỉ cuối tuần. Bảo tàng là một trong những địa điểm yêu thích của các thành viên trong gia đình.
Trước tiên, chúng tôi thăm khu khoa học không gian vũ trụ. Cảm giác của tôi là choáng ngợp khi nhìn thấy một quả cầu khổng lồ rực rỡ sắc mầu, một quả cầu trái đất choán cả một gian phòng đang tự quay quanh trục của nó. Với những chất liệu đặc biệt, vị trí năm châu bốn biển và các quốc gia rõ nét và sống động cứ hiện dần ra. Quả cầu trái đất tự kể về mình bằng những hình ảnh, âm thanh, bằng những số liệu về sự ra đời, sự phát triển và biến đổi của mình từ thủa khai thiên lập địa cho đến tương lai khi khí hậu trái đất biến đổi.
Ở bốn góc tường là bốn màn hình lớn. Tương ứng với lời kể của trái đất, người ta liên tục chiếu những đoạn phim về vụ nổ Big Bang, những đoạn phim về sự tiến hóa của vũ trụ, những hình ảnh bí ẩn về hố đen, sự hình thành trái đất và hệ mặt trời, trái đất và vũ trụ...
Xung quanh quả cầu trái đất là một hệ thống máy tính để người xem có thể tìm hiểu sâu hơn một vấn đề nào đó về trái đất. Tôi thấy hàng trăm em học sinh, sinh viên xúm quanh các bàn máy tính. Nhóm thì tìm hiểu về hệ thống sông ngòi trên trái đất. Nhóm thì tìm hiểu bí mật về các đại dương. Nhóm thì tìm hiểu về sự sống các loài và sự tiến hóa của các loài. Nhóm thì tìm hiểu về hệ động thực vật cách đây hàng trăm triệu năm. Nhóm thì tìm hiểu về loài khủng long. Nhóm thì tìm hiểu về loài cá mập. Nhóm thì tìm hiểu về thành phố quê hương và khu đô thị của mình...
Gian bên cạnh quả cầu trái đất là một gian trưng bày mô hình vệ tinh nhân tạo, mô hình tên lửa đẩy tàu vũ trụ. Một thuyết minh viên ở gian phòng này khoảng độ sáu mươi. Ông có mái tóc bạch kim, đang giới thiệu với khách về nhà du hành vũ trụ Nga Yuri Gagarin, người đầu tiên thực hiên chuyến bay vào vũ trụ ngày 12/4/ 1961 trên tàu vũ trụ Phương Đông. Tiếp theo ông giới thiệu về thân thế và sự nghiệp Neil Armstrong, người đã chỉ huy tàu Apollo 11 của Mỹ, lần đầu tiên trong lịch sử loài người đổ bộ xuống mặt trăng.
Người thuyết minh say sưa mô tả cấu tạo của vệ tinh nhân tạo và quá trình tên lửa đẩy các con tầu vũ trụ vào không gian. Cùng với lời giới thiệu của ông, trên màn hình 100 inch là những hình ảnh phóng tàu vũ trụ vào không gian của Mỹ, hình ảnh Armstrong đi trên mặt trăng... Từ tổng thống Mỹ đến người dân cách đây bao nhiêu năm, tất cả đều rạng rỡ trong giây phút bước ngoặt lịch sử chinh phục vũ trụ của loài người.
Tôi còn nghe người ta nói về dự án thang máy vũ trụ. Thành phần cơ bản của thang máy vũ trụ bao gồm: Trục cáp (cable) được gắn một đầu xuống Trái Đất. thường là vùng biển nằm ở trên đường Xích Đạo. Đầu còn lại được móc vào đối trọng (counterweight) ở ngoài không gian. Ngoài ra còn có thang máy (climber) được gắn vào trục cáp và sẽ có nhiệm vụ vận chuyển người và hàng hóa ra ngoài không gian. Trục cáp dự kiến có chiều dài đến 100.000 km tức là cao hơn quỹ đạo của các vệ tinh do thám xung quanh Trái Đất rất nhiều. Dự án đang đi vào giai đoạn thử nghiệm. Không có gì thay đổi năm 2030 chuyến hàng đầu tiên sẽ được vận chuyển lên trạm vũ trụ quốc tế. Rồi từ trạm quốc tế sẽ đi lên mặt trăng…
Tôi cùng với người nghe như bị hút hồn vì tất cả những điều đang diễn ra xung quanh. Tôi nhìn trên khuôn mặt các em học sinh sinh viên, trong ánh mắt họ lấp lánh một thứ gì đó, như nỗi khát khao chinh phục không gian bay bổng… Tôi bỗng nghĩ tới học sinh, sinh viên ở đất nước mình. Họ gần như không được học về khoa học vũ trụ ở nhà trường. Và họ gần như không có điều kiện đi các bảo tàng châu Âu và Mỹ. Thật tiếc! Cả một đất nước 95 triệu người không có lấy một bảo tàng khoa học và không biết đến bao giờ mới có. Vấn đề ở đây không chỉ là tiền của mà còn là tư duy, nhận thức, trình độ xã hội.
Trong khi tôi dán mắt vào các màn hình thì con gái đi lấy vé vào cổng thiên văn để xem bộ phim về Sự hình thành vũ trụ và cuộc phưu lưu vào vũ trụ.
- Ba mà xem kĩ thế này thì đến mai cũng không đi hết bảo tàng được. Cả nhà mình vào Cổng thiên văn xem thế nào. Con nghe người ta giới thiệu hay lắm. Ba dắt Lâm, con tìm chỗ để xe đẩy.
Tôi đưa Lâm đến Cổng thiên văn. Lối đi vào nơi này mờ ảo, cùng với giai điệu nhạc bồng bềnh nổi lên khiến tôi bắt đầu có cảm giác rất lạ. Cổng thiên văn có mái vòm theo thiết kế mô phỏng đài thiên văn vũ trụ để người xem hình dung được khái niệm ban đầu về không gian vũ trụ. Trong phòng có hàng trăm người đã ngồi kín chỗ . Ghế ngả khoảng 25 đến 30 độ để người xem nhìn trực tiếp lên mái vòm.
Người ta sử dụng công nghệ nghe nhìn nhiều chiều hiện đại, kết hợp với sự chuyển động lên xuống hoặc quay tròn hệ thống ghế ngồi, giúp người xem trải nghiệm một cuộc hành trình đi vào vũ trụ sống động, đầy cảm giác. Lên mặt trăng. Lên sao Hỏa. Đi vào khoảng không bao la… Suốt quá trình chiếu nửa tiếng, nhiều người không giữ được bình tĩnh, thỉnh thoảng kêu lên. Ngay cả Lâm, dù tính tình rất mạnh dạn, cũng nhiều lần rùng mình bám chặt lấy ông.
Xem xong bộ phim, chúng tôi vào tham quan khu vực nhân chủng. Lần đầu tiên tôi được chứng kiến sơ đồ cây “nhân chủng” một cách hệ thống từ tổ tiên, những họ hàng gần xa của loài người đến những loại vượn người đi từ châu Phi đến khắp các châu lục. Chúng ta ai cũng biết đại loại khoảng 2 triệu năm về trước, người tối cổ bắt đầu rời quê hương của mình và lan tỏa đi khắp thế giới từ Bắc Phi, Trung Đông tới châu Âu và châu Á. Ở mỗi khu vực, người tối cổ phải đương đầu với những điều kiện sống khác khác nhau từ khí hậu, địa hình, động thực vât để sinh tồn và phát triển. Để thích nghi được với điều kiện sống khác nhau, cư dân loài người ở mỗi vùng đất bắt đầu tiến hóa theo những hướng khác nhau. Theo thời gian các chủng thuộc loài người xuất hiện với nhiều sự khác biệt về ngoại hình như ngày nay.
Chỉ khi đến bảo tàng Denver tôi mới tỏ tường, loài người (Homo Sapiens) còn có những anh chị em của chúng ta như: Homo rudolfensis (Đông Phi); Homo erectus (Đông Á); và Homo neanderthalensis (Châu Âu và Tây Á). Tất cả đều là con người và là anh em của chúng ta. Đặc biệt là ở châu Âu và Trung Đông, có một chủng người mà các nhà khoa học gọi là Homo neanderthalensis, hoặc là Neanderthal. Neanderthal thích nghi rất tốt với khi hậu lạnh của thời kì băng giá châu Âu và Trung Đông. Người Neanderthal to và cơ bắp hơn người Homo sapiens. Họ có lớp mỡ cách nhiệt khắp thân thể để bảo vệ trong thời tiết băng giá và họ thậm chí còn có bộ não to hơn chúng ta.
Tại sao người Neanderthal lại tuyệt chủng? Người ta lý giải có thể là do hai nguyên nhân. Một là do đặc tính cấu tạo một loại gen nào đó nên họ không thích nghi được với môi trường thay đổi. Hai là do chính loài người chúng ta (Homo Sapiens) đã tiêu diệt họ vì họ khác chúng ta. Tại bảo tàng, người hướng dẫn viên cho chúng tôi biết, ngày nay các nhà khoa học đã lập được bản đồ gen hoàn chỉnh của người Neanderthal. Người ta đã lên kế hoạch làm sống lại người anh em này. Người ta dự định cấy ghép nguồn ADN tái tạo của Neanderthal vào trứng của con người. Từ đó sẽ sinh ra Neanderthal sau 30.000 năm tuyệt chủng. Dự án này được tài trợ 30 triệu đô la. Một số phụ nữ Mỹ đã tình nguyện làm người mang thai. Nếu đúng người Homo Sapiens chúng ta đã tiêu diệt họ thì đây là một “hành động chuộc lỗi” dù đã muộn màng.
Năm 2010, các nhà khoa học còn khám phá ra một người anh em thất lạc khác của chúng ta khi họ khai quật một cái động ở phía Bắc nước Nga. Họ tìm thấy mẩu xương hóa thạch của một ngón tay người và sau khi trích được DNA từ mẩu xương này, họ phân tích và so sánh nó với tất cả các loài người khác, nhưng không mẫu nào trùng hợp. Vì vậy, họ đi đến kết luận có một loài người khác được gọi là Homo denisova, người đến từ động Denisova. Khoa học hiện đại thật thần kỳ. Tôi không biết còn bao nhiêu người anh em khác đang chờ đợi được các nhà khoa học xác định ở một nơi nào đó.
Đến giờ ăn trưa, chúng tôi xuống khu vực ăn rộng lớn nằm ở tầng một của bảo tàng. Có đủ các món ăn Âu, Á và các món ăn dân tộc đặc trưng của Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan... Con gái gọi một đĩa bánh Pizza và một đĩa trứng luộc cho cả nhà. Chúng tôi giục nhau ăn cố mà vẫn không hết, đành gói lại ăn bữa tối. Nhìn sang bên cạnh, tôi thấy một gia đình người Mỹ cũng bốn người tương tự như gia đình chúng tôi. Họ gọi một đĩa bánh Pizza, một đĩa trứng luộc, một con gà nướng, một đĩa khoai tây chiên. Đó là chưa kể đến một số đồ uống, vậy mà họ ăn uống gần như hết. Không biết có phải họ ăn nhiều như vậy nên tỉ lệ người béo phì ở Mỹ cao nhất thế giới?
Nghỉ ngơi khoảng nửa tiếng, chúng tôi vào nhà hát IMAX. Nhà hát nằm trên tầng hai của bảo tàng. Vào năm 1940 người ta đã xây dựng nhà hát này như một thính phòng và được sử dụng cho các buổi thuyết trình, các buổi hòa nhạc, chiếu phim cho đến năm 1980. Sau hơn hai năm cải tạo, IMAX được mở cửa trở lại vào đầu năm 1983 với gần 500 chỗ ngồi và chuyên chiếu phim chuyên đề 3D, 4D hàng ngày phục vụ khách thăm quan bảo tàng.
Đeo cặp kính chuyên dụng vào rạp, tôi thấy mình như được vào một thế giới đầy bí ẩn và mới mẻ. Tôi thấy những thứ mà chưa bao giờ được thấy. Người ta sử dụng kĩ thuật chụp ảnh tốc độ cao, kính hiển vi điện tử cùng với công nhệ nano để làm ra những bộ phim, đưa người xem vào thế giới vi mô mà trước đó chỉ dành cho những nhà khoa học. Chẳng hạn người xem như được đối mặt trực tiếp với các loài phù du kì lạ và đàn cá voi khổng lồ. Đặc biệt về loài cá mập trắng, loại động vật ăn thịt và là sát thủ của đại dương, nó đem đến cho người xem bao cảm xúc bởi những cuộc săn mồi, bởi những cuộc tiếp xúc của loài cá này với những chuyên gia quả cảm.
Người xem còn được nhìn thấy một thế giới tuyệt đẹp nhưng vô cùng phức tạp về các sự kiện đương đại trong đời sống chính trị. Chẳng hạn như những câu chuyện, những hình ảnh đầy sức lôi cuốn về Jerusalem, thành phố của ba tôn giáo lớn trên thế giới. Tôi khám phá ra lí do tại sao cái miền đất dường như nhỏ bé ấy lại trở nên vô cùng thiêng liêng với người theo Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Tôi cũng tìm được câu trả lời tại sao, sau hàng ngàn năm, miền đất thánh Jerusalem vẫn tiếp tục khuấy động trí tưởng tượng của hàng tỉ người trên trái đất.
Đến tầm giữa chiều chúng tôi đi thăm khu động vật. Theo thống kê, trên thế giới có khoảng 1,5 triệu loài. Bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Denver có trên một triệu đối tượng. Có cả những loài tuyệt chủng từ hàng triệu năm trước như các loại khủng long, voi ma mút… Người giới thiệu cho chúng tôi biết các nhà khoa học đã lập được bản đồ gen voi ma mút cổ đại được tìm thấy trong tình trạng đông lạnh trong lớp băng giá ở Siberia. Họ đang lên kế hoạch lấy trứng thụ tinh của một con voi hiện tại, thay thế AND của voi ma mút và cấy vào tử cung voi hiện tại. Họ tính sau khoảng 22 tháng, nhân loại sẽ được chứng kiến con voi ma mút được sinh ra sau 5000 năm tuyệt chủng. Người giới thiệu cũng cho chúng tôi biết bảo tàng được giới khoa học đánh giá là một trong những bảo tàng lớn nhất của Mỹ và thế giới. Các loại động vật ở bang Colorodo và các bang khác của Mỹ cũng như ở cả châu Mỹ gần như không thiếu loài nào. Chỉ như thế thôi cũng đã quá đủ cho khách tham quan có một cái nhìn khá toàn diện về thế giới động vật.
Có một sơ đồ hình cây lớn phân chia động vật thành hơn 20 ngành ở gian đầu tiên. Đó là các ngành: Ngành động vật nguyên sinh như loài trùng biến hình; ngành động vật xốp như bọt biển; ngành động vật rỗng ruột như san hô; ngành động vật hình dẹt như trùng hút máu; ngành động vật thân đốt như gun, châu chấu; ngành động vật thân mềm như ốc, mực; ngành động vật chân khớp như tôm, cua, côn trùng... Cuối cùng là ngành động vật xương sống. Từ các ngành người ta lại chia ra các lớp. Chẳng hạn như ngành động vật xương sống lại chia ra thành lớp cá, lớp lưỡng cư, lớp bò sát, lớp chim, lớp thú.
Chúng tôi đi lướt qua các gian phòng trưng bày các tiêu bản động vật. Gần như phòng nào cũng có tranh ảnh hay màn hình mô phỏng cuộc sống thực của các loài từ rạn san hô cách đây 435 triệu năm đến các loại côn trùng. Có cả một hộp sọ, một bộ xương của một diễn viên nào đó… Chỉ gian phòng nào gây được sự chú ý thì chúng tôi mới dừng lại xem kỹ. Vậy mà cũng phải mất đến hơn một tiếng chúng tôi mới cưỡi ngựa xem hoa xong. Tuy vậy tôi vẫn hiểu và hình dung được sự tiến hóa của sự sống trên trái đất từ những sinh vật đơn bào đến những con khủng long khổng lồ, và đặc biệt là có cái nhìn sâu hơn về cư dân hiện tại của thế giới ngày nay. Thật là vui vì tôi vẫn được học, được trải nghiệm, một hình thức học ở bảo tàng Mỹ.
Chúng tôi tiếp tục tới khu vực thám hiểm y tế. Tại đây người ta cân nặng, đo chiều cao, đo huyết áp, lấy mẫu máu và làm các xét nghiệm như khám sức khỏe toàn diện cho du khách nếu có yêu cầu. Chúng tôi tuần tự làm như mọi người để cuối buổi lấy kết luận in trên máy tính. Khu vực thám hiểm về y tế không chỉ đơn thuần là khám sức khỏe hay xem một cuộc trưng bày cụ thể, sinh động về cơ thể con người mà thông qua các thiết bị y tế hiện đại, tôi được thấy mình đang nhìn vào cơ thể bên trong của mình; trực tiếp nhìn thấy từng biến động và thay đổi của cơ thể mình. Tôi được trải nghiệm những giây phút tuyệt vời khi nhìn vào tế bào của mình dưới kính hiển vi, nhìn vào bên trong mạch máu đang chảy của mình, hiểu được tình trạng sức khỏe của các cơ quan dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia y tế. Cái cảm giác kì lạ được đối diện với chính mình trong tôi chỉ có ở đây chứ chưa hề thấy trong bất kì lần khám sức khỏe nào của tôi trước đó.
Lấy xong giấy báo kết quả sức khỏe, chúng tôi thăm khu vực triển lãm. Khu vực này lại chia ra làm nhiều khu vực nhỏ. Chẳng hạn khu trung tâm giáo dục trẻ em, ở khu này, trẻ em chơi với các đồ thủ công hay chơi trên sân khấu để phát hiện hay kiểm tra các mẫu vật, côn trùng tương đối quen thuộc hoặc vào nhà gương để cười vui vẻ với các hình dạng méo mó và kì lạ của mình. Ở Khu vực này các cháu tôi thỏa sức chơi đùa, thỏa sức sáng tạo. Chúng không muốn rời đi nên chúng tôi cứ nấn nuối để chúng chơi. Khu triển lãm xác ướp Ai Cập, khu này trưng bày xác ướp và các đồ tùy táng về nền văn minh Ai Cập cổ đại, khu trưng bày đá quý và khoáng sản, khu triển lãm về nền văn hóa của người da đỏ Bắc Mỹ, khu triển lãm văn hóa dân gian Nga… chúng tôi chỉ đi lướt qua. Rất tiếc tôi chỉ có một ngày tại bảo tàng này.
Tám giờ tối cả nhà mới ra về. Một ngày tham quan bổ ích và lí thú, để lại trong lòng tôi bao cảm xúc. Trên đường về tôi cứ miên man suy nghĩ. Từ khi con người xuất hiện đến hết thế kỷ thứ 20, con người chưa có khả năng đột phá giới hạn sinh học của mình. Nhưng bước sang thế kỷ thứ 21, với cuộc cách mạng 4.0, cách mạng sinh học, điều trên đã không còn đúng nữa. Con người đang bắt đầu phá vỡ các quy luật chọn lọc tự nhiên bằng cách biến đổi gen tạo ra những loại sinh vật mới, và bằng những thiết kế theo “quy luật của con người”. Không biết công nghệ sinh học có thể tái tạo lại được người Neanderthal, voi ma mút, các loài động vật đã tuyệt chủng? Không biết người ta có thể thành công với thang máy vũ trụ?
Người Mỹ đã phát minh ra tivi, tủ lạnh, máy bay, tàu ngầm, tên lửa, tàu vũ trụ, máy tính, internet… Với thời gian tôi tin họ còn làm được nhiều điều kỳ diệu. Thời gian sẽ chứng minh điều đó. Còn hiện tại, Bảo tàng Khoa học và tự nhiên Denver cũng như hệ thống các loại bảo tàng khác khoa học và tự nhiên khác ở Mỹ thực sự là trường học, trường học STEM sống động, một môi trường học tập cộng đồng kì thú. Một ngày tham quan thôi nhưng tôi cảm thấy mình lớn lên rất nhiều, được rất nhiều.
Read More

Đôi điều về Thung lũng Silicon

Leave a Comment
Từ lâu tôi đã được nghe đến cụm từ Thung lũng Silicon. Trong nhận thức từ những năm 1990, cụm từ này gợi lên điều gì đó trong tôi như một nơi sản sinh ra những loại chip dùng trong máy tính. Chỉ khi đặt chân đến đây tôi mới hiểu đôi điều về nó. Thì ra thung lũng Silicon là một trung tâm công nghệ của nước Mỹ, nơi có mức lương trung bình cao nhất thế giới, nơi có môi trường làm việc tốt nhất. Chi khi đến đây tôi mới hiểu mảnh đất này thực sự đáng để người ta ngưỡng mộ, là niềm mơ ước, là sự khát khao của nhiều người, đặc biệt là tầng lớp sinh viên từ những trường đại học hàng đầu về công nghệ trên khắp thế giới.
Thung lũng Silicon đã sản sinh ra những tập đoàn công nghệ đích thực làm thay đổi bộ mặt nhân loại bằng những sản phẩm và dịch vụ chất lượng phổ quát như Adobe Systems, Apple, BEA Systems, Cisco Systems, eBay, Google, Hewlett-Packard, Intel, Facebook, Oracle, Yahoo… Chính những tập đoàn công nghệ cao này đã tạo ra những giá trị, sự giàu có và cả những cơ hội chưa từng có trong lịch sử phát triển của nhân loại.
Thung lũng Silicon là tên gọi vùng đất phía nam của vịnh San Francisco nằm ở phía bắc bang California. Ban đầu cụm từ này được dùng để chỉ nơi có nhiều phát minh về công nghệ và có nhiều hãng sản xuất những loại chip Silicon, nhưng sau đó nó trở thành tên chung để chỉ nơi có nhiều tập đoàn công nghệ cao, lớn nhất Hoa Kỳ và thế giới. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chính sách ưu tiên cho giáo dục của bang California, sự phát triển về chất của các trường đại học ở khu vực, trong đó có Đại học Stanford đã đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của thung lũng.
Bắt đầu từ những năm 1950, Frederick Terman, lúc đó là Hiệu trưởng Trường Đại học Stanford đã khuyến khích giảng viên và sinh viên mới tốt nghiệp thành lập những công ty công nghệ nằm trong khuôn viên nhà trường. Có thể nói ông là cha đẻ của Thung lũng Silicon... Các mạch Silicon tích hợp, bộ vi xử lý, máy tính và những ngành công nghệ chủ chốt phát triển mạnh mẽ tại nơi đây.
Trong những năm đầu, khoảng 24.000 lao động có trình độ, những nhà khoa học đến từ các trường đại học trong vùng, đặc biệt là từ Stanford, các kỹ sư lành nghề cùng với sự tài trợ của Bộ Quốc phòng Mỹ đã biến Thung lũng Silicon thành một địa điểm bừng sáng, một khối nam châm thu hút và hội tụ tinh hoa công nghệ. Mặc dù sau đó có rất nhiều mô hình trung tâm công nghệ cao mọc lên ở Mỹ và các nước trên thế giới, nhưng Thung lũng Silicon California vẫn là một trung tâm hàng đầu cho sự đổi mới và phát triển công nghệ của nhân loại...
Mùa hè ở thành phố San francisco và San Jose đầy nắng và gió. Cái nắng rát bỏng, nhưng chỉ cần vào trong bóng râm, nhất là bóng cây thì người ta lại cảm thấy rất mát mẻ và dễ chịu. Không đổ mồ hôi. Không nhớp nháp khó chịu như cái nắng oi ả của miền nhiệt đới gió mùa. Nơi đây nhiệt độ bình quân cả năm khoảng 23 độ C. Rất ít mưa nên vô cùng thuận lợi cho du khách dừng chân ở thung lũng Silicon.
Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến thăm là tập đoàn Apple, tập đoàn đứng vị trí số 2 mới đây sau Amazon với trị giá 309,5 tỷ USD (giá trị vốn hóa gần 1000 tỷ) theo bảng xếp hạng 100 thương hiệu toàn cầu đầu tháng 6 năm 2019. Có lẽ trong số chúng ta không ai là không biết đến Apple, không muốn được sở hữu những sản phẩm và dịch vụ của Apple, một tập đoàn công nghệ máy tính, điện thoại thông minh, đặt trụ sở chính tại thung lũng Silicon. Tập đoàn Apple do ba người, Steve Wozniak, Steve Jobs, Ronald Wayne thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1976.
Từ đầu năm 2007 đến nay, sản phẩm của Apple bán ra toàn cầu hàng năm ít nhất là 13,9 tỷ đô la Mỹ. Chỉ tính trong một quý cuối năm 2014 đã có tới 74 triệu thiết bị iPhone được bán ra. Hiện thời Apple có gần 130.000 nhân viên ở nhiều quốc gia. Sản phẩm nổi tiếng khắp thế giới là máy tính Apple, máy nghe nhạc, điện thoại iPhone, máy tính bảng iPad và đồng hồ thông minh Apple Watch.
Khuôn viên của Apple thật xứng đáng với tầm vóc của hãng công nghệ đứng đầu thế giới. Một khối nhà hình elip chạy dài hàng dặm rợp trong bóng cây xanh. Để giúp người tham quan hình dung và hiểu một cách tường tận, Apple đã mô hình hóa toàn bộ trụ sở của mình trong một Building công nghệ. Người tham quan được phát mỗi người một thiết bị như chiếc iPad. Chỉ cần hướng thiết bị vào khối nhà nào thì từng chi tiết, từng tầng, từng con đường, từng cái cây, ngọn cỏ trong khu vực đều hiện ra trước màn hình.
Trong một building hai tầng, tất cả các công nghệ tiên tiến, các sản phẩm và dịch vụ của Apple được trưng bày sống động. Hàng trăm chiếc máy tính thế hệ mới hoàn toàn dùng màn hình cảm ứng, hàng trăm chiếc iPhone thế hệ mới cùng với những mẫu sắp ra mắt, hàng trăm các sản phẩm, dịch vụ nghe nhìn được bày trên mặt bàn... Một màn hình mấy trăm ink với công nghệ 3D, 4D, công nghệ thực tế ảo được tích hợp giúp người tham quan tự tìm hiểu, tự khám phá về lịch sử hình thành và phát triển cũng như những thành tựu thần kỳ của Apple. Thật mãn nhãn! Thật mê hoặc! Tôi cảm thấy mình như đang lạc vào một thế giới hoàn toàn khác.
Không chỉ có tôi, con gái con rể tôi, hàng ngàn người trong cái tòa nhà kỳ diệu này đều đắm mình trong thế giới công nghệ. Mỗi người đều chăm chú vào một sản phẩm hay dịch vụ mình cầm trên tay để sử dụng và thưởng thức. Ngay cả cháu tôi, bé Liêm mới 2 tuổi cũng không chịu rời chiếc iPhone với những trò chơi của riêng mình…
Địa điểm tham quan thứ hai trong ngày là tập đoàn Google, tập đoàn đứng thứ 3 sau Amazon và Apple với doanh thu 309 tỷ USD (giá trị vốn hóa gần 1000 tỷ) theo bảng xếp hạng 100 thương hiệu toàn cầu. Google là một công ty công nghệ đa quốc gia chuyên các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến Internet, bao gồm các công nghệ quảng cáo trực tuyến, công cụ tìm kiếm, điện toán đám mây, phần mềm, phần cứng… Đây là một công ty công nghệ nằm trong top Big Four, cùng với Amazon, Apple, Facebook.
Google được Larry Page và Sergey thành lập năm 1998 trong thời gian họ học sau tiến sĩ tại Đại học Stanford, California. Chưa đầy 10 năm sau Google đã phát triển nhanh chóng với một chuỗi các sản phẩm, đồng thời họ mua lại và sáp nhập các công ty nhỏ ngoài công cụ tìm kiếm cốt lõi (Google Tìm kiếm). Google cung cấp các sản phẩm dịch vụ được thiết kế cho nhiều tiện ích như Google Docs, Google Sheets, Google Slide, email, tiện ích lập lịch và quản lý thời gian (Google Lịch), lưu trữ đám mây (Google Drive), mạng xã hội (Google+), nhắn tin trò chuyện trực tuyến, dịch thuật, lập bản đồ điều hướng (Google Maps, Google Earth, chia sẻ video (youTube), tiện ích tổ chức và sửa ảnh…
Ngoài ra Google còn dẫn đầu sự phát triển hệ điều hành di động Android, trình duyệt web Google Chrome. Google cũng hợp tác với các nhà sản xuất các thiết bị điện tử lớn trong việc sản xuất các thiết bị của riêng mình như điện thoại thông minh Google Pixel, loa thông minh Google Home, Daydream tai nghe thực tế ảo… Cho đến ngày hôm nay số người làm full-time ở trụ sở thung lũng xấp xỉ 100.000 và một số lượng gần gấp đôi như vậy làm bán thời gian.
Mỗi người, mỗi gia đình ở Việt Nam chúng ta hiện nay không ngày nào là không sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của Google. Ở Mỹ thì Google càng không thể thiếu. Người Mỹ không có Google Maps thì họ không thể đi đâu xa được. Đến cơ quan không thể làm việc được vì họ làm việc theo Google Lịch. Không thể vận hành công việc được vì không có phương tiện. Dù không phải trong ngành công nghệ thông tin những người làm kế toán, kiểm toán, văn phòng đều phải làm việc với Google Docs, Google Sheets. Thậm chí đối với cả học sinh tiểu học cũng sử dụng các công cụ tìm kiếm của Google.
Trước khi đến Thung lũng Silicon, cháu tôi đang học lớp 2 hỏi Google Home (bộ loa thông minh) tại nhà: Thung lũng Silicon là địa danh chỉ cái gì? Ở đâu? Apple là công ty gì? Ở đâu? Google là gì? Ở đâu… Không nghi ngờ gì nữa Google đã và đang góp phần tạo nên cuộc Cách mạng 3.0 và 4.0 khởi nguồn từ Hoa Kỳ và một trong những địa điểm đi đầu của nó chính là thung lũng Silicon. Từ thung lũng này các cuộc cách mạng lan tỏa ra cả thế giới. Và nó đang tiếp tục đưa nhân loại bước vào kỷ nguyên số, một bước ngoặt trong lịch sử nhân loại mà lực lượng sản xuất bùng nổ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Suốt buổi chiều chúng tôi đi thăm nhiều cơ sở của Google, từ nơi trưng bày các biểu tượng, nhà giữ trẻ của tập đoàn đến trụ sở văn phòng; từ nhà ăn, phòng tập thể dục, đến thư viện đọc sách, khu xả stress... Cuối buổi vợ chồng con gái tôi gọi một người bạn làm ở việc ở Google. Anh hẹn gặp chúng tôi ở trước trụ sở. Lâu ngày họ mới gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Hỏi thu nhập một năm của bạn tại Google là bao nhiêu. Bạn trả lời 200.000 ngàn đô. Hàng ngày miễn phí ba bữa ăn buffet tự chọn. Miễn phí toàn bộ nước uống, nước giải khát và hoa quả. Cuối buổi mệt mỏi có chế độ mát xa. Đó là chưa kể chế độ chăm sóc sức khỏe, chế độ nghỉ phép. Anh cho chúng tôi biết có khoảng vài trăm sinh viên người Việt mới tốt nghiệp ở các trường đại học Mỹ xin làm việc tại Google. Anh mời cả gia đình chúng tôi sáng hôm sau đến thăm nơi làm việc. Anh nói: “Không mang đồ ăn, đồ uống vì công ty có chế độ cho thân nhân như nhân viên tại cơ quan”.
Chúng tôi vui vẻ nhận lời. Tôi biết các con và bạn của cháu muốn tôi thấy “Chủ nghĩa tư bản đang giãy chết” như thế nào. Các con tôi cũng làm việc tại thung lũng Silicon chúng còn lạ gì. Nghe các cháu nói tôi thoáng chút buồn. Tôi biết có hơn 30.000 sinh viên sang Mỹ học từ đầu những năm 2000 trở lại đây. Nhưng số về nước rất ít. Thì ra học kỹ thuật các em đổ xô vào thung lũng Silicon. Học kinh tế thì các em đổ xô vào khu vực Phố Wall (những dãy phố thuộc khu tài chính Manhattan, thành phố New York).
Tôi biết một lớp 12 ở một trường chuyên Hà Nội do anh bạn tôi làm chủ nhiệm, trước kỳ thi đại học chỉ có 8 em học sinh đăng ký dự thi đại học trong nước. Sau kỳ thi chỉ còn hai em học trong nước. Gần như tất cả đều học nước ngoài. Cả đất nước, cả thành phố cùng ngành giáo dục ưu tiên cho các em. Vậy mà... Nhưng suy cho cùng các em không có lỗi. Các em có quyền lựa chọn. Nếu học xong, các em về nước cũng không được nhận vào làm tại các khu vực kinh tế, các cơ quan danh tiếng. Trên báo chí người ta đã đăng tin nhiều tiến sĩ học ở nước ngoài về bị trượt công chức! Họ phải ở lại tìm đường mưu sinh thì cũng chẳng có gì đáng trách.
Địa điểm thứ ba chúng tôi đến thăm là tập đoàn Intel. Tập đoàn này được thành lập năm 1968 tại thung lũng Silicon. Intel chuyên sản xuất các sản phẩm chính như bộ chip vi xử lý cho các loại máy tính, bo mạch chủ, ổ nhớ flash, cạc mạng và các thiết bị máy tính.
Nói riêng về bán dẫn Intel là công ty lớn nhất thế giới, là nhà phát minh ra chuỗi xử lý x86 dùng cho tất cả các loại máy tính cá nhân. Hiện tại Intel có gần 100.000 nhân viên tại nhiều quốc gia. Doanh thu một năm đạt gần 50 tỷ USD, xếp thứ 50 trong số các công ty lớn nhất thế giới.
Trụ sở hành chính của Intel là một tòa nhà cao vút sáng lóa. Bên trên tầng thượng người ta lắp đặt một hệ thống quạt năng lượng gió. Phía bên trái của tòa nhà là Bảo tàng Intel. Cũng như các công ty công nghệ khác, bảo tàng Intel được thiết kế và trang bị những phương tiện cực kỳ hiện đại, xứng đáng với tầm vóc của công ty công nghệ danh tiếng. Ở lối vào bảo tàng người ta thấy một màn hình lớn in hình bản đồ rực rỡ sắc màu với nhiều điểm hiện diện của Intel khắp các châu lục. Tiếp đến là những hộp kính lớn trưng bày chuỗi vi mạch xử lý các thế hệ, các sản phẩm chíp mạch chủ, card mạng lưới, mạch tổ hợp, chip đồ họa... Bên cạnh những chiếc hộp là hàng loạt màn hình cảm ứng để người tham quan tự đi vào các nội dung chi tiết.
Không có ai thuyết minh. Tất cả khách tham quan đều tự mình khám phá thế giới của Intel. Bắt đầu từ năm 1971, bộ vi xử lý 4004 đầu tiên của công ty ra đời. Phát minh đột phá này đã tăng cường sức mạnh cho máy tính và dọn đường cho khả năng nhúng trí thông minh của con người vào thiết bị vô tri vô giác trong hệ thống máy tính. Số lượng bóng bán dẫn là 2.300. Tốc độ đạt tới 108KHz.
Năm 1972 Intel ra mắt bộ vi xử lý 8008 mạnh gấp đôi bộ xử lý 4004. Số lượng bóng bán dẫn là 3.500. Tốc độ 200khZ. Năm 1974 bộ vi xử lý 8080 đã trở thành bộ não của máy tính cá nhân đầu tiên. Số lượng bóng bán dẫn 6.000. Tốc độ 2MHz… Đến năm 1982 bộ vi xử lý 80286 có số lượng bóng 123.000. Tốc độ đạt tới 10KHz. Nó có thể chạy tất cả các phần mềm được viết cho những bộ xử lý trước đó... Và từ năm 1982 đến hiện nay, người xem tiếp tục tự khám phá lịch sử phát triển của bộ vi xử lý đáp ứng những đòi hỏi về dung lượng và tốc độ gần như lý tưởng của mạng 5G.
Ngoài lịch sử phát triển của bộ vi xử lý, bảo tàng cũng trưng bày tất cả các sản phẩm và dịch vụ khác của Intel. Khách tham quan còn được chứng kiến lab làm việc của nhân viên. Bộ quần áo của nhân viên mặc trước khi vào phòng làm việc. Một thế giới Intel sống động khiến người xem đi từ ngạc nhiên đến khâm phục và ngưỡng mộ.
Rời Intel chúng tôi đến với tập đoàn Facebook, mạng xã hội và truyền thông xã hội lớn nhất thế giới. Người sáng lập và điều hành Facebook là Mark Zuckerberg. Anh thành lập website Facebook vào ngày 4 tháng 2 năm 2004. Cho đến ngày hôm nay đã có tới 3,2 tỷ người trên trái đất sử dụng dịch vụ của Facebook. Số lượng người truy cập mạng chỉ đứng thứ hai sau Google.
Facebook có thể được truy cập từ hầu hết các thiết bị có khả năng kết nối với Internet, từ máy tính để bàn đến máy tính bảng, máy tính xách tay, điện thoại thông minh. Với Facebook người dùng có rất nhiều tiện ích như tạo nhóm, trao đổi tin nhắn, viết bài, chia sẻ ảnh, video và liên kết, nhận thông báo. Ngoài ra người dùng cũng có thể tham gia vào các nhóm cộng đồng giữa những người có cùng chí hướng, sở thích…
Đón chúng tôi trước trụ sở Facebook là hai vợ chồng Khánh, Thu. Anh chị cùng làm ở tập đoàn Facebook. Gặp tôi Thu giới thiệu: “Cháu là Thu, ở Hà Nội”. Sau khi làm quen tôi biết thời gian học THPT họ học ở Trường chuyên Đại học Quốc gia Hà nội.
Hai người dẫn chúng tôi đến phòng bảo vệ. Nhân viên yêu cầu chúng tôi đưa hộ chiếu và ID. Khoảng một phút sau họ đưa cho chúng tôi một cái thẻ có ảnh khách đến thăm. Chúng tôi đeo thẻ lên ngực và dùng thẻ để qua cửa các phòng làm việc.
Phòng đầu tiên là gian phòng để màn hình cảm ứng có hình bản đồ thế giới, đánh dấu những quốc gia mà Facebook đã chiếm lĩnh thị trường. Đế chế của Facebook thật rộng lớn. Nó bao phủ khắp các châu lục, trừ Trung Quốc và khoảng vài ba chục nước châu Phi còn để trống. (Trung Quốc thì cấm cửa Facebook và Google vì lý do an ninh, còn các nước châu Phi thì nghèo nàn lạc hậu chưa sử dụng Internet).
Tiếp đến là khu Center learning (trung tâm học việc dành cho những người mới vào tập đoàn) cùng trụ sở làm việc của 35.000 nhân viên trải dài hơn một dặm (một dặm xấp xỉ 1,7 km). Một tổ hợp làm việc liền khối, xen kẽ nơi làm việc là những điểm giải trí, uống cà phê, giải khát cùng hoa quả các loại phục vụ nhân viên..
Thu đi trước giới thiệu phòng làm việc của các bộ phận. Tất cả nhân viên đều còn rất trẻ. Người nào người nấy đều đang chăm chú trước màn hình máy tính. Tất cả đều yên tĩnh đến kỳ lạ. Chỉ ở các phòng họp, qua khung cửa kính tôi mới thấy các nhóm dăm đến bảy người đang sôi nổi thảo luận vấn đề gì đó.
Đến giờ cơm chiều, Thu hỏi chúng tôi thích dùng thực đơn Ấn Độ, Thái, Trung Quốc hay các món ăn Âu, Mỹ. Thu giải thích người Việt làm ở Facebook mới có hơn một trăm người, lại rải rác khắp hai khu vực nên chưa có thực đơn riêng. Nếu trong những năm tới số lượng tăng lên thì chắc chắn sẽ có đồ ăn đăc trưng riêng của người Việt.
Tất cả chúng tôi đều chọn cơm rang, đậu phụ rán, cá hồi chiên sốt, thịt hấp và một vài loại rau. Cơm nước xong Thu đưa chúng tôi tới quầy hoa quả, cà phê, giải khát. Mọi người đều dùng cà phê, riêng tôi sợ mất ngủ nên dùng kem cốc trộn với một ít hạt điều, một ít nho khô và hạnh nhân.
Có nằm mơ tôi cũng không thể tưởng tượng được điều kiện làm việc tại thung lũng Silicon lại lý tưởng đến như vậy. Hai người mới làm được hơn hai năm đã mua mỗi người một ô tô riêng, đồng thời họ đang tìm kiếm một ngôi nhà trả góp khoảng hơn một triệu đô gì đó.
Thu cho tôi biết ngày nào việc cũng ngập đầu. Nhiều khi đêm khuya họ mới trở về nhà. Thậm chí ngày nghỉ vẫn phải mang việc về làm. Chịu rất nhiều áp lực. Hai vợ chồng đang bàn tính một người chuyển sang công ty khác để có thời gian cho gia đình.
Facebook trả lương nhân viên một nửa bằng tiền mặt, một nửa bằng cổ phiếu. Không phải Facebook không có tiền. Họ thừa tiền. Đây là một phương thức quản lý. Tất cả đều là chủ sở hữu tập đoàn, từ chủ tịch hội đồng quản trị tới nhân viên. Nghĩa là cả tập đoàn đều đi trên một con thuyền. Tất cả đều phải cố gắng. Phải vắt kiệt sức lực và trí tuệ. Nếu thuyền đắm thì tất cả đều chung một số phận.
Kết thúc thời gian ở Facebook, hai vợ chồng Khánh, Thu đưa chúng tôi đi thăm quan tầng 3 tổ hợp tòa nhà. Đó là một khuôn viên khổng lồ của những ô tiểu cảnh, những vườn hoa bài trí xen lẫn những điểm vui chơi giải trí ngoài trời. Nhân viên làm việc trong giờ cảm thấy bị stress đều có thể lên tầng thư giãn để lấy lại năng lượng và cảm hứng…
Trong hai ngày chúng tôi đến thăm tập đoàn Adobe Systems, BEA Systems, Cisco Systems, eBay, Hewlett-packard, PayPal và cuối cùng là Yahoo. Hai tập đoàn PayPal và Yahoo tôi nghe nói có những khó khăn nhất định. PayPal phải “sáp nhập vào eBay. Yahoo sai lầm trong định hướng phát triển, lúc đầu định bán cho Microsoft với giá 57 tỷ USD, nhưng thương vụ không thành. Hiện công ty đang đứng trước khủng hoảng. Hai tập đoàn khổng lồ trong làng công nghệ này có nguy cơ mất thương hiệu. Chỉ riêng trong lĩnh vực Mail Yahoo, hàng triệu, có thể hàng chục triệu hòm thư điện tử cá nhân mang tên Mail “Yahoo.com”, trong đó có Mail cá nhân tôi, không biết sau này sẽ thuộc chủ sở hữu của ai.
Thung lũng Silicon từ thập niên 1990, thập niên bùng nổ Internet đến nay đã sản sinh ra 29.000 công ty công nghệ cao. Có hàng nghìn trụ sở của tất cả các công ty lớn trên thế giới đều hội tụ ở đây. Mảnh đất màu mỡ này cũng là vườn ươm của hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp hay còn gọi là Start-up.
Hàng ngày, hàng tuần có tới hàng chục, thậm chí hàng trăm doanh nghiệp phá sản. Cạnh tranh gay gắt diễn ra khốc liệt giữa các ông lớn công nghệ, giữa các công ty lớn với các công ty vừa và nhỏ, giữa các công ty vừa và nhỏ với nhau... Một công nghệ tiên tiến nhất trong một lĩnh vực nào đó mới ra đời có thể kéo theo một tập đoàn nào đó phá sản nếu tập đoàn đó không có chiến lược kinh doanh đúng đắn. Ngay cả đến Yahoo, tập đoàn có tới trên 12.000 nhân viên, có trụ sở ở hơn 20 quốc gia còn đứng trên bờ vực sụp đổ thì không có một tập đoàn nào, công ty nào là ngoại lệ. Người ta nói nước Mỹ không phải là thiên đường, cũng không phải là địa ngục mà là một chiến trường, một chiến trường cạnh tranh sinh tử.
Thung lũng Silicon có 10 tỷ phú siêu giàu, hàng nghìn triệu phú và hàng triệu người thuộc tầng lớp trung lưu. Họ sống ở những ngôi nhà từ 2 đến hơn 20 triệu đô. Tất cả họ đều còn trẻ. Họ giàu lên nhanh từ chính tri thức và tài kinh doanh. Chỉ trong vòng vài thập niên, tài sản của những người đứng đầu các tập đoàn đã lên tới hàng chục, thậm chí ngót trăm tỷ đô. Tài sản của họ vượt xa lớp tư bản truyền thống mà hàng trăm năm tích lũy từ đời ông đến đời cháu vẫn lẹt đẹt xếp hạng phía sau.
Thung lũng Silicon cũng nảy sinh rất nhiều mặt trái. Khoảng cách giàu nghèo cực kỳ lớn. Chỉ cần đi dạo trong một phường người ta cũng thấy rất rõ. Gần 50% dân số không có nhà ở vì giá nhà quá cao. Thuê một căn nhà bình dân cũng tới 3.000 đô. Các mặt hàng thiết yếu bị đẩy giá lên. Nhiều gia đình gốc địa phương phải di dời đi nơi khác ở bởi hàng triệu những kỹ sư lành nghề, những sinh viên thuộc nhóm ngành STEM (nhóm chuyên ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ, toán học) khắp nước Mỹ và trên khắp thế giới đổ về có mức thu nhập cao tại các công ty công nghệ.
Dọc đường từ trung tâm thung lũng Silicon trở về, tôi thấy không ít những nhóm vô gia cư, gia đình vô gia cư dựng lều bạt bên cạnh những tường rào công viên. Hàng ngàn gia đình phải sống trong những chiếc thùng xe lưu động tại các bãi đậu. Thậm chí không ít gia đình ly tán vì phá sản, vì không còn khả năng kinh tế. Cảnh sát buộc phải đưa con cái họ vào trại xã hội nuôi dưỡng. Những người lao động trong các tập đoàn, công ty công nghệ không phải ai cũng thích ứng với “núi công việc” hàng ngày. Đó là chưa kể những ngành nghề thu nhập thấp như xây dựng, y tế, giáo dục... đời sống của họ gặp rất nhiều khó khăn.
Bất chấp tất cả những mặt trái, bất cập trên, thung lũng Silicon vẫn biến đổi liên tục, vẫn đổi mới và sáng tạo hàng ngày bởi hàng triệu lao động trí óc ưu tú. Nó được ví như bộ não của nhân loại. Nó đưa ra những giải pháp khoa học và công nghệ nhằm giải quyết những vấn đề mang tính chất toàn cầu. Nó góp phần tạo ra một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức khởi nguồn từ nước Mỹ. Nó đã và đang thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, một cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt của nhân loại.
Read More

Thăm Trường Đại học Stanford

Leave a Comment
Tôi được nghe một giai thoại người Mỹ nói về chủ nhân sáng lập Trường Đại học Stanford. Chuyện kể về việc hai vợ chồng Leland Stanford tới văn phòng Trường Đại học Harvard. Họ mong muốn được gặp ông hiệu trưởng. Nhân viên văn phòng nhìn người đàn ông chạc tuổi trung niên, mặc bộ quần áo sờn đã cũ nên nói với khách rằng ông hiệu trưởng rất bận, đang tiếp khách. Nhưng hai người vẫn kiên trì chờ đợi cho đến khi vị khách cuối cùng ra về.
Sau màn chào hỏi xã giao, Stanford trình bày với ông hiệu trưởng ý nguyện muốn có một kỷ niệm về người con trai của họ không may qua đời tại trường. Ông hiệu trưởng từ chối, trả lời: “Nếu thân nhân nào cũng muốn xây mộ thì trong tương lai trường Harvard sẽ trở thành một nghĩa địa”.
Người chồng từ tốn trả lời họ không có ý như vậy. Họ muốn xây dựng một phòng thí nghiệm mang tên người con trai quá cố. Ông hiệu trưởng sửng sốt: “Ông bà có biết xây phòng thí nghiệm mất mấy trăm ngàn đô không”? Người vợ nghe vậy liền nói với chồng: “Nếu phòng thí nghiệm chỉ mất có mấy trăm ngàn đô thì sao mình không xây luôn cả một trường đại học”.
Ông hiệu trưởng không biết đó là hai vợ chồng Leland Stanford, trùm tư bản, ông vua đường sắt Hoa kỳ. Sau thời gian đó Stanford còn ứng cử làm thống đốc bang California... Câu chuyện thực hư thế nào không rõ. Chỉ biết hai ông bà đã hiến tặng 8000 mẫu Anh đất, tương đương với 31,1 km2 cùng toàn bộ kinh phí xây dựng ngôi trường mang tên Stanford để tưởng nhớ người con trai duy nhất đã mất vì bệnh thương hàn. Và cũng từ đó ông coi tất cả những người con trai, con gái bang California là con cái ông.
Cũng giống như Trường Đại học Chicago được thành lập năm 1890 từ khoản tiền hiến tặng của tỷ phú dầu lửa John D. Rockefeller, Trường Đại học Stanford ra đời bằng tài sản cá nhân của gia đình Leland Stanford. Theo quyết định của bang California trường được thành lập năm 1885 và trở thành một trong hai trường có diện tích rộng nhất trên thế giới. 
Đến nay trường sở hữu gần 700 tòa nhà bao gồm phòng học, phòng nghiên cứu, phòng giảng dạy, phòng ở, phòng ký túc xá… Stanford cùng với Đại học Columbia, Harvard, Chicago, Yale... nằm trong số top 10 trường đại học danh giá nhất Hoa Kỳ do US News và World Report bình chọn. Theo Times Higher Education, Stanford đứng vị trí số 3 theo bảng xếp hạng các trường đại học nổi tiếng trên thế giới năm 2015 và liên tục giữ vị trí Á quân từ đó đến nay.
Xét về thành công trong lĩnh vực đào tạo, Stanford là nơi sinh ra nhiều công ty công nghệ lớn nhất thế giới như Google, Hewlett-Packard, Nice, Sun Microsystems, Instagram, Yahoo… Các công ty được sáng lập bởi các sinh viên đã học ở Stanford, có doanh thu ước chừng 2,7 ngàn tỷ đô la. Stanford cũng là ngôi nhà của 30 tỷ phú, 17 phi hành gia, 18 người đoạt giải Turing. Ngôi trường này cũng sản sinh ra nhiều nhà lãnh đạo Mỹ, nhiều lãnh đạo các tổ chức và các tập đoàn kinh tế đa quốc gia. 
Hiện nay nhà trường liên kết với 59 nhà bác học đoạt giải thưởng Nobel, hai người nhận giải thưởng Field. Xét về nhiều phương diện, Trường Đại học Stanford là trường đại học nghiên cứu và giảng dạy đứng đầu thế giới. Hơn nữa, trường lại tọa lạc tại Trung tâm Thung lũng Silicon, một trung tâm công nghệ cao, một trung tâm sáng tạo của Mỹ và của cả thế giới, nằm giữa thành phố San Francisco và San Jose. 
Năm học 2018 Stanford nhận được 26,5 tỷ đô la. Nhà trường có 16.520 sinh viên, 7083 là sinh viên đại học, 9083 là sinh viên sau đại học trên 2219 giáo sư, giảng viên đại học. Stanford có 7 trường thành viên: Trường Kinh doanh, Trường Khoa học Môi trường, Năng lượng và Trái đất, Trường Giáo dục, Trường Kỹ thuật, Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Luật.
Các chuyên ngành được đăng ký nhập học nhiều nhất là khoa học máy tính, sinh học con người, kỹ thuật… 
Được xét tuyển vào Stanford là niềm vinh dự lớn. Chỉ có khoảng 10% ứng viên xin vào ngôi trường này nhận được giấy nhập học mặc dù tất cả mọi người trong số họ đều rất xuất sắc. Ngôi trường này bao nhiêu năm nay là niềm mơ ước của hàng triệu sinh viên sáng giá của Hoa Kỳ và trên khắp thế giới. Việt Nam có gần một chục sinh viên đã tốt nghiệp và đang theo học tại Stanford. Gần như tất cả những sinh viên của Việt Nam đều là những sinh đạt huy chương vàng trong các kỳ thi quốc tế.
Dọc hai bên đường dẫn tới cổng chính của Trường Đại học Stanford là hai hàng cọ vút cao hàng trăm năm tuổi. Khi chiếc xe dừng lại, trước mặt tôi là một thảm cỏ xanh mướt rộng mênh mông. Người ta gọi đó là quảng trường Stanford. Chính giữa quảng trường là một vườn hồng trắng nở đầy hoa. Nổi bật trên cái nền hồng trắng tinh khiết là hình chữ S bằng hồng đỏ. Hương thơm tỏa nồng nàn đến say đắm. 
Rất nhiều sinh viên tụ tập, đi lại thư giãn quanh quảng trường. Những gương mặt, những ánh mắt, hành động, cử chỉ, lời nói của họ đều toát lên vẻ lịch lãm, thông minh và tự tin. Trong môi trường của Stanford, môi trường của Thung lũng Silicon cùng với năng lực nổi trội tôi hoàn toàn tin vào tương lai tươi sáng đang chờ đón họ.
Qua quảng trường, sừng sững hai trụ cổng trường vuông vức bằng đá uy nghi. Trải dài hai bên cổng trường là hai dãy nhà vòm cuốn phong cách Tây Ban Nha như hai hàng rào xinh xắn chạy dài. Bước vào bên trong khuôn viên du khách ngỡ ngày trước vẻ đẹp cổ điển của tòa tháp, của thánh đường thờ Thiên Chúa, những ô tiểu cảnh, những vườn hồng đầy hương sắc, công trình đầy ý nghĩa tưởng niệm người chồng của bà Stanford...
Theo chân du khách vào trong thánh đường, một thế giới của cái đẹp như thôi miên mọi người. Từ những bức tranh trải dài hai bên thánh đường đến trung tâm tượng Chúa trên cây thánh giá, từ nền nhà, ô cửa kính tranh màu đến tranh mái vòm, từ chi tiết hoa văn đến phong cách kiến trúc, có thể nói đó là điểm nhấn đầu tiên khi người ta đến nơi đây.
Cả ngày cuốn hút dạo thăm những tòa nhà lịch sử tiêu biểu của ngôi trường, những công trình kiến trúc hình chữ nhật xây dựng bằng đá và được nối với những lối đi có mái vòm bán nguyệt theo phong cách thuộc địa Tây Ban Nha quen thuộc thường thấy ở California. Phần lớn những tòa nhà của Stanford đều xây bằng đá sa thạch. Mái lợp bằng ngói đỏ hòa hợp với nền trời xanh của miền đất này thật hài hòa.
Chúng tôi đi thăm ngôi Nhà Hóa học, Nhà Thư viện, Nhà Encina, Khu Dự trữ Sinh quyển, sân golf và hồ nước… Cuối cùng là Bảo tàng Nghệ thuật của Trường Stanford. 
Tầng 1 của bảo tàng có 4 phòng: phòng 101, 105, 106, 108 trưng bày nghệ thuật châu Á. Nó bao gồm nhiều tác phẩm quý hiếm từ ngàn năm trước công nguyên đến thời kỳ trung đại, từ những tác phẩm đồ gỗ, đồ đá, đồ đồng, sắt, đến kim loại quý như vàng bạc, đá, gốm sứ, tranh, tượng… tất cả đều phản ánh lịch sử nghệ thuật của nhiều khu vực, nhiều quốc gia trong quá khứ.
Chúng tôi không ngờ trong bảo tàng có bộ sưu tập gốm sứ thời nhà Lê, những chiếc ấm, những chiếc đĩa men ngọc hoa văn tím quen thuộc của Việt Nam. Thật xúc động! Và còn một số hiện vật, đặc biệt là Tượng Nhà mồ Tây nguyên cách đây mấy trăm năm được lồng trong khung kính lớn (tôi nghĩ Tượng nhà mồ Tây nguyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, chắc chắn thua về mặt tuổi tác, về công nghệ bảo quản so với ở đây).
Tầng 1 còn có hai phòng: phòng 121, 122 trưng bày các tác phẩm sưu tầm của gia đình ông bà Stanford bao gồm nhiều tác phẩm rất hiếm. Tiếp đến là các phòng trưng bày các tác phẩm nghệ thuật châu Phi, các phòng trưng bày các tác phẩm của Rodin, một họa sĩ, một nhà điêu khắc Pháp nổi tiếng trong và ngoài giới nghệ thuật; các phòng trưng bày nghệ thuật đương đại và đặc biệt là cả một vườn tác phẩm điêu khắc trưng bày ngoài trời. Tiêu biểu là bức phù điêu nổi tiếng Cổng địa ngục của Rodin (Rodin’s Hell’s Gate).
Tầng 2 có 11 phòng trưng bày các tác phẩm nghệ thuật theo thứ tự thời gian của châu Mỹ và châu u từ thời cổ đại, Trung đại đến hiện đại. Đặc biệt là có phòng trưng bày những tác phẩm đương đại của các họa sĩ nổi tiếng trên thế giới... 
Một ngày trôi đi nhanh chóng. Chúng tôi chỉ còn thời gian đi lướt bằng ô tô qua một số tòa nhà lịch sử của ngôi trường. Như mọi người đều biết, Stanford rộng đến 31,1km2, có lẽ phải dành vài ngày tìm hiểu thì người ta mới tạm hiểu về ngôi trường này. Rất tiếc phải chia tay với Stanford, ngôi trường để lại trong tôi rất nhiều cảm nghĩ và cả những nuối tiếc một thời!
Read More

Thăm Trường Đại học Chicago

Leave a Comment
Chúng tôi đến thăm Trường Đại học Chicago (The University of Chicago). Đây là trường đại học nghiên cứu tư thục, một trường phi lợi nhuận (phần lớn các trường tư thục của Mỹ là trường phi lợi nhuận, hội đồng quản trị trường không nhận lương). Trường được Hội Giáo dục Baptist Hoa Kỳ thành lập năm 1890 từ khoản tiền hiến tặng của tỷ phú dầu lửa John D. Rockefeller.
University of Chicago bao gồm Trường Đại học Chicago (College of Chicago) và 6 trường chuyên nghiệp (School) cùng với một trường giáo dục thường xuyên. Trường Đại học Chicago còn có 4 phân khoa sau đại học: Khoa Sinh học, Khoa Vật lý, Khoa Xã hội và Nhân văn. 6 trường chuyên nghiệp là Trường Y khoa (The Pritzker School of Medicine), Trường Kinh doanh (The Booth School of Business), Trường Thần học (The Divinity School), Trường Luật (The Law School), Trường Nghiên cứu Chính sách Công (The Harris School of public Policy Studies) và Trường Quản trị Dịch vụ Xã hội (The School of Social Service Administration). Ngoài ra nhà trường còn điều hành 12 viện nghiên cứu, 6 thư viện lớn, một Trung tâm Y khoa, 113 Trung tâm Nghiên cứu theo dự án và một hệ thống trường thực nghiệm từ mầm non tới THPT (University of Chicago Laboratory Schools).
Năm học 2018, theo thống kê trên trang web University of Chicago, nhà trường có 2.168 giảng viên, 5.134 sinh viên đại học, 9.820 học viên sau đại học. Học phí bình quân một năm trên 41.000 đô. Tiền tài trợ của trường hiện có khoảng 7 tỷ đô la. Nếu so sánh số tiền tài trợ của Đại học Chicago với số tiền tài trợ của Đại học Harvard 40 tỉ đô thì quả là khiêm tốn. Nhưng chỉ với 7 tỷ đô thì cũng đã đủ là niềm mơ ước của hầu hết số các trường tư nổi tiếng trên thế giới.
Với Trường Đại học Chicago, vấn đề quan trọng là phát triển các lĩnh vực học thuật khác nhau chứ không phải là vấn đề tiền. Tiêu chuẩn để được vào nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại trường cực kì khắt khe. Chưa đến 10% các ứng viên sáng giá được nhận vào trường. Khẩu hiệu cho mỗi cán bộ giáo viên, nhân viên và sinh viên của Đại học Chicago là “Hãy làm giàu thêm kiến thức và nhờ đó làm phong phú thêm cuộc sống của nhân loại”. Với tinh thần đó, Đại học Chicago đã xây dựng được những thương hiệu nổi tiếng riêng biệt cho mình: Trường phái Kinh tế học Chicago, Trường phái Xã hội học Chicago, Trường phái Phê bình Văn học Chicago, Trường phái Nghiên cứu Tôn giáo Chicago, Trường phái Khoa học Chính trị cùng với Thuyết hành vi và Phong trào Luật, Kinh tế học Phân tích Pháp lý…
Đại học Chicago luôn được xếp là một trong những trường đại học hàng đầu của Mỹ. Năm 2017 trường được một số tổ chức đánh giá các trường đại học quốc tế có uy tín xếp đứng thứ 3 trong top 10. Ngôi trường này đã quy tụ và đào tạo được 89 người từng đạt giải thưởng Nobel (trong số này hiện có 10 giáo sư đang trực tiếp giảng dạy tại trường), 49 học giả Rhodes và 9 người nhận Huy chương Fields cùng hàng trăm những giải thưởng danh giá khác. Giáo sư Ngô Bảo Châu, nhà toán học nổi tiếng người Việt cũng giảng dạy ở trường này. 
Tôi băn khoăn tự hỏi, điều gì khiến nhân tài của cả thế giới đều đổ dồn về Mỹ. Có lẽ không phải là vấn đề tiền bạc. Trung Quốc có 8 bộ óc lỗi lạc nhất được giải thưởng Nobel trong các lĩnh vực khoa học, trước và sau khi nhận giải thưởng cao quý này, họ đều nhập quốc tịch Mỹ. Chắc chắn Trung quốc có thừa tiền để đảm bảo cuộc sống vật chất cho các nhà khoa học và gia đình của họ, nhưng vẫn không giữ chân được những con người xuất chúng ở lại quê hương.
Giáo sư Ngô Bảo Châu, người từng được một trường đại học hàng đầu của Trung Quốc mời về làm việc với mức lương cao hơn ở Mỹ nhưng ông đã khước từ lời mời. Tại sao vậy? Chẳng lẽ vấn đề mấu chốt là nước Mỹ đã tạo ra được một môi trường kinh tế, xã hội, chính trị và học thuật để kích thích các nhà khoa học nghiên cứu, sáng tạo và phát triển. Cũng chính vì thế Giáo sư Đàm Thanh Sơn, giáo sư vật lý nổi tiếng người Việt, người được Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ phong tặng danh hiệu Viện sĩ mới giã từ cương vị giáo sư giảng dạy ở Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva lừng danh mang tên ML. Lomonosov để đến trường đại học Mỹ làm việc.
Nhìn chung, khuôn viên Trường Đại học Chicago cũng giống như khuôn viên các trường đại học khác tôi đến thăm: Đều rất rộng, đều rợp bóng cây xanh, đều thênh thang những thảm cỏ, đều rực rỡ với những vườn hoa và hương thơm ngát, đều tràn ngập không khí thể thao, âm nhạc và học thuật. 
Ngắm nhìn kiến trúc gothic của những tòa nhà từ cuối thế kỉ 19 đầu thế kỷ 20, những tòa nhà hiện đại từ những năm 1930 đến những năm 1980, và những tòa nhà siêu hiện đại từ những năm 1990 trở lại đây, người ta vừa thấy được bề dày lịch sử cũng như vừa thấy được những nét kiến trúc độc đáo, hiện đại, đẹp nhất thuộc thành phố Chicago.
Con gái và bạn của con gái đưa tôi đến trước một tòa nhà, một tòa nhà đồ sộ, nằm trên trục chính của trường Đại học Chicago. Tòa nhà chia làm 3 khối liền nhau, hai khối 4 tầng nằm trải dài hai bên. Ở giữa là khối nhà 5 tầng và trên chính giữa của khối nhà 5 tầng sừng sững một đài tưởng niệm hình khối vươn lên trời cao. Đó là Thư viện Harper, thư viện mang tên người hiệu trưởng đầu tiên định hình con đường đi cho Đại học Chicago, một con người can đảm, đầy nhiệt huyết và có tầm nhìn xa trông rộng. 
Thư viện Harper lưu trữ gần 9 triệu đầu sách, là một trong những thư viện lớn nhất của Mỹ và cũng là một trong số 15 thư viện đẹp nhất thế giới. Thư viện Harper là thư viện trung tâm nằm trong hệ thống 6 thư viện trường trực thuộc và 11 thư viện khoa ở các cơ sở.
Được các kiến trúc sư nổi tiếng của Viện Nghệ thuật Chicago thiết kế, thư viện được lấy cảm hứng từ các thư viện nổi tiếng của châu Âu
và Mỹ theo phong cách gothic thanh lịch. Đặc biệt là những nét chạm khắc tinh xảo của Thư viện Oxford, Cambridge, Harvard, Yale… được các kiến trúc sư đưa vào thi công xây dựng tại thư viện này. 
Trong những năm gần đây có một số thay đổi. Hai triệu bản sách được chuyển tới các thư viện thành viên để lấy không gian cho các lớp học và cho các phòng ban của trường. Hiện tại tầng trên cùng của tòa nhà chuyển thành không gian mở dành cho các nhóm hợp tác và nghiên cứu 24 giờ với cái tên gọi mới là Harper Memorial Library Commons.
Không chỉ là thư viện có số lượng sách khổng lồ với những cuốn sách quý hiếm từ thời con người có chữ viết, từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại cho đến ngày nay mà thư viện còn có kiến trúc độc đáo bên trong khiến chúng tôi hoàn toàn bị mê hoặc. Từ lúc tôi bước vào tòa nhà đến khi lên tầng trên cùng, tất cả hành lang, trần nhà, cửa ra vào đều giống như những tác phẩm nghệ thuật. Vào phòng đọc chính, phòng rộng thênh thang nhưng không gợi cho người ta cái cảm giác chống chếnh vì những tấm thảm màu ghi ấm cúng trải kín khắp căn phòng. Toàn bộ vòm trần phòng đọc làm bằng thủy tinh mờ sáng dìu dịu. Áp sát mái vòm là một mạng lưới giá đỡ bạch kim như những ngôi sao gắn kết nhau. Bên dưới giá đỡ, những hàng đèn chùm màu sang trọng tỏa sáng kỳ ảo.
Dọc theo phòng đọc, hai dãy khung cửa sổ gỗ cuốn vòm màu cánh kiến. Bên trong khung cửa sổ trang trí những tấm kính màu in hình những bức tranh nghệ thuật tinh xảo. Trung tâm của căn phòng có đến hàng trăm bộ bàn ghế sang trọng bằng gỗ dành cho người đọc. Trên mỗi chiếc bàn đọc, người ta đặt một chiếc đèn chụp pha lê có núm điều chỉnh độ sáng.
Tôi thử ngồi lên một chiếc ghế. Thật thoải mái. Chỉ còn thiếu một cuốn sách là tôi trở thành một bộ phận trong số hàng trăm sinh viên đang ngồi trong căn phòng tráng lệ và sang trọng này. Tôi thầm hy vọng một trong những đứa cháu tôi sau này sẽ được nhận vào ngôi trường danh giá này.
Tôi và Vân đi vào tham quan hai khu giảng đường bên phải và bên trái tòa hành chính và thư viện. Qua các khung cửa sổ, tôi nhận thấy số sinh viên đại học, sau đại học rất ít. Sinh viên đại học chỉ khoảng 20 người, còn sinh viên sau đại học chỉ có khoảng 10 người.
Tôi đẩy cửa vào một giảng đường lớn còn trống. Đèn tự động bật sáng. Những bộ bàn ghế màu xếp theo hình cánh cung bóng sáng. Trên mặt bàn đều có ổ cắm điện cho sinh viên sử dụng máy tính. Tôi ngồi xuống nhìn lên phía trước. Chính giữa là chiếc bảng tương tác. Hai bên là hệ thống bảng đen. Gọi là hệ thống bảng đen vì mỗi hệ thống bảng có tới 5 bảng xếp bên trong. Vân đẩy kéo từng chiếc một cho tôi xem… Phải nói cơ sở vật chất, tiện nghi, tỷ lệ giảng viên trên số lượng sinh viên đều chất hơn so với những trường đại học công ở Mỹ tôi từng đến tham quan như Đại học Missouri, Đại học Colorado, Đại học Kansas, mặc dù các trường công trên đều có những giáo sư đoạt giải thưởng Nobel.
Cả ngày bạn Vân dẫn chúng tôi đi thăm các trường thành viên và các khoa trực thuộc. Bạn Vân có chồng đang học sau tiến sĩ khoa y sinh tại Đại học Chicago nên chị rất am hiểu về nhà trường. Chị giới thiệu cho tôi hoàn cảnh ra đời cũng như những nét kiến trúc độc đáo, hiện đại của từng building. Từ sáng đến tối chúng tôi cứ mải mê thăm thú từng ngôi trường thành viên.
Thấy tôi quan tâm đến hệ thống thư viện, chị “hướng dẫn viên” gợi ý nhỏ nhẹ: “Ông có muốn đến Thư viện Joseph Regenstein không? Đó mới là thư viện hiện đại nhất của Đại học Chicago. Ngày mai cháu bận. Ông và Vân cứ đi”. Không đến thăm Thư viện Regenstein thì thật uổng. Vả lại tôi cũng chưa hoàn thành công việc mà tổ truyền hình nhờ tìm một số cuốn sách có liên quan đến Thung lũng A Sầu. Vì vậy chúng tôi quyết tâm sáng hôm sau đến thư viện này. 
Một trường đại học mà có tới 17 thư viện lớn nhỏ. Chỉ điều đó thôi cũng đã thể hiện được lí tưởng cao đẹp của trường đại học danh tiếng này. Tôi còn được biết hệ thống thư viện không chỉ phục vụ cán bộ giáo viên, sinh viên của nhà trường mà còn phục vụ bất kì người dân nào trong thành phố. Ai cũng có quyền tới thư viện đọc và mượn sách. 
Tôi là người Việt. vậy mà ở Mỹ tôi có thể vào bất cứ thư viện công, tư nào nếu tôi muốn. Vào thư viện Trường Đại học Chicago, tôi chỉ cần đưa cuốn hộ chiếu tại phòng văn thư, chưa đầy một phút người ta cấp cho tôi một chiếc thẻ để ra vào tự do. 
Trong cái thư viện bảy tầng đồ sộ, có cả những trang sách cổ chưa giải mã được, sách tiếng La Tinh, sách ngôn ngữ châu u, tiếng Trung, chúng tôi hoàn toàn hoang mang không biết phải bắt đầu từ đâu. Vân đến bên chiếc bàn dành cho nhân viên văn phòng. Một nam nhân viên đã luống tuổi hướng dẫn cách tra cứu trên máy tính. Dường như sợ người đọc mới đến chưa quen nên ông ta tận tình ghi ra số hiệu giá sách có những cuốn sách chúng tôi cần. 
Không biết ngẫu nhiên hay có một quy ước thống nhất, cả ba thư viện trường đại học mà tôi đến thăm, giá sách đề tài viết về chiến tranh Việt Nam đều có ký hiệu DS. Hàng ngàn cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam. Tôi xin mượn lời của một giáo sư người Trung Quốc: “thứ gì không có ở Trung Quốc thì cứ đến Mỹ mà tìm”. Nếu thay từ Trung Quốc bằng từ Việt Nam có lẽ câu nói trên vẫn đúng với tôi. Theo thống kê trên máy tính, có khoảng 4.500 cuốn sách người Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam. Một con số thật khó mà tin được.
Cả buổi sáng chúng tôi khám phá 7 tầng của tòa nhà thư viện. Nhiều kho sách đầy ắp những giá sách. Lần đầu tiên tôi nhận thấy hệ thống giá sách được thiết kế nằm trên đường ray. Người ta phải đẩy giá sách trượt trên dường ray để tạo khoảng trống tìm sách. Đặc biệt có một tòa nhà vòm kính đặc biệt ở tầng 2, tòa nhà này hoàn toàn lấy ánh sáng ngoài trời dành cho sinh viên đọc và giải trí. Thật ngỡ ngàng trước một kiến trúc độc đáo có một không hai...
Theo yêu cầu của chúng tôi, có một nhân viên hướng dẫn đưa đi thăm Hệ thống trường giáo dục thực nghiệm. Tôi không biết mục đích chiến lược của mô hình hệ thống trường thực nghiệm ở trường đại học Chicago là gì. Nó là hệ thống trường dành cho các nhà khoa học sư phạm, các giáo viên sư phạm của trường đại học nghiên cứu, thể nghiệm những ý tưởng liên quan đến quá trình phát triển nhận thức, phát triển tâm sinh lí trong khoa học giảng dạy và rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp cho giáo sinh hay là một trường thực nghiệm theo đuổi một triết lý giáo dục, một nguyên lí giáo dục, một phương thức giáo dục nào đó.
Trường thực nghiệm của Trường Đại học Chicago được John Dewey, một nhà triết học, một nhà tâm lý học, một nhà giáo dục và cải cách giáo dục thành lập năm 1896. Trải qua hơn một thế kỷ phát triển, hệ thống các trường trở thành một cơ sở giáo dục tốt nhất ở Chicago. Nhà trường đã cung cấp nhiều học sinh ưu tú theo học ở Trường Đại học Chicago và cung cấp nhiều học sinh ưu tú theo học ở các trường đại học hàng đầu của Mỹ cũng như hàng đầu của thế giới. Năm học 2015-2017 có 1850 học sinh, phần lớn là con em cán bộ giáo viên, nhân viên của trường Đại học Chicago. Ngoài ra nó còn thu hút một số học sinh xuất sắc từ 45 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới theo học tại đây.
Qua tìm hiểu tôi thấy mô hình hệ thống trường thực nghiệm của Đại học Chicago hoàn toàn không giống như tôi nghĩ. Nó cũng không giống với các mô hình trường quốc tế ở Việt Nam. Mục tiêu ban đầu của hệ thống trường thực nghiệm là xây dựng các nhà trường thành môi trường mà các giáo viên và học sinh cùng nhau học tập. Học sinh học tập và trải nghiệm thông qua việc vừa học vừa làm, vừa học vừa chơi. Nhà trường hoàn toàn tôn trọng tính độc lập và tinh thần dân chủ của cả thầy lẫn trò. Triết lý của nhà trường là tự do và dân chủ.
Theo thời gian những mục tiêu trên được bổ sung và phát triển thêm những nguyên lý như phát huy tính tích cực chủ động; phát triển tư duy tích cực. Ngày nay, ngoài những giá trị trên, các nhà trường trong hệ thống còn tiếp tục cam kết tăng cường Chương trình giáo dục tiên tiến (Chương trình giáo dục tiên tiến cho từng khối lớp được phát tới từng phụ huynh, được cụ thể hóa trong từng học kỳ, từng tháng và công khai đăng tải trên trang mạng của nhà trường) để giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, phê phán và khả năng hợp tác, sáng tạo cũng như xây dựng ý thức học tập suốt đời. Mô hình này cũng na ná như mô hình các trường tư của Mỹ mà tôi đã đi thăm. 
Tôi có cảm nhận hình như trường tư Mỹ tiên tiến và có sức sống hơn các trường công. Ở Missouri, ở Colorado, ở Chicago và ở cả thủ đô Washington DC, tôi thấy nhiều người Mỹ phàn nàn về chất lượng của các trường công. Ngay cả trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhìn chung dư luận cho rằng các trường công của họ đang có vấn đề. Cho nên đa số tầng lớp trí thức và những gia đình trung lưu đều cho con đi học trường tư ngay từ mầm non. 
Cho dù trường công của Mỹ có trì trệ đi chăng nữa thì tôi vẫn thấy, những điều mà cải cách giáo dục Việt Nam sắp làm là chuyển từ nền giáo dục từ trang bị kiến thức cho học sinh để đi thi sang nền giáo dục phát triển năng lực, kỹ năng cần thiết cho học sinh, thì người Mỹ họ đã làm cách đây hàng thế kỉ rồi. Trong khi chúng ta vẫn đang loay hoay cấu trúc lại các cấp học, đang tranh luận chương trình và sách giáo khoa, tức là bàn cãi xem học cái gì và dạy cái gì, thì người Mỹ chỉ tranh luận với nhau học để làm gì và phải học như thế nào. Điều đó có nghĩa là chúng ta mới tư duy giáo dục ở thời kì Văn minh Nông nghiệp và tiền Công nghiệp (nền văn minh đẻ ra nền giáo dục sử dụng bút lông, bút máy/bút bi). Còn người Mỹ đang ở một nền giáo dục của nền văn minh tri thức, của nền văn minh 3.0 và 4.0 (nền văn minh đẻ ra nền giáo dục sử dụng máy tính, dựa trên cuộc cách mạng số, Internet vạn vật).
Hệ thống trường thực nghiệm Chicago bao gồm 5 trường: Trường mầm non, Trường tiểu học từ lớp 1 đến lớp 2, Trường tiểu học từ lớp 3 đến lớp 5, Trường THCS từ lớp 6 đến lớp 8, Trường THPT từ lớp 9 đến lớp 12. Trường có chương trình riêng cho từng cấp học và từng môn học; có sách giáo khoa của trường riêng cho từng cấp học và từng môn học; có mạng riêng cho từng cấp học và từng môn học. Học sinh của trường có ưu thế là được sử dụng tất cả các nguồn lực của trường Đại học Chicago từ thư viện, phòng thí nghiệm đến việc tiếp xúc, giao lưu, học tập, thậm chí được cùng làm việc với các sinh viên xuất sắc và các nhà khoa học hàng đầu thế giới.
Người giới thiệu dẫn tôi đến thăm tòa nhà Blaine Hall, tòa nhà dành cho các cháu học mầm non. Tòa nhà này xây năm 1903, mang phong cách kiến trúc cổ điển. Bên ngoài tòa nhà có rất nhiều bụi dây leo phủ kín từ chân tường lên đến tầng ba và lên đến tận mái nhà. Nó gợi cho người tham quan cái cảm giác rêu phong và trường tồn theo thời gian của ngôi trường.
Các phòng học đều trải thảm, đồ chơi xếp đầy trên các giá gỗ, có các góc học tập theo chủ đề. Mỗi lớp khoảng 15 đến 20 học sinh, một cô giáo chủ nhiệm và hai cô giáo phụ. Theo lời người giới thiệu và cô trợ lý giám đốc điều hành, các cháu mầm non của trường được học cách chơi với đồ chơi và chơi để tìm hiểu, khám phá. Các giáo viên tạo điều kiện cho các cháu chủ động làm quen với các bạn, phát triển ngôn ngữ, năng lực tư duy và phát triển nhận thức xã hội. Ngoài ra các cháu còn được học và thực hành cách chia sẻ những ý tưởng, biết lắng nghe người khác, biết làm thành viên của một nhóm. Giáo viên trú trọng đến các hoạt động hỗ trợ các cháu nhận biết toán học, nhận biết chữ viết và làm quen với môi trường xung quanh… 
Tiếp theo tôi đến tòa nhà Belfield Towers và tòa nhà Judd Hall. Hai tòa nhà này dành cho học sinh tiểu học. Kiến trúc của chúng cũng giống như tòa nhà Blaine Hall. Trong phòng học, các thiết bị dạy, học và bàn ghế cũng giống như các trường phổ thông khác của Mỹ mà tôi đã có dịp đến thăm. Mỗi lớp học cũng vẫn chỉ khoảng 20 học sinh, một giáo viên chủ nhiệm và một số giáo viên chuyên biệt. Cô giáo trợ lý giám đốc điều hành cho tôi biết, học sinh tiểu học được cung cấp kiến thức cốt lõi về nghệ thuật ngôn ngữ, toán học, khoa học tự nhiên và xã hội. Ngoài ra học sinh còn được học âm nhạc, nghệ thuật, thể dục, máy tính, ngoại ngữ theo phương châm nhà trường phải giúp đỡ học sinh khả năng sáng tạo, tinh thần hợp tác; giúp học sinh học cách suy nghĩ; khuyến khích trí tưởng tượng, sự tò mò khoa học và ý kiến cá nhân; tìm hiểu vấn đề qua hoạt động học và thực hành. 
Tòa nhà Trường THCS & Trường THPT cùng với các phòng chức năng được xây dựng từ cuối những thập kỉ trước, rất hiện đại nhưng vẫn hài hòa trong khung cảnh chung. Học sinh hai cấp này bắt buộc phải học các môn nghệ thuật ngôn ngữ, toán học, khoa học, khoa học xã hội và nhân văn, thể dục, âm nhạc, nghệ thuật và một số môn tự chọn giống như các trường công mà tôi đã được đến thăm. Chỉ có điểm khác là ở Trường THCS thực nghiệm, vì tính phức tạp tâm sinh lí độ tuổi, nhà trường quy định mỗi học sinh phải có một giáo viên phụ trách hay một cố vấn thường xuyên nói chuyện về tất cả các vấn đề mà không được phép phê phán học sinh. Có nghĩa là học sinh có quyền tự do trong tất cả các vấn đề trừ việc vi phạm những điều pháp luật Hoa Kỳ cấm.
Ở cấp THPT, chương trình có một số môn bắt buộc và tự chọn mang tính nâng cao, mang tính thử thách hơn khung chương trình chung quy định. Mục đích cũng chỉ để phát huy tính độc lập và sáng tạo của học sinh để học sinh biết trình bày, phân tích kiến thức trong sách vở và những vấn đề trong thực tế cuộc sống với tinh thần tự tin; đồng thời hoàn thiện một số kĩ năng để học sinh bước vào cuộc sống sinh viên.
Khi ra về, tôi được cô trợ lý giám đốc điều hành tặng một quyển sách giới thiệu tổng quan về hệ thống các trường thực nghiệm. Tôi nhận ra rằng có 4 cụm từ mà trường thực nghiệm Chicago thường xuyên nhắc đến. Bồn cụm từ đó là: Tính độc lập, tư duy phản biện, sự hợp tác và tinh thần sáng tạo. Họ ít nói về mục tiêu. Họ ít nói về nguyên tắc. Họ không nói về kế hoạch, về chỉ tiêu, về biện pháp, về việc phấn đấu, về việc thi cử. Họ rất ít đề cập đến thành tích của nhà trường. Có chăng nói đến thành tích thì đó là thành tích trong lĩnh vực thể thao và âm nhạc.
Không biết có nên kết luận giáo dục phổ thông Mỹ, giáo dục đại học Mỹ là nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới không, nhưng có điều chắc chắn rằng chính nền giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học đã góp phần không nhỏ để nước Mỹ trở thành một siêu cường trong gần 100 năm ở thế kỷ 20 và có lẽ nó còn góp phần không nhỏ để nước Mỹ có thể giữ được vị thế siêu cường số 1 trong suốt thế kỷ 21. Bởi một lẽ đơn giản, học sinh của họ là những con người có tính độc lập; có tư duy tích cực và phản biện; có tinh thần hợp tác; có sự sáng tạo. Đó là những phẩm chất đảm bảo cho đội ngũ nhân lực của họ đủ sức cạnh tranh và thành công trong nền kinh tế tri thức, nền kinh tế khởi nguồn từ chính nước Mỹ.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.