Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Tản mạn về nước Mỹ

Leave a Comment


 Sau một chuyến đi dài hơn một tháng qua bốn bang của Mỹ tôi lại quay trở về Longmont, bang Colorado vào lúc 9h00. Dù đã thấm mêt tôi vẫn dừng lại cùng dòng người xem màn bắn pháo hoa của thành phố.
Thực ra vào đêm hôm trước, tại bữa tiệc chiêu đãi chứa chan tình cảm của chị Thúy, người phụ nữ Quảng Ninh lấy chồng Mỹ ở thành phố Columbia, Missouri, chúng tôi đã được xem một màn pháo hoa ba mươi phút của riêng những nhà giàu trong khu phố, tổ chức chào mừng quốc khánh Mỹ bên một bờ hồ nước rộng mênh mông…
 Sau khi thưởng thức màn pháo hoa công, tôi còn chứng kiến rất nhiều nhà tư bắn pháo hoa lên bầu trời. Cả một vùng sáng bừng lộng lẫy bao sắc mầu huyền ảo. Đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến cảnh giới thượng lưu Mỹ bắn pháo hoa chào mừng quốc khánh. Phải chăng đây là phong cách chơi của những người giàu, thể hiện tình cảm của mình với đất nước hay là sự phô diễn vị thế của họ trước cộng đồng?
 Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) tổng sản phẩm quốc nội Mỹ (GDP) năm 2018, nền kinh tế lớn nhất thế giới đạt 20.494,1 tỷ USD. Vị trí tiếp theo là Trung Quốc đạt 13.608,2 tỷ USD. Rồi đến Nhật, Đức, Anh… Việt Nam đạt 240 tỷ USD. GDP bình quân đầu người của Mỹ nằm trong số 10 quốc gia cao nhất thế giới khoảng 62.606 USD. Tuy vậy nước Mỹ vẫn có tới gần 40 triệu người nghèo trên tổng số 327 triệu dân.
 Theo Tổng cục Thống kê Hoa Kỳ số hộ gia đình Mỹ giàu có chiếm gần 20%, sở hữu hơn một nửa tổng thu nhập của đất nước, bình quân từ 1,4-1,5 triệu USD/năm. Số hộ trung lưu chiếm 52%. Số hộ bình thường và nghèo chiếm gần 30%. Chính xác số hộ nghèo theo tiêu chuẩn Mỹ là khoảng 12%, bình quân từ 17.500-20.000 USD/ năm (Gia đình thu nhập bình quân theo đầu người dưới 1000 USD là hộ nghèo). Trong số 12% có khoảng 500.000 người vô gia cư nghèo đói sống hoàn toàn vào trợ cấp xã hội (Phần lớn là người nhập cư).
 Mặc dù được xem là một quốc gia giàu có và phát triển nhất thế giới, song khoảng cách giàu nghèo và sự phân hóa giai cấp ở Mỹ ngày càng rộng. Theo số liệu mới nhất khoảng cách thu nhập trung bình giữa hộ giàu và hộ nghèo lên tới hơn 225 lần.
Tôi thấy rất rõ điều này qua những ngôi nhà hàng chục triệu đô với những ngôi nhà sập sệ điêu tàn bên những vũng nước lầy bùn. Tôi thấy rất rõ cảnh những người đàn ông, đàn bà sang trọng bên những chiếc ô tô Bugatti Chiron (3,2 triệu USD), Pagani Huayra Roadster (2,4 triệu USD), Ferrari (2 triệu USD)… bên cạnh những người đàn ông, đàn bà nhặt rác và những người vô gia cư sống lắt lay bên vỉa hè giữa đường phố sầm uất. Tôi thấy rõ những đứa trẻ ngồi trên Sofa da bò Ý như những hoàng tử công chúa được các vệ sĩ đứng kèm trước cửa biệt thự với những đứa trẻ nhếch nhác sống với 3, 4 USD một ngày tụ tập ven bờ hồ xem pháo hoa…
Read More

Một buổi xem hầu đồng

Leave a Comment

 Kể từ khi Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ/Tứ phủ chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại ngày 1/12/2016, hôm vừa rồi tôi mới có dịp theo một gánh đồng về Bắc Ninh dự hầu đồng nhân dịp lễ Vu Lan.
 Theo một số nhà nghiên cứu tôn giáo, trên cơ sở của tín ngưỡng thờ nữ thần, đạo Mẫu và Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi được hình thành và phát triển từ thế kỷ 16 đến nay. Nó trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân ở nhiều nơi khắp Bắc, Trung, Nam.
 Cảnh quan thu hút mọi người là ngôi chùa cổ rợp trong bóng cây, đẹp cả trong lẫn ngoài, nhưng ngôi đền thờ mẫu thì hoàn toàn mới. Tôi cho rằng xưa kia nơi đây không có đền thờ mẫu. Vì có thì người ta thường xây dựng theo nguyên tắc “tiền Phật hậu mẫu. Vả lại nơi đây là “quê gốc” của tín ngưỡng Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (thờ các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, sấm, chớp) . Tôi nghĩ việc thờ mẫu Tam phủ “không phải đất” hoặc không phổ biến ở khu vực này.
 Vì không phải đất nên ngôi đền thờ mẫu không theo đúng quy chuẩn. Trước hết là về hướng. Đền thờ mẫu quay về hướng đông, hướng nắng ban mai đầy dương khí. Theo quan niệm tâm linh sẽ làm tán âm khí, thần linh khó có thể về ngự buổi sáng được. Nếu quay về hướng nam thì thật tuyệt. Có một hồ nước rộng trước mặt. Bên trái, bên phải đều có một con lạch. Theo thuật phong thủy, có thanh long bạch hổ tả hữu. Thật đắc địa. Đáng tiếc khi xây dựng người ta đã tùy tiện, chủ quan…
Trong điện thần, bên trên bỏ trống, người thiết kế xây dựng không bài trí đôi “bạch xà, thanh xà”. Ở chính hậu cung Tam tòa Thánh mẫu thì khá ổn. Ba pho: Đệ Nhất Thượng thiên, Đệ nhị Thượng ngàn, Đệ Tam Thoải phủ đều đúng quy cách. Hàng dưới là tượng Ngũ vị Tôn ông/quan. Tiếp theo là Tam vị Ông Hoàng (có nơi là Tứ phủ Ông Hoàng) khá chuẩn mực. Nhưng bên phải, gian thờ Động/Cung Sơn Trang và bên trái gian thờ Đức Thánh Trần thì không ổn.
 Ban thờ Động Sơn Trang chỉ có Chúa Sơn Trang, không có Cô Sơn Trang (Tín ngưỡng thờ Chúa Sơn Trang là tín ngưỡng cổ của người Việt, có khoảng từ 2000 năm trước. Tín ngưỡng thờ Mẫu mới có 600 năm nay. Tại sao lại phối thờ Chúa Sơn Trang trong điện thờ Mẫu? Tôi cho rằng đó là sự tiếp biến, dung hợp, linh hoạt trong văn hóa tín ngưỡng tâm linh của người Việt).
 Ban thờ Đức Thánh Trần có tượng Hưng Đạo Đại Vương, lại có cả tượng Cô, tượng Cậu bên cạnh. Đây là sự lầm lẫn đáng tiếc giữa quân gia thị thần của Mẫu và của Đức Thánh Trần (từ một vị anh hùng dân tộc trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông, Hưng Đạo Đại Vương đã trở thành một vị Thánh linh thiêng, là nhân vật trung tâm của một loại hình tín ngưỡng trong dân gian. Trải qua những biến động thăng trầm lịch sử, Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần luôn vận động, biến đổi. Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần dung hợp, đan xen và hội tụ với nhiều dạng thức tín ngưỡng khác như: Tín ngưỡng thờ Thần tiên, Thổ địa, Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, Tín ngưỡng thờ Mẫu...Tuy nhiên, sự đan kết giữa Tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Đức Thánh Trần là được thể hiện rõ nét nhất. Biểu hiện ở chỗ bất cứ nơi nào có đền, điện, phủ thờ Thánh Mẫu thì đều có ban thờ Đức Thánh Trần. Ngược lại, đền thờ Thánh Mẫu nào cũng đều có ban thờ Đức Thánh Trần, tạo nên mối quan hệ “Thánh Cha - Thánh Mẹ” theo nguyên tắc đối xứng âm-dương có một không hai trong đời sống tín ngưỡng của người Việt).
 Trong khoảng 4 giờ “cậu đồng” (nếu đồng là nam còn trẻ thì người ta gọi là cậu đồng, nếu đồng là nữ còn trẻ thì gọi là cô đồng; còn nếu có tuổi gọi là ông đồng hoặc bà đồng. Từ chuyên môn người ta gọi là Thanh đồng) hầu khoảng 15 giá/36 giá đồng của các vị thánh, chúa, quan, hoàng, cô, cậu… mỗi vị một màu quần áo, kiểu ăn mặc khác nhau với 5 màu chính: đỏ, vàng, xanh lá cây, xanh dương, và trắng. Mỗi màu tượng trưng cho một miền của vũ trụ: Miền trời, tượng trưng bằng màu đỏ (Thiên phủ), miền đất tượng trưng bằng màu vàng (Ðịa phủ), miền sông biển màu trắng (Thoải phủ), miền rừng núi màu xanh (Thượng ngàn phủ).
 Mỗi giá đồng là một lần trùm khăn đỏ, thay xiêm y, tô son, điểm phấn, đeo vòng, vấn khăn… với những điệu múa hương, múa lửa, múa quạt, múa cờ, múa kiếm, múa chèo đò, múa lụa… khá điệu nghệ. Mặc dù “cậu đồng’ còn trẻ (mới 26 tuổi) nhưng những động tác múa, vẻ mặt, cảm xúc biểu hiện giống hệt tính cách các bà, các quan, các cô, các cậu. Tôi có cảm giác các động tác, biểu hiện của cậu đồng không khác gì của một nghệ sĩ đích thực.
 Mỗi giá “cậu” đều ban lộc: tiền, hoa, trái quả, thuốc lá, ly rượu… Tất cả đều được mọi người xung quanh đón nhận vui vẻ. Riêng tôi cũng nhận được lộc khoản dăm bảy chục ngàn đồng (Cách đây 5 năm, khi còn công tác ở một trường trung cấp chuyên nghiệp, trong lần đi tuyển sinh, tôi gặp một gánh đồng hầu mẫu Thoải. Tôi đã bỏ công việc để tham dự. Đó là một gánh đồng lớn với các con nhang giàu có. Các cung văn đều là những nghệ sĩ nổi tiếng. Hôm đó tôi được ban lộc tới hơn một triệu đồng, đủ để chuộc lỗi với anh em bằng một bữa tiệc chiêu đãi theo tinh thần “lộc bất tận hưởng”).
 Suốt buổi hầu đồng tôi được đắm mình trong tiếng nhạc với những bài hát văn đầy cảm xúc, còn gọi là hát chầu văn, hát bóng do các cung văn đàn hát thỉnh cầu các hàng về ngự. Giai điệu hát chầu văn khi thì mượt mà, khoan thai, sâu lắng khi thì dồn dập, khỏe khoắn, tươi vui. Đó là một loại hình diễn xướng cổ truyền, say đắm dễ đi vào lòng người. Nó là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng phục vụ quá trình nhập đồng hiển thánh của riêng Tín ngưỡng Tam phủ và Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần.
Chầu văn đi theo một giá đồng gồm có 4 phần chính. Thứ nhất là mời thánh nhập đồng. Thứ hai là kể sự tích và công đức của thánh. Thứ ba là xin thánh phù hộ. Cuối cùng là tiễn thánh.
 Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh nhằm ca ngợi công đức của các nhân vật ông hoàng, bà chúa cũng như ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ, của thiên nhiên, sự phô diễn những sản vật của non sông đất nước.
 Tâm điểm Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu là lúc Lên Đồng. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các ông đồng, bà đồng. Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.
 Trong số 11 con nhang xin thần linh và được gọi phán truyền có 5 người là đàn ông, 6 người là phụ nữ, luống tuổi có, trung tuổi có, trẻ có. Tôi tranh thủ hỏi chuyện họ. Một người cho tôi biết gia đình ông làm nhà trên một ngôi nhà vốn xưa là một nhà của địa chủ bị tịch thu chia cho dân nghèo. Ông cho biết trong gia đình hết người này bị đau ốm đến người khác, tức là bị âm hồn chủ nhà cũ “ám”. Ngài hứa sẽ giải quyết giùm việc này. Ông hoan hỷ nói với tôi: “Tôi chỉ cần gia đình bình an thôi. Có tốn kém chút ít cũng không ngại. Tôi hỏi ông có đúng mảnh đất làm nhà đúng như “cậu” phán không. Ông ta gật đầu. Tôi hỏi một người đàn ông khác, anh ta cho tôi biết “Cậu” gọi đúng tên số nhà, tên phố và gia cảnh người vợ mới mất của anh. “Cậu” nói với anh phải làm thêm một số việc nữa. Tôi hỏi một phụ nữ mới mua một căn nhà, chị kể thỉnh thoảng người nhà cứ thấy bóng một bà già trong nhà tắm. “Cậu” cho biết người đó là chủ cũ của ngôi nhà. Con cái bán nhà đi, “người ta” tiếc không muốn rời bỏ căn nhà đó. “Cậu” hứa sẽ giúp cho. Tôi hỏi một phụ nữ có con mới mất, khi gọi hồn, con chị cho biết là được vào hầu cửa Thánh nên đến với Mẫu để nghe phán truyền và Mẫu cũng nói như vậy. Tôi còn hỏi thêm một số chị em khác nhưng họ từ chối không trả lời.
 Bên cạnh cậu đồng có bốn phụ đồng (có gánh chỉ 2 phụ đồng, được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng) đi theo đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt... Ở gánh đồng này tôi được biết có một phụ đồng là thầy dạy của “cậu” đồng. Bà đã 85 tuổi. Bà chọn cậu đồng cưng là người thừa kế chân truyền của mình. Ngoài ra, các thành phần ngồi xem buổi hầu gồm khoảng 25 con nhang đệ tử. Tất cả đều thể hiện lòng tôn kính các vị thánh mỗi khi giáng ngự. Họ vỗ tay, nghiêng ngả, phụ họa, đưa đẩy hòa theo điệu múa hát của đồng và cung văn. Cùng với hương khói hòa quyện, tất cả cái không khí này tạo nên một cảm xúc thật đặc biệt.
 Để thánh nhập vào cậu, đầu tiên, cung văn bắt đầu hát hầu (hát hầu thường phải theo thứ tự. Trước tiên phải hát thỉnh hàng Tam tòa Thánh Mẫu, rồi đến hàng Quan, hàng Chầu, hàng Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu). Lúc đó, Cậu bắt đầu lảo đảo, ra dấu bằng tay, phủ vải đỏ lên mặt. Tùy vào các giá, cung văn sẽ hát các điệu thỉnh mời khác nhau. Tới khi thánh đã nhập, cậu hất khăn khỏi mặt, coi như bắt đầu quá trình ngự về của một vị thánh. Còn không, nếu thánh chỉ giáng qua thì cậu đồng lại ra dấu khác và cung văn lại chuyển sang hát mời vị khác.
 Sau khi hất khăn phủ, cậu đồng đang ở một "giá" mới và phải thay trang phục, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng... sao cho tương xứng với "giá" thánh nhập. Với các giá Quan, Hoàng thì cậu thường ăn mặc áo của quan lại thời xưa, có điểm đồ trang sức như trâm, thẻ ngà... Các giá Chầu Bà thì ăn mặc chỉnh tề theo lối phụ nữ nhà giàu, sặc sỡ và nhiều trang sức, vấn khăn củ ấu hoặc khăn xếp. Các giá Cô thì ăn mặc trẻ trung rực rỡ. Giá Cậu thì ăn mặc theo lối thanh niên, có khăn quấn.
Sau khi quần áo mặc chỉnh tề, cậu bắt đầu đứng dậy làm lễ. Đầu tiên cậu cầm hương qua một lớp bọc vải đỏ để dâng lên bàn thờ, quỳ làm lễ. Sau đó quay ra các con nhang đệ tử, cậu làm các nghi thức, chủ yếu là múa các điệu múa của“giá” mình. Các điệu múa của các hàng thường là: Hàng Quan thì múa Cờ, múa kiếm, long đao, khai quang. Hàng Chầu thì múa mồi, múa cờ, múa kiếm, múa quạt, tay không. Hàng cậu thì múa kiếm, múa Lân…
 Các điệu múa thường thể hiện tính cách của các nhân vật hay thể hiện sự vui vẻ làm việc thánh và cũng là cùng vui với mọi người. Có thể nói hầu đồng là một bảo tàng sống bảo tồn các loại múa cổ truyền của người Việt. Mỗi loại múa lại thể hiện một loại hoạt động nào đó trong sinh hoạt và lao động sản xuất. Chẳng hạn điệu múa Song đăng, dệt cửi, chèo đò, tung hoa, múa hương, múa quạt, múa lụa thể hiện rất rõ tính cách phụ nữ Việt.
 Trong lúc cậu đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả, đưa đẩy và múa may hưởng ứng theo nhịp câu hát. Những nắm tiền lẻ sau khi được cậu tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người đứng xem xung quanh nhặt lấy, cất giữ để lấy may.
 Sau giai đoạn "thăng hoa lên đồng" đó, vị thánh trong xác cậu đồng ngồi xuống, nghe hát văn, hút thuốc và uống rượu. Trong lúc đó các phụ đồng lấy quạt che xung quanh mặt, như một sự cách ngăn giữa trần tục và thánh thần. Rồi trong lúc nghe văn, vị thánh làm các thủ tục còn lại như khai quang, phán truyền, thưởng tiền và lộc cho cung văn hát hay cũng như cử tọa xung quanh. Tiếp theo cậu ra dấu, khăn đỏ lại phủ lên và đó là lúc thánh "thăng", kết thúc một giá thường chấm dứt bằng câu hát “xe loan Thánh giá hồi cung”.
 Từ nhỏ tôi đã được một bà gọi là bà trẻ cho đi theo vài gánh đồng. Ngày đó đi hầu đồng thường là nữ giới: các bà, các cô. Bây giờ thì có cả nam giới, chiếm khoảng 30% đến 40% con nhang đệ tử. Ngày đó phần lớn đi hầu đồng là người có tuổi bây giờ thì có cả người trẻ tuổi, thậm chí rất trẻ, khoảng 18 đôi mươi. Ngày đó các ông đồng bà đồng thường không gắn với một nghề nghiệp nào, tính tình nhạy cảm, dễ khóc dễ cười, ưa nịnh, hơi gàn gàn đúng với cụm từ “tính đồng bóng”. Ngày nay, đồng có nghề nghiệp, thâm chí còn rất giàu có. “Cậu” đồng chủ trì buổi lên đồng hôm nay vốn tốt nghiệp Đại học Kiến trúc. Mới đầu tôi đoán “Cậu” chỉ khoảng 20 là cùng (tôi còn biết một “Cô” đồng đã tốt nghiệp khoa múa của một trường nghệ thuật. Nếu bạn chứng kiến “Cô” nhảy múa lên đồng thì chắc chắn sẽ không chớp mắt mấy giờ liền). Các con nhang đệ tử bây giờ không chỉ có thường dân mà còn có cả một bộ phận công chức, viên chức, quan chức...
 Tôi nhận thấy lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt. Các nghi lễ này thường được tổ chức nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ tết, thường là tại các lễ hội, đền thánh, phủ mẫu...
 Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thống tín ngưỡng Việt Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống. Gia đình có thân nhân về bên kia thế giới ở các vùng quê thường đi “gọi hồn”. Trong buổi lễ gọi hồn, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể nhập vào ông đồng, bà đồng/đồng cậu, đồng cô để trò chuyện với thân nhân đang sống (thường là ở các điện tư gia hay ở các gia đình). Thông qua cuộc trò chuyện âm-dương này, người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân quá cố về mồ mả, bát hương, quần áo mã… để điều chỉnh và cúng xin cho phù hợp. Đồng thời, thông qua buổi “gọi hồn”, người sống cũng hỏi linh hồn người chết để biết được vận mệnh tương lai của mình và gia đình mình.
 Ghi chú: Có những chi tiết mê tín, hoang đường nhưng đó là lời của các con nhang đệ tử trong buổi hầu đồng. Nó không phản ánh quan điểm cá nhân của người viết. Tôi chỉ muốn ghi lại những điều mắt thấy tai nghe mà không phán xét để bạn đọc cùng chia sẻ.
Read More

Tàu đã rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam

Leave a Comment
Tàu đã rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam
Theo tin từ người phát ngôn Bộ Ngoại giao, từ chiều ngày 7/8, nhóm tàu Địa chất Hải dương 8 của Trung quốc (Tàu) đã dừng hoạt động khảo sát địa chất và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam ở Biển Đông theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Nếu so sánh mức độ, thời gian, sự đối đầu gay cấn cách đây 5 năm, khi Tàu đưa giàn khoan Hải Dương 891 vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam, lần này Tàu có vẻ “ngoan” hơn. Tại sao vậy?
Thứ nhất Trung Quốc không muốn đẩy sự việc căng thẳng thêm khi bối cảnh trong nước Hồng Kông và Đài Loan đang dậy sóng. Ngòi nổ Tân Cương và Tây Tạng vẫn đang âm ỉ. Nền kinh tế suy giảm tăng trưởng ở mức thấp nhất trong vòng 30 năm qua.
Thứ hai, bên ngoài cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đã căng thẳng đến mức có thể trở thành một cuộc chiến tiền tệ. Trong hoàn cảnh đó Việt Nam vẫn liên tục lên án đích danh Trung Quốc trong tất cả các hội nghị quốc tế. Hành động kiên quyết của Việt Nam đã truyền cảm hứng trong các cuộc họp của ASEAN và được nhiều nước ủng hộ.
Lần đầu tiên ASEAN ra thông cáo bày tỏ sự lo ngại về tình hình Biển Đông. Mỹ, Nhật, Australia lên án hành vi cản trở khai thác dầu khí ở Biển Đông. Liên minh châu Âu hoàn toàn ủng hộ quan điểm của Việt Nam. Ấn Độ tuyên bố nước này có quyền lợi ở Biển Đông và khẳng định ủng hộ các công ty của nước mình tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong việc thăm dò, khai thác dầu khí ở Biển Đông theo Công ước Luật Biển Quốc tế.
Thứ ba có thể Trung Quốc đã hoàn thành một phần kế hoạch xem xét địa chất đáy biển, đánh giá trữ lượng dầu khí, băng cháy và các khoáng sản ở thềm lục địa Việt Nam.
Với tất cả những lý do trên, nếu kéo dài thêm thời gian, Tàu thấy hoàn toàn bất lợi nên họ đã di chuyển về phía vùng biển Philippines để tiếp tục công việc.
Tôi hiểu người Tàu đang nuôi giấc mộng siêu cường, tranh giành vị thế với Hoa Kỳ. Họ sẽ không bao giờ từ bỏ dã tâm chiến lược độc chiếm Biển Đông để vươn ra toàn cầu. Kể từ năm 1989 trở đi, Trung Quốc không chiếm thêm các đảo ở Biển Đông (vì nhiều lý do và cũng không thể chiếm được nữa). Tàu quay ra củng cố, biến các đảo đã chiếm trái phép thành các căn cứ hậu cần, quân sự để tiến hành một loại tranh chấp khác, tranh chấp chủ quyền trên biển với các nước ven Biển Đông nhằm thực hiện hóa đường lưỡi bò tưởng tượng.
Trong 30 năm qua, Tàu đã tiến hành 7 hoạt động xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Đưa tàu thăm dò dầu khí năm 1994 đến Bãi Tư Chính. Đưa tàu Kan Tan khảo sát khu vực chồng lấn vịnh Bắc Bộ năm 1997. Quấy rối và cắt cáp tàu khảo sát dầu khí Bình Minh của Việt Nam năm 2011. Đưa tàu giàn khoan Hải Dương 891 vào vùng biển Việt Nam năm 2014. Đưa tàu đến cản phá hoạt động dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam năm 2017, 2018. Và năm nay đưa tàu Địa chất Hải dương 8 đến bãi Tư Chính. Trong tương lai chắc chắn Tàu sẽ còn dùng các loại tàu mang danh nghĩa khoa học, được hộ tống bằng nhiều tàu hải cảnh, các loại tàu của dân binh vào Việt Nam và các nước khác để tranh giành lãnh hải, dù đó là vùng biển không phải của họ theo luật quốc tế. Nghĩa là Tàu đang tạo ra thủ đoạn chiến tranh, loại hình chiến tranh mới trên biển để hiện thực hóa mưu đồ độc chiếm Biển Đông.
Trong khi chưa chiếm được hoàn toàn Biển Đông, Tàu đang đặt ra mục tiêu phải ký được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông trong vòng 3 năm. Tên tiếng Anh của nó là “Code of Conduct”, viết tắt là COC. Bắc kinh muốn các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam không được cùng khai thác với các nước ngoài khu vực, không được tập trận với các nước ngoài khu vực. Họ cho rằng chỉ họ mới có cái quyền đó. Vì vậy họ đã ép các công ty của Tây Ban Nha, Ấn Độ và nước ngoài không được hợp tác với Việt Nam, phải rời khỏi khu vực thăm dò và khai dầu khí trên vùng đặc quyền và thềm lục địa của Việt Nam với lý do “khu vực đang tranh chấp” do Tàu cố tình tạo ra.
Từ nay cho đến năm 2021, ASEAN sẽ phải chịu sức ép rất lớn, đặc biệt là Việt Nam và Philippines. Họ sẽ dùng các nước khác trong khối để ép hai nước phải ký cho xong. Họ là bậc thầy “chia để trị”. Nếu hai nước không ký thì họ còn sử dụng mọi thủ đoạn. Mà ký thì rơi vào bẫy mà Đặng Tiểu Bình đã đặt ra “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”. Nhưng vế trước của câu nói là “Chủ quyền thuộc về ta (Trung Quốc)”. Mọi người thử tưởng tượng khi mà giàn khoan và lá cờ của Tàu bay trên giàn khoan dầu khí tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và Philippines thì coi như hai nước đã mất chủ quyền.
Họ muốn gạt tất cả các cường quốc khác khỏi cuộc chơi ở Biển Đông nhằm chiếm giữ tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất của thế giới để phục vụ cho sự “phục hưng đế chế Trung Hoa”. Điều này chắc Mỹ không muốn. Nhật Bản không muốn. Ấn Độ không muốn. Australia không muốn. Hàn Quốc không muốn. Thậm chí cả Nga cũng không muốn.
Biển Đông hôm nay và ngày mai chắc chắn sẽ là đấu trường của các nước lớn. ASEAN, trong đó có Việt Nam không muốn “chọn phe” thì vẫn phải nương vào dòng chảy địa chính trị chung để bảo vệ lợi ích chính đáng của dân tộc.
ASEAN phải hết sức cẩn trọng đến loại hình chiến tranh giành lãnh hải trên biển, nơi chỉ có mặt nước với sóng biển. Nó hoàn toàn khác với cuộc chiến tranh trên đất liền, nơi ASEAN và Việt Nam còn có ba vùng chiến lược: vùng đồng bằng, vùng rừng núi và đô thị. Ngoài thế trận chiến tranh nhân dân trên biển, các nước nằm trong tầm ngắm của Bắc Kinh cần phải có một lực lượng hải quân, không quân biển đủ mạnh. Cũng cần phải phát triển các ngành công nghệ cao quân sự như tàu lặn, tàu ngầm, máy bay không người lái, công nghệ tàng hình, công nghệ thông tin áp chế điện tử để chống kẻ thù tiếp cận, chống kẻ thù xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Và đặc biệt phải kết hợp được sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại (Mỹ, Nhật, Ấn Độ, EU…) để chống lại tham vọng của Tàu.
Read More

lại chuyện Tàu

Leave a Comment
Những tháng đầu năm tôi viết liên tiếp 3 bài về Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Tàu). Tôi đã viết quá nhiều về họ, thực tình không muốn viết thêm về cái đề tài “bành trướng” đã trở thành thương hiệu cố hữu gắn liền với quá khứ, hiện tại kể từ triều đại phong kiến Hán cho đến tận ngày hôm nay. Cực chẳng đã lại phải có đôi lời.
Trong quan hệ quốc tế, Đông Nam Á đang nóng lên từng ngày bởi nhiều sự kiện thu hút giới chính trị, các nhà quan sát, các học giả, các nhà nghiên cứu và tất nhiên là đông đảo người dân trong khu vực. Sự kiện đáng quan tâm nhất là cuộc họp ngoại trưởng các nước Đông Nam Á với sự có mặt của gần 30 tổ chức và ngoại trưởng các nước đang diễn ra tại Băng Cốc, Thái Lan trong khi nhóm tàu khảo sát địa chất Hải dương 8 Trung Quốc vẫn đang hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam gần khu vực phía Nam Biển Đông, cụ thể là ở bãi Tư Chính, nhằm ngăn cản Việt Nam liên doanh, khai thác lô dầu khí 06-01. 
Một lần nữa Trung Quốc lại chà đạp lên công lý, muốn áp đặt chủ quyền, thực hiện yêu sách tưởng tượng “Đường lưỡi bò” vốn đã bị Tòa án Trọng tài tại Hague bác bỏ vào tháng 7 năm 2016 khi Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.
Cũng giống như sự kiện diễn ra vào năm 2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam cách đây năm năm, lần này Bắc Kinh vi phạm chủ quyền Việt Nam còn nhằm mục đích gì sau một thời gian ngắn ngủi không tiến hành các hành động gây sự với các bên tranh chấp Biển Đông?
Dư luận vẫn chưa quên cách đây vài tuần, tàu lớn của Trung Quốc đã đâm vào những chiếc tàu nhỏ bé của ngư dân Philippines, rồi bỏ mặc 22 thuyền nhân trên mặt biển. Nếu không có tàu Việt Nam kịp thời cứu giúp thì tất cả ngư dân Philippines đã chết trên vùng đặc quyền và thềm lục địa của chính mình. Đã thế Trung Quốc còn vu cáo tàu Philippines bao vây tàu của họ nên họ buộc phải đâm tàu Philippines để mở lối thoát giống như năm 2014 Trung Quốc tố cáo tàu Việt Nam đã 14.000 lần đâm vào tàu bảo vệ giàn khoan của họ. Có lẽ trên thế giới không có nước nào tráo trở gắp lửa bỏ tay người như các cơ quan chức năng Tàu.
Theo tôi hành động của Tàu gần đây không nên gọi là xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước, phải gọi đó là hành động côn đồ của kẻ bành trướng cướp biển, cướp tài nguyên ở Biển Đông nhằm hiện thực hóa “Đường lưỡi bò”.
Hành động của họ khi thì trắng trợn sử dụng vũ lực quân sự xâm chiếm các đảo, trong đó có đảo Phú Lâm thuộc Quần đảo Hoàng Sa từ Chính quyền Việt Nam Cộng hòa vào tháng 1 năm 1974, xâm chiếm 6 đảo của Việt Nam vào tháng 1 năm 1988, khi thì xảo trá dùng tàu giàn khoan, tàu thăm dò với lực lượng yểm trợ của các tàu hải cảnh, hải giám, kiểm lâm, dân quân tự vệ xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước để tạo ra sự tranh chấp, rồi đòi ngồi vào bàn thương lượng song phương để chia chác trong khu vực chủ quyền của các nước ven Biển Đông.
Trong quá khứ, thủ đoạn của Trung Quốc lúc căng lúc trùng, linh hoạt tùy theo tình hình quốc tế cụ thể, nhằm gặm nhấm dần các đảo, tránh gây ra phản ứng lớn của các nước và trong khu vực. Tuy nhiên động thái của Trung Quốc từ tháng 5 đến hết tháng 7 trong thời gian vừa qua dường như có sự bất thường. Bất thường vì cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc được đẩy lên mức rất nguy hiểm. Hơn bao giờ hết Trung Quốc cần tranh thủ sự ủng hộ của nhiều nước, nhất là các nước trong khối ASEAN, khi khối này vượt Mỹ, trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc.
Trung Quốc bành trướng nhằm hiện thực hóa đường lưỡi bò ở Biển Đông thì đương nhiên rồi. Nhưng hình như họ đã vi phạm chính cái “nguyên tắc đại cục” của họ để thực hiện cái tính toán trước mắt. Hoặc là họ quá tự tin vào sức mạnh của họ hoặc là họ bắt đầu mất kiểm soát trước tình hình trong ngoài nước. Họ định ép ASEAN phải ký với họ một bộ quy tắc trên Biển Đông (COC) như mong muốn. Họ muốn COC phải làm rõ cách các nước trong khu vực khai thác tài nguyên ở các vùng biển "có tranh chấp" phải như thế nào (thực ra là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước nhưng Trung quốc cố tạo ra sự tranh chấp để buộc các nước đàm phán. Nghĩa là vào nhà người ta rồi đòi người ta phân chia lại mốc giới). Họ muốn vạch ra ranh giới đâu là nơi các quốc gia trong khu vực có thể tổ chức tập trận quân sự chung với các nước "ngoài khu vực" (riêng với Việt Nam phải chăng họ còn muốn bắn đi một tín hiệu chính trị trước chuyến đi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sang thăm Mỹ). Chính vì vậy nhiều học giả, chuyên gia trong và ngoài ASEAN đã bàn luận về sự kiện này. Nhiều người bày tỏ lo ngại COC tới đây sẽ thiếu đi tính ràng buộc pháp lý và đi vào vết xe đổ của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002.
Ủng hộ trước Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lên án Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ngày 19/7 và ngày 25/7, trong tuyên bố lên án các hành vi khiêu khích của Trung Quốc đối với các hoạt động dầu khí của Việt Nam trên Biển Đông, Bộ Ngoại giao Mỹ đã cáo buộc Bắc Kinh đang gây sức ép hòng bắt ASEAN chấp nhận các điều khoản bất lợi trong COC, ngăn chặn các nước này hợp tác với nước thứ ba để khai thác dầu khí trên Biển Đông, từ đó kiểm soát các nguồn tài nguyên trong khu vực. Tiếp theo các bộ trưởng Mỹ, Nhật, Úc đã ra tuyên bố chung lên án hành vi cản trở khai thác dầu khí tại Biển Đông ngày 2/8.
Trong cuộc họp tại Băng Cốc, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về những diễn biến trên thực địa, trong đó có hoạt động của tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Các hành động này đe doạ nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, không có lợi cho hoà bình và ổn định ở khu vực. Ông Phạm Bình Minh nhấn mạnh rằng những hành động của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.
Một số ngoại trưởng tại cuộc họp ASEAN cũng lo ngại về sự cố ở Biển Đông, nhất là các nước có liên quan. Mặc dầu còn mâu thuẫn giữa các bộ trưởng ngoại giao ASEAN, nhưng tuyên bố chung của Hội nghị Bộ Trưởng đã đề cập: “Chúng tôi tái khẳng định tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982”. Rõ ràng hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đã phủ bóng đen lên Hội nghị ngoại trưởng ASEAN. Sau Việt Nam, Philippines, chắc chắn Trung Quốc sẽ “hành xử” với Malaysia và Indonesia như họ đã từng làm.
Trước làn sóng chỉ trích, đoàn ngoại giao Trung Quốc do Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị dẫn đầu lờ đi như điếc. Họ còn trơ trẽn lên án các nước ngoài khu vực gây chia rẽ Biển Đông. Trung Quốc “tuân thủ nghiêm DOC”. Biển Đông “không có vấn đề gì”. Thật hết thuốc chữa. Đúng như câu thành ngữ Việt: vừa ăn cướp vừa la làng. 
Vấn đề đặt ra sau khi nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 đi vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam là giữa Mỹ và nhiều nước trong ASEAN có lợi ích song trùng trong vấn đề thách thức những yêu sách bành trướng ngang ngược của Trung Quốc trên biển. Trong khi các nước ven biển, trong đó có Việt Nam muốn bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, Mỹ cũng đang tìm kiếm cách thức kiềm chế tham vọng hàng hải ngông cuồng của Trung Quốc.
Phần lớn các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam (Việt Nam tuân thủ nguyên tắc 3 không) đều theo đuổi sự cân bằng chiến lược trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Trung Quốc, bất chấp tranh chấp trên Biển Đông vì người đồng chí đầy dã tâm đối đối với an ninh và sự thịnh vượng của đất nước. Nhưng chính sách hai mặt miệng bồ tát bụng bồ dao găm, phía Trung Quốc không hề quan tâm đến yêu cầu và nguyện vọng của một số nước ASEAN và Việt Nam. Họ vẫn tiếp tục ngày càng hung hăng áp đặt các yêu sách vi phạm chủ quyền lên các nước ven Biển Đông.
Tôi biết rằng nước xa không chống được lửa gần. Tôi biết vào những năm 1970, mặc dù ngả về Liên Xô, người Việt vẫn không ngăn được cuộc xâm lược của Trung Quốc vào năm 1979. Tôi cũng biết tất cả các cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á đều có nguyên nhân và bắt nguồn từ các nước bên ngoài. Đúng là ASEAN phải biết cân bằng chiến lược giữa các nước lớn. Nhưng tại sao ASEAN cứ phải quan tâm những quan ngại an ninh của Trung Quốc trong một số các lựa chọn nếu như Bắc Kinh không quan tâm đến quyền lợi và an ninh chính đáng của ASEAN?
Hành động của Trung Quốc đang đẩy dần các nước ASEAN lại gần Mỹ hơn. Đã có tín hiệu cho thấy điều đó. Tôi nghĩ trong tương lai gần một số nước ASEAN (không phải cả ASEAN, một hai nước vì lợi ích riêng sẽ phủ quyết theo nguyên tắc đồng thuận làm hài lòng Trung Quốc) có thể kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, có thể nâng cấp đối tác chiến lược với Mỹ, có thể tham gia vào “cấu trúc an ninh khu vực” Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong đó có Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc… để tranh thủ hơn nữa sự ủng hộ của các nước có chung lợi ích nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế và quốc phòng, để tự bảo vệ mình trước họa Tàu, người láng giềng luôn rêu rao “4 tốt” nhưng lại ngông nghênh đầy cơ bắp.
Read More

Đồng đội

Leave a Comment
Bố nhập viện, anh em tôi phải theo ông trực một thời gian khá dài ở các bệnh viện. Đúng là cái cảnh chầu chực nằm chờ vạ vật, chỉ có người trong cuộc mới thấu hiểu hết được. Tôi không biết còn có nơi nào trên thế giới người nằm viện lại kéo theo nhiều người thân đi trực vất vả như ở Việt Nam.
Thật mệt mỏi, căng thẳng. Người bệnh có khi hai người chung một giường. Người trực nằm ở đâu? Hoặc là thức trắng hoặc may mắn nằm giường gấp bên cạnh người bệnh; nếu không thì nằm chiếu dưới giường người bệnh, nằm ở ngoài hiên, nằm ngoài trời, ở bất cứ nơi nào người ta có thể nằm được với bao điều lo âu, với đủ các thứ mùi bệnh viện đặc trưng rất khó ngửi.
Mấy tháng trời ở bệnh viện tôi nghiệm thấy người già bệnh nặng về cơ bản có hai đặc tính. Một là nằm mê man không có ý thức, không tự phục vụ được bản thân, còn phải chờ đợi ngày giờ sang bên kia thế giới. Dĩ nhiên người nhà phải lo từ A đến Z. Hai là tỉnh táo nhưng không tự phục vụ được bản thân. Người bệnh thường cáu bẳn khó tính, khó chiều.
Đối diện với giường của bố tôi là một người đàn ông cao lớn, tên là Duy, quê Thái Bình. Trên cánh tay, trên mình ông mang nhiều vết sẹo chằng chịt. Nói chính xác đó là những vết thương để lại trong ba cuộc chiến chống Mỹ, chống quân Pol Pot, chống quân Tàu. Ông Duy là trường hợp ngoại lệ, không có hai đặc tính như nhận xét ở trên.
Tôi đoán ông Duy bị đột quỵ vì mồm méo, không tự đi lại được, phải có người dìu, nhưng vẫn tự xúc cơm cháo dù rơi rớt ra ngoài. Đầu óc ông lúc nhớ lúc quên. Trong gần một tháng tôi không hề thấy ông kêu ca, phàn nàn về bất cứ điều gì với bất kỳ ai. Chỉ có điều khi ngủ ông ngáy rất to. Tiếng ngáy vang rền và đứt đoạn thành chuỗi liên hồi tựa như tiếng khẩu đại liên quét gìm cản đối phương.
Vợ ông Duy cho biết hai ông bà lên Hà Nội chơi với con. Ông đột nhiên tăng huyết áp, ngã nằm bất tỉnh khi ở trong nhà vệ sinh. May mắn không đập đầu vào thành tường, các con phát hiện kịp thời, sơ cứu rồi vội đưa ông vào Bệnh viện Quân đội 108. Nằm điều trị hơn một tháng, ông đỡ rất nhiều. Ra viện, nghe nói Bệnh viện Lão khoa Trung ương có khoa chuyên phục hồi chức năng nên gia đình lại xin vào điều trị tiếp.
Sau một thời gian, bệnh tình ông Duy tiến triển từng ngày. Khuôn mặt ông gần như trở lại bình thường. Dần dà ông tự đi được với chiếc gậy Trường Sơn năm xưa (ông đã bị tai biến một lần trước đó không lâu, đi lại có phần khó khăn nên thường mang theo chiếc gậy kỷ niệm thời đánh Mỹ) . Ông tự làm mọi việc, gấp chăn màn, ăn uống, rửa bát, đi lại, vệ sinh… Trên giường ông mọi thứ đều gọn gàng, ngăn nắp như giường của một chiến sĩ thời huấn luyện.
Trí nhớ ông Duy cũng bắt đầu hồi phục. Quan sát ông, tôi biết ông đang cố gắng từng giờ, từng phút. Tuy vậy trong con mắt của nhiều người, ông đã là một người tàn phế. Ông vẫn bì bị, chậm chạp, cái bì bị, chậm chạp thường thấy của người bị tai biến. Điều đáng chú ý là thời gian không còn ủng hộ ông.
Trong phòng có một người lính già nữa nên mỗi lần đến viện chúng tôi thường quây quần trò chuyện kỷ niệm ngày chiến trường. Một lần tôi đùa: “Ngày xưa nếu bác Duy nằm trên chốt mà ngáy như thế này thì chắc chắn sẽ là mục tiêu của kẻ địch”. Ông cười: “Lúc trẻ tôi đâu có ngáy như bây giờ. Càng nhiều tuổi tôi càng ngáy to. Thật xấu hổ, cách đây hơn chục năm khi trực mẹ tôi, thời gian bà nằm viện, cả phòng người ta yêu cầu bà không cho tôi trực ngủ trong phòng vì ngáy. Bản thân mỗi lần nằm viện, nhà tôi thường tìm phòng dịch vụ riêng nhưng lần này thì không có phòng. Tôi biết mình làm phiền mọi người nên đã nhiều lần xin lỗi”.
Ông Duy không còn nhớ nhiều thứ, nhiều kỷ niệm trong đời, kể cả ngày cưới của vợ chồng, ngày sinh nhật của các con. Gần đây, chuyện diễn ra vài ngày hôm trước ông cũng không nhớ được. Tôi nghĩ đó là chuyện bình thường với một người bước vào tuổi bảy mươi lăm, với gần hai chục vết thương trên mình.
Vết thương đầu tiên vào năm 1967 ở gần sân bay Tà Cơn, Quảng Trị khi ông là hạ sĩ trinh sát, bị lính Mỹ chém vào cánh tay. Vết thương cuối vào năm 1985 ở Vị Xuyên, Hà Giang khi ông là trung tá tham mưu sư đoàn, bị mảnh pháo Tàu bắn vào sọ não, phải nằm liệt giường sáu tháng tại Viện Quân y 103.
Sau bốn mươi năm trong quân ngũ, năm 2009 ông Duy được về hưu với quân hàm đại tá. Ngẫm kỹ cả cuộc đời ông là “một khúc quân hành”, là “một bài ca chiến đấu”. Ngay cả chuyện ông lấy vợ cũng là do quân đội tạo điều kiện cho ông nghỉ phép, kết hợp điều tra lý lịch quân nhân xét kết nạp đảng cho một chiến sĩ, ông mới quen được một “cô em gái đồng đội” quê ở Hải Phòng. Để rồi vài năm về phép một lần, mỗi lần để lại một đứa con cho người vợ trẻ mòn mỏi trông đợi.
Ông thở dài nói với tôi: “Trai thời loạn, có người lính nào giúp đỡ được vợ con? Đến khi về già bệnh tật, tất cả lại đến tay vợ con. Mình phải cố gắng chịu đựng, phải cố gắng chiến đấu với bản thân mình để vợ con bớt khổ”.
Khi đề tài xoay về chiều hướng này tôi thường cố lái ông sang chuyện khác bởi ông không nhớ mình vừa mới nói điều đó xong. Tôi gợi chuyện xem ông có còn nhớ trận đánh ông bị thương đầu tiên không. Lúc ấy khuôn mặt ông rạng ngời. Đôi mắt ông sáng lên, linh hoạt. Cái vẻ bì bị, chậm chạp gần như biến mất. Ông lên giọng:“Quên thế nào được chú”? Dừng lại một lúc, giọng ông trầm xuống, dẫn chúng tôi trở về quá khứ:
- Hôm ấy khi ánh chiều muộn buông xuống rừng núi miền Tây Quảng Trị, phân đội trinh sát của tôi do anh Thệ (sau này anh Thệ là Anh hùng lực lượng vũ trang, được phong quân hàm Trung tướng) dẫn đầu men theo dòng suối lần xuống một thung lũng. Chúng tôi lợi dụng những bụi sim, mua lúp xúp ẩn mình hướng về trận địa pháo gần sân bay Tà Cơn. Tôi còn nhớ chúng tôi thay nhau dùng ống nhòm quan sát trận địa địch từ xa và chờ trời tối. Khi màn đêm đến, ánh đèn pha của bọn Mỹ đan chéo quét qua lại theo một quy luật. Tôi không nhớ chính xác lúc đó là mấy giờ, chỉ biết sau tiếng tắc kè phía chân núi anh Thệ cử hai nhóm trinh sát theo hướng tây bắc và đông nam cùng đột nhập hàng rào kẽm gai. Lực lượng còn lại làm nhiệm vụ cảnh giới bảo vệ bên ngoài. Nhóm chúng tôi mở một lối rộng qua hàng rào kẽm gai đầu tiên. Sau đó chúng tôi luồn qua ba hàng rào kế tiếp thì gặp một bãi trống. Tiểu đội trưởng của tôi ngoái lại thì thầm “cẩn thận bãi mìn”. Tôi theo sát anh ấy nhích lên từng tí một. Trong ánh sáng đèn pha, hai cánh tay trần của anh cẩn thận lần lần từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong đến ba, bốn lần. Anh ấy buộc chốt từng quả mìn mỏ vịt, quay chốt an toàn từng quả mìn díp, mìn chống tăng cực kỳ thành thạo. Được hai phần ba bãi mìn, anh ấy ra hiệu cho tôi thực hiện tiếp công việc. Mặc dầu đã vài lần luồn rào kẽm gai gỡ mìn nhưng lần đó tôi vẫn cảm thấy căng thẳng, bởi vì chỉ một sơ xuất vướng vào dây mìn căng trên mặt đất, hoặc để sót một quả mìn, nó nổ, rồi pháo từ trên dập xuống, đạn từ trong bắn ra, cả phân đội chắc sẽ hy sinh. Cái giá phải trả rất là đắt. Tôi cảm thấy lưng mình ớn lạnh nhưng người vẫn vã mồ hôi. Tôi tập trung tinh lực vào đôi tay, dùng tay nghe tìm và cảm nhận mọi thứ có trên mặt đất… Tôi vô hiệu hóa được khoảng gần hai chục quả mìn các loại. Rồi luồn qua một vài hàng rào vào sâu bên trong. Chúng tôi nhìn rõ từng khẩu pháo, từng ụ súng, từng lô cốt, sở chỉ huy... Chúng tôi chia nhau thâm nhập vào sâu để đo đạc. Tôi đang lom khom nép mình vào góc khuất của một chiếc lô cốt thì thoáng thấy một cái bóng to lớn lao vào. tôi vung tay trái hắt lên, chân phải đá thẳng vào bộ hạ. Tên Mỹ ngã vật xuống. tôi cắm lưỡi dao vào lưng nó. Sau đó tôi mới thấy cánh tay trái mình tê dại. Thì ra tôi bị dao tên Mỹ đâm xuyên phần giữa ngón trỏ và ngón cái khi vung tay đỡ…
Ông Duy chỉ cho tôi xem cái vết sẹo vẫn còn thâm tím sau hơn năm mươi năm trên bàn tay. Ông cho tôi biết vì sự cố bất ngờ trên, phân đội trinh sát không thể trở về. Mục tiêu đánh vào trận địa pháo coi như đã bị lộ. Anh Thệ quyết định: “Cần phải tiêu diệt trận địa pháo ngay trong đêm”, mặc dù đó không phải là nhiệm vụ của phân đội trinh sát. Và trong vòng nửa tiếng đồng hồ từ trung tâm chỉ huy trận địa pháo, anh em trong phân đội chúng tôi cùng tung bộc phá vào các mục tiêu, tiêu diệt gần như toàn bộ lính Mỹ và phá hủy toàn bộ trận địa pháo 5 khẩu 105 ly rồi rút theo hai hướng lên núi trước khi pháo địch dập xuống quanh trận địa. Đó là trận đánh đầu tiên ông bị thương và là lần đầu tiên ông được phong danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Như thường lệ, cứ tối đến chúng tôi lại trò chuyện với nhau. Hầu như mọi người trong phòng đều mong ngóng nghe ông kể chuyện. Thật kỳ lạ. Chuyện về chiến trường thì ông lại không quên. Hình như những ký ức về chiến trường đã ăn sâu vào tâm trí ông giống như những người già lẫn, nhưng vẫn nhớ vanh vách chuyện ngày xưa. Ông kể về những trận đánh, những đồng đội hy sinh, những đồng đội bị thương; kể chuyện tiền tuyến, kể chuyện hậu phương, kể chuyện cấp trên, kể chuyện cấp dưới, chuyện địch, chuyện ta, chuyện tiếu lâm… Tất cả đều hấp dẫn, lôi cuốn, rõ ràng, mạch lạc.
Một đêm ông Duy lấy ra hai cuốn vở học sinh từ chiếc ba lô theo ông mấy chục năm trường. Đó là hai cuốn nhật ký viết trên hai quyển sách học sinh cách đây hơn năm mươi năm nên đã sờn ố. Chữ ông rất khó đọc. Nhiều trang mờ nhòe không còn rõ chữ. Tôi cố luận, đọc ngấu nghiến một mạch. Tất cả là những thông tin, những cảm nghĩ, những nhận xét đánh giá về các trận đánh trên đường 9- Khe Sanh, các trận đánh trong cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân, các trận đánh trong mùa hè lửa tại Quảng trị. Qua hai cuốn nhật ký này tôi hiểu ông thêm. Tôi thật sự kính trọng ông, một con người quả cảm, mưu trí, quyết đoán, một anh hùng nhưng rất giàu tình cảm.
Từ năm 1973 trở đi, khi là cán bộ đại đội, tiểu đoàn ông Duy không viết nhật ký nữa, phần vì ông quá bận rộn, phần vì viết ra “nó liên quan đến bí mật quân sự”, chẳng may vào tay kẻ địch thì tai hại khôn lường. Theo ông sau Hiệp định Pari, chiến sự bớt ác liệt hơn, nhưng có một chiến dịch Sư đoàn 304 của ông, Trung đoàn 66 của ông, Tiểu đoàn 8 của ông thương vong vô cùng lớn. Đó là Chiến dịch Nông Sơn, Thượng Đức. Tôi nói với ông tôi biết rõ chiến dịch này vì Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 của tôi cũng tham gia chiến dịch.
Ông Duy bắt tay tôi và nói:
- Trung đoàn 3 là một trung đoàn anh hùng, trung đoàn xứng đáng với truyền thống giữ chốt từ trận đánh trên Đồi Thịt băm đến thời điểm đó. Chỉ cần tiếp nhận những căn hầm chốt trên điểm cao 1062 và sở chỉ huy trung đoàn dự phòng của trung đoàn các anh tôi cũng biết được cái chất của trung đoàn. Nhờ có bộ đội địa phương, nhờ có sự hỗ trợ của các đơn vị, đặc biệt là Trung đoàn 3 Sư 324, Sư 304 mới giữ được điểm cao 1062, mới giữ được Thượng Đức. Tôi còn nhớ tại chốt thép T2, khi bom pháo cày nát quả đồi, tiểu đoàn lính Dù lăn xả lấn dũi lên, Đại đội 6 của các anh chỉ còn hơn chục tay súng. Các anh đã chui xuống hầm moi và yêu cầu pháo binh của mình bắn trùm lên chốt để giữ vững trận địa. Sau trận đánh hơn 10 tay súng điếc đặc vĩnh viễn…
Nói đến đó giọng ông Duy nghẹn lại, những giọt nước mắt ứ ra. Ông cho tôi biết trong trận đánh công kiên vào chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức, Trung đoàn 66 của ông có phần chủ quan, chuẩn bị cho trận đánh chưa thật chu đáo, việc mở cửa ỉ vào bộ rồng lửa “FR”, không có phương án dự phòng mở khi không phá hủy hết hàng rào kẽm gai, không chuẩn bị kỹ công sự khu vực mở cửa nên dẫn đến đợt tấn công đầu không thành công. Quá nhiều chiến sĩ thương vong. Phải chờ đến đợt tấn công thứ hai mới tiêu diệt và bắt sống được 1600 quân địch, giải phóng được 13.000 dân. Nhưng với tư cách là một trong những người chỉ huy ông vẫn cảm thấy đau đớn, xót xa vì những sai lầm không đáng có khiến nhiều cán bộ chiến sĩ hy sinh...
Cả ông và tôi đều hiểu giá trị và ý nghĩa chiến lược to lớn của trận Thượng Đức. Cánh cửa thép phía tây thành phố Đà Nẵng đã bị ta chiếm. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tổng tham mưu Ngụy quyền phải vội điều Sư đoàn Dù, lực lượng tổng dự bị chiến lược từ chiến trường Trị Thiên tới Thượng Đức nhằm tái chiếm lại. Cuộc chiến vô cùng ác liệt giữa trung đoàn 66, Trung đoàn 24, Trung đoàn 3 thuộc Sư 304 và Sư 324 với 3 lữ đoàn thuộc Sư Dù Ngụy diễn ra gần 5 tháng tại cao điểm 1062, điểm cao 109, 236, bình độ 700, Bàn Tân, Hà Nha, Động Hà Sống... Mưa tháng 7, tháng 8 tầm tã ở Thương Đức khiến hầm hào sụt lở, cùng với hàng nghìn tấn bom, hàng vạn quả đạn pháo hai bên mỗi ngày biến rừng núi thành bùn lầy hòa lẫn máu. Đó là cuộc đọ sức một mất một còn giữa hai lực lượng chủ lực cơ động. Một hình thái mới đã xuất hiện. Quân Ngụy đã để mất Thượng Đức và không có khả năng tái chiếm lại. Lực lượng ta đã hơn hẳn lực lượng địch. Nó là một trong những cơ sở để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định cuộc Tổng Tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đập tan bộ máy Ngụy quyền tiến tới thống nhất đất nước.
Chiến thắng nào cũng có cái giá của nó. Hàng ngàn cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 304, trung đoàn 3 Sư 324 đã nằm xuống tại mặt trận. Ông Duy đã hàng chục lần đến viếng các nghĩa trang thuộc khu vực Thượng Đức. Còn tôi cũng đã bốn lần đến viếng hương hồn các chiến sĩ tại hai nghĩa trang Đại Đồng, Đại Lộc, nơi hơn 300 đồng đội chúng tôi đã hy sinh trong chiến dịch.
Hai chúng tôi cùng lặng im. Ông nhìn tôi chằm chằm. Tôi cũng nhìn ông chằm chằm. Hình ảnh những đêm tháng 7 mờ sương khói, hình ảnh hàng nghìn ngọn nến trải dài hút mắt tại các nghĩa trang mờ ảo, chập chờn lại hiện về trong ký ức chúng tôi.
Bỗng ông phá vỡ sự im lặng:
- Năm trước anh không về được. Năm nay chắc anh cũng không về được. Không biết sang năm có còn để về được không? Sắp đến kỷ niệm 45 năm chiến thắng Thượng Đức. Chú về thắp hương cho đồng đội, nhớ nói giùm cho anh “Minh Duy này không bao giờ quên đồng đội”!
Tôi ôm chặt lấy ông. Nước mắt ông thấm xuống vai tôi. Không hiểu sao tôi cũng không cầm được nước mắt. Trong những ngày tháng 7 này, ông không nhắc đến những ngày tháng vinh quang ông cùng “anh Thệ” và đồng đội tiếp quản dinh Độc lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh và nội các đến đài phát thanh tuyên bố đầu hàng. Ông cũng không nhắc đến những ngày tháng vinh quang làm chủ Phnôm Pênh giúp nước bạn. Ông cũng không nhắc đến những ngày tháng oai hùng cuối những năm 1980 quân Tàu phải rút khỏi các điểm cao ở Vị Xuyên mà ông cùng với đồng đội đã góp phần và làm nên lịch sử.
Ông chỉ nhắc tới đồng đội đã ngã xuống tại các chiến trường. Tôi sẽ ghi nhớ tâm nguyện, ghi nhớ những lời ông căn dặn và cũng sẽ không bao giờ quên ông, một trong những chiến binh xuất sắc mà tôi may mắn được làm quen tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Tạm biệt ông! Chúc ông mau lành bệnh! Hy vọng ông còn sức khỏe để về chiến trường xưa thắp hương cho đồng đội.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.