Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Đức Tổ nghề làng Triều Khúc (phần 2)

Leave a Comment

Theo yêu cầu của tôi, anh bạn Vũ Ngọc Đính, nguyên Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tân Triều dẫn tôi đi thăm mộ Đức Tổ Nghề ở cánh đồng Miễu/mưỡu, cũng là mộ Thủy Tổ họ Vũ ở làng Triều Khúc. Ngôi mộ được xây bằng gạch, có kích thước 5x6m. Phía sau là bức cuốn thư đắp nổi 4 chữ Hán: “Tổ thụ hoàng ân” và 5 chữ Hán: “Vũ Sứ thần chi mộ”. Trước mộ thợ xây cuốn vòm tấm bia đá kích cỡ 40 x 70cm, tạo dựng từ đời Cảnh Hưng thứ 6 (1745) ghi lại thân thế, sự nghiệp Ngài (xin cảm ơn anh Nguyễn Nhan Uyên đã dịch cho tôi nội dung tấm bia này).
Sau khi đi thăm mộ Đức Tổ Nghề, anh Đính mời tôi đến nhà anh Vũ Văn Dương, hậu nhân của Đức Tổ dòng họ nhân ngày giỗ Ngài. Bước vào cổng, tôi thấy khoảng chục thanh niên trai tráng đang sửa soạn mâm lễ dâng lên bàn thờ tổ. Năm nay có dịch nên các cụ tổ chức việc họ đơn giản. Từng gia đình trong họ làm sống gà lễ tại gia, không tập trung cả họ như thông lệ (ngày giỗ tổ các dòng họ ở Triều khúc, mọi người trong họ thường tập trung ở nhà thờ tổ hoăc tại các gia đình đăng cai theo quy định. Dòng họ nào đông tập trung có đến hàng trăm xuất đinh. Tôi sẽ đề cập đến phong tục giỗ tổ họ làng Triều Khúc trong một bài viết riêng).
Tranh thủ lúc chưa vào việc chính tôi trò chuyện với cụ Vũ Thị Vần. Cụ năm nay đã 93 tuổi nhưng vẫn hoạt bát và minh mẫn. Dù tuổi tôi chỉ đáng hàng cháu, cụ vẫn rót nước từ bộ ấm trà cổ, nâng chén mời tận tay tôi, một người ngoài họ quan tâm tìm hiểu về Tổ của cụ. Nhiều năm trở lại đây nghe những điều ong tiếng ve về tổ và về dòng họ, cụ tỏ ra bức xúc lắm.
- Cháu nghe nói, tôi hỏi cụ, ngày trước có một số làng mang lễ đến vào ngày giỗ Tổ. Cụ có còn nhớ làng nào không?
- Lúc bé tôi có nghe cụ tôi kể, ngày trước vào trước ngày này, có bẩy hoặc 9 làng gì đó thường mang lễ đến nhà tôi. Vì Tổ tôi dạy các làng đó nghề dệt, nghề tơ sợi. Còn làng mình thì Tổ truyền cho 6 nghề. Tôi không nhớ hết những làng nào. Nhưng hình như có làng Chuông, làng La Khê, La cả và cả làng Bưởi nữa thì phải. Các làng có mối liên hệ, buôn bán cho nên mới có câu: “Mối(mốt) son anh dệt đầu hàng/Mối (mốt) cục đem bán cho nàng kẻ Đơ” hay câu: “Ai làm dây (chiếc) nón quai thao/Để cho anh thấy cô nào cũng xinh”… Kẻ Đơ hay Đơ Thao là tên xưa của làng mình đấy anh ạ.
Cụ kể cho tôi nghe khi hòa bình lập lại (1954), “có đoàn Trung ương đến nhà xin được xem hai đạo sắc và chiêm ngưỡng các đồ tổ để lại. Họ đem ra sân chụp ảnh. Họ chụp cả các đồ thờ. Tôi còn nhớ những năm Mỹ đánh phá. Đằng trước dằng sau, bên phải, bên trái trúng bom nhà cửa đều đổ nát, nhưng chính gian thờ cụ vẫn đứng vững nguyên vẹn.” Sau đó, cụ và người nhà dọn mất hàng tháng. Cụ nói giọng đầy xúc động: “Thật may mắn tôi tìm thấy tấm thẻ bài của Tổ bắn vào góc tường.” Cụ cho rằng đó là nhờ Tổ đã run rủi phù hộ…
11 giờ hơn các cụ mới cho phép mở rương thờ. Anh Vũ Văn Dương lấy ra cuốn gia phả bằng giấy dó cũ nhuốm màu thời gian, hai tờ sắc phong cùng chiếc thẻ bài đương thời của Ngài. Các cụ cùng các con cháu đứng xung quanh bàn thờ chứng kiến anh Dương cầm từng di vật để trên mặt bàn trước chân dung Tổ họ được vẽ theo kỹ thuật sơn thếp, đặt trong khám thờ.
Chị Vũ Thị Ánh, cháu gái cụ Vần, người đã học khoa Hán-Nôm ở Trường Đại học Quốc gia Hà Nội dịch hai đạo sắc phong. Đại ý trong đó ghi nhận Vũ Đức Úy là Sứ thần đi sứ triều Lê. Ngài ở làng Triều Khúc, thuộc tổng Thượng Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (Trước năm 1960 Triều Khúc vẫn thuộc Hà Đông). Ngài đã dạy cho dân làng 6 nghề: Làm chổi lông gà, làm hoa lông vịt, tóc độn, chân chỉ y môn, dây đàn làm bằng tơ tằm, dây quai thao cho nón thúng, nón ba tầm.
Ghi nhớ công ơn của Ngài, khi Ngài mất dân làng Triều Khúc đã lập ban thờ phối hưởng tại đại đình. Tờ giấy sắc phong màu vàng là của vua Khải Định năm thứ tám, sắc phong cho Vũ Sứ thần vào năm 1925. Cũng vào năm này, dân làng dự định xây một ngôi đền nhỏ cạnh đình thờ Sắc thờ riêng Ngài. Năm 1931 dân làng xây xong ngôi đền bên cạnh chùa Hương Vân và rước Ngài về nơi ở mới. Ngôi đền đó tại vị cho đến tận ngày hôm nay.
Hiện tại có một vấn đề vẫn còn mù mờ như ngày tháng năm sinh, năm mất mất của Ngài mọi người đều không rõ. Cũng vì vậy có lời đồn đại ác ý Ngài không phải là người làng Triều Khúc và họ Vũ thấy người sang bắt quàng làm họ. Vấn đề này thỉnh thoảng vẫn thì thầm đâu đó nên anh em bạn bè và một số học trò cũ trong làng muốn tôi viết một bài về Đức Tổ Nghề. Một năm đã qua đi mà tôi vẫn chưa xong bài viết.
Ở Triều Khúc vẫn lưu lại một câu chuyện về Đức Tổ Nghề. Tương truyền vào thời vua Lê Chân Tôn (1643 - 1649), có một gia đình họ Vũ ở thôn Triều Khúc, thuộc tổng thượng Thanh Oai, phủ Ứng Thiên sinh được cậu con trai đặt tên là Vũ Đức Úy. Cậu bé mới lên 6 tuổi đã có biểu hiện thông minh lạ thường và có tính hiếu học. Đến lớp học thầy dạy cũng phải ngạc nhiên với nhiều câu hỏi khó. Mới ở độ tuổi thiếu niên người đã thông hiểu mọi phép tắc sinh hoạt trong gia đình và xã hội. Đến độ trưởng thành, hễ ai trong làng gặp chuyện gì khúc mắc cũng nhờ người phân trần lý giải. Người thường giúp đỡ người nghèo gặp hoàn cảnh khó khăn. Tiếng lành đồn xa, người được triệu vào triều yết kiến. Nhà vua và các quan trong triều thấy người thông minh, ứng đối trôi chảy, biết chàng là nhân tài của đất nước, liền bổ nhiệm làm quan trong triều, rồi cử làm phó sứ đi sang Trung Quốc. Trong chuyến đi mười hai năm, Ngài thấy nhiều nghề bên mình chưa có, bèn quyết chí học hỏi các nghề để mang về đất nước mình. Ngày đi thăm thú học hỏi, tối về ghi chép. Khi hoàn thành chuyến đi sứ trở về, Ngài đã đem truyền dạy cho dân làng Triều Khúc và nhiều làng khác.
Tôi nghĩ không thể dựa vào một câu chuyện mang mô típ cổ tích để khẳng định thân thế sự nghiệp của Đức Tổ Nghề. Nhưng cũng không nên bỏ qua những câu chuyện như vậy về Ngài. Có lẽ Ngài được làm quan cử tuyển vào cuối giai đoạn Lê Trung Hưng. Bởi trong gia phả không nói gì đến việc Ngài đã đỗ đạt làm quan như các nhà khoa bảng văn, võ được cử đi sứ Trung Quốc.
Theo các tài liệu cổ còn lưu giữ được (gia phả dòng họ Vũ ở Triều Khúc, bia mộ của Ngài, thẻ bài của Ngài, sao lục về nghệ sư Vũ Sứ thần tại đền thờ Ngài, sắc phong Vũ Sứ thần năm 1925 của vua Khải Định, hương ước làng Triều Khúc), tôi có thể khẳng định Đức Tổ Nghề làng Triều Khúc là một viên quan đi sứ dưới triều vua Lê Chân Tôn (1643 - 1649), tên Ngài là Vũ Đức Úy, tổ họ Vũ làng Triều Khúc. Cùng chuyến đi sứ với Ngài có Phó bảng Dương Đình Hoan, Thượng Khắc Quan Mai Quận Công, Phó tướng Triệu Tướng Công và đoàn tùy tùng (Gia phả dòng họ Vũ ở Triều Khúc). Trong chuyến đi sứ Trung Quốc 12 năm, Ngài đã học được nhiều nghề thủ công rồi về truyền lại nhiều nghề trong nước.
Tôi cũng khẳng định Ngài là một người văn võ song toàn (qua bài văn khấn của các cụ trong dòng họ Vũ), từng được giữ chức Phó tiên phong tướng quân thị hầu hiên thọ sắc tòng sứ bộ Trung Hoa (trích sao lục tục truyền nghệ sư Vũ Sứ thần, bản dịch của Viện Hán Nôm). Được cử đi sứ Trung Quốc, triều đình thường tiến cử với nhà vua những quan lại có phẩm hàm, đáng tin cậy, có uy tín, giỏi ngoại giao… Nhiệm vụ của chánh phó sứ khi đi sứ là phải bảo vệ được chủ quyền, bảo vệ được quốc thể trong quan hệ khi có tranh chấp lãnh thổ; phải hoàn thành việc cống nạp, cùng các nghi thức ngoại giao khi hoàng đế Trung Hoa lên ngôi hay băng hà. Đồng thời các sứ thần còn có nhiệm vụ đặc biệt là hoc các nghề nghiệp ở xứ người và giao thương buôn bán đem về các loại hàng hóa mà triều đình giao cho.
Thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn, khi đi sứ, nhà vua thường cử một chánh sứ, hai phó sứ và khoảng 15 đến 25 tùy tùng đi theo giúp việc cho sứ bộ. Chuyến đi sứ thường chỉ kéo dài trong khoảng một năm. Vậy mà chuyến đi của Ngài đi kéo dài tới 12 năm. Tôi đã cố tìm hiểu vì lý do gì mà chuyến đi sứ của Ngài lại kéo dài như vậy (trong lịch sử đi sứ Trung Quốc có một số chuyến đi kéo dài, thậm chí đến 20 năm. Có sứ thần bị triều đình nhà Minh giết hại như trường hợp Sứ thần Giang Văn Minh đi sứ năm 1637).
Tôi đã đọc lại tập 4 Đại Việt sử toàn thư của Ngô Sỹ Liên và đặc biệt là nhờ nhà Báo Trương Cộng Hòa mượn cho cuốn Đại Việt Sử ký ký tục biên của Lê Quý Đôn để tham khảo nhưng không thấy ghi chép chuyện đi sứ của Ngài (chuyện này cũng bình thường. Trong lịch sử hiện đại, tôi nghiên cứu về Thung lũng A Sầu thuộc huyện A Lưới, Thừa thiên, nơi có tới 12 chiến dịch của Mỹ ngụy, nơi người Mỹ viết tới năm cuốn sách, vậy mà trong lịch sử Việt Nam không có một lời. Đó là những góc khuất của lịch sử). Nhưng tôi biết, trong việc đi sứ, mỗi khi có khúc mắc gì với triều đình phong kiến Trung Quốc thì sứ thần sẽ bị giữ lại. Và cũng may Ngài bị giữ lại nên có thời gian để học được các nghề nghiệp đem về truyền dạy cho dân.
Tóm lại với những bằng chứng đã có, tôi khẳng định Đức Tổ Nghề làng Triều Khúc là người Triều Khúc, Tổ của dòng họ Vũ, người được cử đi sứ Trung Quốc, người đã truyền dạy nhiều nghề nghiệp cho các địa phương trong đó có làng Triều Khúc. Ngôi mộ của Ngài ở Triều Khúc, Gia phả dòng họ Vũ ở Triều Khúc, thẻ bài của Ngài (thời Lý, Trần các quan lại vào triều phải mặc các loại quần áo theo quy định phẩm tước. Đến thời Lê, vào năm 1467, vua Lê Thánh Tông xóa bỏ thay vào đó là dùng thẻ bài cho các quan đeo khi vào triều. Nếu mất thẻ bài thì bị trừng phạt rất nặng. Đến nhà Nguyễn vẫn giữ quy định trên. Hoàng thân quốc thích thì đeo kim bài hoặc thẻ ngà, quan đại thần và quan lại có phẩm cấp thì đeo thẻ đồng, binh lính trơn và phục vụ thì thẻ sừng trâu), bia trên mộ của Ngài (do hàn lâm học sỹ dòng họ Giang soạn lại), bản sao lục về nghệ sư Vũ Sứ thần tại đền thờ Ngài ở Triều Khúc, sắc phong Vũ Sứ thần năm 1925 của vua Khải Định, hương ước làng Triều Khúc…), tất cả đều là những bằng chứng xác thực không ai có thể bác bỏ, xuyên tạc được. Sứ thần triều Lê Vũ Đức Úy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đi sứ. Ngài không chỉ là một vị quan mà còn là Đức Tổ nghề sống mãi trong tâm trí bao thế hệ ở nhiều địa phương, trong đó có làng Triều Khúc.

Read More

Tục thở tổ làng nghề Triều Khúc (phần 1)

Leave a Comment
Triều Khúc là một trong 10 làng cổ nhất của Hà Nội. Nơi đây còn lưu giữ nhiều nét văn hóa tâm linh và phong tục tập quán truyền thống đẹp đẽ. Thể hiện rõ nét nhất là ở “Nét cũ hội hè đình đám”. Hội làng Triều Khúc thì xa gần nhiều người biết đến, nhưng tục thở tổ nghề ở làng thì không phải ai cũng biết.
Hàng năm vào ngày 20/2 Âm lịch, dân làng tụ tập đông đảo làm lễ giỗ tổ làng nghề Vũ Đức Úy. Tục thờ này là một nghi lễ thiêng liêng sau hội làng từ ngày 9 tháng đến ngày 12 tháng Giêng để tưởng nhớ công ơn Đức Thành hoàng làng Phùng Hưng. 7h00 sáng tôi ra nhà đền, không phải đi lễ mà đi tìm hiểu thêm đôi chút nhằm viết bài theo yêu cầu của một số bạn đọc.
Theo Vụ Quản lý nghề - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, cả nước có hơn 2.000 làng nghề, trong đó 60% số làng nghề có tổ nghề được nhân dân thờ phụng từ bao đời nay. Nhiều nhà nghiên cứu đã coi tục thờ tổ nghề là một dạng tín ngưỡng, nằm trong hệ thống đạo thở tổ tiên. Tín ngưỡng thờ tổ nghề đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, thể hiện sự biết ơn những người sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho người dân, di dưỡng đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Dân làng Triều khúc tin rằng việc thành kính thờ cúng sẽ được Ngài phù hộ, bảo tồn và phát triển nghề nghiệp của mình. Nó trở thành sợi dây liên kết, gắn bó người làng với nhau trong việc làm ăn, thể hiện đạo hiếu trong quan niệm của người Triều Khúc. Mặc dù người đi lễ không còn làm những nghề mà Ngài truyền dạy, nhưng người ta vẫn đi lễ với niềm tin sẽ được Ngài bảo trợ, làm ăn suôn sẻ phát đạt, không gặp trắc trở, hàng họ sản xuất ra đến đâu hết đến đấy.
Ngôi đền thờ tổ nghề làng Triều Khúc được xây dựng bên cạnh chùa Hương Vân vào năm 1931 (trước đó Ngài là một trong ba người được phối thờ trong đại đình thờ thành hoàng, sau được thờ ở nhà Thủy tạ trước cửa đền thờ Sắc). Đến nay ngôi đền vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.
Đền thờ gồm 3 gian. Cột, vì kèo đều bằng gỗ lim. Kiến trúc thiên về bào trơn đóng bén, tạo độ bền chắc. Phía trên gian giữa có 2 bức hoành phi sơn son thếp vàng: “Lê triều sứ” và “Vũ sứ thần”. Hai bên cột có đôi câu đối ca ngợi công đức Ngài: “Lục nghệ thần thông, tứ dân hoài đức/ Song tinh nội chiếu, ngũ phúc kiêm toàn” (Sáu nghề tinh thông, muôn dân nhớ đức/ Hai sao chiếu sáng, năm phúc vẹn toàn). Trong khám thờ đặt pho tượng Ngài làm bằng đồng to tương đương với người thật.
Ông từ tiếp đón tôi là người hàng xóm, ông Nguyễn Hữu Chí. Ông cho tôi biết mình liên tục bận rộn hàng chục ngày nay. Từ việc dọn dẹp lau chùi, mua sắm lễ vật hương hoa đến việc họp hành chuẩn bị với ban lễ hội, tiếp đón các cụ… Ngày nào cũng suốt từ sáng đến tối. Thậm chí vợ con còn phải tất bật phụ giúp việc Thánh. Ông nói: “May có ban lễ hội, ai cũng nhiệt tình, biết việc.” Kết thúc màn chào hỏi ông bảo tôi: “Tôi phải chuẩn bị việc lễ. Thầy cứ tự nhiên ra vào, quay phim chụp ảnh tùy ý. Tôi đã báo với ban lễ hội rồi.”
Năm nay vì dịch Covid-19, thực hiện theo lệnh của chính quyền không tổ chức hội hè nhưng chính quyền vẫn cho phép thực hiện nghi thức tế lễ. 7h30 ban lễ hội gồm khoảng bốn chục người cùng với các cụ, các ban ngành, đoàn thể đã tề tựu đông đảo trước sân đền. Dân làng cũng bắt đầu mang đồ lễ đến lễ bái (việc mang đồ lễ và lễ đã diễn ra từ ngày hôm trước. Mâm lễ thường là xôi, gà, thủ lợn, hoa quả, vàng mã). Người Triều Khúc thường đi lễ theo nhóm gia đình, bạn bè, chi họ. Trong số các đoàn lễ tôi thấy một đoàn người khá đông, gần 20 người, đại diện cho dòng họ Vũ, mang lễ vật đến đặt trên ban thờ. Mọi người đều kính cẩn hành lễ theo nghi lễ bốn lạy (Các cụ giải thích nôm na bốn lạy là tượng trưng cho bốn phương, tứ tượng, bao gồm cõi âm cõi dương mà hồn ở trên trời, phách vía ở dưới đất).
9h00 bắt đầu nghi thức tế lễ. Mặc dầu đã giản lược nhưng tôi thấy việc tổ chức tế lễ vẫn trọng thể với nhiều cờ xí, với ban nhạc lễ năm người, với đầy đủ phẩm phục, phẩm vật tế lễ Tam sinh.
Thành phần tế lễ bao gồm:
- Chủ tế (ông từ): Chủ trì nghi lễ.
- Bồi tế: Hai người phụ giúp chủ tế.
- Đông Xướng và Tây Xướng: Hai người đứng hai bên hương án đọc nghi thức hành lễ (giống như MC điều khiển chương trình).
- Nội tán: Hai người hướng dẫn chủ tế ra vào, trợ giúp Đông Xướng và Tây Xướng.
- Chấp sự: Hai người đứng hai bên giúp dâng hương, dâng rượu, chuyển chúc văn , đọc chúc văn.
- Đồng văn: Người lo việc đánh chiêng trống.
Nghi thức tế lễ bao gồm các bước: 1. Nghênh thần (chủ tế lễ bốn lễ, như đa giải thích ở trên), 2. Hiến lễ: Dâng lễ 3 lần, quỳ lễ và đọc văn tế (ba tuần tế). 3. Âm phúc và thu tộ: chủ tế nhận lộc thần linh ban. 5. Lễ tạ: Chủ tế lễ bốn vái.
Giữa ba tuần tế là điệu múa Bồng. Điệu múa do hai cặp nam thực hiện. Đó là bốn thanh niên đầu chít khăn mỏ quạ đen, vận quần trắng, áo tứ thân ngũ sắc, giả nữ múa điệu múa con đĩ đánh bồng trong tiếng đàn sáo, chiêng trống rộn ràng, réo rắt.
Các động tác múa đúng như tên gọi của nó, vừa khoáng đạt, uyển chuyển, vừa duyên dáng, ẻo lả, lẳng lơ. Có cái gì đó toát lên từ trong ánh mắt lúng liếng, vẻ mặt mời gọi. Không phải đánh bồng mà mơn man bồng hòa cùng thân hình uốn éo, nghiêng ngả. Đỉnh cao của động tác gợi dục là động tác áp lưng nhau, đôi cánh tay giang ra như ôm ấp. Từng cặp vận động di chuyển ngược chiều kim đồng hồ theo hai hình vuông tròn, như nương tựa lẫn nhau, xoắn xuýt vào nhau theo nhịp chân nhún nhảy, đong đưa.
Đây là điệu múa dân gian phồn thực phổ biến trong các lễ hội xưa kia ở đồng bằng Bắc Bộ. Không biết nó có nguồn gốc từ đâu? Từ phương bắc đi xuống, từ phương nam đi lên hay nội sinh từ mong ước trai gái hòa hợp, sinh sôi nảy nở, ước mong ngàn đời của cư dân nông nghiệp. Chính vì thế mà điệu múa này, cùng với điệu múa chạy cờ (điệu múa diễn tả trận đánh thắng lợi trước khi Đức Phùng Hưng lên ngôi vua) của làng Triều khúc được biểu diễn trong lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long và được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia năm 2019.
Vấn đề đặt ra là tại sao trong nghi thức tế lễ thiêng liêng thờ cúng Đức Tổ nghề Vũ Đức Úy, cũng như trong nghi thức tế lễ thiêng liêng thờ Đức Thành hoàng làng Phùng Hưng người dân Triều khúc xưa kia lại đưa một điêu múa phồn thực vào trước cửa đình, đền? Phải chăng ngoài việc tưởng nhớ công ơn to lớn của các Ngài, người dân còn thể hiện mong ước các Ngài phù hộ độ trì cho dân làng cuộc sống cơm no áo ấm, nghề nghiệp phát đạt, con cháu đầy đàn.
10h15 buổi lễ kết thúc. Các cụ mời tôi ở lại thụ lộc. Mọi năm bao giờ nhà đền cũng làm khoảng dăm sáu chục mâm. Năm nay gói gọn hai mươi mâm. Tôi xin được phép cáo từ vì còn phải đi thăm mộ của Đức Tổ nghề và thăm nhà anh Vũ Văn Dương, nơi có Từ đường họ Vũ để tìm hiểu thêm về Đức Tổ nghề làng Triều Khúc.
Read More

Giải mã hội Gióng Phù Đổng (phần 2)

Leave a Comment
Giải mã hội Gióng Phù Đổng (phần 2)
Bài viết trước tôi đã mô tả, lễ hội Gióng là một nghi lễ diễn xướng anh hùng ca của tập thể bốn làng Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Viên và Đổng Xuyên, là biểu tượng của “cuộc chiến tranh nhân dân” thời xa xưa với hàng trăm vai diễn, tiến hành theo một kịch bản đã được chuẩn hoá. Ngoài ra các đạo cụ, y phục, mỗi một tiết mục, mỗi một vai diễn đều chứa đựng những ý nghĩa sâu sắc. “Rước khám đường“ là trinh sát giặc. “Rước nước“ là để tôi luyện khí giới trước khi xuất quân. “Rước Đống Đàm“ là đi đàm phán kêu gọi hoà bình. Rước trận Soi Bia“ là mô phỏng cách điệu các trận đánh ác liệt.
Trong lễ hội người ta thấy có nhiều loại cờ, nhưng quan trọng nhất là lá cờ phướn màu đỏ. Trên lá cờ viết chữ “Lệnh“ tôn nghiêm cùng với các động tác múa cờ Lệnh của ông Hiệu Cờ là biểu đạt một số quan điểm cơ bản của phép luỵện binh. Đó là quân lệnh phải nghiêm minh. Binh pháp phải mưu lược, sáng tạo (Múa cờ nghịch và múa cờ thuận). Đội quân phù giá 120 người, đội quân chính quy, linh hồn của các thứ quân trong lịch sử chiến tranh của dân tộc Viêt là những người đóng khố, cởi trần, đầu đội mũ có hình quả dưa. Trên mũ có đính chín con rồng nhỏ, tượng trưng cho Đất. Trên vai mỗi chiến binh đeo túi hình bán nguyệt, tượng trưng cho Trời. Tay họ cầm quạt giấy màu nâu lúc thì cụp, lúc thì xòe, tượng trưng cho một loại vũ khí có sức biến ảo khôn lường.
Cả một không gian sắc màu hòa quyện trong tiếng trống, chiêng, tù và với đủ cung bậc âm thanh. Nó không chỉ gợi lên không khí trận mạc cổ xưa mà còn tạo ra xúc cảm thẩm mỹ trước vẻ lung linh, kỳ ảo đẹp đến nao lòng. Đặc biệt trong lễ hội còn có những hiện tượng kỳ lạ: 28 cô gái trẻ đẹp đóng vai tướng giặc tượng trưng cho 28 đạo quân xâm lược nhà Ân; các màn rước lễ “Kén Tướng“, “Kén Phù Giá“, màn diễn săn hổ, bắt hổ, giúp hổ hoá thân… Tất cả khiến người xem hội suy ngẫm, lý giải với những quan điểm thẩm mỹ khác nhau.
Thế nhưng tất cả những điều chúng ta thấy trong lễ hội cùng với những cảm nghĩ khi đi xem hội vẫn chỉ là cái bên ngoài. Ẩn đằng sau “cái chúng ta đang thấy” trong lễ hội là những lớp trầm tích văn hóa. Nếu chúng ta hiểu thì sẽ thấy thật thú vị. Tìm hiểu nguồn gốc lễ hội làng Phù Đổng, các nhà khoa học xã hội xác định lễ hội này ban đầu là lễ hội mùa nông nghiệp, mang tính phồn thực (Nguyến Văn Huyên 1938, Nguyễn Đổng Chi 1958, Cao Huy Đỉnh 1969, Trần Quốc Vượng 1995). Trải qua thời gian, lễ hội này biến đổi, kết hợp với huyền thoại Thánh Gióng, người anh hùng chống giặc ngoại xâm, một biểu tượng của tinh thần dân tộc và đã tạo thành một lễ hội đặc sắc nhất của Việt Nam, hội tụ nhiều nét đặc trưng văn hóa của Việt Nam.
UNESCO đã vinh danh lễ hội Gióng là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Lễ hội Gióng mà trung tâm là biểu tượng Thánh Gióng đã vượt ra khỏi tầm vóc quốc gia để đi vào đời sống văn hóa của nhân loại. Nếu chỉ có phần “nổi”, phần chúng ta đang nhìn thấy tôi nghĩ chưa chắc người ta đã xét duyệt vào hàng đi sản thế giới. Ngoài việc hội Gióng “đã ăn sâu trong đời sống của các cộng đồng cư dân vùng châu thổ sông Hồng như một phần bản sắc, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên một dòng chảy liên tục”, nó còn hội tụ nhiều nét đặc trưng văn hóa của Việt Nam.
Tiếp theo, tôi muốn tập hợp thêm một số những kiến giải hay giải mã văn hóa của các nhà khoa học xã hội từ trước đến nay, đặc biệt qua cuốn Lễ hội cộng đồng: Truyền thống và biến đổi 2014 để tìm hiểu về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của hội Gióng và Thánh Gióng để chúng ta cùng suy ngẫm, thấy được cái hay, cái đẹp của lễ hội. Chẳng hạn có một loạt các biểu trưng văn hóa trong hội Gióng như “danh từ Gióng”, nghi thức “múc nước” và “rước nước”, “ngựa sắt”, “bạch mã”, “28 tướng nữ”, “ba ván nghịch, ba ván thuận”, “làng áo đỏ”, “làng áo đen”…
Ngoài nghĩa thực mà tôi đã đề cập nó còn hàm ẩn thông điệp gì? Đồng thời phải “giải ảo” các huyền tích và huyền sử về Thánh Gióng như thế nào?
Hội Gióng mồng Chín tháng Tư là thời điểm lúc kết thúc các hội xuân, kết thúc lúc nông nhàn. Thời điểm này người dân bước vào mùa làm ruộng, vụ chính trồng lúa đầu mùa mưa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày xưa. Theo người dân Phù Đổng, trước hội bao giờ cũng có trận mưa giông lớn. Người làng nói đó là ông Đổng (ông Gióng) về hái cà. Người dân thường lấy cành tre, vót đầu thành bông hoa tre nhuộm màu để cắm vào các ruộng cà, Tại sao người ta làm như vậy? Người dân quê xung quanh khu vực đó còn gác “nõ nường”, bộ phận sinh thực khí nam nữ lên giàn bầu bí để chúng ra nhiều quả. Tre vót đầu thành túm xơ là hình tương linga (sinh thực khí nam). Đó là dấu tích của tín ngưỡng phồn thực: Ước nguyện vạn vật sinh sôi nảy nở.
Người dân Phù Đổng cho rằng những cơn mưa giông đầu mùa sau những ngày nóng oi ả vừa là rửa đền ông Gióng, vừa là điềm may. Có mưa trong lễ hội thì việc cày bừa cấy hái vụ mùa sẽ gặp thuận lợi. Cao Xuân Đỉnh có lý khi gán các các danh từ: Đổng, Gióng/Dóng với Dông/Giông, cái tên của ông Gióng gắn liền với một vị thần thiên nhiên, giống như hiện tượng các làng thờ thần mây, mưa, sấm, chớp trong hệ thống “Tứ Pháp”: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện mà người dân ở dọc sông Đuống, sông Hồng vẫn thờ tự (Tôi sẽ đề cập đến lễ hội cầu mưa qua lễ rước pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp điện của liên làng huyện Văn Lâm, Hưng Yên trong bài viết sau).
Trần Quốc Vượng thì cho rằng nghi thức “múc nước” và “rước nước” ở hội Gióng nguyên thủy là nghi lễ nông nghiệp, giống như tết Pi May của Lào, tết Timây của Cămpuchia gắn liền với nghi thức té nước. Đó là tín ngưỡng cầu mưa. Mưa giông đầu tháng tư mở đầu mùa vụ là “tết mưa giông”. Còn tết cơm mới, xôi mới tháng Mười là kết thúc mùa vụ. Các nhà khoa học nông nghiệp đã chứng minh lúa mùa cổ xưa nhất của cư dân Việt là trồng vào đầu mùa mưa:
Tháng Tư cày vỡ ruộng ra
Tháng Năm gieo mạ chan hòa nơi nơi
Một vết tích từ thời Kỳ Đông Sơn còn tồn tại trong hội Gióng là tục thờ mặt trời. Chúng ta thử hình dung ngôi sao (mặt trời) trên trống đồng Đông Sơn với cảnh bầy chim bay ngược chiều kim đồng hồ sang cảnh con ngựa sắt trong huyền tích Gióng phi ngược chiều kim đồng hồ. Con ngựa sắt khạc lửa phi về Đông, rồi từ Đông phi về Tây (về Sóc Sơn, nơi Gióng bay về Trời). Đó là biểu hiện sự vận động của mặt trời (huyền tích ở đền Bạch Mã ở Hà Nội kể rằng Thần cưỡi ngựa đi từ Đông sang Tây, rồi lại trở về Đông và biến mất trong đền, để lại các vết chân ngựa. Vua Lý Thái Tổ dựa theo đó mà xây dựng thành Thăng Long. Đó là vết tích của Đông Sơn trong nghi thức thờ mặt trời. Nghi thức giết ngựa trắng tế thần còn tồn tại đến đầu nhà Lê, thế kỷ 15 và được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư).
Làng “áo đỏ” trong hội Gióng, lá cờ Lệnh đỏ, sắc phục đỏ của các “Ông Hiệu” đều là biểu tương của mặt trời. Và như vậy, làng “áo đen” là tượng trưng cho bóng đêm đối lập với sắc đỏ của mặt trời ban ngày. Còn Ông Gióng khổng lồ cưỡi ngựa sắt là biểu tượng của mặt trời. 28 nữ tướng của giặc Ân là biểu tượng của “Thần Đêm”. Con số 28 là biểu tượng của “Nhị thập bát tú”, 28 vì sao của bốn phương trên bầu trời đêm. Người xưa chọn nữ tướng vì nữ tượng trưng cho Âm. Đối lập với Ông Gióng tượng trưng cho Dương. Tục thờ “Mặt Trời” (Ông Gióng và Ngựa Gióng) được biểu hiện qua nghi thức rước Bạch Mã về Đông (Đống Đàm, Soi Bia) rồi mới rước lại về Tây, tức là về đền.
Việc diễn trận “ba ván cờ nghịch”, “ba ván cờ thuận” cũng là biểu tượng vận động của “Mặt Trời”. Lá cờ đỏ tượng trưng cho mặt trời, xoay thuận nghịch là tượng trưng sự vận động của mặt trời từ đông sang tây lúc ban ngày, và từ tây trở về đông lúc ban đêm. Phải có đầy đủ ba ván thuận nghịch mới diễn tả đầy đủ sự vận động của mặt trời trong không gian, trong tâm thức dân gian.
Cuối cùng là nghi thức chém tượng trưng nữ tướng nhà Ân trong đền, lấy đầu là mũ, lấy da là áo để lại trong đền cũng mang ý nghĩa cầu mưa. Chém tướng giặc đồng nghĩa với việc triệt tiêu các vị tinh tú. Sao lặn và mưa rơi mang nước tưới cho đồng ruộng… Các nhà khoa học, đứng đầu là Trần Quốc Vượng cho rằng huyền tích về Thánh Gióng khởi thủy là huyền tích về mặt trời. Hội Gióng khởi thủy là là nghi lễ nông nghiệp cầu mưa. Trải qua hàng ngàn năm, lớp văn hóa này trở thành trầm tích trong lễ hội Gióng tôn thờ người anh hùng đánh giặc ngoại xâm. Vậy thì quá trình đó diễn ra từ bao giờ? Như thế nào? Trong cuốn Lễ hội cộng đồng: Truyền thống và biến đổi Nxb ĐHQG Tp HCM, các nhà nghiên cứu đã đề cập và luận giải về vấn đề trên khá thấu đáo.
Trong cuộc hội thảo quốc tế diễn ra hai ngày 16-18/12/2013 tại Hồng Kông, tập thể các tác giả Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, trong đó có tác giả Đinh Hồng Hải đã tham luận bài “Lễ hội làng Phù Đổng, từ một lễ hội nông nghiệp biến thành một lễ hội quốc gia” và từ một nhân vật huyền thoại được “lịch sử hóa” hóa thành một vị anh hùng. Nhìn chung các tác giả đã tìm hiểu khá kỹ nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển biểu tượng Thánh Gióng trong văn hóa Việt Nam, cũng như vai trò của biểu tượng này trong lịch sử chiến tranh giữ nước của người Việt. Mấy trăm trang sách của các tác giả tôi xin được gói gọn lại trong vài đoạn để chúng ta có thể hình dung một cách đại thể về quá trình phát triển biểu tượng Thánh Gióng.
1. Vua Lý Công Uẩn là người đầu tiên đã ban hiệu, sắc phong cho một vị thần thổ địa bên cạnh chùa Kiến Sơ Phù Đổng là Xung Thiên Thần Vương/Tì Sa Môn Thiên Vương, một vị thần hộ quốc có nguồn gốc từ Ấn Độ (thần có tên tiếng Phạn là Vaisravana). Đó là tiền thân của Thánh Gióng. Vua Lý Công Uẩn không những là người đầu tiên ban tước hiệu và quốc gia hóa một vị thần địa phương có công đánh giặc Ân trở thành một vị thần hộ quốc mà còn là người cho xây dựng mở mang đền thờ Gióng.
2. Đây là cách để nhà vua và triều đại nhà Lý, Trần trong suốt mấy trăm năm khẳng định uy quyền, là cách tạo thế đối trọng với văn hóa Trung Hoa (văn hóa Trung Hoa là văn hóa của Khổng giáo, văn hóa của Đại Việt thời Lý là văn hóa của Phật giáo), là cách thức nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu của người Việt trước họa xâm lăng của Đại Hán, là biểu tượng của nền độc lập tự chủ của Đại Việt.
3. Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 15 là quá trình khẳng định ý thức dân tộc. Quan niệm về quốc gia đã được hình thành và xác lập qua các triều đại Lý, Trần, Lê, qua những cuộc chiến tranh chống quân xâm lược: Tống, Nguyên, Minh. Năm thế kỷ này cũng là năm thế kỷ hình thành và phát triển biểu tượng Thánh Gióng trong truyền khẩu, trong các văn bản qua các thời kỳ, qua các triều đại (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích/trích quái, Đại Việt sử ký toàn thư, thần tích, thần phả và hàng nghìn sắc phong của các triều đại suốt năm thế kỷ). Với thời gian Thánh Gióng đã trở thành biểu tương văn hóa, biểu tượng sinh động nhất và đặc sắc nhất của chủ nghĩa anh hùng, tinh thần dân tộc, tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm của người Việt.
4. Thánh Gióng từ một nhân vật huyền thoai (không có lai lịch) trở thành nhân vật có gia đình, quê hương bản quán và được đưa vào lịch sử thành văn của người Việt…
Để kết thúc bài viết về lễ hội này, tôi xin trích dẫn một đoạn trong một bài tham luận tai cuộc hội thảo quốc tế về lễ hội Gióng: “Biểu tượng Thánh Gióng sẽ còn là một đối tượng nghiên cứu hấp dẫn không chỉ ở Việt Nam (tầm quốc gia) mà còn ở tầm quốc tế vì chính biểu tượng này đã kết nối các nền văn hóa Ân Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Tây Tạng, Khotan, Nepal, Bhutan cùng qua một biểu tượng: Kubera/ Vaisravana/Đa Văn Thiên/Tì Sa Môn Thiên Vương/ Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng).
Read More

Hội Gióng Phù Đổng (phần 1)

Leave a Comment
Hội Gióng Phù Đổng (phần 1)
Năm nay tôi và nhóm bạn cùng lớp sư phạm chắc sẽ không về được hội Gióng vì dịch Covid- 19. Hơi tiếc là đã lỗi hẹn với bạn Trần Ngọc Cầu cùng một số bạn năm nay sẽ đi cùng. Đành khất với các bạn đến sang năm. Không đi ngồi nhà, “hóng hớt” muốn chia sẻ cùng các bạn bài viết về hội Gióng.
Có lẽ đây là năm đầu tiên sau hai mươi đến ba mươi năm, tất cả anh em bạn bè chúng tôi đều không tụ tập được ở nhà bạn Nguyễn Huy Cải, để cùng nhau tản bộ thụ hưởng cái không khí nhộn nhịp, vui vẻ bậc nhất của xứ Bắc. Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Toan Ánh thì xứ Bắc là xứ sở hội hè đình đám dày đặc nhất trong số các làng quê đất Việt (Phù Đổng trước kia thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh). Chỉ một câu ca thôi người ta cũng hình dung ra được điều đó:
Mồng Bảy hội Khám, mồng Tám hội Dâu
Mồng Chín đâu đâu thì về hội Gióng.
Xưa kia hội Gióng thuộc tổng Phù Đổng kéo dài từ đầu tháng Tư đến ngoài mồng Mười lịch Âm. Ngày nay lễ hội thường khai mạc vào ngày mồng Bảy cho đến hết mồng Chín tại Xã Phù Đổng. Xã này nằm ở tả ngạn sông Đuống, cách trung tâm Hà Nội gần hai mươi cây số. Thời gian trước, khi chưa có cầu Vĩnh Tuy, chúng tôi thường qua cầu Long Biên, theo quốc lộ hướng Bắc Ninh, tới cầu Đuống thì rẽ phải dọc con đường đê và đi vào khoảng bảy cây số thì tới làng Phù Đổng.
Từ trên bờ đê nhìn xuống bên trái, một ngôi đền đồ sộ nằm dưới bóng những cây đa cổ thụ xum xuê. Đó chính là ngôi đền Thượng thờ Phù Đổng Thiên Vương, Đức Thánh trong tâm thức người Việt thuộc hàng “Tứ bất tử”. Trước cửa đền có một hồ nước hình vuông đầy ắp nước. Ở giữa hồ là nhà thủy tạ tám mái theo lối kiến trúc cổ. Xuôi xuống gần một cây số là ngôi đền Hạ nằm dưới bóng những cây muỗm, nhãn giữa một cánh đồng, nơi tương truyền có dấu chân khổng lồ, bà mẹ Gióng đã ướm chân thử rồi mang thai, sinh ra người anh hùng ba tuổi “không biết nói, không biết ngồi”.
Về căn bản, lễ hội Gióng từ ngàn năm nay nhằm tôn vinh người anh hùng huyền thoại Thánh Gióng, người anh hùng làng Phù Đổng, biểu tượng vĩnh hằng của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam chống giặc phương Bắc xâm lăng. Và hội Gióng “từ một tín ngưỡng về nghi lễ nông nghiệp cổ truyền cầu mưa, thờ thần mặt trời, với thời gian lịch sử đắp đổi, đã trở thành một tín ngưỡng thờ anh hùng chống giặc và một nghi lễ diễn xướng anh hùng ca” (Trần Quốc Vượng, 1987).
Để hiểu được bản chất của hội Gióng, từ những năm đầu, có năm chúng tôi hẹn nhau đi vào mồng Bảy, có năm hẹn nhau đi vào mồng Tám, có năm hẹn nhau đi vào mồng Chín. Vì vậy mọi người gần như “thuộc bài”, nắm được tổng thể cũng như nắm khá chi tiết về các sự kiện diễn ra trong lễ hội. Mặc dù các thầy đã dạy, đã nói về lễ hội trên lớp, trong các bài viết, chúng tôi hoàn toàn tâm phục, khẩu phục, nhưng thực tế hiểu thấu đáo về lễ hội, giải mã được tất cả các hiện tượng văn hóa trong lễ hội thì đó lại là câu chuyện bạn bè chúng tôi vẫn còn tranh cãi, chưa ai chịu ai.
Vào trước ngày mồng 7, ban tổ chức cho thảo lá cờ có chữ Lệnh. Xưa kia người ta chọn bậc đại khoa dùng bút, mực loại thượng hạng để viết lên lá cờ. Sau khi đã thảo Lệnh từ, cờ được gắn vào cán, quấn lại đựng trong chiếc túi đỏ thêu long, ly, quy, phượng. Trong túi có một trăm tờ giấy trắng, một nghìn con bướm và sáu mươi gói trầm để tại miếu giáp. Trai tráng hàng giáp (đơn vị tổ chức làng từ thời nhà Lý) làm lễ rước rồi theo ông Hiệu Cờ tới đền Mẫu.
Vào ngày mồng Bảy, khoảng hơn 10h, ngày khai hội diễn ra nghi thức “rước nước”. Nghi thức mà tất cả quân, tướng (theo sau là đông đảo các cụ, các ông, các bà, nam thanh nữ tú trong xã và hàng ngàn khách thập phương khắp đồng bằng Bắc Bộ) theo dự đám rước từ đền Thượng đến đền Hạ. Trong lễ rước có hai mươi bốn quân sĩ, trong số tám mươi quân “phù giá” khiêng đôi chum thiêng đặt trên giếng đền Mẫu (nói là giếng nhưng rộng như một cái hồ). Người cơ binh đứng ở bậc giếng cuối cùng, múc nước vào chiếc gáo đồng rồi chuyển cho người trước mặt. Người này lại chuyển cho người trước mặt ở bậc trên. Cứ như vậy, gáo nước được chuyển theo hình chữ “Chi” cho người đứng trên cùng, bên cạnh chum. Người này thong thả rót nước qua miếng vải điều lọc trên miệng chum theo hiệu lệnh của cơ trưởng. Cơ trưởng mặc áo thụng xanh ra lệnh cho cơ binh đổ nước vào chum...
Tất cả các động tác trên diễn ra theo lệnh trống, chiêng và sênh của người xướng. Khi đã đủ nước, đám quân lính và dân làng rước đôi chum về đền Thượng trong tiếng trống chiêng từng hồi nhộn nhịp. Phường Ải Lao (phường tùng choặc) của làng Hội Xá múa hát đi trước dẫn đường.
Người dân Phù Đổng và các khu vực lân cận tin rằng rước nước ông Gióng ban cho để sinh sống, để trồng trọt. Rước nước về đền là để thờ Thánh và lau rửa khí giới trước khi cho quân lính xuất trận thì mới có uy lực để chiến thăng kẻ thù. Có làm lễ rước thì sang ngày hôm sau và vào ngày hội chính mới có mưa. Cơn mưa đó biểu hiện ông Gióng về dự hội. Mùa màng mới thuận lợi và cây cối mới phát triển tốt tươi.
Ngày mồng Tám là ngày chỉ tế lễ, ngày dân làng và khách thập phương lễ bái tại hai ngôi đền và lễ ở chùa Kiến Sơ, ngôi chùa linh thiên nhất của xứ Bắc xưa. Ngày này là ngày ban tổ chức và tất cả hàng trăm người tham gia việc thánh của bốn làng hoàn tất công việc chuẩn bị cho ngày hôm sau. Trong đó có hai mươi tám thiếu nữ tượng trưng cho 28 tướng giặc Ân ngồi trên kiệu, được các đoàn người rước từ các ngả tưng bừng trở về nơi tập kết.
Vào ngày mồng Chín, ngày hội chính, diễn ra trận chiến mô phỏng đánh giặc Ân. Buổi sáng có lễ tế tại đền Thượng. Các ông Hiệu kiểm điểm lại quân số của mình để sẵn sàng xuất trận (120 người). Vào lúc đó có 28 thiếu nữ giả đóng tướng nhà Ân đóng dinh tại Đồng Đàm. Các cô chỉ khoảng 10 tuổi trông rất đáng yêu ngồi trên kiệu lộng lẫy, xung quanh là các bà, các cô, các chị xúm xít xung quanh tiếp tục trang điểm cho các tướng của mình. Khi quân thám thính đến đền thượng báo tin quân giặc đã đến. Hiệu báo động nổi lên. Các ông hiệu và quân lính hô to khẩu hiệu “Tuân lệnh”. Mọi người rút binh khí ra khỏi giá. Người đánh trống, người đánh chiêng, người cầm cờ sẵn sàng. Phường Ải Lao vào làm lễ múa hát trước . Phường này gồm hai mươi người. Một người đóng vai ông Cọp tượng trưng cho sức mạnh đến trước bàn thờ lễ. Những người còn lại đóng giả người Lào cùng múa và hát trước đền.
Khi khúc “quân ca” chấm dứt, ba hồi chiêng trống nổi lên. Cuộc tiến quân bắt đầu. Mở đầu là 12 thiếu niên mặc áo dài sặc sỡ, tay cầm roi mây đi trước hai ông Hiệu Tiểu Cổ. Theo sau là ông Cọp dẫn đầu phường Ải lao, rồi đến các ông Hiệu Chiêng, Hiệu Trống, Hiệu Trung quân. Ông Hiệu Cờ Lệnh đi sau. Các kỳ binh kéo con Bạch Mã đi theo cờ lệnh. Cuối cùng là kỳ binh mang hòm sắc và y phục của Phù Đổng Thiên Vương, có quân lính đi dàn hai bên… Đoàn người hàng nghìn người theo sau trên một đoạn đê dài. Khi qua đền Mẫu tất cả dừng lại nghiêng đầu làm lễ. Tới trận địa Đổng Viên, quân nhà Ân dàn binh chờ đoàn quân của nhà nước Văn Lang kéo tới. Mặt trận được tượng trưng bằng ba chiếc chiếu. Mỗi chiếc chiếu có một chiếc bát úp lên một tờ giấy ở chính giữa. Chiếu tượng trưng cho cánh đồng, bát tượng trưng cho đồi núi. Giấy tượng trưng cho mây bay.
Đoàn quân đánh giặc bao quanh khu vực chiến trường. Sau ít phút giải lao, cuộc giao chiến bắt đầu. Ông Hiêu Cờ bước tới chiếc chiếu thứ nhất. Cờ lệnh được giương lên. Những con bướm và những túi trầm từ trong túi cờ lệnh tung ra. Mọi người đi xem hội chen lấn, xô nhau cướp các vật trên để lấy phúc.
Ông Hiệu Cờ bước chân trái sang bên trái, bước chân phải sang bên phải. Ông dùng chân phải gẩy chiếc bát và tờ giấy. Động tác này có nghĩa là đoàn quân vượt qua đồi mây núi đá đánh giặc. Sau đó ông quỳ chân phải trên chiếu, xoạc chân sau thành hình chữ lệnh. Hai tay ông phất cờ lệnh từ phải sang trái ba lần rồi rời khỏi chiếc chiếu (người ta gọi là ba ván nghịch). Dân tình hiếm con tranh nhau xé chiếc chiếu mang lấy một mảnh về chờ đợi tin mừng.
Ông Hiệu cờ lặp lại động tác trên với hai chiếc chiếu còn lại. Khi chiếc chiếu thứ ba được mọi người xé nát thì cũng là lúc quân giặc Ân tan rã. Hai mươi tám tướng giặc rút lui hỗn loạn. Kiệu các thiếu nữ được rước về làng Phù Đổng. Đoàn quân đại thắng cùng con Bạch Mã khải hoàn về đền Hạ/Mẫu. Tiệc khao quân diễn ra trước cửa đền. Các tướng giặc tuy rút lui hỗn loạn nhưng chúng tụ tập tàn quân ở làng Phù Đổng. Đoàn do thám cấp báo quân giặc Ân trở lại. Chúng dàn trận giữa Đền Thượng và đền Hạ. Quân của Thiên Vương bỏ tiệc xông ra trận tiền. Trận tái chiến diễn ra ở “Soi Bia” thuộc làng Phù Đổng. Ở đây cũng có ba chiếc chiếu như ở Đồng Đàm. Ông Hiệu Cờ lặp lại động tác cũ ba lần trên ba chiếc chiếu, nhưng lần này ông xoay cờ lệnh từ trái sang phải để múa thuận lá cờ thành chữ Lệnh (người ta gọi là ba ván thuận). Như vậy là theo lệnh của Thiên Vương quân ta đã đánh tan quân giặc Ân. Các tướng giặc quỳ xuống xin hàng. Quân sĩ trở lại bữa tiệc khao quân.
Hội Gióng Phù Đổng có dàn vai diễn hết sức phong phú và độc đáo. Đó là các ông hiệu (Hiêu Cờ là người cầm cờ và múa cờ; Hiệu Trống, Hiệu Chiêng là người đánh trống đánh chiêng; Hiêu trung quân là người chỉ huy trung tâm; hiệu Tiểu Cổ là hai tướng tiên phong). Tất cả tượng trưng cho hệ thống tướng lĩnh của Ông Gióng. “Phù Giá“ tượng trưng cho đội quân chính quy. Phường “Ải Lao“, trong đó có “Ông Hổ” tượng trưng cho đội quân tổng hợp. “Làng áo đỏ” là đội quân trinh sát nhỏ tuổi. “Làng áo đen” là đội dân binh…
Có thể nói hội Gióng là một màn diễn xướng của cuộc chiến tranh nhân dân với hàng trăm vai diễn tiến hành theo một kịch bản truyền thống đã được chuẩn hoá. Ai tham gia cũng đạt đến mức độ nhuần nhuyễn mang tính nghệ thuật cao. Trong tâm thức, người dân tin rằng lễ hội thành công, quân lệnh như sơn, hát hay, múa đẹp, trống chiêng vang rền, cờ lệnh tung bay là báo hiệu cho một miền quê yên bình thịnh vượng.
Một điểm nỏi bật nữa trong hội làng là có phần lễ và phần hội, đan xen giữa “lễ” và “hội”. Thậm chí trong lễ có hội trong hội có lễ. Đám rước kiệu, khiêng kiệu, rước bài vị, long ngai là phần lễ, nhưng mua hát theo nhịp trống và nhạc bát âm lại là phần hội. Hoạt động tế lễ thuộc về phần lễ nhưng lại có trống chiêng, múa hát của phường Ải Lao. Đó chính là sự tích hợp nhiều giá trị văn hóa: Lễ, ca, múa, nhạc, phong tục tập quán. Chính nó đã làm nên sức cuốn hút của lễ hội Gióng.
Để kết túc phần đầu của bài viết, tôi xin được trích dẫn một đoạn nhận xét của bà Katherine Muller Marine đọc trong Lễ trao Quyết định công nhận lễ hội Phù Đổng là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) tại Phù Đổng: “Hội Gióng đã ăn sâu trong đời sống của các cộng đồng cư dân vùng châu thổ sông Hồng như một phần bản sắc, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên một dòng chảy liên tục.”
Theo thần tích, đền Gióng được xây dựng từ thời vua Hùng, được mở rộng từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua và dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (Lý Công Uẩn đã từng ở chùa Kiến Sơ Phù Đổng, người thường đến ngôi miếu nhỏ thờ thần thổ địa có công chống giặc Ân bên cạnh chùa và được thần mách bảo về việc nước. Mọi việc sau đó quả ứng nghiệm. Vua mới phong thần là Phù Đổng Thiên Vương). Dù hoài nghi về thời gian từ thời vua Hùng, thì ít ra ngôi đền cũng có đến một ngàn năm tuổi theo sử sách. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hội Gióng vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Vượt qua khuôn khổ của quốc gia đân tộc, nó trở thành di sản văn hóa của nhân loại, là niềm tự hào của người dân Việt nói chung và là niềm tự hào của người dân Phù Đổng nói riêng. Để kết thúc phần một bài viết tôi xin được trích dẫn một câu ca trong dân gian xưa để nói lên sức hút kỳ diêu, sức hút đến say đắm lòng người của lễ hội:
Ai ơi mồng chín tháng Tư,
Không đi hội Gióng cũng hư một đời
Read More

Đấu trường sinh tử

Leave a Comment
Thời gian ở nhà vì dịch Covid-19 tôi vẫn làm việc qua điện thoại, qua email, nhưng nhìn chung là rỗi rãi. Ngồi trước màn hình lướt qua hàng trăm kênh TV cũng chán. Tìm thấy trong giá sách “Tủ sách ông ngoại” của con gái thấy cuốn tiểu thuyết Đấu trường sinh tử của nữ biên kịch truyền hình kiêm tiểu thuyết gia Mỹ Suzanne Collins, Tôi đọc gần liên tục 400 trang trong trong thời gian hai ngày.
Cuốn Đấu trường sinh tử đươc Trần Quốc Tân dịch sang tiếng Việt. Nguyên bản tiếng Anh là “The Hunger Games”. Đây là cuốn tiểu thuyết giả tưởng, kể về một thế giới tàn bạo ở trong tương lai. Vào thời điểm Bắc Mỹ mất nhiều năm chìm trong cuộc nội chiến, sau khi nhà nước Panem trấn áp được cuộc nổi dậy của người dân 13 quận, những người đứng đầu bộ máy chính quyền đã đặt ra một hình phạt dã man cho 12 quận còn lại (Quận 13 bị hủy diệt hoàn toàn). Mỗi một năm, mỗi quận phải chọn ra ngẫu nhiên một nam và một nữ làm cống phẩm, hai “vật tế” phải tham gia vào một đấu trường. Trong đấu trường này hai mươi tư “vật tế” của 12 quận tìm cách sinh tồn và chiến đấu tiêu diệt lẫn nhau cho đến khi chỉ còn một người duy nhất sống sót.
Suzanne Collins có ý tưởng viết cuốn sách “Đấu trường sinh tử” từ cuộc chiến của Mỹ ở Iraq khi truyền thông công chiếu trên truyền hình. Bà đã xây dựng một cốt truyện hấp dẫn, phát triển tính cách nhân vật đầy cá tính và phong phú về nội tâm. Cuốn tiểu thuyết phảng phất những trận đấu sống còn của các đấu sĩ La Mã và có bóng dáng về sự hy sinh, về Bánh mì trong Kinh Thánh Kitô giáo kết hợp với thực tế về truyền hình hiện đại… Tất cả đầy bí ẩn, gai góc, hãi hùng nhưng mãnh liệt đầy cảm hứng lãng mạn. Người đọc bị cuốn hút tới từng chi tiết, từng hình ảnh trong câu chuyện.
Gần một triệu ấn phẩm bán hết trong mấy tháng đầu xuất bản đã khẳng định giá trị của tác phẩm. Với bộ ba tiểu thuyết Đấu trường sinh tử”, tác giả đã giành được nhiều giải thưởng, huân chương và được vinh danh là cuốn sách hay nhất trong năm 2008, một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất năm 2010, và lọt vào top 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Tác phẩm đã được dịch ra 26 thứ tiếng, phát hành ở 38 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Câu được kể bằng giọng “tôi”. Nhân vật chính tên là Katniss, một cô gái 16 tuổi xin ban tổ chức được thay thế em gái 12 tuổi để làm “vật tế”. Cô và Peeta đại diện cho quận 12 cùng đồng hành trong cuộc phiêu lưu vào thế giới chết chóc. Ở đấu trường sinh tử tàn nhẫn, nơi đường vào có 24 lối dành cho 24 con người, nhưng đường ra chỉ có 1. Katniss phải làm gì với cái đói cái khát cùng với thời tiết vô cùng khắc nghiệt? Cô sẽ phải làm gì với các đối thủ “nhà nghề” và đặc biệt là với chàng trai cùng quận yêu cô, cùng với một cô gái 12 tuổi giống như người em gái mà cô hết mực yêu thương?
Katniss sinh ra trong một gia đình nghèo. Cha là công nhân mỏ đào than, không may bị chết trong một vụ nổ khi cô chưa đầy 12 tuổi. Mẹ cô vì thế mà bị bệnh trầm cảm. Em gái thì mới 7 tuổi. Cô phải thay cha gánh vác việc nuôi sống gia đình. Tác giả đã xây dựng thành công hình tượng một cô gái đầy nghị lực, đảm đang và sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì gia đình.
Những tháng đầu khi cha mất, gia đình Katniss luôn trong tình trạng “chết đói”. Có khi đến đến ba ngày cả ba mẹ con chỉ có vài chiếc lá bạc hà và nước lã cầm hơi. Katniss đã ngã gục bên chuồng lợn của một chủ hiêu bánh vào một đêm mưa lạnh, khi lần mò bên các thùng rác hy vọng kiếm thức ăn thừa tại khu nhà của người giàu. Cô được cậu bé Peeta, con chủ tiệm bánh mì, tìm cách đánh lừa bà mẹ, cho hai ổ bánh mì…
Cho đến cái ngày Katniss tròn 12 tuổi, cô đến Tòa Tư pháp ký lấy Tessera, một loại tem phiếu đánh đổi rủi ro mạng sống để lấy một phần ngũ cốc và dầu ăn ít ỏi cho một người trong một năm. Bị đẩy vào cảnh bần cùng, trong bốn năm Katniss không đắn đo suy nghĩ cho riêng mình, chấp nhận mạo hiểm đăng ký đến 20 lần để có cái ăn qua ngày cho cả nhà. Hành động của Katniss đồng nghĩa với việc tăng khả năng bị bốc trúng xác suất làm “vật tế” theo luật lệ của nhà nước Panem lên đến 20 lần trong ngày “chiêu quân”, ngày chọn ra hai “vật tế” trong cái lồng thủy tinh như quay sổ số ngẫu nhiên của mỗi quận (nhà giàu người ta chỉ phải đăng ký một lần cho con họ, vì vậy xác suất phải làm “vật tế” thấp hơn).
Katniss đã từng theo cha vào rừng cấm săn bắn (nếu bị phát hiện sẽ bị xử tội chết) và hái lượm. Cô đã học được những kỹ năng săn bắn thỏ, chồn, nai và học được từ cha cách thu hái những loại rau, củ , quả trong rừng. Bất chấp cái chết nếu bị phát hiện, bất chấp bao hiểm nguy vì thú dữ, bốn năm dài cùng cộng tác với người bạn trai, cô trở thành một thợ săn cừ khôi có đầy đủ phẩm chất khéo léo, kiên trì, dũng cảm; biết sử dụng bẫy thú, cung tên, phóng lao như một chiến binh trận mạc.
Mỗi năm, vào cái ngày “chiêu quân”, người dân trong các quận cảm thấy vô cùng nặng nề, nhất là với các cô gái và các chàng trai từ 12 đến 18 tuổi. Vào cái ngày này, người ta biết con em hay bản thân mình trở thành “vật tế”, đồng nghĩa với việc phải nhận cái chết trong đấu trường ngoài trời rộng lớn, nơi tồn tại khắc nghiệt, từ xa mạc nóng bỏng đến rừng núi hoang vu lạnh giá, nơi chỉ có một người được phép sống sót.
Tất cả người dân trong các quận phải tham gia ngày “chiêu quân” như một ngày hội. Chính quyền không muốn họ lặp lại cái sai lầm “nổi loạn” như trong quá khứ. Ngày “chiêu quân” diễn ra từ trưa đến chiều. Vào cái ngày giấy báo tử có thể đến với bất cứ ai, buổi sáng Katniss vẫn phải vào rừng săn bắn. Cô hoàn toàn ý thức được việc làm của mình: “nếu chết đói thì thà chết vì một viên đạn vào đầu còn hơn”. Cô chấp nhận mạo hiểm mạng sống vì em gái hết mực yêu thương của mình. Nếu không vì em, cô đã trốn vào rừng cùng với người bạn trai của mình. Cô không mảy may nghĩ mình trở thành “vật tế” vào ngày “chiêu quân”. Cô lo ngại cho cô em gái, năm đầu tiên phải ghi danh vào danh sách lấy tessera và là năm đầu tiên đến tuổi nằm trong danh sách chọn “vất tế”.
Katniss biết cái cảnh chém giết tàn nhẫn ở đấu trường đã đi vào giấc mơ la hét, hãi hùng hàng đêm của cô em gái từ bao nhiêu ngày trước ngày “chiêu quân”. Cô cũng như người bạn của mình đều căm phẫn cái luật lệ man rợ và bất công, bắt 24 con người còn quá trẻ tàn sát lẫn nhau. Cô cho rằng “đó là cách chính quyền nhắc nhở chúng tôi rằng số phận của tất cả bị họ định đoạt như thế nào, và cơ hội sống sót của mọi người ít ỏi ra sao nếu họ dám nổi loạn một lần nữa”. Đó cũng là thông điệp họ muốn nói với cô và mọi người “ hãy nhìn xem chúng ta lấy đi những đứa trẻ rồi đem hiến tế trong khi các người bất lực đến mức nào”.
Katniss cũng lo cho người bạn trai Gale, người bạn đi săn hàng ngày trong rừng, người đã hoàn thiện cho cô kỹ năng đặt bẫy, câu cá và một số kỹ năng khác trong suốt mấy năm săn bắt trong rừng. Anh ấy (vì cứu gia đình khỏi chết đói) có đến 42 mảnh giấy trong chiếc bồn thủy tinh chọn xác suất... Để rồi bầu trời sụp đổ dưới chân cô khi người ta xướng tên cô em gái Primrose Everdeen vừa tròn 12 tuổi, người lần đầu tham dự chọn “vật tế” trong số hàng ngàn người. Mọi người trong quận bất bình phản ứng, nhưng điều đó không có tác dụng gì. Luật chọn ngẫu nhiên với chính quyền là công bằng.
Khi cô em gái Primrose mặt trắng bệch, lảo đảo bước lên bục sân khấu, Katniss gào lên nghẹn ngào, túm lấy em gái và đẩy ra sau lưng. Katniss hổn hển: “Cháu tình nguyện. Cháu muốn tình nguyện làm vật tế”! Katniss không đắn đo xin được thay thế em gái, điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử ngày “chiêu quân”. Tác giả đã xây dựng cái hoàn cảnh điển hình để bộc lộ tính cách của nhân vật. Hoàn cảnh nghiệt ngã đã biến cô gái giầu nghị lực, đảm đang, giàu tình cảm, mới 16 tuổi đã trở thành một nữ anh hùng trong mắt người dân quận 12. Nó cũng khiến cho người đọc có cảm giác không thể chịu đựng được cái xã hội chuyên chế đã tạo ra cái luật lệ vô cùng tàn bạo với con người. Trong quá khứ đã từng có “Đấu trường sinh tử” này. Hiện tại cũng có những dạng “Đấu trường sinh tử” này. Và tương lai cũng vẫn sẽ còn có những “Đấu trường sinh tử” này. Chỉ có điều một số chính quyền ngụy trang biến “Đấu trường sinh tử” ở dạng này hay dạng khác.
Katniss không thể ngờ “vật tế” nam đến từ quận 12 lại là Peeta Mellark, một người bạn học cũ, người đã từng cho cô hai ổ bánh mì khi gia đình cô đã phải nhịn đói 3 ngày. Điều đó có nghĩa là Peeta sẽ trở thành đối thủ của Katniss. Cô đau lòng khi nghĩ đến điều đó. Cô hy vọng hai người sẽ không phải đối mặt trong cuộc chiến một mất một còn tại đấu trường.
Trong những ngày trước khi vào đấu trường, Katniss và Peeta được cố vấn Haymitch dẫn dắt. Ông là người chiến thắng duy nhất của quận 12 qua được “Đấu trường sinh tử” trong quá khứ. Kinh nghiệm và chỉ dẫn của ông là điều cực kỳ cần thiết. Hai người cũng được các nhà tạo mẫu, các nhà đạo diễn tài năng đánh bóng hình ảnh trên truyền hình nhằm thu hút những nhà tài trợ tiềm năng, những người sẽ gửi những món quà có khả năng cứu sống họ trong đấu trường. Nhà tạo mẫu của Katniss là Cinna đã thiết kế bộ trang phục cho hai người đầy ấn tượng, khiến cặp đôi này trở thành biểu tượng rực rỡ nhất trong số các “vật tế”. Và Katniss nổi tiếng với cái tên “cô gái lửa” trên đất nước Panem.
Katniss và Peeta cùng với 22 vật tế phải trải qua những ngày huấn luyện đặc biệt, huấn luyện theo nhóm và huấn luyện với từng cá nhân. Họ được đào tạo kỹ năng sinh tồn trong những môi trường thời tiết khắc nghiệt, kỹ thuật ngụy trang, kỹ thuật sử dụng dao, kỹ thuật phóng lao, kỹ thuật bắn cung… Tất cả những kỹ năng tàn sát đối thủ. Người ta đã biến “vật tế”, trong đó có Katniss trở thành những sát thủ chuyên nghiệp, những sát thủ khát máu ngay trong những ngày tập luyện. Thật bất ngờ, kết thúc khóa huấn luyện, cô gái Katniss 16 tuổi nhận được số diểm cao nhất từ ban tổ chức.
Vào ngày trước khi bước đi vào đấu trường, trong cuộc phỏng vấn trên truyền hình, Chàng trai Peeta bất ngờ tiết lộ tình yêu thầm kín, tình yêu không được đáp lại của anh dành cho Katniss. Ban đầu Katniss bị sốc bởi điều này. Bởi cái xã hội cô đang sống, hoàn cảnh sinh nhai mà cái chết luôn rình rập khiến cô luôn nghi ngờ mọi thứ. Cô sống một cuộc sống khép kín, hoài nghi và cảnh giác với tất cả mọi người. Cô thận trọng với mọi hành động, lời nói và luôn biểu hiện trên khuôn mặt thái độ vô cảm. Cô tin cố vấn và Peeta đang thực hiện chiến thuật nhằm lôi kéo các nhà tài trợ đa cảm. Peeta đang thực hiện một vai diễn mà Haymit ra sức quảng bá hình ảnh về một mối tình ngang trái khi cả hai bước vào đấu trường.
Ngay ngày đầu đấu trường khai mạc, mười một “vật tế” bị giết trong một cuộc tắm máu. Hai mươi tư chiến binh chiến đấu với nhau để giành giật vũ khí, lương thực thực phẩm, thuốc men, quấn áo và đá lửa trong cái vòng tròn vật tế có dạng chiếc sừng vàng khổng lồ. Katniss bất chấp lời khuyên trước đó của Haymith là phải chạy trốn vào rừng ngay lập tức. Cô lại phóng tới phía trước, muốn giành lấy bộ cung tên và suýt phải trả giá bằng cái chết.
Katniss nhặt được một tấm bạt và một ổ bánh mì cùng với một chiếc ba lô. Cô còn giật được chiếc túi khi một vật tế nam ộc máu chết vì một lưỡi dao cắm lút cán sau lưng. Cô chạy hết tốc lực vào rừng. Trong khi chạy, cô đưa chiếc túi ra sau đầu. Một con dao phi tới cắm ngập chiếc túi đó.
Những thứ giành được cùng với kỹ năng săn bắn trong rừng khiến Katniss ẩn náu an toàn mấy đêm trên những cành cây lớn, trong lúc các đối thủ của cô chém giết lẫn nhau. Nhưng ban tổ chức không để yên cho cô trong cái vỏ bọc kín đáo. Họ cố tình tạo ra một đám cháy nhân tạo cùng với những vụ nổ đá để đẩy Katniss về phía “vật tế” khác. Katniss bị bỏng, bị thương và vẫn phải trốn chạy. Các “vật tế nhà nghề” phát hiện săn đuổi. Cô chỉ còn cách leo lên một cây cao vài chục mét để ẩn mình. Rue, một cô gái 12 tuổi rất giống em gái katniss ở trên tầng cây cao hơn đã ngầm chỉ cho cô một tổ ong độc. Cô dùng dao cưa cành cây trong đêm để đến sáng cho tổ ong lao thẳng xuống đất. Bầy ong độc bay ra đốt chết một trong những “vật tế chuyên nghiệp” và đuổi những “vật tế” khác trong đó có Peeta. Tuy nhiên Katniss cũng bị ong đốt, mặt xưng ụ. Cô tụt xuống đất cố gắng lấy được bộ cung tên từ đối thủ bị ong đốt chết trong lúc bị ảo giác.
Peeta kịp quay trở lại, giục cô nhanh chóng chạy đi. Chính vì vậy anh bị tên trùm Cato, một ứng viên có khả năng chiến thắng nhất chém bị thương. Khi Katniss thoát khỏi nguy hiểm cô đã liên minh với Rue. Nói chính xác là cô không muốn bỏ rơi cô bé mà cô coi như em gái mình và cũng vì Rue đã có công cứu mạng cô khỏi các “vật tế chuyên nghiệp”. Katniss chia sẻ gà rừng nướng, thịt bò khô cho cô bé. Katniss trò chuyện tâm tình, thậm chí còn nhường chiếc túi ngủ giữ ấm quý giá cho Rue khi ra ngoài trong đêm rét buốt thấu xương. Cô bé Rue thông minh nhanh nhẹn, tin tưởng coi Katniss như người chị, chia sẻ hết những gì cô bé có với Katniss. Hai chị em đã trở thành cộng sự, tạo nên sức mạnh mới. Họ sẽ không còn đơn độc chống đối với kẻ thù hai chân và bốn chân trong đấu trường nữa.
Trong một lần Katniss và Rue đi phóng hỏa cơ sở hậu cần của các “vật tế chuyên nghiệp”, Rue bị mắc vào bẫy lưới của “vật tế” quận 1. Hắn đã dùng một ngọn giáo lao vào trong khi Rue gọi tên Katniss cầu cứu một cách tuyệt vọng. Theo phản xạ, Katniss bật cung bắn vào cổ họng đối thủ trước khi hắn kịp rút mũi lao khỏi người Rue. Phút lâm chung, Katniss đã làm theo tất cả những yêu cầu của Rue trước khi cô bé tắt thở.
Katniss giàn giụa nước mắt, những giọt nước mắt nhỏ xuống gương mặt Rue. Katniss ngả ngưởi hôn lên thái dương cô bé. Biết rằng nguy hiểm nhưng cô không thể rời khỏi khuôn mặt Rue. Trong lòng cô trào dâng nỗi căm ghét Capitol (tòa nhà nơi chính quyền làm việc), những kẻ chủ mưu đã gây ra chuyện này. Một con người khác từ trong sâu thẳm Katniss trỗi dậy. Từ một cô gái chỉ biết cam chịu, bị đẩy đưa theo hoàn cảnh theo số phận, cô bắt đầu phán xét việc làm của chính quyền. Cô đồng ý với những lời mạt sát Capitol của Gale. Với cô lúc đó những lời của anh không còn vô lý nữa. Cái chết của Rue đã buộc cô lần đầu tiên căm giận tội ác, bất công mà bộ máy chính quyền bắt cô phải chịu đựng. Cô suy nghĩ và tự đặt câu hỏi: “Tôi thấy mình bất lực. Không có cách nào trả thù Capitol. Liệu có cách nào không”? Và cũng chính lúc đó Katniss nhớ đến lời của Peeta vào đêm họ chuẩn bị vào đấu trường. Cậu ấy muốn nghĩ ra một cách nào đó để Capitol thấy được chính quyền không sở hữu được cậu ấy và cậu ấy không phải là quân cờ trong đấu trường của họ. Katniss bắt đầu hiểu về Peeta.
Capitol muốn các “vật tế” coi nhau như kẻ thù, tàn sát giết chóc lẫn nhau. Katniss muốn chứng minh mình không muốn trở thành những con người như vậy. Cô đi hái những bông hoa rực rỡ sắc tím, vàng, trắng trang điểm quanh thi thể Rue, trước khi từ biệt cô bé. Để tỏ lòng biết ơn, quận của Rue đã gửi cho Katniss một ổ bánh mì vô cùng quý giá.
Katniss tìm thấy Peeta, người bị thương nặng vì cứu cô. Peeta tiết lộ mình tham gia thành lập liên minh với những “vật tế chuyên nghiệp” được đào tạo bài bản để bảo vệ người yêu. Katniss đã vào vai một người tình đang yêu say đắm để tìm kiếm tài trợ khi mà cái chết đang kề cận với Peeta. Cô không quản ngày đêm nài nỉ, dụ dỗ, giận dỗi, cưỡng ép và thậm chí trao đổi từng nụ hôn để Peeta nuốt từng thìa súp. Nhưng vết thương của Peeta ngày một nặng thêm. Cô buộc phải mạo hiểm tính mạng để vào “hang cọp” lấy thuốc chữa trị cho người đã từng hai lần cứu sống mình. Cuối cùng hai người đã vượt qua mọi trở ngại để thành một đội, cùng nhau săn bắn và thu lượm thực phẩm, cùng tồn tại, cùng chiến đấu trong rừng. Họ bắt đầu hiểu nhau, sống như đôi tình nhân, hưởng những ngày đêm thi vị ngọt ngào. Ngủ chung trong một túi ngủ. Lấy hơi ấm của người này sưởi ấm cho người kia. Thỉnh thoảng họ ôm nhau, cảm nhận hơi thở của nhau…
Vượt qua bao hiểm nguy, thoát khỏi lũ sinh vật ăn thịt khủng khiếp do chính công nghệ ban tổ chức tạo ra, Katniss và Peeta trở thành hai người sống sót cuối cùng. Nhưng ban tổ chức đã thay đổi quy tắc cho phép hai người chiến thắng cùng sống sót trong một quận. Họ buộc người này phải giết người kia trong trận chung kết đầy kịch tính. Cả hai nhìn nhau. Peeta tiến về phía Katniss, rút con dao khỏi thắt lưng. Cậu vứt vũ khí xuống hồ. Katniss cũng hạ cung xuống. Peeta khập khiễng bước lại ấn cây cung vào tay Katniss nói: “bắn đi”. Katniss đáp lại: “Tớ không thể làm thế”. Cả hai đều muốn nhận lấy cái chết về phần mình. Peeta giật dải băng quanh vết thương cho máu chảy ra để được chết. Patniss vội vã băng bó lại. Cái đẹp, cái cao thượng trong con người họ đã chiến thắng bản năng sống riêng của mỗi người theo hai cách cách khác nhau. Peeta thì vì yêu Katniss hơn cả mạng sống của minh. Và cuộc đời không còn nghĩa lý gì khi cậu mất người yêu. Còn Katniss cứ văng vẳng trong tâm trí câu nói của Peeta: “Chúng ta đều biết là phải có một người chiến thắng”.
Theo luật, đúng là phải có một người chiến thắng. Nếu không có người chiến thắng, thất bại sẽ đổ đầu lên ban tổ chức. Họ có thể sẽ bị trừng trị. Katniss và Peeta đều căm ghét Capitol, không muốn trở thành công cụ của họ. Katniss mở cái túi, lấy ra một nắm dâu độc cho hai người cùng ăn.
Nhận ra hai “vât tế” có ý định cùng tự tử để không có người chiến thắng trong cuộc chơi này. Ban tổ chức vội vã tuyên bố cả hai đều là người chiến thắng. Họ được chào đón như những người anh hùng, một cặp đôi hoàn hảo. Tuy nhiên trên đường về Peeta rất đau lòng khi biết hành động của Katniss nằm trong mưu đồ tính toán. Còn Katniss thì rối bời về tình cảm với hai con người con trai và về một tương lai bất định của cô.
Cuốn tiểu thuyết khép lại trong tôi với bao cung bậc cảm xúc. Dù là một cuốn tiểu thuyết mang tính giả tưởng, nó vẫn là một tác phẩm văn học với những chức năng phản ánh hiện thực, chức năng thẩm mỹ và chức năng giải trí. Nó phản ánh vấn đề đói nghèo nghiêm trọng của người dân, sự áp bức bóc lột tàn nhẫn của tầng lớp thống trị và hậu quả đau đớn cả về thể xác lẫn tâm hồn của chiến tranh. Tôi liên tưởng đến cảnh đói nghèo của hàng triệu người ở châu Phi, khiến họ phải mạo hiểm tính mạng vượt biển di tản đến châu Âu. Tôi liên tưởng đến những người vô gia cư sống lắt lay ở Mỹ. Tôi cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh thảm khốc đã đến cái chết của hàng triệu người ở Trung Đông… Có thể tác giả không có tham vọng nói về những vấn đề đó. Nhưng tư tưởng chủ đề của tác phẩm khiến người đọc có suy nghĩ như vậy.
Tôi cho rằng thành công lớn nhất của tác giả là đã xây dựng được những nhân vật với nỗ lực phi thường, đã vượt qua được mọi khó khăn trong cuộc sống, đã vượt qua được cuộc chiến sinh tử để khẳng định bản chất tốt đẹp của con người. Katniss là một nhân vật tiêu biểu. Cô không những khẳng định được bản thân mình với tư cách là con người mà còn là kết tinh của cái đẹp, cái cao thượng mà con người cần hướng tới.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.