Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Về sách giáo khoa STEM ở Mỹ

Leave a Comment
Bài viết trước tôi đã chia sẻ với các anh chi em, bạn bè, đồng nghiệp tổng quan về giáo dục STEM ở Hoa Kỳ. Nhìn chung bài viết mang tính khái quát, nặng về lý thuyết. Người đọc chỉ hiểu một cách chung chung. Nghĩa là chỉ thấy rừng mà không thấy cây. Bài viết này tôi sẽ giới thiệu cụ thể về một cuốn sách giáo dục STEM ở cấp tiểu học, cụ thể là ở lớp 3. Hy vọng mọi người thấy được phần nào nội dung, hình thức giáo dục STEM tiên tiến trong chương trình giáo dục của một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới. Điều đó sẽ giải đáp câu hỏi tại sao Hoa Kỳ lại là nơi khởi phát của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 và lần thứ 4 hay còn gọi là cuộc cách mạng 3.0 và 4.0; là quê hương của nhiều phát minh khoa học, công nghệ mang tính đột phá, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử của nhân loại.
Cuốn sách mang tiêu đề “Những bài học và thử thách STEM” dành cho học sinh lớp 3 (STEM Lesson & Challenges, Grade 3). Cuốn sách bao gồm 128 trang. Ngoài trang bìa và trang mục lục nội dung, cuốn sách chia làm hai phần: Từ trang 4 đến trang 8 là phần tổng quan dành cho giáo viên. Từ trang 9 đến trang 128 giới thiệu 15 đơn vị bài học và thực hành STEM, hay nói theo thuật ngữ chuyên môn là 15 dự án STEM. Trong nội dung này có 2 bài học thử thách STEM về khoa học trái đất (Earth Science Challenges), 4 bài học thử thách STEM về khoa học cuộc sống (Life Science Challenges), và 9 bài học thử thách STEM về khoa học vật lý (Physical Science).
Tôi xin được sao y bản chính 15 đơn vị bài học/ 15 dự án STEM:
1. Thử thách STEM: Những con đập (STEM Challenge: Dams)
2. Thử thách STEM: Máy đo tốc độ (STEM Challenge: Anemometer)
3. Thử thách STEM: Găng tay giữ nhiệt (STEM Challenge: Blubber Glove)
4. Thử thách STEM: Tổ chim (STEM Challenge: Bird Nest)
5. Thử thách STEM: Mạng nhện (STEM Challenge: Spider Web)
6. Thử thách STEM: Một điểm ngủ đông (STEM Challenge: Hibernation Station)
7. Thử thách STEM: Máy bay (STEM Challenge: Airplane)
8. Thử thách STEM: Tháp bằng thẻ bài ( STEM Challenge: Card Tower)
9. Thử thách STEM: Máy phóng (STEM Challenge: Catapult)
10. Thử thách STEM: Mũ bảo hộ (STEM Challenge: Helmet)
11. Thử thách STEM: Tủ lạnh nhỏ (STEM Challenge: Mini-Fridge)
12. Thử thách STEM: Tàu chở hàng (STEM Challenge: Cargo Ship)
13. Thử thách STEM: Đường đua (STEM Challenge: Race Track Ramp)
14. Thử thách STEM: Giỏ mang trứng (STEM Challenge: Egg Carrier)
15. Thử thách STEM: Cối xay gió STEM Challenge: Windmill)
Với 15 đơn vị bài học/dự án, mỗi đơn vị bài học trong cuốn sách tập trung vào một hoạt động thực hành. Trong đó học sinh cùng nhau làm việc theo nhóm như một kỹ sư thiết kế, tạo mẫu, thử nghiệm và sửa chữa những ý tưởng sáng tạo của chúng. Mỗi một đơn vị bài học cũng cung cấp thông tin qua kênh chữ, kênh hình về các khái niệm khoa học cơ bản liên quan đến việc thực hành để thầy cô tổ chức, hướng dẫn học sinh cùng thảo luận vượt qua được thử thách STEM.
Ban đầu cầm cuốn sách, lướt qua nội dung, thật tình tôi không thể tưởng tượng được đây là một cuốn sách dành cho thầy trò ở lớp 3. Nào là đập nước, nào là máy ném đá, nào là tủ lạnh, nào là máy bay, nào là tàu chở hàng… Tất cả kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật truyền đạt cho những đứa trẻ 8 tuổi. Thú thật có những khái niệm khoa học, kỹ thuật khi đọc lần đầu tôi mới được biết. Vậy mà họ cho học sinh học, thực hành dưới góc độ STEM.
Sau giây phút “choáng” đầy hoài nghi, tôi chợt hiểu ra một điều mình đã trải nghiệm. Trẻ nhỏ là con đẻ của thời đại. Chúng tiếp thu và sử dụng rất nhanh những thành tựu khoa học công nghệ của thời đại. Lấy ví dụ chiếc Iphone 11, một trong những phát minh mới nhất của cuộc cách mạng 4.0. Nó có tới hơn 1,3 tỷ ứng dụng, giá mỗi chiếc khoảng 22.000.000 đến 30.000.000 đồng tùy từng loại. Nếu bố mẹ trẻ mua về nhà hướng dẫn con trẻ chơi trò chơi, xem các loại phim hoạt hình, các chương trình học tập và nghe nhạc, gọi điện thoại thì chỉ trong vòng mươi phút trẻ đã biết sử dụng. Chỉ mất vài hôm trẻ có thể sử dụng một cách thành thạo. Nếu bố mẹ trẻ đưa cho ông bà đứa trẻ chiếc Iphone đó thì hàng tuần sau chưa chắc ông bà đã biết dùng. Và nếu đưa cho cụ đứa trẻ khoảng 80 tuổi trở lên, có hướng dẫn hàng tháng thì cụ cũng vẫn cứ mù tịt. Vậy thì cái “choáng” của tôi là cái choáng của một người sinh ra trong một xã hội nông nghiệp, với tư duy và cảm nghĩ của một người sinh ra và lớn lên trong xã hội nông nghiệp (hiện tại nước ta vẫn gần 70% là nông dân). Còn trẻ sinh ra trong xã hội Mỹ, xã hội đang ở thời kỳ hậu công nghiệp, 2 tuổi đến trường mầm non đã được tiếp xúc và làm việc với các chương trình STEM. 5 hoặc 6 tuổi đã biết nói chuyện với các sản phẩm trí tuệ nhân tạo như loa thông mình (Echo dot), trợ lý ảo (Siri), biết sử dụng các loại Robot ở trong nhà thì chương trình học ở lớp 3 như tôi kể ở trên không có gì là cao siêu.
Trong hơn 40 năm làm công tác giảng dạy, quản lý giáo dục từ cấp THCS đến đại học ở Việt Nam, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cuốn sách giáo khoa có nội dung, hình thức và cấu trúc “lạ” đến như vậy. Nói theo ngôn ngữ chuyên môn giáo dục đó là cách dạy-học theo dự án dưới góc độ STEM. Nội dung mỗi đơn vị bài học/ dự án đươc chia thành từng bước rất cụ thể, rất tỉ mỉ, lô gic và khoa học. Nhưng nó vẫn rất mở, phát huy được cá tính sáng tạo của thầy cô và trò.
Thầy cô giao nhiệm vụ cho các nhóm và học sinh trong lớp thiết kế và thi công một công trình gì đó dưới sự tổ chức, hướng dẫn, gợi ý với tư cách là một cố vấn khoa học. Học sinh phải suy nghĩ, thảo luận về nội dung kiến thức, và đặc biệt quan trọng là phải biết vận dụng kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán để hình thành ý tưởng, thiết kế, rồi thảo luận, sửa lại thiết kế và tạo ra những sản phẩm cụ thể bằng các nguyên liệu có sẵn. Chẳng hạn mỗi học sinh hoặc nhóm phải làm được một con đập, môt máy đo tốc độ gió, một chiếc máy phóng đá, một mũ bảo hiểm, một chiếc tủ lạnh… Và đó là những thử thách STEM. Học sinh phải tự suy nghĩ thiết kế, chọn vật liệu, tạo sản phẩm, rồi tự kiểm tra, nhận xét, phân tích, đánh giá cho đến khi hoàn thành sản phẩm dù thành công hay thất bại.
15 đơn vị bài học/dự án là quá trình hình thành cho học sinh kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định, là quá trình phát triển tư duy bậc cao (high-order thinking). Đó cũng là quá trình hình thành tính cách cho học sinh bắt nguồn từ khả năng tích hợp các kỹ năng khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học trong việc giải quyết vấn đề. Những thử thách thực hành còn đòi hỏi tư duy của một nhà đổi mới, biết hợp tác, quan sát; phải kiên trì, linh hoạt, có tư duy phản biện, đổi mới và nhận biết được nhu cầu của người khác; không sợ rủi ro và thất bại để hoàn thành công việc; đồng thời cũng là để thích ứng với các vấn đề đặt ra trong thực tế cuộc sống từ chính những trải nghiệm thực tế của các em.
Đó chính là điểm khác biệt về chất giữa hai nền giáo dục Hoa Kỳ và Việt Nam: Một nền giáo dục phát huy năng lực của học sinh (kể cả trong giáo dục thể chất và giáo dục nghệ thuật), phát huy cá tính sáng tạo, hình thành năng lực STEM để có thể thích ứng với nền kinh tế mới trong một thế giới đầy biến động và một nền giáo dục hàn lâm, lý thuyết suông, nặng về ghi nhớ; học sinh phải nghe giảng để nhận biết, thông hiểu thông tin vận dụng làm bài tập càng nhiều càng tốt (phát triển tối đa tư duy bậc thấp) để vượt qua các kỳ thi từ cấp tiểu học cho đến đại học. Nói một cách khó nghe một chút tức là học để lấy điểm số, học để đi thi.
Nhà giáo dục Ý nổi tiếng Maria Montessori từng viết: “ Không thể dạy trẻ hình thành tính cách. Việc hình thành tính cách bắt nguồn từ trải nghiệm chứ không phải bằng việc giảng giải” (Character formation cannot be taught. It comes from experience and not from explanation). Thời gian khá dài đã chứng tỏ giáo dục của chúng ta còn nhiều bất cập nên bắt đầu từ năm học này chúng ta phải thực hiện cải cách giáo dục để có thể tiệm cận với nền giáo dục tiên tiến của thế giới. Việc nghiên cứu học tập giáo dục STEM của Hoa Kỳ là điều rất cần thiết.
Quay trở lại vấn đề, cuốn sách giáo khoa STEM tôi vừa giới thiệu với mọi người chỉ là một cuốn trong hàng trăm cuốn sách giáo khoa STEM mà các nhà trường tiểu học ở các bang Hoa Kỳ có thể lựa chọn đưa vào giảng dạy ở lớp 3. Như tôi đã viết ở bài viết trước, Hoa Kỳ không có một chương trình thống nhất, cũng như sách giáo khoa chung cho toàn liên bang. Mỗi bang, mỗi vùng, mỗi thành phố, thậm chí mỗi nhà trường có quyền lựa chọn chương trình và sách giáo khoa riêng cho mình. Giáo dục STEM cũng như vậy. Thậm chí người ta chấp nhận lớp học không có sách giáo khoa. Lớp học do chính các giáo viên đứng lớp tự lên kế hoạch, tham khảo từ nhiều nguồn dạy học và sáng tạo nên một chương trình dạy- hoc phù hợp với đặc điểm của lớp mình. Do vậy học sinh ở Mỹ ít sử dụng sách giáo khoa trong các lớp học STEM.
Read More

Giáo dục STEM ở các trường phổ thông của Mỹ

Leave a Comment
Mấy năm nay tôi thường được dự một số cuộc hội thảo quốc tế về giáo dục STEM ở Việt Nam, có điều kiện tìm hiểu thực tế về giáo dục STEM ở một số nhà trường phổ thông tại các bang của Hoa Kỳ. Đặc biệt hè năm 2019 tôi được mời trình bày tham luận về giáo dục STEM trong các nhà trường ở Hoa Kỳ do Phòng Giáo dục Quận Hoàn Kiếm tổ chức với sự tham gia của Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục Hà Nội và tất cả các hiệu trưởng các cấp học trong quận Hoàn Kiếm.
Năm nay là năm học đầu tiên ngành giáo dục thực hiện cải cách giáo dục. Trong cải cách giáo dục, Bộ Giáo dục có đề cập đến giáo dục STEM trong các nhà trường phổ thông ở Việt Nam. Tôi xin trích một phần bài tham luận in trong Kỷ yếu Hội thảo và một số bài viết cụ thể về STEM để anh chị em bạn bè, đồng nghiệp, các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên quan tâm đến giáo dục tham khảo, để biết thêm một nét về giáo dục phổ thông Hoa Kỳ và vấn đề STEM còn mới mẻ, bước đầu sẽ được triển khai ở các nhà trường Việt Nam. Tiêu đề của bài viết là STEM và giáo dục STEM trong các nhà trường ở Hoa Kỳ.
Tại sao STEM bắt nguồn từ Hoa Kỳ?
Hoa Kỳ là nước đầu tiên trên thế giới đưa STEM vào trong trường học. Vấn đề đặt ra là tại sao STEM bắt nguồn từ Hoa Kỳ?
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 (cuộc cách mạng 3.0) khởi nguồn từ Hoa kỳ. Về cơ bản cho đến hết thế kỷ 20, Hoa Kỳ đã hoàn thành cuộc Cách mạng Công nghiệp này với những thành tựu khoa học công nghệ cao, tạo ra hệ thống vệ tinh toàn cầu, máy bay, tàu ngầm thế hệ mới, các phương tiện thăm dò không gian, máy tính, internet, điện thoại thông minh… Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cuộc cách mạng 4.0) cũng khởi nguồn từ Hoa Kỳ cùng với một số nước phương Tây bắt đầu từ những năm 2000 đến nay. Cuộc cách mạng này được gọi là cuộc cách mạng số, dựa trên internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, máy in 3D, thực tế ảo, công nghệ nano, công nghệ sinh học…
Hai cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 và 4.0 không chỉ là hiện tượng phát triển thần kỳ về khoa học, công nghệ, kỹ thuật mà còn là một bước ngặt của lịch sử, tạo ra bước nhảy vọt về chất chưa từng thấy của lực lượng sản xuất và năng suất lao động trong lịch sử nhân loại. Nó đang làm thay đổi căn bản vai trò, vị trí của con người trong quá trình sản xuất. Nhân lực lao động trong cuộc cách mạng này không chỉ đòi hỏi có trình độ khoa học, công nghệ, kỹ thuật chuyên ngành mà còn đòi hỏi khả năng tích hợp liên ngành với khả năng tư duy bậc cao (high-order thinking).
Theo thống kê tại Mỹ, từ năm 2004 đến năm 2014 tuyển và sử dụng lao động liên quan đến khoa học, công nghệ, kỹ thuật tăng 26%. Từ năm 2010 đến năm 2020 tuyển và sử dụng lao động liên quan đến khoa học, công nghệ, kỹ thuật tăng 62%, gấp hơn 5 lần so với các ngành nghề khác. Cũng theo dự tính của Mỹ, vào năm 2030 máy tính, robot với trí tuệ nhân tạo sẽ thay thế 60% nghề nghiệp tương lai của con người. Từ thực tế đó, học sinh, sinh viên Mỹ buộc phải trang bị tri thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật tương xứng với nền kinh tế mới. Đó là yêu cầu khách quan, thực tế của thị trường lao động Mỹ.
Hơn nữa, Chính quyền Mỹ luôn coi trọng nhóm ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật. Họ ưu tiên và dành nguồn lực đáng kể vào nhóm ngành nghề này, vì nó mang lại cơ hội việc làm, đóng góp vào lĩnh vực sàn xuất và dịch vụ cho quốc gia, đóng vai trò quan trọng nhất giúp Mỹ tăng lợi thế cạnh tranh trong cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, trong nền kinh tế quốc tế hóa.
Không phải trong thời gian gần đây người Mỹ mới quan tâm đến STEM (Tổng thống Barack Obama, Tổng thống Donald Trump khi bước chân vào Nhà Trắng đều đến thăm các tiết dạy STEM ở tiểu học và trung học). Ngay từ cuối những năm năm 50 của thế kỷ trước, khi Liên bang Xô Viết phóng vệ tinh Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới do đối thủ của Mỹ chế tạo và phóng nó lên quỹ đạo trái đất vào ngày 4 tháng 10 năm 1957, mở đầu kỷ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người, cả nước Mỹ gần như đã chết lặng. Tổng thống Dwight D. Eisenhower đã gọi đó là cuộc "Khủng hoảng Sputnik". Thời điểm ấy, Hoa Kỳ chỉ có thể mang bom hạt nhân bằng máy bay như thời điểm năm 1945 họ đã mang đến thả xuống đất nước Nhật Bản. Sự kiện Sputnik đã chứng tỏ Liên Xô có thể đưa một đầu đạn hạt nhân đến bất cứ đâu trên thế giới chỉ trong vài phút, xuyên qua lá chắn hai đại dương: Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, thứ đã bảo vệ thành công Hoa Kỳ lục địa khỏi bị tấn công trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới. Nước Mỹ và phương Tây hoàn toàn bất an sau sự kiện Sputnik.
Chưa đầy một năm sau, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Giáo dục Quốc phòng (NDEA). Luật này cho phép chương trình tiêu tốn hàng tỷ đô la hàng năm vào hệ thống giáo dục Hoa Kỳ để phát triển khoa học, kỹ thuật. Sau cú sốc ban đầu, cuộc chạy đua vào không gian của Mỹ chính thức khởi động, dẫn đến sự kiện người Mỹ lần đầu bay vào không gian, thực hiện chương trình Apollo và đưa những người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng năm 1969. Cuối cùng thì Hoa kỳ, kẻ đi sau đã vượt qua được Liên Xô. Cho đến ngày hôm nay, Chương trình Chiến tranh giữa các vì sao có từ thời Tổng thống Ronald Reagan hiện đang được Tổng thống Trump tái khởi động trên cơ sở công nghệ mới và hiện đại nhằm duy trì vị thế số 1 của Mỹ trong việc chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ. Vấn đề STEM càng được chính quyền Mỹ quan tâm đặc biệt.
Ngoài ra người ta còn kể đến các doanh nghiệp Mỹ, họ luôn dành ưu tiên đầu tư khoa học, công nghệ, kỹ thuật trong sản xuất, yếu tố quyết định năng suất lao động và sản phẩm vật chất mang hàm lượng trí tuệ cao, đem lại lợi nhuận khổng lồ từ thị trường toàn cầu. Chỉ tính riêng ở địa điểm Thung lũng Silicon bang California, được mệnh danh là bộ não của nhân loại đã có tới hơn 30.000 doanh nghiệp tầm cỡ thế giới đang ngày đêm sản sinh ra những giải pháp khoa học, công nghệ toàn cầu (xin xem bài viết Đôi điều về Thung lũng Silicon của tôi trên trang Facebook mấy tháng trước).
Chính thị trường của một nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới đã thúc đẩy vị thế của STEM trong xã hội Hoa Kỳ. Vậy STEM là gì?
Thuật ngữ STEM là chữ viết tắt của bốn từ tiếng Anh: Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Math (toán học). STEM được hình thành trên cái cốt vật chất khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học và nhu cầu của xã hội Mỹ nên giáo dục Mỹ đã trở thành cái nôi đầu tiên sản sinh ra khái niệm giáo dục STEM, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết liên quan đến 4 lĩnh vực: Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học. Trong đó, các kiến thức và kỹ năng STEM được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau, giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày.
Có một điểm chúng ta cần lưu ý, mặc dầu Hoa Kỳ là một siêu cường về kinh tế, chính trị, khoa học, quân sự, một cường quốc về giáo dục, nhưng thành tích thi cử lại kém nhiều nước ở châu Á, trong đó có Việt Nam (chẳng hạn như đánh giá PISA gần đây Việt Nam xếp thứ 16, Mỹ xếp thứ 33). Một trong những nguyên nhân là do hệ thống giáo dục phổ thông của Mỹ không chú trọng đến việc thi cử và luyện thi. Về cơ bản, các nhà trường Mỹ không tổ chức thi tốt nghiệp tiểu học, không thi tốt nghiệp THCS, không thi vào THPT, Không thi tốt nghiệp THPT, cũng không thi vào đại học (một trong những lý do họ cho rằng việc thiên về thi cử chỉ đào tạo ra lớp thợ thừa hành với tư duy bậc thấp). Thay vào đó họ tập trung vào năng lực STEM, rèn luyện thể lực và nghệ thuật; phát triển những năng lực mang tính nền tảng cho học sinh đi trên một con đường xa hơn, hướng đến sự sáng tạo và lãnh đạo toàn cầu (Hoa Kỳ đứng đầu thế giới về nghiên cứu và phát minh. 100 trường đại học hàng đầu thế giới thì 70 trường là của Mỹ. Hơn một phần ba giải thưởng Nobel của nhân loại thuộc về người Mỹ. Tivi, tủ lạnh, điện thoại, điện thoại thông minh, ô tô, máy bay, máy tính, mạng internet, cùng với các phần mềm thống trị thế giới như hệ điều hành Windown của Microsoft, google, Facebook, youtube… Tất cả đều là phát minh của người Mỹ).
Giáo dục STEM là gì?
Ở Hoa Kỳ có nhiều cách hiểu về giáo dục STEM. Tổ chức uy tín trong lĩnh vực giáo dục khoa học trên thế giới là Hiệp hội các giáo viên dạy khoa học quốc gia (National Science Teachers Association - NSTA) đã đề xuất khái niệm giáo dục STEM (STEM education): "Giáo dục STEM là cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học, trong đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắc được lồng ghép vào những bài học cụ thể, ở đó học sinh áp dụng kiến thức trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán vào trong các bối cảnh cụ thể giúp kết nối trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàn cầu, để từ đó phát triển năng lực cá nhân trong lĩnh vực STEM và cùng với đó có thể cạnh tranh trong nền kinh tế mới”.
Thực tế giáo dục STEM hiện nay ở Mỹ có một số cách hiểu khác nhau. Có hàng nghìn nội dung, chương trình STEM được các viện nghiên cứu đưa ra cho các bang, các thành phố, các nhà trường tùy ý lựa chọn (Mỹ không có một chương trình giáo dục thống nhất toàn liên bang. Mỗi bang có một chương trình riêng. Thậm chí mỗi thành phố có một chương trình riêng phù hợp với khu vực địa bàn của mình). Một trong những quan niệm được nhiều người thừa nhận là giáo dục STEM gồm hai cấp độ: Chương trình học (curriculum) và bài học (lesson plan). Tựu trung nó có năm đặc điểm sau:
- Tập trung vào việc tích hợp.
- Liên hệ kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán với thực tế cuộc sống.
- Hướng đến phát triển những kỹ năng cho học sinh trong nền kinh tế mới.
- Thử thách học sinh, sinh viên vượt qua chính bản thân họ.
- Có tính hệ thống, gắn kết.
Tổ chức này đề ra ba mục đích giáo dục STEM ở Mỹ trong nhà trường từ mầm non tới đại học):
- Xây dựng năng lực nhận thức STEM cho thế hệ công dân tương lai.
- Chuần bị những năng lực cần thiết cho nguồn lao động trong thế kỷ 21.
- Tập trung nghiên cứu, phát triển và đổi mới trong lĩnh vực giáo dục ngành nghề STEM (từ bậc đại học trở lên)
Hình thức tổ chức STEM?
- Dạy môn học STEM và các môn học thuộc lĩnh vực STEM trong nhà trường theo chương trình (ở cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở gọi là môn Khoa học). Các chủ đề, bài học và hoạt động giáo dục STEM được triển khai trong quá trình dạy học theo hướng tiếp cận liên ngành, liên môn, liên hệ với thực tiễn cuộc sống.
- Hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa theo chương trình giáo dục STEM.
- Hoạt động trải nghiêm STEM: Thực hành khám phá, thí nghiệm, ứng dụng khoa học kỹ thuật tại nhà trường, tại các cơ sở giáo dục nghề, các trường đại học, các doanh nghiệp. Tổ chức các câu lạc bộ STEM. Tham quan bảo tàng khoa học và tự nhiên (ở Mỹ có hàng trăm bảo tàng khoa học và tự nhiên, nhiều bảo tàng có khu STEM riêng; xin xem bài viết Thăm thành phố Chicago, Bảo tàng Khoa học, Công nghiệp Chicago, Bảo tàng Khoa học Tự nhiên Denver của tôi trong trang Facebook này mấy tháng trước), các khu bảo tồn, các trang trại…
- Hoạt động nghiên cứu khoa học và tổ chức các cuộc thi sáng tạo với các chủ đề.
- Tham dự các khóa hè STEM (do nhà trường, do các doanh nghiệp tổ chức theo các chương trình riêng).
Kết quả giáo dục STEAM?
Qua những nghiên cứu trong hơn hai mươi năm ở hàng trăm trường đại học và viện nghiên cứu ở Mỹ, những học sinh theo học theo cách tiếp cận giáo dục STEM đều có những ưu thế nổi trội như: kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học; khả năng sáng tạo, tư duy logic, hiệu suất học tập và làm việc vượt trội, có cơ hội phát triển các kỹ năng mềm toàn diện hơn trong khi không hề có cảm giác nặng nề, quá tải. Giáo dục STEM còn thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn.
Kết luận
Tóm lại, xã hội Mỹ rất quan tâm tới STEM: Từ chính sách đến ngân sách, từ chính quyền đến các doanh nghiệp và nhà hảo tâm, từ nhà trường đến gia đình, cộng với nền tảng vật chất STEM tại Hoa Kỳ… Tất cả tạo nên một môi trường STEM để các nhà giáo dục Mỹ làm công tác giáo dục STEM.
Về mặt pháp luật, ngày 9/7/2007 Quốc hội Mỹ ban hành Luật America COMPETES nhằm tăng cường đầu tư, nghiên cứu khoa học và kỹ thuật và giáo dục STEM từ cấp mầm non đến sau đại học, sau tiến sỹ. Nó cho phép tăng cường các nguồn lực, kinh phí cho quỹ quốc gia, các phòng thí nghiệm công nghệ cho các nhà trường. Ngoài luật, Hoa kỳ còn có Quỹ Khoa học Quốc gia chuyên lo phân bổ kinh phí nghiên cứu cho các trường học. Một hệ thống nữa là học viện STEM Quốc gia và hàng trăm viện STEM ở các trường đại học khắp liên bang , những tổ chức phi lợi nhuận chuyên nghiên cứu về việc nâng cao kiến thức STEM cho học sinh, sinh viên. Chẳng hạn như Tổ chức Dẫn đường (Lead Way), tổ chức phi lợi nhuận hàng đầu Hoa Kỳ chuyên cung cấp chương trình giáo dục STEM cho các trường trung học ở Mỹ. Ngoài ra còn có Bộ Quốc phòng, cơ quan NASA và nhiều cơ quan khác cũng dành nguồn kinh phí nhất định cho việc giáo dục STEM có liên quan đến quốc phòng, chương trình không gian vũ trụ và các chương trình riêng của họ…
Tại sao Hoa Kỳ lại quan tâm đến STEM như vậy? Họ cho rằng các bài học STEM trong chương trình học phổ thông rất quan trọng. Các nhà kinh tế, các nhà khoa học đều cho rằng đến giữa thế kỷ này sẽ có khoảng 80.000.000 việc làm mới trong nền kinh tế mới, Công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Học sinh được giảng dạy ngày hôm nay là những người đổi mới trong tương lại gần. Họ cần được trang bị STEM để sáng tạo, để giải quyết những vấn đề, thậm chí những vấn đề ngày hôm nay chưa xuất hiện. Các dự án STEM tích hợp các kỹ năng khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đặt ra những thách thức để học sinh, sinh viên giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, những thách thức giúp học sinh, sinh viên phát triển tư duy phản biện, đổi mới, tư duy bậc cao và giao tiếp để giải quyết hàng loạt vấn đề trong thế giới thực.
Những thay đổi trong nền kinh tế, nền kinh tế mới, hay còn gọi là cuộc cách mạng 4.0. đã xảy ra tại Mỹ. Nhiều việc làm đã mất đi và trong thời gian tới nhiều việc làm, nhất là lao động đơn giản không còn nữa. Thay thế vào đó là công việc của robot, của trí tuệ nhân tạo. Rất nhiều ngành nghề mới đã, đang và sẽ ra đời mang hàm lượng trí tuệ cao. Ngoài những ngành nghề về trí tuệ nhân tạo, người máy, thực tại ảo, công nghệ nano, công nghệ lý, hóa, sinh học còn hàng trăm ngành nghề hoàn toàn mới sẽ ra đời trong tương lai.
Nguồn lao động chất lương cao không chỉ cần kiến thức chuyên ngành mà đòi hỏi sự hiểu biết liên ngành của bốn lĩnh vực như ở trên đã trình bày. Do vậy nền giáo dục Mỹ hình thành cho học sinh, sinh viên năng lực STEM (STEM literacy) mà điểm nổi bật của nó là năng lực vận dụng, kết nối và liên hệ thông tin giữa các lĩnh vực vào cuộc sống ngay từ mầm non, tiểu học và trung học.
Read More

Một số cảm nhận về cuốn hồi ký Trung đoàn một thời chiến trận

Leave a Comment
Cuốn hồi ký “Trung đoàn một thời chiến trận” của Đại tá– Lương y Hồ Hữu Lạn để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Là cán bộ thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 324 từ ngày thành lập đến nay, Đại tá Hồ Hữu Lạn đã trải qua một chặng đường dài trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình. Nhận định về Trung đoàn 3 và cá nhân đồng chí Hồ Hữu Lạn, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu có viết lời giới thiệu cuốn hồi ký như sau: “Dải đất Trị Thiên là một chiến trường đầy ác liệt, gian khổ và chói lọi vinh quang. Trải qua hàng chục năm chiến đấu quyết liệt, trên dải đất này đã hun đúc, đào luyện nên nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu xuất sắc, trong đó có Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 là một tập thể anh hùng; đồng chí Hồ Hữu Lạn là một cán bộ chỉ huy chiến đấu xuất sắc”. Tôi nghĩ nhận xét này đã ghi nhận đầy đủ những điều cần nói về một trung đoàn, về một con người.
Tôi xin không nhắc lại những lời nhận xét về con người, về nội dung nghệ thuật cuốn hồi ký mà nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, các sỹ quan cùng với các cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 đã viết và được dẫn trong cuốn hồi ký. Trong khuôn khổ một bài viết, tôi chỉ xin nêu những cảm nhận cá nhân sau khi đã đọc đến lần thứ 4 vào những ngày đầu xuân Canh Tý này. Có thể nói cuốn hồi ký đã phản ánh xác thực cuộc sống gian khổ, đầy hy sinh của cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 3 qua bao chiến dịch, qua bao trận chiến khốc liệt từ ngày thành lập đến năm 1977.
Cuốn hồi ký thu hút tôi ngay từ trang đầu. 575 trang sách tôi đọc gần như liên tục ba ngày đêm. Đó là một khối lượng đồ sộ những sự kiện bắt đầu từ ngày thành lập Trung đoàn 3. Anh Hồ Hữu Lạn là một nhân chứng sống, dẫn dắt người đọc từ khi Trung đoàn 3 đi làm nhiệm vụ quốc tế ở chiến trường Lào, tham gia chiến trường Bắc Quảng Trị, chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại thành phố Huế, chiến dịch Đồi A Bia 1969, điểm cao 935- Cốc Bai Tây Trị Thiên 1970, chiến dịch Đường 9 Nam Lào 1971, Chiến dịch Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972, đến giải phóng Chi khu Quận lỵ Đắk Pét Tây Nguyên, Chiến dịch Thượng Đức Quảng 1974, Chiến dịch Tổng Tấn công 1975 với tư cách là trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng.
Tất cả những trải nghiệm thực tế, những sự kiện lịch sử của trung đoàn đều được anh Hồ Hữu Lạn tái hiện một cách sinh động. Đó là một chuỗi những cuộc chiến đấu theo hai nghĩa, với kẻ thù và với chính bản thân anh cũng như với các cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3. Đó là tinh thần chiến đấu ngoan cường, mưu trí, chủ động, sáng tạo và quyết đoán. Đó là những chiếncông lừng lẫy và sự hy sinh lớn lao của cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3. Cuốn sách có giá trị lịch sử cao, một tư liệu quý giá cho những nhà nghiên cứu lịch sử, cho các trường sỹ quan, cho các đơn vị quân đội học tập, nghiên cứu và huấn luyện, cho những nhà văn, nhà viết kịch bản, cho những đạo diễn viết và dựng phim về đề tài chiến tranh…
Đọc chương 2, Trung đoàn 3 đi làm nhiệm vụ quốc tế, tôi liên tưởng đến bài thơ Tây tiến nổi tiếng của nhà thơ Quang Dũng: “Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Bài Thơ Tây tiến của Quang Dũng đã tạo nên hình tượng người chiến sỹ Trung đoàn Tây tiến không thể nào quên trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ở Thượng Lào cũng như miền tây bắc Bắc Bộ với cảm hứng lãng mạn và bi tráng. Cuộc sống của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, đầy hy sinh: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ, Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Tuy vậy, họ vẫn lạc quan, vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh. Họ giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, yêu đời và rất lãng mạn. Tưởng như lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ còn lặp lại một thời lãng mạn, hào hùng đến nhường ấy, nhưng tôi đã nhầm. Trung đoàn 3 trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt cũng tương tự như hoàn cảnh của Trung đoàn Tây tiến năm xưa. 200 chiến sỹ thiếu đói, thiếu thuốc men đã hy sinh vì sốt rét. Vậy mà cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 3 vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu cùng với Bộ đội Pa Thét Lào.
Nếu như nhà thơ Quang Dũng đã tạo nên hình tượng người chiến sỹ bất hủ qua bài thơ Tây tiến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp thì Đại tá Hồ Hữu Lan đã khắc họa được hình ảnh tập thể cán bộ chiến sỹ bất tử, hy sinh làm nhiệm vụ quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chỉ tiếc là người chiến sỹ trong bài thơ Tây tiến đã được xây dựng tượng đài ở Mộc Châu, Sơn La còn người chiến sỹ Trung đoàn 3 kể từ 1965 làm nhiệm vụ Quốc tế, và suốt những năm lập công vang dội trong thời gian hơn một chục năm trên chiến trường Trị- Thiên, Tây nguyên, Quảng nam thì chưa được xây dựng tượng đài ở nơi nào.
Sự cuốn hút, cái hay của cuốn hồi ký Trung đoàn một thời chiến trận là trong mỗi chiến dịch, mỗi trận đánh, tác giả đều đặt nó trong bối cảnh lịch sử chung của chiến trường miền Nam. Thậm chí trong nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh tác giả còn khái quát nghị quyết, nhiệm vụ của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, nghị quyết, nhiệm vụ của Quân khu Trị Thiên, của Sư đoàn 324, vì vậy người đọc thấy được bối cảnh chung, hoàn cảnh riêng của từng chiến dịch, của từng trận đánh. Sự việc người đọc đã biết, sự việc người đọc chưa biết, sự việc người đọc đợi chờ, tất cả cứ kéo người đọc không dứt khỏi trang sách. Điều này thể hiện rất rõ qua chương ba “Trung đoàn ra quân đánh Mỹ năm 1967”, chương bốn “Xuân Mậu Thân 1968 tiến công nổi dậy, anh dũng kiên cường”, chương năm “Động A Bia mùa hè năm 1969”, chương 6 “Điểm cao 935-Cốc Bai mùa thu 1970 chiến công vang dội, nối thế ba vùng”.
Với chương 5 và chương 6, tôi đã đọc không dưới một chục lần. Tôi rất cảm ơn Đại tá Hồ Hữu Lạn về cuốn hồi ký “Trung đoàn một thời chiến trận”. Nếu không đọc kỹ chương 5 và chương 6 của anh, tôi không biết phải dịch hai cuốn “Đồi Thịt băm” và “Đại bàng gào thét trong vòng vây” của các tác giả Mỹ như thế nào cho sát với thực tế trận chiến. Tôi đọc kỹ hai chương này còn vì tôi nhận ra hai ngọn lửa, một ngọn lửa khốc liệt của hai trận chiến, một ngọn lửa mãnh liệt trong tâm hồn ẩn sau những dòng hồi ký trong con người anh.
Ở ngọn lửa thứ nhất, trận đánh trên Động A Bia, người Mỹ gọi là Đồi Thịt băm, trận đánh trên điểm cao 935, người Mỹ gọi là Ripcord. Hai trận đánh này được người Mỹ gọi là hai trận đánh kinh điển trong năm trận đánh kinh điển (ba trận khác là trận Ia- Drăng, trận Đắc Tô-Tân Cảnh, trận Khe sanh- Tà cơn) của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Trung đoàn 3 và Trung đoàn 1 Sư 324 đều trực tiếp tham gia hai trận đánh này. Các sỹ quan và binh sỹ Mỹ không thể lý giải vì sao chúng ta lại thắng trong hai trận đánh, mà theo người Mỹ họ cho là “dữ dội nhất, khủng khiếp nhất, kinh hoàng nhất và đẫm máu nhất”. Chỉ khi đọc kỹ hai chương trong cuốn hồi ký tôi mới hiểu thật sự nghĩa đen cũng như nghĩa bóng của những cụm từ: “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, “Ý chí quyết chiến quyết thắng”, mới hiểu vì sao mỗi quả đồi, mỗi điểm cao phải chịu hàng ngàn tấn bom các loại, hàng vạn quả đạn pháo, cối các loại và trải qua hàng chục cuộc tấn công có sự hỗ trợ của máy bay trực thăng vũ trang với bom cháy, đạn hóa học, các loại vũ khí hiện đại có sức công phá tưởng như không còn một loài sinh vật nào có thể sống sót, vậy mà các chiến sỹ Trung đoàn 3, Trung đoàn 1 vẫn trụ vững. Chỉ khi đọc kỹ hai chương trên tôi mới thật thấu hiểu thế nào là “vận động tiến công kết hợp chốt, chốt để vận động tiến công”, chỉ khi đọc kỹ hai chương tôi mới thấu hiểu thế nào là “quyết, vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt”, bảy phương châm tác chiến trong vây điểm diệt viện, tiến tới diệt điểm.
Ở ngọn lửa thứ hai, từng câu chữ, từng hình ảnh, từng chi tiết, từng con người, từng sự việc, tất cả đều hừng hực khí thế, đều thấm đẫm xương máu của biết bao cán bộ chiến sỹ mưu trí dũng cảm, cùng đồng cam cộng khổ, biết lợi dụng địa hình địa vật, biết tạo ra địa hình địa vật và chướng ngại vật, cùng vào sinh ra tử để chiến thắng kẻ thù.
Ở hai chương này, tác giả còn tham khảo và trích dẫn một số tư liệu người Mỹ viết. Họ nguyên là sử gia, sỹ quan, binh lính, tham gia hai trận đánh. Vì vậy người viết có cái nhìn hai chiều, làm cho người đọc thấy rõ hơn giá trị của các trận đánh. Mặc dù hai trận đánh chỉ ở mức độ quy mô trung đoàn, lại diễn ra trong một thời gian không dài, ở một không gian không quá rộng, nhưng hai trận đánh trên đồi A Bia và trên điểm cao 935 lại mang một ý nghĩa chiến lược to lớn, làm chấn động nước Mỹ, gây chia rẽ và bất hòa sâu sắc trong chính quyền Mỹ, làm giấy lên làn sóng biểu tình đông đảo của hàng vạn người Mỹ. Hai trận đánh này đã tạo ra một cuộc “chiến tranh Việt Nam trong lòng nước Mỹ”, buộc chính quyền Mỹ phải tìm cách nhanh chóng kết thúc chiến tranh, nhanh chóng rút quân về nước.
Trong một lần về thăm chiến trường xưa, tôi có hỏi Đại tá Phan Đân, nguyên chính ủy Sư đoàn 324, nguyên cán bộ đại đội chỉ huy trận đánh trên Động A Bia, trên ngọn núi Cô Pung và Cốc Bai: “yếu tố nào Thủ trưởng cho rằng ta tránh được thương vong khi bom đạn địch ngày đêm giội xuống”? Ông trả lời: “Bộ đội ta biết đánh và biết tránh, có công sự, hầm hào kiên cố, có đường cơ động, chướng ngại, biết đánh mìn, phát huy mọi loại vũ khi để diệt địch. Trong trận A Bia, Đại đội Công binh của anh Lạn đóng một vai trò không nhỏ”.
Nguyên là một sỹ quan công binh, nhưng tại sao đồng chí Hồ Hữu Lạn lại được cấp trên tin tưởng giao cho nhiệm vụ chỉ huy đại đội bộ binh đánh địch có hiệu quả trên đường 12 Động Tranh- Bình điền vào năm 1968? Đặc biệt khi Đại đội 3, Tiểu đoàn 7 gặp khó khăn đồng chí Lạn lại được điều về đại đội chỉ huy chiến đấu? Ngoài yếu tố tinh thần, ngoài việc xả thân vì nhiệm vụ, ngoài việc gương mẫu trước chiến sỹ, ngoài việc chấp nhận gian khổ hy sinh thì khả năng của một cán bộ chỉ huy bộ binh là yếu tố quyết định để các cấp và đồng đội tin tưởng. Không một cán bộ cấp trên nào, không một chiến sỹ nào lại chấp nhận việc đem xương máu, tính mạng đồng đội giao cho một người không chứng minh được bản thân ở chiến trường. Đồng chí Hồ Hữu Lạn đã vận dụng năng lực sử dụng các loại vũ khí bộ binh và công binh như mìn để đánh bộ binh Mỹ, đánh xe tăng và hạ máy bay trực thăng Mỹ khi chúng đổ quân; vận dụng năng lực sử dụng công sự hầm hào và khả năng chỉ huy trong quá trình chỉ huy bộ binh đánh địch. Chính vì thế mà anh hạn chế được việc bộ binh thương vong và hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao phó.
Cuối năm 1970, Đảng ủy Trung đoàn 3 đã giao cho đồng chí Hồ Hữu Lạn làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 sau một quá trình thử thách. Đồng chí Lạn đã nhận nhiệm vụ và coi đó là một trọng trách. Bắt đầu từ đó, đồng chí Lạn có ý thức vươn lên học tập từ thực tế chiến trường, học tập từ cấp trên, từ đồng nghiệp, bạn bè, học tập qua các đợt diễn tập, học tập qua các đợt tập huấn, học tập và nghiên cứu sâu cách đánh địch, rồi tiến tới học công tác tham mưu trung đoàn, lập kế hoạch tác chiến hợp đồng binh hỏa lực để vận dụng vào thực tế chiến đấu… Không phụ lòng tin yêu của các cấp và đồng đội, đồng chí Hồ Hữu Lạn đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ Trung đoàn 3 giao cho với trí thông minh, tinh thần dũng cảm và quyết đoán. Điều này được thể hiện rõ qua chương bảy, chương tám, chương chin. Cả ba chương đầy ắp những sự kiện với biết bao con người trong chiến dịch Nam Lào năm 1971, chiến dịch Trị Thiên năm 1972, Tây Thừa Thiên Huế năm 1973.
Trên dưới 50 năm đã trôi qua, nhiều anh em cựu chiến binh chúng tôi khi đọc lại những chương trên đều thấy sống dậy trong mình nhiều kỷ niệm: Từ việc sinh hoạt tư tưởng, tăng gia sản xuất, huấn luyện và diễn tập thực binh chiến đấu, đặc biệt là các trận đánh, các chiến dịch. Có người nói còn thiếu cái này, còn thiếu cái kia, nhưng vì là một cuốn hồi ký không thể ghi đầy đủ, lột tả hết mọi chi tiết trong cuộc chiến trải dài qua thời gian và không gian rộng lớn. Khác với các sử gia và các nhà nghiên cứu lịch sử, người viết hồi ký chỉ tái hiện phần hiện thực thường nằm trong trí nhớ và tầm nhìn của mình, ghi lại những ấn tượng và hồi ức của bản thân mình nên không thể đem tất cả các sự kiện trong cuộc chiến vào tác phẩm. Tuy nhiên tất cả anh em cựu chiến binh vẫn thấy bóng dáng mình ở trong cuốn sách. Vì vậy không phải ngẫu nhiên tác phẩm của anh đã được đọc, được trích dẫn nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Đầu tháng 8 năm 1973 đồng chí Hồ Hữu Lạn được giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trungđoàn 3. Sau đó được cử vào chiến trường Tây Nguyên. Sự kiện này đã ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc cả về mặt thực tiễn, lý luận và năng lực chỉ huy của anh; đồng thời cũng là thử thách mới với anh. Chiến trường hoàn toàn mới, địa hình mới, kẻ địch mới, cách đánh cũng mới. Trung đoàn 3 đã trải qua hàng trăm trận chiến, tiêu diệt hàng nghìn tên địch trong những năm 1967 đến 1973 nhưng đó là ở chiến trường Trị Thiên. “Đem chuông đi đánh xứ người” sẽ hoàn toàn khác. Nhưng anh Lạn vẫn được Quân khu Trị Thiên và Sư đoàn 324 tin tưởng giao nhiệm vụ vào chiến trường bạn, cùng các đơn vị bạn đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Đắk Pét và chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức.
Hai chương áp chót “Đắc Pét tháng 5 năm 1974”, “Thượng Đức tháng 7 năm 1974” là hai chương được Đại tá Hồ Hữu Lạn viết kỹ nhất. Và cũng là hai chương tôi thích nhất. Sức cuốn hút của nó vẫn bắt nguồn từ hai ngọn lửa, ngọn lửa ác liệt của chiến trường, nhất là việc đánh bại Sư Dù ở Thượng Đức và ngọn lửa ẩn sâu trong con người vị chỉ huy trung đoàn, ẩn sau những dòng chữ, những hình ảnh, những sự kiện mà giá trị của nó mang tầm chiến lược.
Từ khâu chuẩn bị, hành quân vào Tây Nguyên, làm quen với Bộ chỉ huy chiến dịch, ổn định tư tưởng, tổ chức đến việc quán triệt nhiệm vụ, nhanh chóng nắm chắc tình hình chiến trường mới, địa bàn địa hình mới, tổ chức công tác trinh sát, xây dựng phương án chiến đấu, tổ chức chiến đấu, Trung đoàn 3 đều hoàn thành nhiệm vụ; nhiệm vụ đánh chiếm một loạt cứ điểm, giải phóng một số lượng lớn dân cư ở chi khu quân sự Quân lỵ Đắc Pét với tổn thất thấp nhất. Trung đoàn 3 đã phát huy cao độ truyền thống phòng ngự, chốt chặn, chốt kết hợp tiến công trong những năm 1965- 1973. Trung đoàn còn học tập được kinh nghiệm của các đơn vị ở Tây nguyên, hoàn thiện các hình thức tiến công địch trong công sự và đánh địch dã ngoại. Dưới sự lãnh đạo của tập thể cán bộ, đứng đầu là anh Hồ Hữu Lạn, Trung đoàn 3 trong chiến dịch Đắk Pét xứng đáng được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.
Theo cá nhân tôi, vai trò và nãng lực của tập thể cán bộ Trung đoàn 3 trong giai đoạn năm 1973, 1974 thể hiện rõ nét nhất ở trong Chiến dịch Thượng Đức. Cùng với Sư đoàn 304 và các lựclượng địa phương, Trung đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc việc đánh chiếm một loạt các căn cứ của địch ở Ba khe, Hà sống, đánh bại Sư đoàn 3 ngụy và Liên đoàn 14 Biệt động quân tấn công giải tỏaThượng Đức, chia cắt và bao vây địch từ phía đông chi khu quận lỵ Thượng Đức theo kế hoạch của Bộ tư lệnh chiến dịch, góp phần rất quan trọng cùng với Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 giải phóng Thượng Đức vào 8h ngày 7/8/1974. Cánh cửa thép phòng thủ của địch phía tây nam Đà nẵng đã được mở toang. Tổng thống Nguyễn VănThiệu buộc phải đưa Sư Dù, lực lượng Tổng dự bị chiến lược vào phản kích tái chiếm Thượng Đức.
Tổng thống Thiệu tin tưởng Sư Dù sẽ tái chiếm được Thượng Đức. Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh Sư Dù huyênh hoang tuyên bố trong 20 ngày sẽ chiếm lại Thượng Đức. Trung đoàn 3 tuy mới đánh chiếm Hà nha, Hà sống, Bàn tân song đã chủ động chuyển vào phòng ngự, đón đánh Sư Dù tiến công vào trận địa. Từ giữa tháng 8, đến đầu tháng 10/1974, Sư Dù bị thất bại, mất tiền lệ át chủ bài đi chữa cháy, giải quyết chiến trường như ở Phước Long và Quảng Trị 1972. Tháng 10/1974 Sư đoàn 304 đưa Trung đoàn 24, Trung đoàn 66 vào cùng Trung đoàn 3 dồn lên phòng ngự vững chắc, đánh bại Sư Dù giữ vững vùng giải phóng Thượng Đức. Cuộc hành quân tiến công lần thứ 3 của Sư Dù bị thất bại, xương sống ngụy quân bị đập gãy từ đây. Tình thế chiến lược mới đã xuất hiện. Chủ lực của ta đã mạnh hơn chủ lực của kẻ địch (nhận định của Quân ủy Trung ương). Chính điều này đã tạo điều kiện, thời cơ cho các chiến trường khác mở các chiến dịch, sau đó phát triển tiến công, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Chiến dịch Thượng Đức không chỉ chứng tỏ khả năng của Trung đoàn 3 trong đánh công kiên, đánh dã ngoại, Trung đoàn còn phát huy đến đỉnh cao khi chuyển sang phòng ngự bảo vệ vùng giải phóng Thượng Đức trước Sư đoàn Dù, nhất là trong 45 ngày đầu chiến dịch phòng ngự. Sư Dù, tổng dự bị, con át chủ bài, sư đoàn “con cưng” của nền Cộng hòa đối đầu với Trung đoàn 3 bị thất bại thảm hại.
Sau các cuộc tiến công quân số thiếu hụt, với lực lượng mỏng dàn trải trên cả một vùng rộng lớn từ điểm cao 1062, đồi 700, sân bay An định, điểm cao 383, chốt T2, điểm cao 109, 126 đến Hà Nha, Hà Sống, Làng Lâm Phụng, Bàn Tân, đồi Ba khe, Trung đoàn phải đương đầu với cả ba lữ đoàn dù trong thời gian dài rất ác liệt. Tập thể cán bộ trung đoàn đã bàn bạc cách đánh phòng ngự, chốt theo chiều sâu truyền thống vốn trở thành thương hiệu, không để hở sườn. Tất cả các đơn vị chủ động, tích cực đánh địch trước chốt và hỗ trợ chốt bạn chiến đấu. Trung đoàn sử dụng độc chiêu huy động tối đa hỏa lực các loại như 12.7 ly, ĐKZ, cối 82ly, 120ly, bắn lướt sườn, bắn vào các mục tiêu có địch tập trung; sử dụng cách đánh gần, kiên cường bám trụ, phản kích tại chỗ.
Khi mất chốt, các chốt lân cận hai bên, các chốt phía sau thực hiện bao vây chia cắt đánh địch cả phía trước, phía sau không để địch tăng quân củng cố,và tổ chức phản kích chiếm lại chốt ngay. Đó là một thế trận có các trận địa liên hoàn vững chắc, có cách đánh kiên quyết mưu trí sáng tạo nên ngay từ ngày đầu Sư Dù đã bị bất ngờ, thua trận giảm nhuệ khí chiến đấu, bị động lúng túng đối phó. Tuy Sư Dù tập trung tối đa binh, hỏa lực vào từng điểm chốt, chúng cũng không thể đánh chiếm được trận địa của Trung đoàn 3.
Trên thực tế, Sư Dù ngụy đã thua Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 tại mặt trận Thượng Đức ngay từ ngày đầu. Nếu Trung đoàn 3 không đánh bại Sư Dù trong 45 ngày đầu chiến dịch phòng ngự thì việc giữ vững Thương Đức, thu hút giam chân đánh bại Sư Dù, giữ vững vùng giải phóng Thượng Đức khó diễn ra có kết quả. Có thể thấy cuộc chiến của Trung đoàn 3 ở chiến trường Thượng Đưc, tiến công cũng như phòng ngự, người chỉ huy đều tạo thế, lập thế trước, chủ động đưa địch vào trận đia, đánh theo thế trận bày sẵn của mình (như đi cờ thế) nên đơn vị ngụy quân Sài gòn nổi tiếng bị bất ngờ thua trận. Tôi được biết Chiến dịch phòng ngự Thượng Đức đã trở thành tài liệu sách giáo khoa của các học viện, nhà trường trong Quân đội ta.
Gần 90 trang viết về Thượng Đức của Đại tá Hồ Hữu Lạn là một khúc tráng ca hào hùng, thể hiện tất cả phẩm chất anh hùng, bất khuất, tinh thần kiên cường, sự mưu trí, sáng tạo của tập thể cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3 trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Không người đọc nào có thể quên được chốt T2, chốt chịu 12 lần máy bay A-37 ném các loại bom xuyên, phá, hàng nghìn quả đạn pháo khoan săm soi dày đặc trong một ngày, Đại đội 6 Tiểu đoàn 8 kiên cường đánh bật hết đợt phản công này đến đợt phản công khác. Tiểu đoàn Dù lì lợm bám dũi theo cách đánh “càng cua, hoa thị”, cố gắng tái chiếm bằng được Thượng Đức. Khi kẻ địch tràn được lên chốt, Chính trị viên Trần Quang Diễn đã ra lệnh cho các chiến sỹ rút xuống hầm, yêu cầu Trung đoàn trưởng bắn hỏa lực trùm lên chốt. Sau vài giây suy tính và quan sát, anh Lạn ra lệnh cho các loại hỏa lực cối 120mm, cối 82mm, DKZ, Pháo 37 ly đồng loạt giội bão lửa trùm lên trận địa. Kẻ thù bị xóa sổ. 14 chiến sỹ đại đội 6 từ hầm moi tiếp tục lên giữ chốt. Khoảnh khắc căng thẳng nhất trong đời chỉ huy của Trung đoàn trưởng đã qua… Chốt thép T2 vẫn giữ vững thế liên hoàn của toàn trận địa.
Nhìn lại chiến dịch Thượng Đức, cá nhân tôi cho rằng Trung đoàn 3 có công lớn trong việc đánh địch, chia cắt chiến dịch cho Trung đoàn 66 dứt điểm cụm căn cứ Thượng Đức. Trung đoàn đã lập công đầu xuất sắc đánh bại Sư Dù điên cuồng phản kích tái chiếm; xây dựng được thế trận đầy giá trị trong chiến dịch phòng ngự. Cùng với Sư đoàn 304, Trung đoàn 3 đã giam chân đánh bại Sư Dù, đập gãy xương sống ngụy quân để đến đầu năm 1975, khiến chúng mất vai trò tổng dự bị…
Chương 12 của cuốn hồi ký viết về vai trò Trung đoàn 3 trong năm 1975, là một trang sử “thủy chung” với Cố đô Huế. Chiến công nối tiếp chiến công, ngày 5/3/1975 trung đoàn từ mặt trận Thượng Đức về Nam Đông nhận nhiệm vụ giải phóng Thành phố Huế. Được tăng cường Đại đội 4 xe tăng của đơn vị đồng chí Bùi Quang Thận, đơn vị đã tổ chức chiến đấu từ núi Bông, núi Nghệ, La Sơn, thọc sâu đánh chiếm thành phố Huế trưa ngày 25/3/1975 và giải phóng Cảng Thuận An chiều cùng ngày (10 ngày đêm liên tục hành quân tổ chức chiến đấu). Trung đoàn 3 tiếp tục được giao nhiệm vụ cùng Trung đoàn 9 Sư đoàn 304, Lữ 203 Tăng, thiết giáp trên hướng chủ yếu của Quân đoàn 2 từ Động Đen tây bắc Đà Nẵng tiến công chiếm Bộ tham mưu Quân đoàn 1 Ngụy sáng ngày 29/3/1975. Sau đó Trung đoàn 3 làm lực lượng dự bị trực tiếp của Quân đoàn 2 cùng tiến vào thành phố Hồ Chí Minh...
Như vậy là Trung đoàn 3 trong suốt cả năm 1974, sang năm 1975 liên tục chiến đấu không ngừng nghỉ, luôn luôn chủ động sẵn sàng trong mọi nhiệm vụ, không bỏ lỡ mọi thời cơ chiến đấu, luôn hiểu rõ nhiệm vụ, có lệnh là chấp hành, chiến đấu thắng lợi. Trong suốt thời gian năm 1974, 1975 ở đâu có trung đoàn 3, ở đó có chiến công. Xuyên suốt cuốn hồi ký, cá nhân tôi còn nhận thấy ở Trung đoàn 3, vào những thời điểm khi đơn vị gặp khó khăn, cấp trên đều rất cân nhắc giao nhiệm vụ cho các cán bộ có năng lực, trong đó có anh Lạn. Ví dụ năm 1968 anh Lạn được đưa về C3/D7 làm Đại đội trưởng, năm 1970 được giao Tiểu đoàn trưởng chỉ huy Tiểu đoàn 9. Đăc biệt năm 1974 anh được Quân khu Trị- Thiên và Sư đoàn 324 giao nhiệm vụ đưa trung đoàn đi chiến đấu ở Đắk Pét và Thượng Đức. Đó là những chiến trường xa lạ, khó khăn ác liệt nhưng tập thể cán bộ và anh Lạn đều nhận nhiệm vụ và vượt qua mọi thử thách. Đúng như nhận định của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “ Trung đoàn 3 sư 324 là một tập thể anh hùng” và “ đồng chí Hồ Hữu Lạn là một cán bộ chỉ huy chiến đấu xuất sắc”.
Cũng như nhiều cuốn sách khác, cuốn hồi ký Trung đoàn một thời chiến trận của Đại tá Hồ Hữu Lạn còn một số khiếm khuyết về nội dung và hình thức, nhưng điều đó đối với tôi và nhiều cựu chiến binh Sư đoàn 324 không phải là vần đề cần quan tâm. Tác giả đã giãi bày: “Xuất phát từ sự tri ân, tưởng nhớ đồng đội, trân trọng lịch sử, truyền thống anh hùng của trung đoàn, sư đoàn và sự hy sinh của quân dân những địa phương đã cùng đơn vị chiến đấu lập công mà viết. Tôi viết về những việc tôi làm, tôi biết”. Đúng vậy, cuốn hồi ký đã lột tả được cuộc sống, tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự hy sinh anh dũng của biết bao cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3 anh hùng, Sư đoàn 324 anh hùng. Có đồng chí cựu chiến binh đã nói trong buổi phát hành sách: “Không viết cuốn hồi ký này, Đại tá Hồ Hữu Lạn còn mắc nợ với đồng chí, đồng đội và nhân dân đã cùng sát cánh trong chiến đấu”. Đúng vậy, cuốn hồi ký là nén hương lòng tri ân trong tâm anh, là nén tâm nhang gửi tới hơn 13 ngàn anh hùng liệt sỹ Sư đoàn 324 đã ngã xuống trên các chiến trường, là lời tri ân gửi tới bạn bè, đồng đội và quân dân các địa phương đã cùng sát cánh chiến đấu với trung đoàn. Chính vì vậy, cuốn sách sẽ còn sống mãi trong tâm trí người đọc, đúng như tên gọi cuốn sách “Trung đoàn một thời chiến trận”.
Read More

Trung Quốc đang gia tăng áp lực với tất cả các nước ASEAN có tranh chấp trên biển Đông

Leave a Comment
Trung Quốc đang gia tăng áp lực với tất cả các nước ASEAN có tranh chấp trên Biển Đông
Trong 10 sự kiện thế giới nổi bật năm 2019 do TTXVN bình chọn, tôi nghĩ sự kiện thứ 2 được nhiều người dân trong khu vực ASEAN đặc biệt quan tâm. Đó là việc Trung Quốc chủ động mở rộng tranh chấp trên biển khiến “Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, gây lo ngại cho cộng đồng quốc tế”. Giới quan sát quốc tế đã đặt ra câu hỏi, trong lúc cuộc chiến thương mại Mỹ -Trung diễn ra rất căng thẳng, tình hình nội bộ Trung Quốc có nhiều vấn đề, tai sao họ vẫn tăng cường gây áp lực với tất cả các nước có tranh chấp trên Biển Đông. Vậy thì Bắc Kinh muốn gì? Liệu tình hình căng thẳng có còn tiếp diễn trong năm 2020 và những năm sau đó?
Trung Quốc đã làm gì ở Biển Đông trong năm 2019?
Trung Quốc đã liên tục gây hấn với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và hung hăng tuyên bố Tàu Sân bay Sơn Đông, con tàu sân bay "nội địa" đầu tiên của nước này tự đóng sẽ tập trung vào nhiệm vụ ở Biển Đông trong năm 2020 nhằm kiểm soát các vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền. Có nghĩa là Bắc kinh sẵn sàng chà đạp lên luật pháp quốc tê ở Biển Đông bằng vũ lực. Đây là hành động leo thang căng thẳng nguy hiểm, ảnh hưởng tới việc duy trì hòa bình ổn định, an ninh trật tự, thượng tôn pháp luật ở khu vực Biển Đông; đi ngược với mục tiêu, lợi ích, nguyện vọng và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế.
Cụ thể ngày vào 4/7/2019, Trung Quốc đưa tàu khảo sát Hải Dương 8 cùng các tàu hộ tống vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Mặc dù Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm phản đối, mặc dù phía Việt Nam đã kiên quyết đấu tranh trong các diễn đàn song phương và đa phương nhưng Bắc Kinh vẫn trơ lì, ngựa quen đường cũ ở vùng biển Việt Nam trong suốt mấy tháng.
Các tàu khảo sát, hải cảnh, tàu đánh cá của Trung Quốc cũng nhiều lần xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và cản trở các hoạt động dầu khí hợp pháp của một số quốc gia ven Biển Đông khác như Philippines và Malaysia. Vấn đề bất đồng, lời qua tiếng lại về chủ quyền lãnh thổ giữa Trung Quốc với hai nước trên vẫn là một vấn đề nhức nhối.
Chỉ huy quân đội và các quan chức trong chính quyền Philippines đã cập nhật báo cáo về những hoạt động xâm phạm của các tàu tuần duyên, hải cảnh Trung Quốc tại bãi cạn Second Thomas, nơi thủy quân lục chiến Philippines vẫn theo dõi mọi hoạt động của tàu Trung Quốc. Tuy nhiên suốt các tháng cuối năm 2019, tàu thuyền của họ vẫn ra vào vùng hải phận của Philippines như vùng biển của Trung Quốc.
Chưa hết ngày 17/12/2019, Bắc Kinh còn gây áp lực với Malaysia, trơ tráo khẳng định yêu cầu của Kuala Lumpur với Liên Hợp Quốc về thềm lục địa là vi phạm nghiêm trọng đến chủ quyền, các quyền và quyền tài phán của Trung Quốc. Trong thư gửi đến tổng thư ký Antonio Guterres, phái đoàn thường trực của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc ngang ngược tuyên bố “Trung Quốc có vùng nội thủy, lãnh hải và một vùng tiếp giáp lãnh hải căn cứ vào các đảo ở Biển Đông”. Bắc Kinh yêu cầu “Ủy ban về giới hạn thềm lục địa Liên Hợp Quốc không xem xét hồ sơ của Malaysia”. Ngoại trưởng Malaysia Saifuddin Abdullah đã đáp trả tuyên bố về đường chín đoạn của Trung Quốc là một tuyên bố “nực cười”.
Cả thế giới đều biết Philippines đã kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye năm 2016 không thừa nhận các đòi hỏi chủ quyền theo yêu sách đường 9 đoạn. Trung Quốc vẫn mặt dày phủ nhận phán quyết của tòa án quốc tế. Họ rắp tâm chiếm hầu hết Biển Đông dựa trên những thực thể đá, bãi ngầm xâm chiếm và kiểm soát. Đã vậy Bắc kinh còn ngụy biện mình như là một nạn nhân "bị bắt nạt", vừa ăn cướp vừa la làng.
Với Indonesia cũng vậy. Sau nhiều lần Trung Quốc xâm nhập vùng biển xung quanh chuỗi đảo Natura, hai nước đã kín đáo xử lý các vụ việc. Nhưng vào cuối tháng 12/2019, Jakarta không thể nín nhịn, đã gửi công hàm phản đối chính thức tới Bắc Kinh ngày 30/12/2019 để phản ứng việc vi phạm lãnh thổ của 3 tàu hải cảnh Trung Quốc và 63 tàu cá ở vùng đặc quyền kinh tế của họ. Các tàu cảnh sát biển Trung Quốc đã bị tàu của hải quân Indonesia truy đuổi ra khỏi vùng biển Indonesia.
Trung Quốc phản ứng lại bằng công hàm rằng hai bên cùng bình tĩnh vì đại cục, cùng ngồi thương lượng về vụ việc. Tuy nhiên Indonesia thẳng thừng từ chối thương lượng. Ngày 12/1, Indonesia cho biết 3 tàu hải quân của nước này tiếp tục phát hiện nhiều tàu hải cảnh và tàu cá của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế. Indonesia phản ứng gay gắt với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Indonesia đã tái khẳng định, Indonesia không có yêu sách chồng chéo với Trung Quốc, không có gì phải thương lượng và Indonesia sẽ không bao giờ công nhận yêu sách "đường 9 đoạn" của Trung Quốc, vốn không phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) cũng như tinh thần phán quyết của toà án quốc tế năm 2016.
Phản ứng của Indonesia đối với hành vi bất hợp pháp của Trung Quốc tại Biển Đông có ý nghĩa lớn. Indonesia là nước có lực lượng vũ trang lớn nhất Đông Nam Á. Họ có đủ đòn đáp trả ngoại giao hoặc quân sự để ngăn chặn Trung Quốc. Quốc hội Indonesia đã đề xuất một số hành động mạnh mẽ để có thể ngăn chặn Trung Quốc như xem xét lại cả hợp tác song phương và đa phương với Trung Quốc, bao gồm hợp tác về Sáng kiến Vành đai Con đường và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực, cũng như cùng tham gia với các quốc gia Đông Nam Á khác đang đối mặt với những thách thức lãnh thổ tương tự để cân nhắc lại về thương mại và đầu tư của ASEAN với Trung Quốc (theo tôi đây có thể là bài học cho các nước).
Như vậy là Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia liên tiếp bị Trung Quốc xâm phạm chủ quyền. Tất cả đều nằm trong toan tính của Bắc Kinh. Cả 4 nước cùng với cộng đồng quốc tế như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Australia, Ấn Độ, Liên minh châu Âu đã phê phán các hành động đơn phương của Trung Quốc, làm xói mòn lòng tin, gây tổn hại đến hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực. Tuy nhiên Bắc Kinh như kẻ điếc bẩm sinh, không những trơ lì mà còn lớn tiếng đe dọa rằng Tàu sân bay Sơn Đông với 39 phản lực J-15 cùng với đội tàu hộ tống hiện đại sẽ đi vào thực chiến tại Biển Đông trong năm 2020 để bảo vệ “chủ quyền” của họ.
Trung Quốc muốn gì?
Trung Quốc muốn chiếm tài nguyên và vị trí chiến lược Biển Đông. Hàng nghìn tỷ thùng dầu, khối lượng băng cháy, khoáng sản khổng lồ dưới đáy biển, hàng triệu tấn cá mỗi năm cùng với tuyến đường vận chuyển huyết mạch của thế giới khống chế nhiều nước ở Tây Thái Bình Dương đã làm mờ mắt Trung Nam Hải. Tôi đã viết trong bài “Tàu rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam” rằng: Người Tàu đang nuôi giấc mộng siêu cường, tranh giành vị thế với Hoa Kỳ. Họ sẽ không bao giờ từ bỏ dã tâm chiến lược độc chiếm Biển Đông, đẩy các cường quốc khác ra ngoài khu vực, để vươn sức mạnh ra toàn cầu. Kể từ năm 1989 trở đi, họ không chiếm thêm các đảo ở Biển Đông (vì nhiều lý do và cũng không thể chiếm được nữa). Tàu quay ra củng cố, biến các đảo đã chiếm trái phép thành các căn cứ hậu cần, quân sự để tiến hành một loại tranh chấp khác, tranh chấp chủ quyền trên biển với các nước ven Biển Đông nhằm hiện thực hóa hóa đường chín đoạn (lưỡi bò) tưởng tượng.
Trong tương lai chắc chắn Tàu sẽ còn dùng các loại tàu mang danh nghĩa khoa học, tàu đánh cá được hộ tống bằng nhiều tàu cảnh sát, hải cảnh, tàu kiểm lâm, tàu dân binh vào Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia để tranh giành lãnh hải, vốn trước đó không có tranh chấp, vốn trước đó là vùng biển của các quốc gia ven Biển Đông. Nghĩa là Tàu đang tạo ra tranh chấp trên biển với các nước, một thủ đoạn chiến tranh, loại hình chiến tranh mới trên biển để hiện thực hóa dã tâm chiến lược của họ.
Trong khi chưa chiếm được hoàn toàn Biển Đông, Tàu đang đặt ra mục tiêu phải ký được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông trong vòng 3 năm. Tên tiếng Anh của nó là “Code of Conduct”, viết tắt là COC. Bắc kinh muốn các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam không được cùng khai thác với các nước ngoài khu vực, không được tập trận với các nước ngoài khu vực. Họ cho rằng chỉ họ mới có cái quyền đó. Vì vậy họ đã ép các công ty của Anh, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Mỹ và các nước bên ngoài không được hợp tác với các nước ASEAN, phải rời khỏi khu vực thăm dò và khai dầu khí trên vùng đặc quyền và thềm lục địa của các nước với lý do “khu vực đang tranh chấp” do Tàu cố tình ngụy tạo.
Trung Quốc sẽ gây áp lực với các nước tranh chấp đến bao giờ?
Từ nay cho đến năm 2021, ASEAN sẽ phải chịu sức ép rất lớn, đặc biệt là với Việt Nam và Philippines. Bắc Kinh có thể thỏa hiệp với Malaysia và Indonesia một phần nào đó. Họ sẽ dùng các nước khác trong khối không có tranh chấp với họ để ép các nước mệt mỏi mà ký cho xong. Họ là bậc thầy “chia để trị”. Nếu các nước không chịu khuất phục thì họ còn sử dụng mọi thủ đoạn gây áp lực cả về chính trị, kinh tế, quân sự và gây áp lực trên thực địa. Nếu các nước ký theo tinh thần của họ thì sẽ rơi vào bẫy mà Đặng Tiểu Bình đã đặt ra “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”. Nhưng vế trước của câu nói là “Chủ quyền thuộc về ta (Trung Quốc)”. Mọi người cứ hình dung khi mà giàn khoan và lá cờ của Tàu bay trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước có tranh chấp thì coi như các nước đã mất chủ quyền.
Họ muốn gạt tất cả các cường quốc khác ra khỏi cuộc chơi ở Biển Đông nhằm chiếm giữ tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất của thế giới để phục vụ cho sự “phục hưng đế chế Trung Hoa”. Điều này chắc Mỹ không muốn. Nhật Bản không muốn. Ấn Độ không muốn. Australia không muốn. Hàn Quốc không muốn. Thậm chí cả Nga cũng không muốn. Biển Đông hôm nay và ngày mai chắc chắn sẽ là đấu trường của các nước lớn. Theo cá nhân tôi, một số nước ASEAN, đặc biệt là các nước tranh chấp với Trung Quốc không muốn “chọn phe” thì vẫn phải nương vào dòng chảy địa chính trị chung để bảo vệ lợi ích chính đáng của dân tộc, không thể thật cân bằng "đánh đu" quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ cùng với phương Tây.
Trước hết ASEAN phải đoàn kết không để Trung Quốc lợi dụng, chia rẽ; phải hết sức cẩn trọng đến loại hình chiến tranh giành lãnh hải trên biển, nơi chỉ có mặt nước với sóng biển, nơi Trung Quốc có tàu sân bay và lực lượng hải quân áp đảo so với 10 nước ASEAN cộng lại. Nó hoàn toàn khác với cuộc chiến tranh trên đất liền, nơi mà các nước, nói theo sách quân sự của Việt Nam còn có ba vùng chiến lược: vùng đồng bằng, vùng rừng núi và đô thị. Cuộc chiến trên biển sẽ cực kỳ gay go, gian khổ và phức tạp.
Ngoài thế trận chiến tranh nhân dân trên biển, các nước nằm trong tầm ngắm của Bắc Kinh cần phải có một lực lượng hải quân, không quân biển đủ mạnh. Phải biết cùng hợp tác với nhau để đối phó với kẻ thù chung. Cũng cần phải phát triển các ngành công nghệ cao quân sự như tàu lặn, tàu ngầm, máy bay không người lái, công nghệ tàng hình, công nghệ thông tin, áp chế điện tử để chống kẻ thù tiếp cận, chống kẻ thù xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Và đặc biệt phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại (Mỹ, Nhật, Ấn Độ, EU…) để chống lại tham vọng của Trung Nam Hải.
Read More

Chủ nghĩa dân tộc qua một bộ phận học giả, tướng lĩnh và chính trị gia Trung Quốc

Leave a Comment
Sau 40 năm cải cách mở cửa hòa nhập vào thế giới tư bản, Trung Quốc đã có những bước phát triển thần kỳ. Từ một nước nghèo nàn lạc hậu thuộc thế giới thứ ba, họ đã vươn lên trở thành một nền kinh tế lớn thứ hai sau Mỹ. Thực tế Trung Quốc là một cường quốc mới trỗi dậy đáng chú ý nhất trong số các cường quốc. Họ vượt xa năng lực của các nước trong nhóm G20, nhóm BRICs. Ở một số lĩnh vực họ vượt qua các cường quốc đàn anh bậc trung như Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản. Ở nhiều phương diện, vị trí cường quốc thứ hai sau Mỹ là điều mà nhiều nhà phân tích quốc tế đã công nhận. Và thực sự họ đã trở thành một cực chi phối trong quan hệ quốc tế.
Trong khoảng gần 10 năm trở lại đây, bắt đầu từ khi Tập Cân Bình được lựa chọn làm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Bắc Kinh bắt đầu tỏ ra ngày càng tham vọng và quyết đoán trong các vấn đề quốc tế. Họ theo đuổi vai trò lãnh đạo trong các cơ quan Liên Hợp Quốc. Không chấp nhận vai trò của mình với các định chế tài chính quốc tế, năm 2015 họ thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Họ đưa ra Sáng kiến Vành đai Con đường. Vừa là để thoát khỏi xiềng xích cầm tù của vị trí địa chiến lược, vừa để vươn sức mạnh ra toàn cầu. Điều đáng chú ý nhất là họ đầu tư, chi tiêu cho quốc phòng mỗi năm một tăng (năm 2018 lên tới 250 tỷ USD), chỉ đứng sau Mỹ. Đặc biệt là họ đã, đang quân sự hóa, đưa vũ khí, khí tài ra các hòn đảo xâm chiếm của Việt Nam trên Biển Đông. Dư luận quốc tế và nhiều nước trong khối ASEAN không thể không lo ngại.
Trong nước, một mặt Bắc Kinh thường xuyên nhắc tới thế kỷ tủi nhục, khơi dậy chủ nghĩa dân tộc. Họ kêu gọi “phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại”, một siêu cường trong quá khứ có lãnh thổ rộng hơn hiện tại rất nhiều. Không ít học giả, tướng lĩnh, chính trị gia Trung quốc đang cổ súy cho một thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh, bành trướng. Một mặt họ tăng cường Hán hóa các dân tộc. Tài liệu mới nhất của chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bị tiết lộ cho biết họ đang giam cầm hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ Hồi giáo trong các trại cải tạo tập trung ở Tân Cương. Cũng như vậy họ tăng cường kiểm soát khiến hàng nghìn nhà sư ở Tây Tạng phải rời khỏi các tu viện. Hàng trăm người đã tự thiêu trong thời gian qua để bảo vệ phong tục, tập quán của người Tạng. Đối với người Mông ở Khu tự trị Nội Mông, người Choang ở khu tự trị Choang cũng diễn ra tình trạng tương tự… Bắc Kinh tin rằng dân tộc Hoa Hạ là độc đáo, là trung tâm của nền văn minh Trung Quốc, là trung tâm của nền văn minh châu Á, thậm chí của cả nhân loại. Họ đang làm sống dậy học thuyết Khổng Tử từ gần nửa thiên kỷ trước công nguyên để cổ súy tinh thần “trung quân ái quốc” cho gần một tỷ tư người. Họ thực sự đã quên những bài học trong suốt chiều dài lịch sử, trong những thế kỷ gần đây. Họ đang đi theo vết xe đổ của các nước thực dân phương Tây, đi theo vết xe đổ của người Mỹ từ đầu thế kỷ 19 với học thuyết Monroe cấm không cho các cường quốc châu Âu được đặt chân đến châu Mỹ. Họ cũng đang đi theo vết xe đổ của phát xít Đức cực đoan chủng tộc dân tộc, đòi hỏi không gian sinh tồn cho người Đức. Họ cũng đang đi theo vết xe đổ của phát xít Nhật tự tôn dân tộc với thuyết Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á… Chính thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh bành trướng đã dẫn đến những cuộc chiến tranh, thảm khốc nhất là hai cuộc chiến tranh thế giới dẫn tới hàng trăm triệu người bị giết hại. Họ quên rằng kẻ thất bại nhất chính là những kẻ gây chiến.
Bắc Kinh biện hộ việc phát triển quân sự là cần thiết để bảo vệ đất nước chống lại mưu đồ của Mỹ, phương Tây và các nước láng giềng thù địch, để bảo vệ “những quyền lợi hợp pháp của họ ở nước ngoài”. Họ vừa gây căng thẳng với các nước láng giềng như Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam… Họ vừa hứa “sẽ trỗi dậy một cách hòa bình”. Liệu người ta có thể tin vào những gì Bắc Kinh nói với những gì Bắc Kinh đã làm. Họ đưa ra những khái niệm không có trong luật pháp quốc tế và đã bị Tòa Trọng tài Quốc tế bác bỏ năm 2016 như “quyền lịch sử, vùng biển lịch sử, sự hiện diện lịch sử” mơ hồ để đổi trắng thay đen, để độc chiếm Biển Đông, để vẽ lại bản đồ thế giới.
Theo dõi tờ China New gần đây, người ta thật sự kinh ngạc khi Trung Nam Hải đã cho đăng nhiều bài sặc mùi dân tộc chủ nghĩa, thể hiện quan điểm diều hâu của bộ phận trong giới tinh hoa Hoa Hạ. Đáng chú ý nhất là bài “Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc”. Người viết xin lược thuật lại một số nội dung chủ yếu. Họ cho rằng dân tộc Hoa Hạ là một dân tộc lớn nhưng chưa thống nhất. Đó là nỗi hổ thẹn của con cháu “Viêm Hoàng”. Vì vậy mục tiêu đầu tiên của Trung Quốc là phải phát động cuộc chiến tranh giải phóng Đài Loan vào thời điểm từ năm 2020 đến năm 2025. Cuộc chiến tiếp theo thứ hai là cuộc chiến với các nước Đông Nam Á nhằm thu hồi các đảo tại Biển Đông trong đó có Quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Cuộc chiến này dự định diễn ra vào năm 2025 đến năm 2030. Cuộc chiến thứ ba là cuộc chiến với Ấn Độ để thu hồi Nam Tây Tạng. Cuộc chiến này dự định diễn ra vào năm 2035 đến năm 2040. Cuộc chiến thứ tư là cuộc chiến với Nhật Bản thu hồi đảo Điếu Ngư. Cuộc chiến thứ năm là cuộc chiến thu hồi Nội Mông. Cuộc chiến thứ sáu là cuộc chiến với Nga thu hồi những vùng đất Nga Hoàng đã thôn tính trong quá khứ. Cuộc chiến cuối cùng dự định sẽ kết thúc vào năm 2060. Lý do cho tất cả những cuộc chiến tranh trên đều được giải thích đó là “quyền lịch sử của Trung Quốc”, một khái niệm cực kỳ nguy hiểm để biện minh cho tham vọng chiến lược bành trướng lãnh thổ. Họ cho rằng chỉ sau khi thực hiện được các mục tiêu nêu trên thì Trung Quốc mới tạm yên tâm cùng Mỹ, Liên minh châu Âu, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản thiết lập một một trật tự thế giới mới… Có nghĩa là Đông Nam Á trong đó có Việt Nam phải quy thuận Trung Quốc nếu muốn tồn tại.
Cho đến ngày hôm nay, nhiều học giả lạc quan cho rằng thế giới này dù nhiều biến động nhưng vẫn là thế giới toàn cầu hóa, đang nhất thể hóa nền kinh tế, thế giới của cuộc cách mạng 4.0, các nước trên thế giới dù lớn nhỏ đều đang phụ thuộc lẫn nhau. Vậy mà vẫn có không ít học giả, tướng lĩnh và chính trị gia Trung Quốc còn hoài niệm về một nhà nước Đại Hán thủa nào. Cái nhà nước ấy bao trùm gần hết Đông Nam Á, trong đó có lãnh thổ Việt Nam (ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, ảnh hưởng của cái tư tưởng này, Mao Trạch Đông, người cầm lái vĩ đại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã để lại một di sản tư tưởng là phải chiếm lấy khu vực Đông Nam Á để làm chỗ đứng) . Họ lấy làm tiếc tại sao tổ tiên họ đã đô hộ Việt Nam gần 1000 năm rồi mà lại để tuột tay mất, để đến bây giờ vấn đề Biển Đông gặp quá nhiều trở ngại và giấc mộng "Trung Hoa vĩ đại" không biết sau 50 năm nữa có hoàn thành được không?
Riêng đối với Việt Nam, những cái đầu theo chủ nghĩa dân tộc bành trướng này đã tổng kết và phê phán tổ tiên họ: i, Tổ tiên họ tập trung quá nhiều nguồn lực lên hướng Bắc, sao lãng hướng Nam. ii, Tổ tiên họ không nhất quán trong đường lối cai trị, giáo hóa người Việt. iii, Chính quyền trung ương luôn luôn sa vào tình trạng tranh giành quyền lực, trong khi đó Việt Nam lại ở quá xa, không quản lý được những viên quan tham lam vô độ, không có tầm nhìn địa chính trị.iiii, Cuối cùng là tổ tiên họ quá nhân từ không mạnh tay đàn áp. Nói như cách nói của Tập Cận Bình đe dọa người Đài Loan và Hồng Kông là “kẻ nào muốn ly khai thì sẽ tan xương nát thịt”...
Nói tóm lại là những kiến giải của họ đều mang nặng tư tưởng thiên hạ là của họ nên không hiểu rằng chính ý thức dân tộc tự lực, tự cường của người Việt, chính sự khác biệt về văn hóa, chính chính sách cai trị và đồng hóa hà khắc, dã man, tàn độc như Nguyễn Trãi viết trong bài Cáo bình Ngô: “chặt hết trúc Lam Sơn không ghi hết tội, Tát cạn nước Đông hải không rửa hết mùi” đã khiến dân tộc Việt phải vùng lên đấu tranh trong suốt gần một thiên kỷ, để đến năm 938 vua Ngô Quyền chính thức mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt.
Trung Quốc không áp đặt được sự thống trị của họ ở Việt Nam bởi vì họ là kẻ xâm lược, phi nghĩa. Tổ tiên họ đã vấp phải một dân tộc biết đoàn kết, kiên cường. Họ hoàn toàn nhầm lẫn, không phải tổ tiên họ đã để vuột mất Việt Nam mà họ không thể biến Việt Nam thành một quận huyện của họ được. Không biết bao nhiêu lần Trung Quốc đã tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Không một triều đại nào, không một chính thể nào của Trung Quốc không xâm lựợc Việt Nam. Tàu Tần, Tàu Hán, Tàu Tống, Tàu Nguyên, Tàu Minh, Tàu Thanh, Tàu Tưởng, Tàu Mao đều đã xâm lược Việt Nam nhưng họ đều không nuốt nổi mảnh đất hình chữ S. Tổ tiên họ, cha ông họ ngày trước đã như vậy, bây giờ và tương lai cũng vẫn sẽ như vậy.
Mong rằng các học giả, tướng lĩnh, các chính trị gia mang nặng tư tưởng Đại Hán Trung Quốc hãy chịu khó đọc lại lịch sử của chính dân tộc mình và lịch sử của nhân loại, nên suy ngẫm bài học trong quá khứ để tương lai nhân dân hai nước Việt-Trung luôn được sống trong hòa bình.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.