Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Quan hệ Trung Mỹ sẽ đi về đâu

Leave a Comment

 

Bài này tôi viết từ tám năm trước. Cách đây 4 năm khi Donald Trump trúng cử tổng thống Hoa Kỳ tôi đã sửa lại và bổ sung đăng trên blog cá nhân. Năm nay khi Joe Biden đắc cử tôi tiếp tục viết lại. Bài viết khá dài, dựa trên nhiều nguồn tài liệu. Tôi chia làm 3 phần, xin được chia sẻ cùng bạn đọc.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, quan hệ Mỹ-Trung có tầm quan trọng đặc biệt. Quan hệ giữa hai nước đã tác động và ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia khu vực châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trải qua gần 70 năm, từ một nước đông dân nhất thế giới, một nước đói nghèo thuộc thế giới thứ 3, giờ đây Trung Quốc nổi lên trở thành một cường quốc lớn nhất về kinh tế sau Mỹ. Có thể nói sau cuộc Chiến tranh Lạnh, khi siêu cường Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc hiện tại đang đe dọa vị thế siêu cường của Mỹ. Mâu thuẫn Mỹ-Trung không chỉ là mâu thuẫn về ý thức hệ mà còn là mâu thuẫn nằm trong hệ thống quan hệ quốc tế. Liệu lãnh đạo hai nước có thể điều hòa những mâu thuẫn này bằng biện pháp hòa bình? Liệu Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ có chịu chia sẻ vị thế siêu cường và quyền lợi với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa? Liệu một cuộc chiến tranh nóng hay một phiên bản chiến tranh Lạnh 2.0 giữa một quốc gia đã và đang là “bá chủ” và một quốc gia đầy tham vọng muốn thay thế vị trí số 1 có thể xảy ra?
Theo một số nhà nghiên cứu, hai đối thủ Mỹ-Trung đã bắt đầu cuộc chiến cạnh tranh từ mười năm trước, năm 2010. Theo cuốn Hồi ký của Barack Obama (Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ từ tháng 1/2009 đến tháng 1/2017), nếu không xảy ra khủng hoảng tài chính thế giới vào năm 2007-2008, cuộc chiến có lẽ xảy ra sớm hơn vài năm. Để trả lời cho những câu hỏi dự đoán trên, chúng ta cùng tìm hiểu mối quan hệ Mỹ -Trung từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời đến nay.
Quan hệ Mỹ-Trung từ năm 1949 đến năm 2010:
Quan hệ Mỹ-Trung trong thời gia này đã trải qua nhiều thăng trầm. Từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 đến năm 1972, hơn hai mươi năm Mỹ-Trung là kẻ thù không đội trời chung. Quan hệ hai nước trong bối cảnh cuộc chiến tranh Lạnh luôn ở bên bờ vực chiến tranh, thậm chí Mỹ đã tính đến sử dụng lực lượng hạt nhân chiến thuật sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Nhưng bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước, do gặp nhiều khó khăn, giới cầm quyền hai nước đã đến với nhau và cả hai đều điều chỉnh chính sách của mình.
Về phía Mỹ, họ phải hy sinh Đài Loan, nhượng bộ Trung Quốc ngồi vào ghế uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhằm mục đích giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam và sử dụng ảnh hưởng của Mỹ với Trung Quốc như là đòn bẩy chống lại Liên Xô. Đồng thời Mỹ cũng mong muốn có được các mối quan hệ kinh tế có lợi đối với Trung Quốc.
Về phía Trung Quốc, họ chuyển từ chính sách mang nặng ý thức hệ sang chính sách thực dụng “mèo trắng cũng như mèo đen”, sát cánh với Mỹ chống Liên Xô, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai siêu cường để tìm kiếm lợi ích quốc gia. Nhân tố Mỹ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc chuyển dần từ kẻ thù trực tiếp sang một dạng đồng minh đôi bên cùng có lợi. Điều quan trọng là cải thiện quan hệ với Mỹ sẽ giúp Trung Quốc đặt nền móng và phát triển quan hệ với thế giới phương Tây. Từ chỗ bị cô lập, Trung Quốc có cơ hội vươn rộng ra cộng đồng quốc tế. Chính điều này đặt nền móng cho công cuộc cải cách kinh tế thần kỳ mà Đặng Tiểu Bình khởi xướng ở giai đoạn sau. Mâu thuẫn lớn nhất giữa hai nước về ý thức hệ tạm thời được gác lại.
Nhìn vào mối quan hệ Mỹ-Trung trong thời kỳ này, chúng ta thấy Mỹ là bên chủ động. Mỹ chính là đột phá khẩu cho chiến lược hướng ra bên ngoài của Trung Quốc. Với tư cách là một thị trường, Mỹ trở thành một đối tác cần thiết có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển về mọi mặt, cụ thể là Bốn hiện đại hóa (Four Modernization) trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng và khoa học công nghệ nhằm biến Trung Quốc thành một cường quốc hiện đại.
Từ những năm 1980 trở đi, quan hệ Mỹ-Trung vẫn là mối quan hệ lợi dụng lẫn nhau, họ tập hợp lực lượng để tạo thế so sánh trong quan hệ với Liên Xô. Khi quan hệ Mỹ-Xô đi vào thế hòa hoãn cuối những năm 80, đặc biệt là vào năm 1989, sau sự kiện Thiên An Môn, Bắc kinh dùng xe tăng nghiền chết sinh viên biểu tình, vị trí của Trung Quốc trong chiến lược của Mỹ bị hạ thấp. Và sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ ra sức thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình. Trung Quốc lẳng lặng phát triển kinh tế, ổn định nội bộ. Họ khôn ngoan không thành lập mặt trận chống Mỹ như trong giai đoạn đầu. Mặc dù có nhiều sóng gió trong quan hệ hai nước, nhưng Trung Quốc đã thành công phát triển kinh tế và thực hiện chính sách “giấu mình chờ thời” của chiến lược gia Đặng Tiểu Bình (trong khoảng thời gian này, được sự đồng ý và làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc đã phát động hai cuộc chiến tranh với Việt Nam: Cuộc chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979 và cuộc chiến tranh xâm chiếm 7 đảo Trường Sa năm 1988).
Sự kiện 11 tháng Chín năm 2001, sự kiện khủng bố đánh vào tòa tháp đôi, biểu tượng kinh tế của nước Mỹ, giết hại gần ba nghìn người là cơ hội “trời cho” đối với Trung Quốc. Cả đất nước Trung Quốc ăn mừng sự kiện này. Mỹ lao vào cuộc chiến chống khủng bố và sa lầy trong hai cuộc chiến ở Afganistan và Iraq, tiêu tốn hàng ngàn tỉ đô la cùng với rất nhiều nguồn lực con người trong mớ bùng nhùng Trung Đông. Lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố, tận dụng xu thế toàn cầu hóa với vốn, khoa học và công nghệ của Mỹ và phương Tây, Trung Quốc đã biến mình thành công xưởng của thế giới, có nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới và vươn lên trở thành một cường quốc ở châu Á, đồng thời bước lên sân khấu toàn cầu. Đáng chú ý hơn là dựa vào tiềm lực kinh tế ngày một lớn của mình, Trung Quốc không ngừng đầu tư cho quốc phòng và hiện đại hóa quân đội. Mức độ chi tiêu cho quốc phòng liên tục tăng trong nhiều năm, chỉ đứng sau Mỹ.
Bước sang thiên kỷ mới sau mười năm, mặc dầu bắt đầu bộc lộ nhiều mâu thuẫn, quan hệ Mỹ-Trung vẫn phụ thuộc vào nhau về chính trị, kinh tế, ngoại giao. Họ là đối thủ của nhau nhưng đồng thời cũng là đối tác của nhau. Điều này khác hẳn với quan hệ Mỹ-Xô trong thời gian chiến tranh lạnh. Hai siêu cường kéo theo hai phe đối lập nhau trên tất cả các mặt trận chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự.
Quan hệ Mỹ-Trung vào năm 2010 phức tạp hơn nhiều. Mỹ không còn là một siêu cường trong thời hoàng kim. Trung Quốc cũng không chỉ đơn thuần là một cường quốc “Cộng sản độc đoán”. Chính sách của Trung Quốc cũng không chỉ là mèo đen hay là mèo trắng. Họ đang tối đa tầm ảnh hưởng ở khu vực Tây Thái Bình Dương; xây dựng các mối quan hệ kinh tế với các nước, phát huy lợi thế với các nước trong khu vực xung quanh, đồng thời tìm kiếm vai trò lớn hơn tại các thể chế đa phương quốc tế; tìm mọi cách thống nhất hai bờ eo biển Đài Loan và khẳng định yêu sách chủ quyền một Trung Quốc với các nước còn quan hệ chính trị với Đài Loan; tăng cường sức mạnh quốc phòng và phạm vi hoạt động quân sự, đặc biệt là xây dựng phát triển sức mạnh biển; duy trì quan hệ tích cực và có lợi với Mỹ, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cạnh tranh đối đầu chiến lược Mỹ-Trung ở châu Á-Thái Bình Dương.
Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là hoàn thành việc xây dựng một xã hội “khá giả” trên mọi lĩnh vực vào năm 2021 khi Đảng Cộng sản Trung Quốc kỷ niệm 100 năm ngày thành lập; xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, vững mạnh, dân chủ, nâng cao đời sống văn hóa và hài hòa vào năm 2049 khi nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa đánh dấu chặng đường 100 năm ngày thành lập. Nhiệm vụ nòng cốt để thực hiện mục tiêu họ đề ra là gia tăng sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự để bảo vệ đất nước, mở rộng quyền lực ra phía đông Thái Bình Dương (nên họ càng thể hiện hành động cơ bắp ở Biển Đông), củng cố sức mạnh tiến vào Ấn Độ Dương; thực hiện Sáng kiến Vành đai Con đường, Vành đai kinh tế “Con đường tơ lụa” trên đất liền và Đường hàng hải “con đường tơ lụa mới” trên biển lấy Trung Quốc là trung tâm.
Nhìn lại quan hệ Mỹ-Trung từ 1949 đến 2010, các nhà quan sát quốc tế nhận thấy mối quan hệ này chứa đựng đầy đủ hai mặt hợp tác và cạnh tranh. Trong đó cạnh tranh là đặc điểm xuyên suốt qua mọi thời kì. Trong sự hợp tác lợi dụng lẫn nhau, cả hai bên đều thiếu sự tin tưởng. Trung Quốc luôn cảnh giác với chiến lược diễn biến hòa bình, can thiệp nội bộ, thay đổi chế độ của Mỹ. Và cũng vì sự khác biệt về hệ thống chính trị, Mỹ luôn tấn công Trung Quốc về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, vấn đề dân tộc, nạn ăn cắp bản quyền, gián điệp mạng, thao túng thị trường… còn Trung Quốc thì không hài lòng với trật tự thế giới do Mỹ và phương Tây lãnh đạo. Trung Quốc chắc chắn sẽ không từ bỏ cạnh tranh với Mỹ và Mỹ cũng là đối thủ mà Trung Quốc muốn vượt qua
Read More

Chuyện ở Hạ Long

Leave a Comment

 Chuyện ở Hạ Long

Tôi đã đến thăm Hạ Long nhiều lần và không nhớ chính xác mình đã đến đây bao nhiêu lần nữa. Hạ Long để lại trong tôi nhiều ấn tượng, nhất là lần đầu tiên, lần này và có thể là những lần sau nữa. Tôi chắc như vậy, bởi nơi đây cho đến chuyến đi này tôi mới biết thêm về những đồng đội đã vào sinh ra tử với Trung đoàn 3, với Sư đoàn 324 gắn bó của chúng tôi.
7h anh em chúng tôi ra cảng tàu quốc tế. Buổi sáng Hạ Long thật đẹp. Biển xanh lục mênh mông gợn sóng, hiền hòa. Lãng đãng từng đám mây trắng gắn với nền trời xanh thẳm. Những làn gió cuối thu se lạnh trở về. Con tàu chầm chậm trôi đi. Chúng tôi ngồi sát bên nhau trên bong ngắm nhìn biển trời, non nước.
Với một số đồng đội, đây là lần đầu tiên được đi du thuyền trên vịnh. Nghe các anh giãi bày tôi chạnh lòng thương cảm. Có anh ít cũng ba bốn năm ở chiến trường. Có anh dăm sáu năm. Có anh mươi mười lăm năm như anh Hiếu, anh Dũng, anh Tầng. Có anh đến gần 20 năm như anh Phúc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Anh hùng… Bao năm anh em ở chiến trường Việt Nam và Lào đầy gian khổ, hiểm nguy. Rời quân ngũ lại phải lăn lộn với cuộc sống mưu sinh trong những năm tháng kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng, khó khăn. Gần như người nào cũng mang trên mình mảnh đạn, mảnh bom. Khi trái nắng trở trời, sương muối, giá rét, từ đầu đến chân người thương, bệnh binh ê ẩm, nhức buốt. Vì vậy không ít đồng đội đã sớm từ dã cõi nhân thế về với cát bụi. Tiểu đội mười hai người thời huấn luyện còn lại tôi và anh Thắng. Hôm nay anh bận không đi được với đoàn.
Chiều hôm trước tất cả anh em đều hăm hở xuống biển tắm. Lội đến đầu gối, nhiều anh em run lẩy bẩy, phải vội lên bờ. Ngắm nhìn những cặp dò gầy guộc, teo tóp đi trên bờ cát, mọi người phá lên cười, cười đến chảy nước mắt. Đến tắm biển cũng không xong. Vậy mà anh em còn tán nhau “tạm ứng” bán cặp dò cho địa phủ nấu cao. Tôi nghĩ nếu có nơi ấy, chắc chẳng quỷ sứ nào muốn mua những cặp dò khẳng khiu đầy những vết sẹo chinh chiến này.
Con tàu đưa đoàn chúng tôi đến Hang Sửng Sốt, một trong những hang động nổi tiếng nhất nằm trong khu vực lõi vịnh Hạ Long, được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hang động này nằm trên Đảo Bồ Hòn, cùng với hang Luồn và hang Trinh Nữ. Hang Sửng Sốt được biết đến vào năm 1901 khi người Pháp phát hiện ra hang động và đặt biệt danh “La Grotte des Surprises” (Hang động đáng kinh ngạc) vì sự kỳ vĩ của nó. Một số tổ chức du lịch đã bình chọn hang Sửng sốt là một trong những hang động đẹp nhất Việt Nam, được tạp chí CNN Travel đưa vào danh sách 7 hang động tuyệt mỹ trên dải đất hình chữ S.
Đến hang Sửng sốt phải bước lên hàng trăm bậc đá cao. Hang có diện tích khoảng 10.000m2. Mái vòm hang cao khoảng 30m và có lối đi dài đến nửa cây số. Bên trong hang chia làm 3 khu. Khu thứ nhất có diện tích 300m2. Nơi này nền động thấp. Mọi người phải qua những bậc thang đi xuống. Có một hồ nước nhỏ tựa như một chiếc gương trong suốt, được hình thành bởi nước chảy từ trần động len qua các khe nứt đá vôi.
Đoàn chúng tôi men theo bậc đá vào bên trong khu thứ hai. Diện tích rộng gấp đôi khu thứ nhất. Trần thạch nhũ ở khu này bị phong hóa khá nhiều do có nhiều vòm cao khoảng 40m so với nền động. Không khí trong hang khá thông thoáng với nhiều nhũ đá hình thù kỳ vĩ.
Khu thứ Ba là khu tạo nên cái cảm giác “sửng sốt”. Vào đến đây, chúng tôi dường như vỡ òa trước không gian rộng lớn với những nhũ đá lung linh, huyền ảo đến mức dù đã xem ảnh trước trên smart phone, mọi người vẫn phải “ồ” lên sửng sốt. Khu này có nhiều ngóc ngách, du khách tha hồ khám phá, tưởng tượng những khối đá thành đủ hình thù kỳ lạ ở trên đời.
Trong đoàn chỉ một mình “anh cả”, anh Hiếu ngồi lại trên tàu, không lên theo cùng anh em. Năm nay anh 81 tuổi, nhiều tuổi nhất trong đoàn. Mặc dù phải chống gậy nhưng anh vẫn cố gắng tham gia. Anh nói với tôi “còn sức còn đi với các chú. Bao giờ không đi được, thỉnh thoảng các chú tổ chức lên Bắc Giang chơi với anh!”.
Tôi tả và cho anh xem ảnh bên trong động. Anh xuýt xoa tiếc mình không thể đi theo đoàn. Tôi dìu anh xuống tàu tìm chỗ đẹp để chụp ảnh cùng với chị, người vợ tần tảo mấy năm nay đi theo để chăm sóc anh. Anh yêu cầu tôi chuyển những tấm ảnh chụp trong động sang máy anh để lúc về “rỗi rãi giở ra xem”.
Cao tuổi như vậy mà mấy năm trước anh vẫn tự cho mình có “bổn phận” phải dẫn thân nhân liệt sĩ đi tìm hài cốt đồng đội tại Hướng hóa, Phong Điền, A Lưới, những huyện miền núi giáp biên giới Lào của Trị Thiên. Trí nhớ của anh thật tuyệt vời. Nhiều năm đã trôi qua, có thể nói là “vật đổi sao dời”, vậy mà anh vẫn xác định được chỗ yên nghỉ của những đồng đội. Anh kể cho tôi nghe lần gần đây nhất anh cùng anh Thắng, anh Ích đi tìm mộ anh Đặng Văn Chiến, quê Thái Bình.
Vào một ngày đầu tháng 5 năm 1971, Anh Hiếu cùng đồng đội đi trinh sát thực địa chuẩn bị cho chiến dịch. Nhóm của anh đi theo đường mòn trong rừng. Với trực giác của người lính cũ, anh cố rướn lên để nói với đồng đội không đi theo lối mòn, phải cắt rừng tìm đường đi. Mới bước lên được một đoạn, định vỗ vai anh Chiến ra hiệu thì tất cả trời đất đã tối sầm lại. Một quả mìn phát nổ. Anh Chiến vừa trúng mìn vừa trúng đạn thẳng hy sinh ngay tại chỗ. Anh Hiếu thì bị thương ngất đi.
Sau cuộc giao tranh ngắn ngủi, bọn thám báo luồn lủi vào rừng sâu. Anh em đơn vị kịp thời đến ứng cứu. Anh Hiếu tỉnh dậy, dự lễ an táng đồng đội trên quả đồi, bên dưới là con suối Hoa. Sau gần năm mươi năm, chỉ sau hai ngày đến Huế, anh Hiếu dẫn người nhà anh Chiến và bộ phận chính sách của tỉnh đội Thừa Thiên tìm đến đúng vị trí ngôi mộ năm xưa. Đúng như anh Cảnh, người cùng đơn vị dự đoán từ trước khi đi, “ngôi mộ có thể đã bị chuyển đi”. Quả vậy, đoàn không tìm thấy ngôi mộ. Điều tra qua dân quanh khu vực được biết chính quyền đã đưa ngôi mộ vào nghĩa trang liệt sĩ của xã cách đó vài km.
Thật may mắn! Ngôi mộ có tên tuổi anh Chiến nằm trong nghĩa trang của xã. Khi bốc mộ vẫn còn chiếc bình tông của anh Chiến khắc tên ngày tháng năm sinh, quê quán. Anh Hiếu tâm sự “Đấy là lần anh cảm thấy mãn nguyện nhất trong số những lần đi tìm đồng đội. Chứng kiến việc Tỉnh đội Thừa Thiên cùng nhân dân trong xã làm lễ tiễn đưa liệt sĩ và cho xe đưa đón, cử đại diện về dự lễ an táng anh Chiến tại quê nhà, anh không cầm được nước mắt”.
Anh Hiếu bỗng lặng im. Trên khuôn mặt anh chằng chịt những nếp nhăn, dãi dầu. Người lính già tưởng chừng như đã khô nước mắt vì những trải nghiệm sinh tử, nhưng tôi vẫn thấy một dòng nước mắt chảy xuống những tấm huân chương chiến công đeo trên ngực . Tôi không dám hỏi chuyện anh tiếp. Một lúc sau anh nghẹn ngào “Anh Chiến đã hứng trọn quả mìn để anh sống đến bây giờ…”
Đến đảo Ti Tốp, gần hang Đầu Gỗ, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 7 km về phía đông nam. Đảo có bãi cát hình vành trăng lưỡi liềm. Cát ở đây được thủy triều rửa sạch trắng tinh. Nước biển trong veo. Đúng là một bãi tắm lý tưởng. Nơi đây, vào đầu những năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhà du hành vũ trụ người Liên Xô Giéc Man Ti Tốp lên thăm đảo. Để ghi dấu kỷ niệm chuyến đi đó, Một bức tượng về ông đã được tạc đứng sừng sững dưới chân đảo như một biểu tượng bất diệt về tình hữu nghị Việt Xô.
Ngày nay đảo Ti Tốp là một điểm dừng chân ưa thích, thu hút rất nhiều du khách đến tắm biển. Người ta leo lên núi dốc đứng chinh phục đỉnh núi cao và chiêm ngưỡng toàn cảnh Vịnh Hạ Long. Phải leo lên gần 500 bậc đá mới tới nơi. Cả đoàn hơn 40 người, chỉ có mấy anh em chúng tôi lên được tới nhà Bát giác để thu biển trời vào trong tầm mắt. Thật sảng khoái. Gió lồng lộng, mát rượi, xua tan nỗi mệt nhọc. Trong số anh em lên tới tận cùng, ngoài chị Lý, chị Tống Lương là thân nhân liệt sĩ, có anh Liễu dũng sỹ diệt Mỹ, cho đến nay vẫn là người nhanh nhẹn nhất. Có anh Dũng, người anh hùng của đường 12 trong suốt những năm dài chống Mỹ. Có anh Tầng, người anh hùng trên điểm cao 1062 nổi tiếng trong chiến dịch Nông Sơn, Thượng Đức.
12h kết thúc chuyến đi du thuyền ngắm cảnh Vịnh Hạ Long. Đoàn chúng tôi trở về hội trường giao lưu ở khách sạn Tiên Sơn. Bước vào hội trường, tôi thấy một màn hinh rực rỡ với hình ảnh dòng chữ ở chính giữa “Cựu chiến binh Trung đoàn 3 Sư 324 khu vực Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Quảng Ninh”. Bên trên màn hình thỉnh thoảng xuất hiện một số hình ảnh các trận chiến đấu của Trung đoàn 3. Toàn bộ phông nền là hình ảnh biển trời di sản Vịnh Hạ Long.
Sau nghi lễ của Ban liên lạc, anh Trung lên chia sẻ câu chuyện xảy ra vào ngày thành lập Trung đoàn 3 năm trước, cũng tại hội trường khách sạn này. Đoàn cựu chiến binh khu vực bắc miền Trung bao gồm các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình về thăm Quảng Ninh. Trong buổi gặp gỡ, giao lưu anh em thấy thiếu mất một người. Anh Trung kể, “Tôi đặt cốc bia xuống bàn ăn, lên sân khấu khẳng định, không thiếu một ai. Anh Đạo người Quảng Bình rảo bước lên sân khấu. Anh nói với mọi người, thiếu anh Đoàn. Tôi vội thanh minh, anh ấy mất mấy năm nay rồi.”
Anh em còn nhớ, vào sáng ngày 16 tháng 5 năm 1969, sau thông lệ hàng giờ máy bay và phi pháo Mỹ dội bom đạn xuống trận địa, tiểu đoàn Dù Mỹ bắt đầu chia thành nhiều mũi tấn công lên hệ thống hầm chốt của Đại đội 6, Tiểu đoàn 8 trên Động A Bia. Mũi của anh Đoàn chờ cho bọn Mỹ đến gần đỉnh núi mới phát lệnh tấn công. AK, trung liên, lựu đạn, mìn ĐK10 kết hợp với B40 của ta đồng loạt nổ, băm nát trung đội Mỹ và đẩy một số tên sống sót chạy xuống đồi yên ngựa. Bọn Mỹ gọi máy bay ném bom, trực thăng vũ trang, phi pháo lồng lộn bắn trùm lên trận địa mãi tới gần trưa. Nhiều hầm hào bị sập, sụt lở. Một số đồng chí đã hy sinh. Anh Đạo chui xuống hầm moi tránh hỏa lực bị vùi lấp trong căn hầm đổ nát. Chính anh Đoàn đã dẫn đồng đội đến kịp thời giải cứu. Sau đó anh chỉ huy ba người còn lại trong tiểu đội, sử dụng nhiều loại vũ khí. Kể cả vũ khí thu được của Mỹ, kiên cường quần nhau với một trung đội Mỹ bổ sung, giữ vững trận địa cho tới khi trời tối…
Anh Trung cho biết anh Đoàn bị ung thư mất cách đây ba năm. Sau buổi giao lưu anh Trung đã đưa anh Đạo đến nhà anh Đoàn. Đến nhà, chưa kịp giới thiệu, anh Đạo đã nói: “Chắc hẳn đây là con ba Đoàn, giống hệt ba Đoàn ngày xưa. Năm 1968, mẹ cháu vào thăm ba cháu ở Quảng Bình. Lúc đó chú và ba cháu ở cùng một tiểu đội. Ba cháu đã cứu sống chú trong trận A Bia gần một năm sau đó. Vậy mà chú chưa một lần tới thăm. Hãy dẫn chú đến mộ ba cháu để chú được tạ lỗi!”
Ngồi ở bàn tiệc cạnh tôi có anh Vũ Thành. Anh và tôi được ban tổ chức xếp vào cùng một phòng nghỉ trong chuyến đi. Tháng trước tôi đến thăm nhà anh Thành ở phường Mai Dịch. Trong câu chuyện tâm tình, anh kể tôi nghe về những vết thương của mình. Ngày 4/6 năm 1969, Đại đội C11 của anh đang chốt bảo vệ một địa điểm trên khu vực A Bia thì nhận được tin lính Dù Mỹ đi vào vị trí của đơn vị. Ban chỉ huy đại đội yêu cầu anh Nghị điều tiểu đội đi truy kích đánh địch. Các anh lần đường lên núi. Đi khoảng 40 phút thì bất ngờ bị một loạt đạn đại liên của địch bắn xối xả. Anh Đồng quê ở Nam Sách, Hải Dương bị trúng đạn hy sinh. Theo lệnh anh Nghị, tiểu đội dàn hàng ngang trườn lên tiếp cận kẻ địch.
Hỏa lực bộ binh Mỹ bắn rất rát. Trực thăng vũ trang của chúng là sát ngọn cây vừa bắn vừa thả ựu đạn xuống. Anh Thành bị trúng nhiều mảnh đạn, máu ra rất nhiều. Anh Cam nằm phục bên trái anh Thành cũng bị thương nặng ở đầu. Anh Lê Văn Lân y tá trườn tới tiêm cầm máu và trợ lực. Sau đó Lân anh cắt đường rừng để các anh bò theo sau. Bò đi được một đoạn thì được anh em đồng đội đến chi viện, cáng về bênh xá trung đoàn. Kể từ ngày đó anh Thành không biết tin gì về anh Lân nữa. Không biết anh Lân còn hay đã mất. Anh Thành đã nhiều năm lặn lội đi tìm đồng đội. Hỏi han qua bao đồng chí các cấp thuộc trung đoàn. Anh đã nhiều lần đăng tin trên bản tin của Hội cựu chiến binh nhưng vẫn không có hồi âm…
Tình cờ đầu tháng 9 năm 2020, qua Facebook anh Thành liên lạc được với anh Nguyễn Tiến Tuấn, nguyên y tá đại đội 11. Anh Tuấn đã tìm được anh Lân đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh Thành xin được số điện thoại, điện cho anh Lân. Anh Lân đã bay ra Hà Nội dự cuộc gặp mặt cựu chiến binh Đại đội C11 vào ngày 14/9. Thế là sau 51 năm 3 tháng 10 ngày, các anh đã được gặp nhau trong niềm vui khôn xiết. Và họ hẹn với nhau vào ngày 14/9 sang năm sẽ cố gắng liên lạc để có mặt đầy đủ các anh em C11 trong những năm tháng chống Mỹ.
Anh Thành đã may mắn hơn anh Đạo. Anh đã gặp được ân nhân của mình. Trong buổi giao lưu anh cũng đứng lên chia sẻ, nhưng anh chia sẻ một câu chuyện khác, câu chuyện về con của các liệt sỹ, các cựu chiến binh. Câu chuyện và bài hát về tình đồng đội của anh khiến tôi vô cùng xúc động.
Tôi bỗng nhớ đến anh Triệu Giám, chuyến đi này anh bận không tham gia được. Rời quân ngũ, trở về đời thường, phải lăn lộn với cuộc sống, nhưng anh luôn lạc quan với tâm hồn của người nghệ sỹ. Anh đích thực là nhà thơ của tình đồng đội. Chính anh là người đầu tiên thiết kế cho anh em cựu chiến binh Trung đoàn 3 Quận Hai Bà và sau đó là anh em ở một số quận nội, ngoại thành trở về chiến trường xưa thắp hương cho đồng đội tại các chiến trường.
Trong chiến dich Nông Sơn-Thượng Đức, Trung đoàn 3 được giao nhiệm vụ chia cắt chiến dịch, tiêu diệt viện binh, kiềm chế các trận địa pháo cố định và cơ động từ Hà Sống đến núi Lở; tiêu diệt kẻ địch ở Ba Khe, gò Cấm và sẵn sàng đánh đich đổ bộ lên điểm cao 1062. Anh Giám đã tham gia các trận đánh ở Lâm Phụng, gò Ôm, Hà Sống, Hà Nha, Bàn Tân và trong trận đánh gần sông Vu Gia anh trúng mảnh đạn ngất đi. Anh Nhang người Phú Thọ đã xốc nách trườn lê đồng đội qua hàng trăm mét dưới làn đạn pháo rồi cõng anh về hậu cứ. Anh Giám cũng bặt tin anh Nhang đến 40 năm.
Bao năm anh Giám đã lặn lội đi tìm đồng đội cứu sống mình. Anh đã hỏi thăm tất cả những người anh quen biết ở Trung đoàn 3 mà anh biết. Anh đã đến tận tỉnh đội Phú Thọ, đến thành phố, thị xã và 11 huyện để tìm kiếm thông tin. Và rồi lần cuối anh mời tôi cùng một số anh em đến một huyện miền núi Tam Nông bằng xe máy. Tôi còn nhớ anh em vừa đi vừa hỏi thăm, từ sáng sớm đến gần trưa, qua một cánh đồng, dưới chân một ngọn đồi bao phủ rừng vầu, có một căn nhà tranh, anh Nhang sống ở đó. Họ đã gặp nhau và ôm lấy nhau trong niềm vui dâng trào của đồng đội…
Buổi giao lưu chia sẻ, hát hò kéo dài từ 12h đến hơn 3 giờ. Công bằng mà nói, anh em Quảng Ninh hát rất hay. Anh Thắng, anh Hồng ở Hà Nội hát đã gây ấn tượng nhưng so với đồng đội ở Quảng Ninh vẫn phải nhường vài phân. Kết thúc chương trình chị Đức, vợ anh Phúc (Chị thường xuyên đi với đoàn chăm sóc anh. Chúng tôi rất quý trọng chị. Có lần trước sân khấu, nói về những gian nan vất và tâm trạng ngày tháng mòn mỏi chờ chồng trước cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 3 đang tại ngũ, chị đã khiến bao người lính phải rơi lệ) cùng với anh Bình ở Quảng Ninh hát bài Lòng mẹ. Chưa bao giờ nghe hát tôi thấy xúc động đến vậy. Những người mẹ thân yêu của chúng tôi thủa nào lại hiện về! Tất cả mọi người đều đứng dậy vỗ tay...
Giờ phút chia tay đã trễ theo lịch trình. Chúng tôi lưu luyến bắt tay nhau, tạm biệt và hẹn gặp lại nhau. Người lên xe, người ở lại nhắc nhở nhau cố gắng tập luyện, giữ gìn sức khỏe để còn gặp lại nhau. Anh lái xe hiểu được nỗi lòng của đoàn, cho xe vòng xuống con đường bao biển, dừng lại ít phút trước khi lên đường cao tốc về Hà Nội. Xa xa Vịnh Hạ Long mờ tím trong sương chiều.
Thành Vũ, Nguyễn Thị Điệp và 100 người khác
45 bình luận
4 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Trở lại Hạ Long

1 comment

 Trở lại Hạ Long

Nhân kỷ niệm Ngày giải phóng Thủ đô (10/10), anh em cựu chiến binh Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 khu vực Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội tổ chức chuyến đi thăm Hạ Long và thực hiện buổi giao lưu với các cựu chiến binh trung đoàn tại Quảng Ninh.
Hơn 8h xe đưa chúng tôi đến nghĩa trang thành phố Hạ Long, điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến đi ba ngày. Tại đây chúng tôi làm lễ dâng hương, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong đó có các anh hùng liệt sĩ Trung đoàn 3 Sư 324 yêu quý của chúng tôi.
Anh Trung cùng một số anh em cựu chiến binh khu vực Quảng Ninh đã chờ đón đoàn tại nghĩa trang. Anh em chúng tôi tay bắt mặt mừng, cùng nhau nhận đại đội, nhận tiểu đoàn những ngày còn ở chiến trường. Như một thông lệ, chúng tôi ôn lại những kỷ niệm về đồng đội, nói về những người còn mất. Chúng tôi sẽ không bao giờ còn được gặp lại một số đồng đội thân thương nữa. Không nói ra, người nào người nấy lòng nhủ lòng phải dành thời gian cho nhau nhiều hơn. Thời gian đã không còn ủng hộ chúng tôi… Rất tiếc Ban chỉ huy Trung đoàn 3 Sư 324 hiện tại đột xuất phải đi trợ giúp nhân dân Thừa Thiên-Huế chống lũ lụt, nên kế hoạch đến thăm một, hai gia đình liệt sĩ phải hoãn đến lần sau.
Sau khi viếng nghĩa trang, anh Trung thay mặt anh em Quảng Ninh dẫn chúng tôi đi thăm Bảo tàng- Thư viện Quảng Ninh. Bảo tàng- Thư viện nằm bên đường khu vực phía đông thành phố. Khối kiến trúc này là một công trình văn hóa đẹp và là điểm nhấn của khu vực kỳ quan thiên nhiên nổi tiếng: Vịnh Hạ Long, một điểm đến hấp dẫn thu hút đông đảo người dân trong nước và du khách quốc tế.
Phần bên ngoài bảo tàng là một màu đen nhung trên nền biển, trời xanh thẳm của thành phố biển. Cạnh cổng ra vào có một khối than nguyên khối lớn kỷ lục 28 tấn nằm sừng sững cùng với không gian trưng bày các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật đặc sắc khác tạo nên ấn tượng ban đầu thật khó quên với chúng tôi.
Bảo tàng gồm 3 tầng, phác họa những nét cơ bản và đặc trưng nhất về vùng đất Quảng Ninh theo không gian và thời gian, từ thời tiền sử đến nay, từ miền rừng núi tới đồng bằng, ven biển biển, một hình ảnh một Việt Nam thu nhỏ với nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa. Trái với màu đen bên ngoài, màu trắng là gam màu chủ đạo cho không gian bên trong nhằm làm nổi bật các hiện vật trưng bày trong bảo tàng.
Tầng 1 là không gian của biển cả và thiên nhiên của Hạ Long. Chính giữa trưng bày một con thuyền. Phía trên là bộ khung xương cá voi. Điểm độc đáo của tầng 1 là 4 cột trưng bày dạng ống núi được bao phủ bằng lớp vải mang hình ảnh núi đá vịnh Hạ Long, kết hợp hình ảnh trình chiếu 3 D tạo hiệu ứng nước biển khiến ta có cảm giác như đang đi trong lòng vịnh diễm lệ. Mỗi ống núi là một không gian riêng biểu hiện quá trình kiến tạo địa chất và hệ sinh thái biển, động thực vật đặc hữu của Quảng Ninh.
Tầng 2 có nhiều khu trưng bày các hiện vật, các giá trị văn hóa, lịch sử, đặc biệt là nền văn hóa Hạ Long nổi tiếng. Với thiết kế mô phỏng lòng thuyền, gian đầu là nơi trưng bày các hiện vật khảo cổ các thời kỳ tiền sử, sơ sử cho tới hiện tại. Các gian tiếp theo mô tả đời sống, sinh hoạt của các dân tộc Dao, Tày, Sán Dìu…
Khu vực trưng bày Quảng Ninh thời chống Pháp được thiết kế với rừng cây bao phủ tượng trưng cho Chiến khu Đông Triều anh hùng. Khu vực trưng bày Quảng Ninh thời kỳ chống Mỹ được đặt trong không gian tựa như khoang máy bay, gợi nhớ về chiến công của lực lượng phòng không, không quân từ ngày 5/8/1964…
Không gian văn hóa tâm linh gắn với Yên Tử và thiền phái Trúc Lâm được bố trí ở một khu vực riêng. Tại đây có mô hình chùa Đồng và nhiều hiện vật cổ quý báu. Bên cạnh đó là không gian của các hiện vật di sản nhà Trần ở Đông Triều, mô hình bãi cọc thị xã Quảng Yên, Đầm Nhử… Tất cả gợi lên một Quảng Ninh anh hùng giàu truyền thống.
Không gian cuối cùng là nơi trưng bày hình ảnh Bác Hồ với miền đất Quảng Ninh, nơi Bác về thăm 7 lần. Năm 1946, Bác đã nói: “Vùng mỏ của đất nước ta thật là đẹp và giàu. Thợ mỏ của ta thật vô cùng anh dũng”. Cùng với những tư liệu lịch sử khác, đây là nơi giáo dục truyền thống quý báu cho các thế hệ người dân hôm nay.
Tầng 3 là tầng mô phỏng hệ thống hầm lò khai thác than với thiết kế, kích thước như thật. Du khách được trải nghiệm lịch sử khai thác than từ những ngày Thực dân Pháp khai thác thủ công đến kỹ thuật khai thác than hiện đại ngày nay…
Đúng như anh Trung nói với chúng tôi, Bảo tàng Quảng Ninh là một công trình văn hóa, một sản phẩm du lịch đặc sắc không thể bỏ qua. Với tư cách là cán bộ khối văn phòng trực thuộc thành phố đã nghỉ hưu, anh Trung đã kết nối chúng tôi với người hướng dẫn thuyết minh và trực tiếp thuyết minh cho chúng tôi về quê hương mình với lòng hiếu khách vừa nhiệt tình vừa xúc động, tự hào.
Tiếp theo anh Trung dẫn chúng tôi tới thăm Cung quy hoạch, hội chợ và triển lãm tỉnh Quảng Ninh. Cung quy hoạch, hội chợ và triển lãm Quảng Ninh xây dựng bên trục đường Trần Quốc Nghiễn, nằm trong quần thể kiến trúc chung của thành phố Hạ Long. Công trình này có diện tích đất sử dụng trên 3ha. Đây là một công trình độc đáo.
Công trình có tổng diện tích xây dựng 20.700m2. Nó mô phỏng hình con cá heo vờn con sò biển. Giới chuyên môn đánh giá công trình có thiết kế phá cách, tạo nét kiến trúc rất lạ. Công trình này cùng 9 với công trình xây dựng trên thế giới đã được đăng quang nhận giải thưởng Kiến trúc quốc tế năm 2019.
Đến đây, chúng tôi được anh Trung và hướng dẫn viên giới thiệu chiêm ngưỡng toàn cảnh địa lý, giao thông, hạ tầng, khu kinh tế du lịch của tỉnh Quảng Ninh thông qua hàng chục màn hình trình chiếu và các mô hình, bản vẽ thực tiễn từ những năm 2000 đến năm 2050.
Công trình có 2 khối, được liên kết với nhau bằng hệ thống thang máy, thang cuốn và thang bộ. Khối thứ nhất hình con ngọc trai có 2 tầng sàn dùng để tổ chức các sự kiện, hội chợ, triển lãm và trưng bày quy hoạch vùng. Khối thứ hai có hình một con cá heo khổng lồ với chiều dài 320m, chiều rộng có chỗ tới 45m dùng để trưng bày các đồ án quy hoạch, những công trình kiến trúc, tâm linh tiêu biểu.
Công trình còn là nơi giao lưu văn hóa, tổ chức hội chợ, xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế; gắn với các công trình quảng trường 30/10, bảo tàng, thư viện, cung văn hóa thiếu nhi và công viên Lán Bè thành một quần thể du lịch góp phần thu hút du khách ở với Hạ Long nhiều ngày.
Lâu lắm rồi chúng tôi mới được xả hơi thỏa thích, một kiểu vui chơi của tuổi trẻ. Chúng tôi vào phòng chiếu 360 độ để thưởng thức thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hàng đầu của Việt Nam. Tôi nghĩ nó không thua kém là bao so với công nghệ vui chơi, giải trí ở một số bảo tàng của Mỹ tôi đã tới thăm.
Tôi cùng anh chị em cuốn hút vào nhiều trò chơi điện tử hấp dẫn như ở chốn thiên thai. Đặc biệt là trò chơi ở thủy cung. Chúng tôi tô màu vào các sinh vật biển, ký tên mình trên tờ giấy và đưa vào chiếc máy điện tử. Trên màn hình gắn lên bức tường, hiện ra những sinh vật của chúng tôi vừa tô màu đang bơi lượn dưới biển khơi. Chúng tôi chạy đuổi theo với bao cảm xúc. Tiếp đó chúng tôi vào cung nghỉ ngơi bốn mùa… Một địa điểm thật lý thú. Hy vọng hè sang năm, Covid-19 được khống chế hoàn toàn, tôi sẽ đưa các cháu tôi đến đây cùng vui chơi!
Điểm cuối cùng trong ngày anh Trung dẫn chúng tôi đi thăm là con đường bao biển Trần Quốc Nghiễn, đoạn từ cầu Bài Thơ đến điểm nối đường bao biển Hạ Long - Cẩm Phả có tổng mức đầu tư 1.300 tỉ đồng, dài 4,7 km. Mặt đường được nâng cấp từ 4 lên 6 làn xe. Đặc biệt, vỉa hè bên trong rộng 5 m, phía ngoài kết hợp với khuôn viên cảnh quan ngắm vịnh Hạ Long mở rộng 28 m, được thiết kế độc đáo với các hạng mục giải trí ấn tượng. Mọi người phải thừa nhận ở Việt Nam ít có tuyến đường bao biển nào đẹp như con đường Trần Quốc Nghiễn.
Xe đi chầm chậm. Anh Trung giới thiệu cho chúng tôi nghe lịch sử hình thành và xây dựng con đường này. Nơi đây mỗi mùa du lịch sẽ thu hút hàng trăm nghìn lượt người và du khách tới chụp ảnh, vui chơi và đi dạo ngắm vịnh Hạ Long. Bên cạnh đó là những căn biệt thự xinh xắn đẹp đến mê hồn. Những căn nhà và các bãi biển ở Cali tôi được đến thăm cũng không hơn gì nơi đây. Chẳng trách cô bạn cùng trường tôi công tác đã bỏ chốn “phồn hoa thứ nhất Long thành” để tới đây sinh sống. Con đường không chỉ đơn thuần phục vụ về giao thông mà còn là sản phẩm của cái đẹp, sản phẩm du lịch độc đáo của Quảng Ninh…
Kết thúc một ngày đầy ý nghĩa và cảm xúc, tôi thật sự muốn nói lời cảm ơn tới ban tổ chức chuyến đi. Chân thành cảm ơn đồng đội Trung và các đồng đội Trung đoàn 3 khu vực Quảng Ninh. Các anh đã giúp chúng tôi thêm tin yêu vào tình đồng đội, giúp chúng tôi thêm tin vào sự phát triển của Quảng Ninh và của đất nước. Dưới đây là một số ảnh mạng và ảnh của đồng đội:
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.