Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Quan hệ Mỹ-Trung sẽ đi về đâu (phần 2)

Leave a Comment

  Quan hệ Mỹ-Trung từ năm 2010 đến hết năm 2016.

Sự thay đổi chiến lược của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Trước và sau năm 2010 có một số nhà hoạch định chiến lược Trung Quốc muốn đi theo con đường của Đặng Tiểu Bình, đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc kinh tế lớn nhất, nhưng sẽ không tranh bá. Lịch sử các cường quốc trong quá khứ như Đế quốc La Mã, Đế quốc Nguyên Mông mà Trung Hoa là một phần, Đế quốc Anh và gần đây nhất là Liên Xô… Tất cả đã cho Bắc Kinh nhiều bài học cay đắng về số phận của những “anh cả” trên trường quốc tế. Những người theo quan điểm này muốn Bắc Kinh thực hiện một chiến lược lâu dài: Hợp tác, canh tranh và tránh xung đột với Mỹ. Họ khuyến cáo phải hết sức thận trọng, tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ cho đến khi tiềm lực kinh tế và quân sự của họ thay đổi về chất và ở trong tình trạng đã hoàn toàn sẵn sàng. Họ cho rằng trước mắt Trung Quốc cần trỗi dậy một cách an toàn ở châu Á mà không gây ra bất kỳ xung đột nghiêm trọng nào ở khu vực.
Từ khi Tập Cận Bình nắm chính quyền, ông ủng hộ chủ nghĩa dân tộc, siết chặt xã hội dân sự, tăng cường cải cách và chống tham nhũng. Ông và ban lãnh đạo cho rằng tình hình thế giới đã có lợi cho Trung Quốc. Nhất là sau khủng hoàng tài chính 2007-2008, nước Mỹ có một số biểu hiện suy yếu. Bắc Kinh quyết định chấm dứt thời kỳ ẩn náu, bước vào thời kỳ thể hiện nước lớn, chuẩn bị cho thời kỳ phát triển trưởng thành. Bắc Kinh bắt đầu nóng vội đẩy nhanh “giấc mơ Trung Hoa vĩ đại”.
Trên trường quốc tế, Bắc kinh hành động tự tin đến tự mãn, quyết đoán đến hung hăng, bất chấp mọi thủ đoạn để thực hiện được các mục tiêu đề ra. Chính sách của Bắc kinh dựa trên hai trụ cột chính: Sức mạnh kinh tế và vị thế quốc tế; từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời”, thực hiện chính sách bành trướng cứng rắn ở Hoa Đông, Biển Đông, gây áp lực với Nhật Bản, Việt Nam, Philippines; tăng cường ảnh hưởng ở Myanma, Lào, Campuchia; thiết lập quan hệ kiểu mới với các nước lớn…
Theo quy luật lịch sử, giữa một cường quốc đứng đầu và một cường quốc có tham vọng thay thế, nhiều khả năng dẫn đến chiến tranh. Ngay ở Trung Quốc nhiều người cũng đặt vấn đề chiến tranh Trung-Mỹ là không thể tránh khỏi. Trên thực tế, giới quân sự diều hâu Trung Quốc đã lên kế hoạch đánh chiếm Đài Loan, thu hồi toàn bộ Biển Đông bằng cây gậy và củ cà rốt. Đúng là Trung Hoa đang nổi lên và trở thành một cường quốc lớn sau nhiều thế kỷ bị ngoại bang xâm chiếm và chia cắt. Bắc Kinh đã và đang thách thức Mỹ, các cường quốc châu Á và các quốc gia láng giềng về năng lực phòng thủ cũng như tấn công của họ.
Về kinh tế, Tập đưa ra Sáng kiến Vành đai và Con đường lấy Trung Quốc là trung tâm để mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc ra toàn cầu. Về Chính sách đối ngoại Tập thực thi đường lối quyết đoán trong quan hệ Nhật Bản-Trung Quốc, tuyên bố chủ quyền toàn bộ Biển Đông...
Bắc kinh đang đi chênh vênh giữa hai chính sách diều hâu và ôn hòa. Trước mắt họ đang tìm cách gây áp lực với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản; tìm cách áp đặt ý chí và đưa Đông Nam Á vào vòng ảnh hưởng. Họ sử dụng các phương tiện phi đối xứng như bồi đắp tôn tạo các rạn đá ở Biển Đông, mở rộng khu vực hải quân và không phận bên cạnh việc tuyên bố chủ quyền lịch sử để khẳng định sức mạnh và lợi ích của mình. Họ có đòn bẩy kinh tế, có khả năng quân sự. Họ đã phô diễn sức mạnh cơ bắp. Vấn đề là họ sẽ đi xa đến đâu và kết quả cuối cùng trong việc thay đổi cán cân quyền lực sẽ diễn ra như thế nào ở châu Á-Thái Bình Dương.
Năm 2014 Trung Quốc thông qua Chính sách phát triển về biển mang đặc sắc Trung Quốc, thể hiện khát vọng trở thành cường quốc biển để đối đầu với Mỹ. Có nhiều dấu hiệu chắc chắn cho thấy Trung Quốc đã, đang và sẽ đi theo con đường phát triển truyền thống của các cường quốc trong lịch sử như Tây Ban Nha, Anh, Nga, Nhật, Mỹ: Phát triển sức mạnh biển với lực lượng hải quân là trung tâm theo điều kiện, hoàn cảnh của Trung Quốc. Họ không chỉ tập trung vào hải quân và thương mại như các cường quốc trước đây mà còn quyết tâm xây dựng một chiến lược biển toàn diện, phối hợp nhiều lực lượng như hải cảnh, tuần duyên, lực lượng dân sự đánh cá hùng hậu. Họ có ý định phát triển chiến lược biển thành một cuộc chiến tranh nhân dân trên biển; ra sức tôn tạo xây dựng các đảo và bãi đá ngầm thành các căn cứ quân sự… Tất cả nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp giành lấy lợi thế chiến lược trước các cường quốc trong và ngoài khu vực, đẩy Mỹ và các cường quốc khác ra khỏi Biển Đông, đồng thời ép các nước nhỏ trong khu vực phụ thuộc vào ý chí của Trung Quốc.
Về Quân sự, để chống lại một cuộc tấn công giả định của Mỹ và các đồng minh vào các khu vực trọng điểm kinh tế phía đông, Trung Quốc đã xây dựng chiến lược chống tiếp cận (Anti-Access/ Area Denial-A2/AD). Rút kinh nghiệm bài học về khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ 3, Mỹ đưa nhóm tàu sân bay đến bảo vệ Đài Loan vào năm 1996-1997, buộc Trung Quốc phải xuống thang, cùng với những nghiên cứu kỹ về cuộc chiến của Mỹ ở Nam Tư, Afganistan, Iraq, giới quân sự Trung Hoa cho rằng lực lượng không quân và hải quân là át chủ bài để Mỹ và các nước đồng minh tiến hành các cuộc chiến tranh “không tiếp xúc, không giới tuyến, không cân xứng”. Ba nội dung trên là đặc điểm của các cuộc chiến tranh trên thế giới trong điều kiện số hóa, trong đó sức mạnh không quân, hải quân cùng với khái niệm không gian vũ trụ và không gian mạng là rất cần thiết để giành thắng lợi nếu chiến tranh xảy ra.
Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc đã đẩy mạnh nỗ lực phát triển khả năng chống tiếp cận (A2/AD) cả ở trên không, trên biển nhằm ngăn chặn, đánh bại Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong một cuộc chiến trên không, trên biển nhằm vào bờ biển phía đông nước này. Để đạt được mục tiêu, chiến lược A2/AD của Trung Quốc bao gồm quy mô chiến lược và chiến thuật.
Ở quy mô chiến lược, Bắc Kinh triển khai cái gọi là ba cuộc chiến tranh: Pháp lí, dư luận công chúng và chiến tranh tâm lí. Mục đích là phủ nhận tính hợp pháp của các lực lượng Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương, đẩy Mỹ ra khỏi khu vực để kiểm soát tất cả các nước ven biển Đông Á. Thực hiện chiến lược này, Trung Quốc không chỉ nhằm vào Mỹ mà còn nhằm vào các đồng minh của Mỹ và các đối thủ ở châu Á-Thái Bình Dương, thuyết phục các nước ven biển không cho các lực lượng của Mỹ tác chiến trong không phận và hải phận. Họ cũng đe dọa các nước cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự nhằm ngăn chặn và phá hủy các khả năng triển khai của các lực lượng Mỹ ở khu vực.
Ở quy mô chiến thuật, chiến lược A2/AD liên quan đến các hệ thống tên lửa đạn đạo xuyên lục địa cố định (CSS4) có tầm vươn tới bất kỳ mục tiêu nào trên lãnh thổ Mỹ; tên lửa DF-31A có thể tấn công di động vào các mục tiêu trên Thái Bình Dương; các loại tên lửa chống hạm, chống tàu, hệ thống tàu ngầm các loại, hệ thống tàu tên lửa các loại, kể cả vũ khí tấn công siêu thanh luôn trong trạng thái thường trực. Đặc biệt chương trình không gian mà Bắc kinh tiến hành không phải vì mục đích hòa bình mà nhằm chống lại các đối thủ trong trường hợp xảy ra xung đột. Không quân Mỹ tiết lộ khoảng hơn 500 vệ tinh nước này bị đe dọa từ chương trình “công nghệ phản không”, chương trình phản kích trong không gian của Trung Quốc… Có thể nói chiến lược A2/AD về quy mô chiến thuật, Trung Quốc đã thành công và thật sự là một thách thức đối với giới quân sự Mỹ.
Chiến lược mới của Mỹ dưới thời Chính quyền Barack Obama.
Trong thập niên đầu của thiên kỉ mới, Mỹ đã nhiều lần cảnh báo về chính sách kinh tế, quốc phòng của Trung Quốc. Trên thực tế Trung Quốc vẫn chưa tìm cách thay đổi trật tự thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ 2; không đem quân đi can thiệp ở bất cứ nơi nào; không dùng vũ lực giải quyết vấn đề Đài Loan; không giải quyết xung đột bằng vũ lực và đặc biệt là không thách thức vị thế toàn cầu của Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ luôn xem Trung Quốc là đối thủ đe dọa vị thế kinh tế, quân sự. Và Mỹ bắt đầu hành động.
Phát súng đầu tiên nổ ra vào ngày 21/10/ 2010 khi Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố “Chúng tôi đã trở lại châu Á”. Sau đó bà khẳng định Mỹ có “lợi ích quốc gia” tại Biển Đông và Mỹ ủng hộ Tuyên bố ứng xử về Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002 tại cuộc họp các nước ASEAN với các đối tác tại Hà Nội. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì khi đó đã bỏ hội nghị để phản đối sự can thiệp của Mỹ vào Biển Đông. Tiếp theo vào tháng 10/ 2011 Mỹ tuyên bố thực hiện chính sách xoay trục, chuyển 60% nguồn lực quốc phòng về khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoại trưởng Mỹ Clinton viết, nước Mỹ bắt đầu “chuyển hướng chiến lược sang khu vực này… nhằm đảm bảo và duy trì vai trò lãnh đạo thế giới”.
Ngoại trưởng Mỹ đã nói trước chính giới Mỹ“chúng ta không phải gửi đi một thông điệp vô cớ đến Trung Quốc mà thể hiện sự chắc chắn trong quan điểm của chúng ta”. Nếu Trung Quốc đi quá xa, nước Mỹ sẽ hành động. Đáp trả việc Trung Quốc áp đặt vùng nhận diện phòng không chồng lấn lên các nước đồng minh Hàn Quốc và Nhật Bản (Air Defense Identification Zone- ADIZ) ở Hoa Đông tháng 11/ 2013, Mỹ đã điều máy bay B52 bay vào ADIZ của Trung Quốc. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel trong chuyến công du châu Á cũng tuyên bố việc bảo vệ Senkaku là điều hiển nhiên vì nó nằm trong Hiệp ước Quốc phòng Mỹ-Nhật. Đó là những thông điệp mạnh mẽ kể từ khi Mỹ thực hiện chính sách tái cân bằng.
Sự gia tăng căng thẳng với Việt Nam và Philippine của Trung Quốc nhằm độc chiếm Biển Đông khiến Mỹ và philippines ký các hiệp ước quân sự, trong đó có Căn cứ Hải quân Subic và Căn cứ Không quân Clark; đồng thời khiến Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Và chưa đầy một tuần sau Phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế bác bỏ đường chín đoạn lưỡi bò và quyền lịch sử của Trung Quốc năm 2016, Hải quân Mỹ đã đưa chiến đấu cơ và các máy bay tác chiến điện tử tối tân và quân nhân đến Philippines. Đồng thời Mỹ cũng triển khai máy bay ném bom tàng hình có khả năng mang bom nguyên tử B-2 đến đảo Guam để thực hiện các nhiệm vụ tấn công “bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào có lệnh”.
Rõ ràng chúng ta thấy quan hệ Mỹ-Trung nóng lên từng năm cùng với sự gia tăng căng thẳng của Trung Quốc ở Hoa Đông và Biển Đông. Nếu như trong thập niên 90 của thế kỷ trước và trong những năm 2000, mâu thuẫn hai nước chủ yếu chỉ là vấn đề kinh tế, dân chủ, nhân quyền, tự do tư tưởng… thì từ năm 2010 trở đi hai bên đã hành động trên tất cả các mặt trận dẫn đến những mâu thuẫn ngày một căng thẳng về chính trị, quân sự, ngoại giao. Cả hai bên đều bắt đầu tập hợp lực lượng, phương tiện và động chạm đến những “lợi ích cốt lõi của nhau”. Chưa thấy có dấu hiệu nào tỏ ra có sự thỏa hiệp và hòa hoãn giữa hai bên.
Những động thái đáng chú ý của Trung Quốc.
Bắc Kinh tiếp tục gây căng thẳng ở Hoa Đông và Biển Đông. Đặc biệt là ở Biển Đông. Họ vẫn tiếp tục hoàn thiện, đưa vào sử dụng các căn cứ tôn tạo ở Biển Đông, đồng thời có dấu hiệu đang tiếp tục mở rộng thêm sau khi bác bỏ Phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế. Bắc Kinh muốn tự đặt ra luật chơi. Lợi dụng nguyên tắc đồng thuận chết người của ASEAN, Trung Quốc thực hiện chính sách chia để trị. Họ dùng đòn bẩy kinh tế để “mua” Campuchia, ngăn ASEAN ra tuyên bố Biển Đông và tuyên bố về Phán quyết của Tòa Trọng tài ở Biển Đông. Kết quả ASEAN, tổ chức bảo vệ quyền lợi của 10 quốc gia Đông Nam Á không thể ra tuyên bố chống lại họ. Bằng thủ đoạn kinh tế, bằng chiến tranh tâm lý, bằng hành động quân sự, bán quân sự, lực lượng tầu đánh cá dân sự Trung Quốc muốn các quốc gia láng giềng hiểu, nếu đi ngược ý chí của Trung Quốc thì cái giá phải trả sẽ không thể chịu đựng nổi. Liệu Trung Quốc có thắng được cuộc chiến với các nước xung quanh trước khi bước vào cuộc chiến quyết định với Mỹ trong tương lai?
Cuộc chiến của Trung Quốc áp đặt luật chơi của mình với các nước đồng minh của Mỹ ở Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Nhật Bản), kể cả Bắc Triểu Tiên và thống trị các nước Đông Nam Á, độc chiếm Biển Đông có lẽ là một trong những ý tưởng và hành động ngông cuồng mới nhất trong “giấc mơ Trung Hoa vĩ đại”. Liệu Bắc Kinh có thực hiện con đường trỗi dậy an toàn ở châu Á? Chỉ biết tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải cùng với việc củng cố các yêu sách, tuyên bố chủ quyền phi lý, Trung Quốc phải đương đầu với sự phản ứng của hầu hết các quốc gia có vùng biển liên quan tới Trung Quốc từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Việt Nam đến Malaysia, Indonêsia…
Trước mắt Trung Hoa chưa đối đầu với Mỹ. Nhưng chắc chắn Bắc Kinh không bao giờ từ bỏ mục tiêu địa chính trị đối với vùng lãnh thổ Đài Loan, Quần đảo Senkaku, gây áp lực với các đồng minh của Mỹ hoặc từ bỏ tuyên bố chủ quyền phi pháp. Trung Quốc đã đạt được một số mục tiêu. Từ chỗ không có gì ở Biển Đông, Trung Quốc đã có toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa, một phần Quần đảo Trường Sa. Với việc củng cố mở rộng các đảo tôn tạo thành các căn cứ quân sự, Bắc Kinh sẽ không từ bỏ chiến lược pháo hạm. Họ sẽ chia rẽ đến cùng mục tiêu chung của các nước ASEAN nếu đi ngược lại lợi ích của Trung Quốc. Không có Biển Đông, không thâu tóm được các nước Đông Nam Á, Trung Quốc rất khó khăn để có thể phát triển sức mạnh hải quân, khó có thể trở thành cường quốc biển, và do vậy họ không thể đẩy Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương, không khống chế được một trong tuyến đường vận chuyển huyết mạch của thế giới và của chính họ.
Những động thái đáng chú ý của Mỹ.
Cho đến nay Mỹ không có ý định từ bỏ vai trò lãnh đạo thế giới của mình và cũng không chấp nhận đề nghị của Tập Cận Bình xây dựng mối quan hệ nước lớn kiểu mới Mỹ-Trung. Có nghĩa là Wasinhton không chấp nhận cùng chiếu với Bắc Kinh. Chính quyền Obama đã phản ứng trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, phản ứng Bắc Kinh trong quan hệ song phương, ở các diễn đàn đa phương, các tổ chức quốc tế, ở nhóm G 7, G 20 về vấn đề Biển Đông; yêu cầu Bắc Kinh phải chấp hành Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế và quyền tự do hàng hải ở Biển Đông… Có nghĩa là Mỹ không cho phép Trung Quốc đặt ra luật chơi, mà phải tuân theo luật quốc tế hiện hành.
Đối phó với sự thay đổi về chiến lược quân sự mới, với tình trạng vừa ổn định vừa bất ổn định do Bắc Kinh gây ra, đặc biệt là đối với Chiến lược chống tiếp cận A2/AD, giới quân sự Mỹ đã xây dựng Chiến lược Tác chiến trên Không trên Biển (Air Sea Battle Operational Concept- ASB). Chiến lược Tác chiến Không-Biển có mục tiêu: “phá hủy, tiêu diệt và đánh bại mọi lực lượng quân sự thù địch của đối phương trên toàn bộ chiều sâu chiến trường, thống trị bầu trời và mặt biển, phong tỏa lục địa của đối phương; phong tỏa toàn bộ khu vực Tây Thái Bình Dương”.
Nội dung chủ yếu của Chiến lược Tác chiến Không-Biển là sử dụng tất cả sức mạnh các lực lượng hải quân bao gồm tất cả các cụm tàu sân bay, chiến hạm tác chiến, tàu ngầm, không quân hải quân, lực lượng không quân và các lực lượng khác bao gồm bộ binh, lực lượng đặc nhiệm, lực lượng các nước đồng minh, tác chiến điện tử… với mục đích tấn công, tiêu diệt, bao vây và phong tỏa đất liền trên một không gian chiến trường rộng lớn, nhằm bóp nghẹt và phá hủy, tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa sức mạnh quân sự, vũ khí trang bị chiến tranh của đối phương trên toàn bộ chiều sâu chiến trường trong cuộc chiến tranh phi tiếp xúc.
Về kinh tế, Mỹ đã theo đuổi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương sau 5 năm đàm phán, một hiệp định thương mại tự do kiểu mới, không có sự tham gia của Trung Quốc. Hiệp định bao gồm 12 nước trong lòng chảo Thái Bình Dương. Theo đề nghị của Tổng thống Obama các nước sẽ tiếp tục hoàn thiện và ký kết tại Hoa Kỳ vào năm 2016. Có thể nói đây là cái cốt vật chất của chiến lược xoay trục về châu Á của chính quyền Mỹ nhằm đối trọng với chính sách thương mại của Trung Quốc.
Trên lĩnh vực chính trị, Chính quyền Obama đã tập hợp lực lượng xung quanh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và Mỹ đã gặt hái được nhiều thành công. Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã củng cố liên minh Mỹ-Hàn, Mỹ-Nhật, Mỹ-Australia và Mỹ-Philippines chặt chẽ hơn bao giờ hết. Quan hệ Mỹ-ASEAN bước đầu định hình khuôn khổ chiến lược kinh tế, chính trị, an ninh tốt đẹp trong tương lai sau Hội nghị Sunderland giữa Mỹ với mười nước. Mỹ cũng xây dựng được quan hệ tốt đẹp hơn bao giờ hết với Ấn Độ, quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, đặc biệt là quan hệ quốc phòng như chia sẻ, sử dụng các căn cứ quân sự hậu cần chung giữa hai nước.
Ngoài ra, trong Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á hay còn gọi là Hội nghị Shangri-la 15 ngày 14/6/ 2016 tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ kêu gọi xây dựng một mạng lưới an ninh tập thể mới (collective security network), dựa trên những nguyên tắc và chuẩn mực chung. Đây là một xu thế mới mà bản chất là an ninh tập thể do Mỹ lãnh đạo nhằm đối phó với Trung Quốc. Chắc chắn điều này đã, đang và sẽ được nhiều quốc gia ủng hộ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy một cục diện mới ở châu Á-Thái Bình Dương đang định hình. Mỹ làm được điều này là nhờ vào tham vọng bành trướng và biểu hiện sức mạnh cơ bắp của Trung Quốc, khiến nhiều nước ngả về phía Mỹ để cân bằng trước một Trung Quốc đang biến mình trở thành một Thiên triều như hàng ngàn năm lịch sử phong kiến trước đây.
Tựu chung lại, chính quyền hai nước Mỹ-Trung vẫn đang thực hiện những bước đi nằm trong tính toán chiến lược của họ. Hai năm, năm 2015-2016, cả hai nước đã đẩy xung đột lên đến cao độ. Trước mắt, trận tuyến ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc là Hoa Đông và Biển Đông (theo người viết Biển Đông là mặt trận chính). Trung Quốc đã huy động sức mạnh tổng hợp quốc gia, đặc biệt là sức mạnh quân sự cho hướng đông và đông nam. Mỹ cũng bước vào giai đoan hoàn thành việc cơ cấu lại lực lượng quân sự, chuyển 60 sức mạnh quân sự sang châu Á-Thái Bình Dương, tập hợp và củng lực lượng đồng minh cùng với các đối tác nhằm đối phó với Trung Quốc. Về mặt quân sự có thể nói Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng đang diễn ra một cuộc so găng quân sự lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cả hai phía đều thúc đẩy xung đột, hay nói đúng hơn là tiến hành leo thang một cách có chủ ý. Chưa đến mức chiến tranh nhưng có thể nói là hoàn toàn không bình thường. Tình trạng này sẽ kéo dài trong bao nhiêu lâu còn tùy thuộc vào việc quản lý leo thang xung đột của cả hai bên. Nhưng chắc chắn cả hai bên đều không từ bỏ mục tiêu của mình.
Read More

Quan hệ Trung Mỹ sẽ đi về đâu

Leave a Comment

 

Bài này tôi viết từ tám năm trước. Cách đây 4 năm khi Donald Trump trúng cử tổng thống Hoa Kỳ tôi đã sửa lại và bổ sung đăng trên blog cá nhân. Năm nay khi Joe Biden đắc cử tôi tiếp tục viết lại. Bài viết khá dài, dựa trên nhiều nguồn tài liệu. Tôi chia làm 3 phần, xin được chia sẻ cùng bạn đọc.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, quan hệ Mỹ-Trung có tầm quan trọng đặc biệt. Quan hệ giữa hai nước đã tác động và ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia khu vực châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trải qua gần 70 năm, từ một nước đông dân nhất thế giới, một nước đói nghèo thuộc thế giới thứ 3, giờ đây Trung Quốc nổi lên trở thành một cường quốc lớn nhất về kinh tế sau Mỹ. Có thể nói sau cuộc Chiến tranh Lạnh, khi siêu cường Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc hiện tại đang đe dọa vị thế siêu cường của Mỹ. Mâu thuẫn Mỹ-Trung không chỉ là mâu thuẫn về ý thức hệ mà còn là mâu thuẫn nằm trong hệ thống quan hệ quốc tế. Liệu lãnh đạo hai nước có thể điều hòa những mâu thuẫn này bằng biện pháp hòa bình? Liệu Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ có chịu chia sẻ vị thế siêu cường và quyền lợi với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa? Liệu một cuộc chiến tranh nóng hay một phiên bản chiến tranh Lạnh 2.0 giữa một quốc gia đã và đang là “bá chủ” và một quốc gia đầy tham vọng muốn thay thế vị trí số 1 có thể xảy ra?
Theo một số nhà nghiên cứu, hai đối thủ Mỹ-Trung đã bắt đầu cuộc chiến cạnh tranh từ mười năm trước, năm 2010. Theo cuốn Hồi ký của Barack Obama (Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ từ tháng 1/2009 đến tháng 1/2017), nếu không xảy ra khủng hoảng tài chính thế giới vào năm 2007-2008, cuộc chiến có lẽ xảy ra sớm hơn vài năm. Để trả lời cho những câu hỏi dự đoán trên, chúng ta cùng tìm hiểu mối quan hệ Mỹ -Trung từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời đến nay.
Quan hệ Mỹ-Trung từ năm 1949 đến năm 2010:
Quan hệ Mỹ-Trung trong thời gia này đã trải qua nhiều thăng trầm. Từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 đến năm 1972, hơn hai mươi năm Mỹ-Trung là kẻ thù không đội trời chung. Quan hệ hai nước trong bối cảnh cuộc chiến tranh Lạnh luôn ở bên bờ vực chiến tranh, thậm chí Mỹ đã tính đến sử dụng lực lượng hạt nhân chiến thuật sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Nhưng bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước, do gặp nhiều khó khăn, giới cầm quyền hai nước đã đến với nhau và cả hai đều điều chỉnh chính sách của mình.
Về phía Mỹ, họ phải hy sinh Đài Loan, nhượng bộ Trung Quốc ngồi vào ghế uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhằm mục đích giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam và sử dụng ảnh hưởng của Mỹ với Trung Quốc như là đòn bẩy chống lại Liên Xô. Đồng thời Mỹ cũng mong muốn có được các mối quan hệ kinh tế có lợi đối với Trung Quốc.
Về phía Trung Quốc, họ chuyển từ chính sách mang nặng ý thức hệ sang chính sách thực dụng “mèo trắng cũng như mèo đen”, sát cánh với Mỹ chống Liên Xô, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai siêu cường để tìm kiếm lợi ích quốc gia. Nhân tố Mỹ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc chuyển dần từ kẻ thù trực tiếp sang một dạng đồng minh đôi bên cùng có lợi. Điều quan trọng là cải thiện quan hệ với Mỹ sẽ giúp Trung Quốc đặt nền móng và phát triển quan hệ với thế giới phương Tây. Từ chỗ bị cô lập, Trung Quốc có cơ hội vươn rộng ra cộng đồng quốc tế. Chính điều này đặt nền móng cho công cuộc cải cách kinh tế thần kỳ mà Đặng Tiểu Bình khởi xướng ở giai đoạn sau. Mâu thuẫn lớn nhất giữa hai nước về ý thức hệ tạm thời được gác lại.
Nhìn vào mối quan hệ Mỹ-Trung trong thời kỳ này, chúng ta thấy Mỹ là bên chủ động. Mỹ chính là đột phá khẩu cho chiến lược hướng ra bên ngoài của Trung Quốc. Với tư cách là một thị trường, Mỹ trở thành một đối tác cần thiết có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển về mọi mặt, cụ thể là Bốn hiện đại hóa (Four Modernization) trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng và khoa học công nghệ nhằm biến Trung Quốc thành một cường quốc hiện đại.
Từ những năm 1980 trở đi, quan hệ Mỹ-Trung vẫn là mối quan hệ lợi dụng lẫn nhau, họ tập hợp lực lượng để tạo thế so sánh trong quan hệ với Liên Xô. Khi quan hệ Mỹ-Xô đi vào thế hòa hoãn cuối những năm 80, đặc biệt là vào năm 1989, sau sự kiện Thiên An Môn, Bắc kinh dùng xe tăng nghiền chết sinh viên biểu tình, vị trí của Trung Quốc trong chiến lược của Mỹ bị hạ thấp. Và sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ ra sức thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình. Trung Quốc lẳng lặng phát triển kinh tế, ổn định nội bộ. Họ khôn ngoan không thành lập mặt trận chống Mỹ như trong giai đoạn đầu. Mặc dù có nhiều sóng gió trong quan hệ hai nước, nhưng Trung Quốc đã thành công phát triển kinh tế và thực hiện chính sách “giấu mình chờ thời” của chiến lược gia Đặng Tiểu Bình (trong khoảng thời gian này, được sự đồng ý và làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc đã phát động hai cuộc chiến tranh với Việt Nam: Cuộc chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979 và cuộc chiến tranh xâm chiếm 7 đảo Trường Sa năm 1988).
Sự kiện 11 tháng Chín năm 2001, sự kiện khủng bố đánh vào tòa tháp đôi, biểu tượng kinh tế của nước Mỹ, giết hại gần ba nghìn người là cơ hội “trời cho” đối với Trung Quốc. Cả đất nước Trung Quốc ăn mừng sự kiện này. Mỹ lao vào cuộc chiến chống khủng bố và sa lầy trong hai cuộc chiến ở Afganistan và Iraq, tiêu tốn hàng ngàn tỉ đô la cùng với rất nhiều nguồn lực con người trong mớ bùng nhùng Trung Đông. Lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố, tận dụng xu thế toàn cầu hóa với vốn, khoa học và công nghệ của Mỹ và phương Tây, Trung Quốc đã biến mình thành công xưởng của thế giới, có nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới và vươn lên trở thành một cường quốc ở châu Á, đồng thời bước lên sân khấu toàn cầu. Đáng chú ý hơn là dựa vào tiềm lực kinh tế ngày một lớn của mình, Trung Quốc không ngừng đầu tư cho quốc phòng và hiện đại hóa quân đội. Mức độ chi tiêu cho quốc phòng liên tục tăng trong nhiều năm, chỉ đứng sau Mỹ.
Bước sang thiên kỷ mới sau mười năm, mặc dầu bắt đầu bộc lộ nhiều mâu thuẫn, quan hệ Mỹ-Trung vẫn phụ thuộc vào nhau về chính trị, kinh tế, ngoại giao. Họ là đối thủ của nhau nhưng đồng thời cũng là đối tác của nhau. Điều này khác hẳn với quan hệ Mỹ-Xô trong thời gian chiến tranh lạnh. Hai siêu cường kéo theo hai phe đối lập nhau trên tất cả các mặt trận chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự.
Quan hệ Mỹ-Trung vào năm 2010 phức tạp hơn nhiều. Mỹ không còn là một siêu cường trong thời hoàng kim. Trung Quốc cũng không chỉ đơn thuần là một cường quốc “Cộng sản độc đoán”. Chính sách của Trung Quốc cũng không chỉ là mèo đen hay là mèo trắng. Họ đang tối đa tầm ảnh hưởng ở khu vực Tây Thái Bình Dương; xây dựng các mối quan hệ kinh tế với các nước, phát huy lợi thế với các nước trong khu vực xung quanh, đồng thời tìm kiếm vai trò lớn hơn tại các thể chế đa phương quốc tế; tìm mọi cách thống nhất hai bờ eo biển Đài Loan và khẳng định yêu sách chủ quyền một Trung Quốc với các nước còn quan hệ chính trị với Đài Loan; tăng cường sức mạnh quốc phòng và phạm vi hoạt động quân sự, đặc biệt là xây dựng phát triển sức mạnh biển; duy trì quan hệ tích cực và có lợi với Mỹ, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cạnh tranh đối đầu chiến lược Mỹ-Trung ở châu Á-Thái Bình Dương.
Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là hoàn thành việc xây dựng một xã hội “khá giả” trên mọi lĩnh vực vào năm 2021 khi Đảng Cộng sản Trung Quốc kỷ niệm 100 năm ngày thành lập; xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, vững mạnh, dân chủ, nâng cao đời sống văn hóa và hài hòa vào năm 2049 khi nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa đánh dấu chặng đường 100 năm ngày thành lập. Nhiệm vụ nòng cốt để thực hiện mục tiêu họ đề ra là gia tăng sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự để bảo vệ đất nước, mở rộng quyền lực ra phía đông Thái Bình Dương (nên họ càng thể hiện hành động cơ bắp ở Biển Đông), củng cố sức mạnh tiến vào Ấn Độ Dương; thực hiện Sáng kiến Vành đai Con đường, Vành đai kinh tế “Con đường tơ lụa” trên đất liền và Đường hàng hải “con đường tơ lụa mới” trên biển lấy Trung Quốc là trung tâm.
Nhìn lại quan hệ Mỹ-Trung từ 1949 đến 2010, các nhà quan sát quốc tế nhận thấy mối quan hệ này chứa đựng đầy đủ hai mặt hợp tác và cạnh tranh. Trong đó cạnh tranh là đặc điểm xuyên suốt qua mọi thời kì. Trong sự hợp tác lợi dụng lẫn nhau, cả hai bên đều thiếu sự tin tưởng. Trung Quốc luôn cảnh giác với chiến lược diễn biến hòa bình, can thiệp nội bộ, thay đổi chế độ của Mỹ. Và cũng vì sự khác biệt về hệ thống chính trị, Mỹ luôn tấn công Trung Quốc về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, vấn đề dân tộc, nạn ăn cắp bản quyền, gián điệp mạng, thao túng thị trường… còn Trung Quốc thì không hài lòng với trật tự thế giới do Mỹ và phương Tây lãnh đạo. Trung Quốc chắc chắn sẽ không từ bỏ cạnh tranh với Mỹ và Mỹ cũng là đối thủ mà Trung Quốc muốn vượt qua
Read More

Chuyện ở Hạ Long

Leave a Comment

 Chuyện ở Hạ Long

Tôi đã đến thăm Hạ Long nhiều lần và không nhớ chính xác mình đã đến đây bao nhiêu lần nữa. Hạ Long để lại trong tôi nhiều ấn tượng, nhất là lần đầu tiên, lần này và có thể là những lần sau nữa. Tôi chắc như vậy, bởi nơi đây cho đến chuyến đi này tôi mới biết thêm về những đồng đội đã vào sinh ra tử với Trung đoàn 3, với Sư đoàn 324 gắn bó của chúng tôi.
7h anh em chúng tôi ra cảng tàu quốc tế. Buổi sáng Hạ Long thật đẹp. Biển xanh lục mênh mông gợn sóng, hiền hòa. Lãng đãng từng đám mây trắng gắn với nền trời xanh thẳm. Những làn gió cuối thu se lạnh trở về. Con tàu chầm chậm trôi đi. Chúng tôi ngồi sát bên nhau trên bong ngắm nhìn biển trời, non nước.
Với một số đồng đội, đây là lần đầu tiên được đi du thuyền trên vịnh. Nghe các anh giãi bày tôi chạnh lòng thương cảm. Có anh ít cũng ba bốn năm ở chiến trường. Có anh dăm sáu năm. Có anh mươi mười lăm năm như anh Hiếu, anh Dũng, anh Tầng. Có anh đến gần 20 năm như anh Phúc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Anh hùng… Bao năm anh em ở chiến trường Việt Nam và Lào đầy gian khổ, hiểm nguy. Rời quân ngũ lại phải lăn lộn với cuộc sống mưu sinh trong những năm tháng kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng, khó khăn. Gần như người nào cũng mang trên mình mảnh đạn, mảnh bom. Khi trái nắng trở trời, sương muối, giá rét, từ đầu đến chân người thương, bệnh binh ê ẩm, nhức buốt. Vì vậy không ít đồng đội đã sớm từ dã cõi nhân thế về với cát bụi. Tiểu đội mười hai người thời huấn luyện còn lại tôi và anh Thắng. Hôm nay anh bận không đi được với đoàn.
Chiều hôm trước tất cả anh em đều hăm hở xuống biển tắm. Lội đến đầu gối, nhiều anh em run lẩy bẩy, phải vội lên bờ. Ngắm nhìn những cặp dò gầy guộc, teo tóp đi trên bờ cát, mọi người phá lên cười, cười đến chảy nước mắt. Đến tắm biển cũng không xong. Vậy mà anh em còn tán nhau “tạm ứng” bán cặp dò cho địa phủ nấu cao. Tôi nghĩ nếu có nơi ấy, chắc chẳng quỷ sứ nào muốn mua những cặp dò khẳng khiu đầy những vết sẹo chinh chiến này.
Con tàu đưa đoàn chúng tôi đến Hang Sửng Sốt, một trong những hang động nổi tiếng nhất nằm trong khu vực lõi vịnh Hạ Long, được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hang động này nằm trên Đảo Bồ Hòn, cùng với hang Luồn và hang Trinh Nữ. Hang Sửng Sốt được biết đến vào năm 1901 khi người Pháp phát hiện ra hang động và đặt biệt danh “La Grotte des Surprises” (Hang động đáng kinh ngạc) vì sự kỳ vĩ của nó. Một số tổ chức du lịch đã bình chọn hang Sửng sốt là một trong những hang động đẹp nhất Việt Nam, được tạp chí CNN Travel đưa vào danh sách 7 hang động tuyệt mỹ trên dải đất hình chữ S.
Đến hang Sửng sốt phải bước lên hàng trăm bậc đá cao. Hang có diện tích khoảng 10.000m2. Mái vòm hang cao khoảng 30m và có lối đi dài đến nửa cây số. Bên trong hang chia làm 3 khu. Khu thứ nhất có diện tích 300m2. Nơi này nền động thấp. Mọi người phải qua những bậc thang đi xuống. Có một hồ nước nhỏ tựa như một chiếc gương trong suốt, được hình thành bởi nước chảy từ trần động len qua các khe nứt đá vôi.
Đoàn chúng tôi men theo bậc đá vào bên trong khu thứ hai. Diện tích rộng gấp đôi khu thứ nhất. Trần thạch nhũ ở khu này bị phong hóa khá nhiều do có nhiều vòm cao khoảng 40m so với nền động. Không khí trong hang khá thông thoáng với nhiều nhũ đá hình thù kỳ vĩ.
Khu thứ Ba là khu tạo nên cái cảm giác “sửng sốt”. Vào đến đây, chúng tôi dường như vỡ òa trước không gian rộng lớn với những nhũ đá lung linh, huyền ảo đến mức dù đã xem ảnh trước trên smart phone, mọi người vẫn phải “ồ” lên sửng sốt. Khu này có nhiều ngóc ngách, du khách tha hồ khám phá, tưởng tượng những khối đá thành đủ hình thù kỳ lạ ở trên đời.
Trong đoàn chỉ một mình “anh cả”, anh Hiếu ngồi lại trên tàu, không lên theo cùng anh em. Năm nay anh 81 tuổi, nhiều tuổi nhất trong đoàn. Mặc dù phải chống gậy nhưng anh vẫn cố gắng tham gia. Anh nói với tôi “còn sức còn đi với các chú. Bao giờ không đi được, thỉnh thoảng các chú tổ chức lên Bắc Giang chơi với anh!”.
Tôi tả và cho anh xem ảnh bên trong động. Anh xuýt xoa tiếc mình không thể đi theo đoàn. Tôi dìu anh xuống tàu tìm chỗ đẹp để chụp ảnh cùng với chị, người vợ tần tảo mấy năm nay đi theo để chăm sóc anh. Anh yêu cầu tôi chuyển những tấm ảnh chụp trong động sang máy anh để lúc về “rỗi rãi giở ra xem”.
Cao tuổi như vậy mà mấy năm trước anh vẫn tự cho mình có “bổn phận” phải dẫn thân nhân liệt sĩ đi tìm hài cốt đồng đội tại Hướng hóa, Phong Điền, A Lưới, những huyện miền núi giáp biên giới Lào của Trị Thiên. Trí nhớ của anh thật tuyệt vời. Nhiều năm đã trôi qua, có thể nói là “vật đổi sao dời”, vậy mà anh vẫn xác định được chỗ yên nghỉ của những đồng đội. Anh kể cho tôi nghe lần gần đây nhất anh cùng anh Thắng, anh Ích đi tìm mộ anh Đặng Văn Chiến, quê Thái Bình.
Vào một ngày đầu tháng 5 năm 1971, Anh Hiếu cùng đồng đội đi trinh sát thực địa chuẩn bị cho chiến dịch. Nhóm của anh đi theo đường mòn trong rừng. Với trực giác của người lính cũ, anh cố rướn lên để nói với đồng đội không đi theo lối mòn, phải cắt rừng tìm đường đi. Mới bước lên được một đoạn, định vỗ vai anh Chiến ra hiệu thì tất cả trời đất đã tối sầm lại. Một quả mìn phát nổ. Anh Chiến vừa trúng mìn vừa trúng đạn thẳng hy sinh ngay tại chỗ. Anh Hiếu thì bị thương ngất đi.
Sau cuộc giao tranh ngắn ngủi, bọn thám báo luồn lủi vào rừng sâu. Anh em đơn vị kịp thời đến ứng cứu. Anh Hiếu tỉnh dậy, dự lễ an táng đồng đội trên quả đồi, bên dưới là con suối Hoa. Sau gần năm mươi năm, chỉ sau hai ngày đến Huế, anh Hiếu dẫn người nhà anh Chiến và bộ phận chính sách của tỉnh đội Thừa Thiên tìm đến đúng vị trí ngôi mộ năm xưa. Đúng như anh Cảnh, người cùng đơn vị dự đoán từ trước khi đi, “ngôi mộ có thể đã bị chuyển đi”. Quả vậy, đoàn không tìm thấy ngôi mộ. Điều tra qua dân quanh khu vực được biết chính quyền đã đưa ngôi mộ vào nghĩa trang liệt sĩ của xã cách đó vài km.
Thật may mắn! Ngôi mộ có tên tuổi anh Chiến nằm trong nghĩa trang của xã. Khi bốc mộ vẫn còn chiếc bình tông của anh Chiến khắc tên ngày tháng năm sinh, quê quán. Anh Hiếu tâm sự “Đấy là lần anh cảm thấy mãn nguyện nhất trong số những lần đi tìm đồng đội. Chứng kiến việc Tỉnh đội Thừa Thiên cùng nhân dân trong xã làm lễ tiễn đưa liệt sĩ và cho xe đưa đón, cử đại diện về dự lễ an táng anh Chiến tại quê nhà, anh không cầm được nước mắt”.
Anh Hiếu bỗng lặng im. Trên khuôn mặt anh chằng chịt những nếp nhăn, dãi dầu. Người lính già tưởng chừng như đã khô nước mắt vì những trải nghiệm sinh tử, nhưng tôi vẫn thấy một dòng nước mắt chảy xuống những tấm huân chương chiến công đeo trên ngực . Tôi không dám hỏi chuyện anh tiếp. Một lúc sau anh nghẹn ngào “Anh Chiến đã hứng trọn quả mìn để anh sống đến bây giờ…”
Đến đảo Ti Tốp, gần hang Đầu Gỗ, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 7 km về phía đông nam. Đảo có bãi cát hình vành trăng lưỡi liềm. Cát ở đây được thủy triều rửa sạch trắng tinh. Nước biển trong veo. Đúng là một bãi tắm lý tưởng. Nơi đây, vào đầu những năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhà du hành vũ trụ người Liên Xô Giéc Man Ti Tốp lên thăm đảo. Để ghi dấu kỷ niệm chuyến đi đó, Một bức tượng về ông đã được tạc đứng sừng sững dưới chân đảo như một biểu tượng bất diệt về tình hữu nghị Việt Xô.
Ngày nay đảo Ti Tốp là một điểm dừng chân ưa thích, thu hút rất nhiều du khách đến tắm biển. Người ta leo lên núi dốc đứng chinh phục đỉnh núi cao và chiêm ngưỡng toàn cảnh Vịnh Hạ Long. Phải leo lên gần 500 bậc đá mới tới nơi. Cả đoàn hơn 40 người, chỉ có mấy anh em chúng tôi lên được tới nhà Bát giác để thu biển trời vào trong tầm mắt. Thật sảng khoái. Gió lồng lộng, mát rượi, xua tan nỗi mệt nhọc. Trong số anh em lên tới tận cùng, ngoài chị Lý, chị Tống Lương là thân nhân liệt sĩ, có anh Liễu dũng sỹ diệt Mỹ, cho đến nay vẫn là người nhanh nhẹn nhất. Có anh Dũng, người anh hùng của đường 12 trong suốt những năm dài chống Mỹ. Có anh Tầng, người anh hùng trên điểm cao 1062 nổi tiếng trong chiến dịch Nông Sơn, Thượng Đức.
12h kết thúc chuyến đi du thuyền ngắm cảnh Vịnh Hạ Long. Đoàn chúng tôi trở về hội trường giao lưu ở khách sạn Tiên Sơn. Bước vào hội trường, tôi thấy một màn hinh rực rỡ với hình ảnh dòng chữ ở chính giữa “Cựu chiến binh Trung đoàn 3 Sư 324 khu vực Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Quảng Ninh”. Bên trên màn hình thỉnh thoảng xuất hiện một số hình ảnh các trận chiến đấu của Trung đoàn 3. Toàn bộ phông nền là hình ảnh biển trời di sản Vịnh Hạ Long.
Sau nghi lễ của Ban liên lạc, anh Trung lên chia sẻ câu chuyện xảy ra vào ngày thành lập Trung đoàn 3 năm trước, cũng tại hội trường khách sạn này. Đoàn cựu chiến binh khu vực bắc miền Trung bao gồm các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình về thăm Quảng Ninh. Trong buổi gặp gỡ, giao lưu anh em thấy thiếu mất một người. Anh Trung kể, “Tôi đặt cốc bia xuống bàn ăn, lên sân khấu khẳng định, không thiếu một ai. Anh Đạo người Quảng Bình rảo bước lên sân khấu. Anh nói với mọi người, thiếu anh Đoàn. Tôi vội thanh minh, anh ấy mất mấy năm nay rồi.”
Anh em còn nhớ, vào sáng ngày 16 tháng 5 năm 1969, sau thông lệ hàng giờ máy bay và phi pháo Mỹ dội bom đạn xuống trận địa, tiểu đoàn Dù Mỹ bắt đầu chia thành nhiều mũi tấn công lên hệ thống hầm chốt của Đại đội 6, Tiểu đoàn 8 trên Động A Bia. Mũi của anh Đoàn chờ cho bọn Mỹ đến gần đỉnh núi mới phát lệnh tấn công. AK, trung liên, lựu đạn, mìn ĐK10 kết hợp với B40 của ta đồng loạt nổ, băm nát trung đội Mỹ và đẩy một số tên sống sót chạy xuống đồi yên ngựa. Bọn Mỹ gọi máy bay ném bom, trực thăng vũ trang, phi pháo lồng lộn bắn trùm lên trận địa mãi tới gần trưa. Nhiều hầm hào bị sập, sụt lở. Một số đồng chí đã hy sinh. Anh Đạo chui xuống hầm moi tránh hỏa lực bị vùi lấp trong căn hầm đổ nát. Chính anh Đoàn đã dẫn đồng đội đến kịp thời giải cứu. Sau đó anh chỉ huy ba người còn lại trong tiểu đội, sử dụng nhiều loại vũ khí. Kể cả vũ khí thu được của Mỹ, kiên cường quần nhau với một trung đội Mỹ bổ sung, giữ vững trận địa cho tới khi trời tối…
Anh Trung cho biết anh Đoàn bị ung thư mất cách đây ba năm. Sau buổi giao lưu anh Trung đã đưa anh Đạo đến nhà anh Đoàn. Đến nhà, chưa kịp giới thiệu, anh Đạo đã nói: “Chắc hẳn đây là con ba Đoàn, giống hệt ba Đoàn ngày xưa. Năm 1968, mẹ cháu vào thăm ba cháu ở Quảng Bình. Lúc đó chú và ba cháu ở cùng một tiểu đội. Ba cháu đã cứu sống chú trong trận A Bia gần một năm sau đó. Vậy mà chú chưa một lần tới thăm. Hãy dẫn chú đến mộ ba cháu để chú được tạ lỗi!”
Ngồi ở bàn tiệc cạnh tôi có anh Vũ Thành. Anh và tôi được ban tổ chức xếp vào cùng một phòng nghỉ trong chuyến đi. Tháng trước tôi đến thăm nhà anh Thành ở phường Mai Dịch. Trong câu chuyện tâm tình, anh kể tôi nghe về những vết thương của mình. Ngày 4/6 năm 1969, Đại đội C11 của anh đang chốt bảo vệ một địa điểm trên khu vực A Bia thì nhận được tin lính Dù Mỹ đi vào vị trí của đơn vị. Ban chỉ huy đại đội yêu cầu anh Nghị điều tiểu đội đi truy kích đánh địch. Các anh lần đường lên núi. Đi khoảng 40 phút thì bất ngờ bị một loạt đạn đại liên của địch bắn xối xả. Anh Đồng quê ở Nam Sách, Hải Dương bị trúng đạn hy sinh. Theo lệnh anh Nghị, tiểu đội dàn hàng ngang trườn lên tiếp cận kẻ địch.
Hỏa lực bộ binh Mỹ bắn rất rát. Trực thăng vũ trang của chúng là sát ngọn cây vừa bắn vừa thả ựu đạn xuống. Anh Thành bị trúng nhiều mảnh đạn, máu ra rất nhiều. Anh Cam nằm phục bên trái anh Thành cũng bị thương nặng ở đầu. Anh Lê Văn Lân y tá trườn tới tiêm cầm máu và trợ lực. Sau đó Lân anh cắt đường rừng để các anh bò theo sau. Bò đi được một đoạn thì được anh em đồng đội đến chi viện, cáng về bênh xá trung đoàn. Kể từ ngày đó anh Thành không biết tin gì về anh Lân nữa. Không biết anh Lân còn hay đã mất. Anh Thành đã nhiều năm lặn lội đi tìm đồng đội. Hỏi han qua bao đồng chí các cấp thuộc trung đoàn. Anh đã nhiều lần đăng tin trên bản tin của Hội cựu chiến binh nhưng vẫn không có hồi âm…
Tình cờ đầu tháng 9 năm 2020, qua Facebook anh Thành liên lạc được với anh Nguyễn Tiến Tuấn, nguyên y tá đại đội 11. Anh Tuấn đã tìm được anh Lân đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh Thành xin được số điện thoại, điện cho anh Lân. Anh Lân đã bay ra Hà Nội dự cuộc gặp mặt cựu chiến binh Đại đội C11 vào ngày 14/9. Thế là sau 51 năm 3 tháng 10 ngày, các anh đã được gặp nhau trong niềm vui khôn xiết. Và họ hẹn với nhau vào ngày 14/9 sang năm sẽ cố gắng liên lạc để có mặt đầy đủ các anh em C11 trong những năm tháng chống Mỹ.
Anh Thành đã may mắn hơn anh Đạo. Anh đã gặp được ân nhân của mình. Trong buổi giao lưu anh cũng đứng lên chia sẻ, nhưng anh chia sẻ một câu chuyện khác, câu chuyện về con của các liệt sỹ, các cựu chiến binh. Câu chuyện và bài hát về tình đồng đội của anh khiến tôi vô cùng xúc động.
Tôi bỗng nhớ đến anh Triệu Giám, chuyến đi này anh bận không tham gia được. Rời quân ngũ, trở về đời thường, phải lăn lộn với cuộc sống, nhưng anh luôn lạc quan với tâm hồn của người nghệ sỹ. Anh đích thực là nhà thơ của tình đồng đội. Chính anh là người đầu tiên thiết kế cho anh em cựu chiến binh Trung đoàn 3 Quận Hai Bà và sau đó là anh em ở một số quận nội, ngoại thành trở về chiến trường xưa thắp hương cho đồng đội tại các chiến trường.
Trong chiến dich Nông Sơn-Thượng Đức, Trung đoàn 3 được giao nhiệm vụ chia cắt chiến dịch, tiêu diệt viện binh, kiềm chế các trận địa pháo cố định và cơ động từ Hà Sống đến núi Lở; tiêu diệt kẻ địch ở Ba Khe, gò Cấm và sẵn sàng đánh đich đổ bộ lên điểm cao 1062. Anh Giám đã tham gia các trận đánh ở Lâm Phụng, gò Ôm, Hà Sống, Hà Nha, Bàn Tân và trong trận đánh gần sông Vu Gia anh trúng mảnh đạn ngất đi. Anh Nhang người Phú Thọ đã xốc nách trườn lê đồng đội qua hàng trăm mét dưới làn đạn pháo rồi cõng anh về hậu cứ. Anh Giám cũng bặt tin anh Nhang đến 40 năm.
Bao năm anh Giám đã lặn lội đi tìm đồng đội cứu sống mình. Anh đã hỏi thăm tất cả những người anh quen biết ở Trung đoàn 3 mà anh biết. Anh đã đến tận tỉnh đội Phú Thọ, đến thành phố, thị xã và 11 huyện để tìm kiếm thông tin. Và rồi lần cuối anh mời tôi cùng một số anh em đến một huyện miền núi Tam Nông bằng xe máy. Tôi còn nhớ anh em vừa đi vừa hỏi thăm, từ sáng sớm đến gần trưa, qua một cánh đồng, dưới chân một ngọn đồi bao phủ rừng vầu, có một căn nhà tranh, anh Nhang sống ở đó. Họ đã gặp nhau và ôm lấy nhau trong niềm vui dâng trào của đồng đội…
Buổi giao lưu chia sẻ, hát hò kéo dài từ 12h đến hơn 3 giờ. Công bằng mà nói, anh em Quảng Ninh hát rất hay. Anh Thắng, anh Hồng ở Hà Nội hát đã gây ấn tượng nhưng so với đồng đội ở Quảng Ninh vẫn phải nhường vài phân. Kết thúc chương trình chị Đức, vợ anh Phúc (Chị thường xuyên đi với đoàn chăm sóc anh. Chúng tôi rất quý trọng chị. Có lần trước sân khấu, nói về những gian nan vất và tâm trạng ngày tháng mòn mỏi chờ chồng trước cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 3 đang tại ngũ, chị đã khiến bao người lính phải rơi lệ) cùng với anh Bình ở Quảng Ninh hát bài Lòng mẹ. Chưa bao giờ nghe hát tôi thấy xúc động đến vậy. Những người mẹ thân yêu của chúng tôi thủa nào lại hiện về! Tất cả mọi người đều đứng dậy vỗ tay...
Giờ phút chia tay đã trễ theo lịch trình. Chúng tôi lưu luyến bắt tay nhau, tạm biệt và hẹn gặp lại nhau. Người lên xe, người ở lại nhắc nhở nhau cố gắng tập luyện, giữ gìn sức khỏe để còn gặp lại nhau. Anh lái xe hiểu được nỗi lòng của đoàn, cho xe vòng xuống con đường bao biển, dừng lại ít phút trước khi lên đường cao tốc về Hà Nội. Xa xa Vịnh Hạ Long mờ tím trong sương chiều.
Thành Vũ, Nguyễn Thị Điệp và 100 người khác
45 bình luận
4 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.