Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author
Leave a Comment

 Hội làng Xuân Trạch Đông Anh

Sáng sớm ngày10 tháng Ba Âm lịch, ngày quốc lễ giỗ tổ, tôi chợt nhớ đến mẹ anh bạn Nguyễn Đắc Tính. Gần như năm nào tôi cũng thu xếp sang thăm cụ một lần. Năm nay cụ đã 96 tuổi, một bà mẹ phúc hậu, đơn thân vợ liệt sỹ. Nhiều năm trước, mặc dù kém mắt không nhìn thấy, nhưng chỉ cần nghe tiếng từ xa, tôi chưa kịp chào hỏi thì cụ đã lên tiếng: “Anh Huệ phải không? Các cụ bên ấy dạo này thế nào?” Năm trước đến chơi cụ đã đau yếu không còn nhận ra tôi nữa. Thế là không gọi điện cho bạn, tôi liền phóng xe đi.
Qua cầu Long Biên, qua cầu Đông Trù, dọc theo đê sông Đuống đến cây gạo đầu Làng Xuân Trạch, tên cũ là làng Canh Trầm/Chầm, một ngôi làng cổ, tôi thấy nhiều lá cờ hội phần phật tung bay và rất nhiều loại xe con đỗ bên vệ đường vào làng. Nghe tiếng trống liên hồi giục giã, tôi thầm nghĩ chẳng lẽ hôm nay ngày hội. Vậy mà tôi chưa bao giờ nghe bạn mình nói về lễ hội làng anh.
Vào nhà chỉ có vợ anh ở nhà trông cụ, còn anh Tính trong ban tổ chức lễ hội đang vào việc hội. Tôi vào phòng chào cụ nhưng cụ đang ngủ. Vợ anh Tính định gọi cho chồng, tôi ngăn lại để ra hội gặp anh. Cũng như các lần trước anh nhẹ nhàng trách tôi sao không gọi điện trước, vì nếu có bận việc gì thì anh cũng thu xếp ở lại nhà. Tôi trách lại anh. Anh Tính phân trần: Tôi định sang năm, hết hoi Covid mới mời anh đến xem hội, vì tôi cũng mới biết anh là dân nghiền “hội hè đình đám”.
Anh Tính giới thiệu tôi với ban tổ chức, với các cụ. Thế là tôi mặc sức hòa vào “thượng tầng” của không gian lễ hội để tìm hiểu. Cũng như bao lễ hội làng khác lễ hội làng Canh Trầm gắn liền với tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, một tín ngưỡng phổ biến ở làng quê Việt. Nó là biểu tượng thiêng liêng nhất của cả làng, là sự kết hợp đỉnh cao của tín ngưỡng sùng bái con người và tín ngưỡng sùng bái thần linh.
Đình và đền làng Xuân Trạch cùng nằm trên một khoảnh đất, có liên quan về lịch sử cũng như nghi lễ thờ cúng. Điều đặc biệt là cả hai mẹ con vị thần thành hoàng làng đều được dân làng thờ cúng. Mẹ được thờ ở đền, con được thờ ở đình. Qua quan sát và qua lời các cụ tôi được biết đây là lễ hội dân gian (có nhiều loại lễ hội) thờ Thần Thành hoàng Xạ Thần Quốc Cao Minh sơn và Thánh Mẫu, mẹ đẻ của Ngài.
Đình và đền ở làng Xuân Trạch đều được xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa năm 1996. Hội làng diễn ra từ ngày 8 đến 13 tháng Ba (chính hội là mồng 10) diễn ra các hoạt động tế lễ Xạ thần quốc. Riêng ngày 13 là hội đền, ngày hội Chư bàThánh Mẫu (các cụ truyền lại, Thánh Mẫu góa bụa sớm nhưng vẫn giữ lòng thủy chung trinh tiết, được dân làng tôn vinh. Vì vậy, xưa kia trong hội này chỉ những phụ nữ góa bụa mới được vào ban tế lễ. Đó là một tục khác biệt nhằm tôn vinh sự thủy chung của người phụ nữ).
Theo cuốn lịch sử văn hóa làng Canh Trầm, theo “Xạ thần bi ký”, “Vương phả cổ lục” và các bản sắc phong từ thời Vua Lê Cảnh Hưng (xin cảm ơn anh Tính đã cung cấp cho tôi các tư liệu này) đến các vua nhà Nguyễn, làng được lập từ thuở các Vua Hùng dựng nước. Xạ Thần Quốc Lang là con thứ 5 của Hùng Nghị Vương, em của vua Hùng thứ 18. Hùng Nghị Vương được lệnh đem binh đi dẹp giặc ở biên giới. Khi thắng trận trở về qua trang Canh Trầm có một người con gái diện mạo thanh cao, khí chất hòa ái đang cắt cỏ. Người con gái đó là con một bậc phú hào họ Trương. Tên nàng là Trương Trinh Ngoạn, hiệu là Ngoạn Phi Vân, sắc đẹp chim sa cá lặn. Vương đem lòng yêu dấu, đưa về triều, lập làm phi thứ tư. Một thời gian sau, vào ngày 10 tháng Ba năm Ất Sửu, nàng Phi Vân sinh được một bé trai tuấn tú hơn hẳn người thường, được đặt tên là Minh Lang. Lớn lên Minh Lang có tài bắn cung trăm phát trăm trúng nên được vua quan trong triều vô cùng yêu quý, ban cho chàng là Xạ Thần Quốc Lang. Chàng thường xuyên lui về quê mẹ cứu giúp người bệnh, người nghèo. Từ đó trang canh Trầm được mở mang phát triển thành một nơi trù phú, đông vui bên bờ sông Đuống. Thấy ân tình của Xạ Thần với bản trang sâu nặng, nhà vua phong ấp cho chàng ở quê hương mẹ.
Thời gian đó Thục Chúa lăm le xâm phạm bờ cõi nhà Hùng. Xạ Thần cùng với Tản Viên Sơn Thánh nghênh chiến với quân Thục. Xạ thần giữ vững vùng Châu Mộc, đánh tan quân Thục, trở về trang mở tiệc khao binh lính và dân làng. Trên đường trở về phủ nội, bỗng nhiên trời đất tối sầm, Xạ Thần đột ngột trở về trời. Vua vô cùng thương tiếc phong tặng danh hiệu Xạ Thần Quốc Lang Cao Minh Sơn Đại Vương. Dân làng thương tiếc lập đền thờ, tôn làm thành hoàng làng thờ tại đình, lại thờ bà Phi Vân, mẹ của Ngài và lập đền thờ riêng (đền Mẫu).
Trong thời gian điền dã tôi còn được nghe một cụ ông và một cụ bà giải thích sự ra đời của tên hiệu “Phi Vân”, nghĩa là mây bay. Vì khi Thánh Mẫu, lúc sinh và lúc nhỏ khi đi cắt cỏ thường có đám mây ngũ sắc bao phủ. Tôi bỗng nhớ đến mô típ cô thôn nữ vừa cắt cỏ vừa ca hát: “Tay cầm bán nguyệt xênh xang/ Muôn vàn ngọn cỏ lay hàng tay ta”. Cô thôn nữ sinh ra Xạ Thần Lang cũng giống như bao cô thôn nữ mà dân gian tương truyền rằng vua Lê Thánh Tông, cũng như một số giai thoại của một số vị vua, chúa khác sau này đón về làm hoàng hậu, làm phi. Cách Canh Trầm không xa, ở Mía vào thời Lê-Trịnh, cô thôn nữ Nguyễn Thị Ngọc Dong đi cắt cỏ, cầm chiếc liềm cong như vầng trăng khuyết, cất lời hát ngân nga. Chúa Trịnh Tráng đi trên đường, bất chợt nghe thấy, liền bảo: “Người này sẽ lay chuyển tình thế đây!” nên xuống ngựa gặp và đem lòng sủng ái cô gái Mía xinh đẹp đất Đường Lâm…
Trong lễ hội có diễn ra lễ rước nước ngày khai hội. Khi mặt trời mới mọc, đoàn người đi rước nước đã khởi hành từ đình Canh Trầm ra bến sông. Dẫn đầu là đội múa lân, bà Thanh đề, những người mang cờ hội ngũ sắc. Kế tiếp là phường bát âm, gồm: Đàn, sáo, nhị, cồng chiêng, thanh la và cả một dàn trống. Dân gian gọi chung là phường bát âm cử nhạc réo rắt các làn điệu: Kim tiền, lưu thuỷ, xuân phong... Tất cả rộn ràng, âm vang sôi động một vùng.
Hai cỗ kiệu long đình và bát cống đi đầu do những thanh niên khoẻ mạnh khiêng. Trang phục của họ: áo đỏ, vàng, cổ áo viền xanh. Đoàn rước trong trang phục chỉnh tề theo nghi lễ truyền thống. Các cụ mặc áo dài đỏ, đầu đội mũ cánh chuồn, chân đi hài. Đội tế nam mặc trang phục áo dài màu xanh, chân đi hài, đầu đội mũ quan. Đội tế nữ mặc áo dài màu vàng, chân đi hài, đầu vấn khăn thể hiện sự trang nghiêm, tôn kính.
Trên một chiếc kiệu có đặt một chiếc bình sứ, ngoài phủ vải điều để đựng nước thiêng. Đi sau kiệu rước này là các vị bô lão, quan khách, đại biểu các đoàn thể, dân làng địa phương. Tiếp đến là cỗ kiệu bát cống có hương án, tán vàng lọng tía. Hai bên cờ quạt hương nến, phẩm quả, nghiêm trang, chỉnh tề, náo nhiệt từ làng tới đê.
Khi đoàn rước ra tới bến sông, bình sứ được đưa xuống thuyền trước tiên. Sau đó là rồng vàng đưa xuống tiếp theo. Trống chiêng gióng lên từng hồi, âm vang thúc giục. Con rồng vàng được giương cao uy phong trên sóng nước. Ba chiếc thuyền lướt ngược lên phía trên, ra giữa dòng (gần như tất cả các lễ hội lấy nước ở sông tôi được tham dự, đều phải ra giữa dòng. Theo quan niệm dân gian, có lẽ ở đó mới là nước sạch, nước tụ đủ khí âm dương).
Vị chủ lễ trịnh trọng đọc bản sớ trình xin rước nước. Sau đó vị chủ lễ cùng các bô lão đốt hoá bản sớ trình, thả xuống dòng sông. Những cô gái vận áo dài đỏ, xưa kia là áo tứ thân nhẹ nhàng múc nước dưới sông đổ vào bình sứ để đưa lên kiệu rước trở về đình trước khi làm lễ dâng hương. Sau đó đoàn rước nước trở về theo thứ tự như lúc khởi hành.
Các cụ cho biết thường có lệ các thôn nữ ra sông lấy nước thiêng về đình (ở một số nơi là các vị bô lão, ở Phù Đổng là cơ binh). Có lẽ vì các thôn nữ nông thôn xưa nay vốn chăm chỉ sớm khuya việc tầm tang, đảm đang một nắng hai sương cấy hái vun trồng nên bao đời nay được ưu ái trong lễ múc nước. Cũng có lẽ theo quan niệm xưa, phụ nữ nói chung là biểu hiện của âm trong thuyết âm dương cổ. Giống như câu ca “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Đó là lẽ trời, lẽ đời, là đạo lý.
Lễ rước nước là một lễ thức ở nhiều lễ hội cổ truyền ở đồng bằng sông Hồng, ở cả nước, ở khu vực Đông Nam Á và phổ biến ở những lễ hội dọc các bờ sông trên cơ sở nền kinh tế, nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Qua bao phen bể dâu biến cải, lễ thức này vẫn còn “ảnh xạ” lại trong lễ hội Canh Trầm, là sự biểu hiện sinh hoạt văn hoá - tâm linh sống động, đặc sắc không chỉ của người dân Canh Trầm mà còn là mẫu số chung trong các lễ hội của cộng đồng cư dân nông nghiệp ở nhiều nơi.
Tôi cho rằng nghi thức “múc nước” và “rước nước” ở Canh Trầm nguyên thủy là nghi lễ nông nghiệp, giống như tết Pi May của Lào, tết Timây của Cămpuchia gắn liền với nghi thức té nước. Đó là tín ngưỡng cầu mưa. Mưa trong tháng Ba và đầu tháng Tư là mở đầu cho một mùa vụ, là “tết mưa giông”. Còn tết cơm mới, xôi mới tháng Mười là tết kết thúc mùa vụ. (Các nhà khoa học nông nghiệp đã chứng minh lúa mùa cổ xưa nhất của cư dân Việt là trồng vào đầu mùa mưa: Tháng Tư cày vỡ ruộng ra, Tháng Năm gieo mạ chan hòa nơi nơi).
Về căn bản, lễ hội Canh Trầm là nhằm tôn vinh người anh hùng huyền thoại Xạ Thần Lang, người anh hùng có công giữ gìn bờ cõi Hùng triều. Hội Canh Trầm từ một tín ngưỡng về nghi lễ nông nghiệp cổ truyền cầu mưa, với thời gian lịch sử đắp đổi, đã trở thành một tín ngưỡng thờ người anh hùng bảo vệ bờ cõi, có công xây dựng, mở mang làng xóm, biểu hiện lòng tri ân “mẹ con” thần thành hoàng làng qua nghi lễ rước nước. Nghi lễ múc nước, rước nước cũng là biểu hiện mong ước mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, dân làng có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Theo tôi, lễ hội làng Xuân Trạch có giá trị lịch sử sâu sắc bởi nó hướng về cội nguồn, chứa đựng những minh chứng về một thời kỳ lịch sử của dân tộc, đồng thời là môi trường bảo tồn, giáo dục và lưu truyền văn hoá truyền thống, là biểu tượng của sự đoàn kết cộng đồng và biểu dương sức mạnh tập thể của nhân dân, đồng thời nhắc nhở con cháu về truyền thống uống nước nhớ nguồn, ghi khắc công ơn những người có công với dân, với làng, với nước.
Từ khoảng 8h 30 tôi ngồi theo dõi ba tuần tế ở ngôi đình làng, một ngôi đình cổ bề thế. Trên ban thờ có bức hoành phi với 3 chữ Hán “Thánh vị tiền”. Ở hậu cung trên Thần vị của Ngài có bức đại tự “Cao Sơn Tướng Quốc”. Anh Tính cho tôi biết, năm nay vì dịch Covid-19, thực hiện theo lệnh của chính quyền không tổ chức hội, nhưng chính quyền vẫn cho phép thực hiện nghi thức tế lễ. Tôi thấy có khoảng ba, bốn chục người cùng với các cụ, các ban ngành, đoàn thể tập trung trong đình. Đông đảo dân làng bắt đầu mang đồ lễ đến bái vọng để ở tảo mạc. Ai nấy đều kính cẩn, thành kính hành lễ theo nghi lễ bốn lạy (bốn lạy là tượng trưng cho bốn phương, tứ tượng, bao gồm cõi âm cõi dương mà hồn ở trên trời, phách vía ở dưới đất).
Mặc dầu đã giản lược nhưng tôi thấy việc tổ chức tế lễ vẫn trọng thể với nhiều cờ xí, với ban nhạc lễ năm người, với đầy đủ phẩm phục, phẩm vật tế lễ Tam sinh. Thành phần tế lễ bao gồm:
- Chủ tế (ông từ): Chủ trì nghi lễ.
- Bồi tế: Hai người phụ giúp chủ tế.
- Đông Xướng và Tây Xướng: Hai người đứng hai bên hương án đọc nghi thức hành lễ .
- Nội tán: Hai người hướng dẫn chủ tế ra vào, trợ giúp Đông Xướng và Tây Xướng.
- Chấp sự: Hai người đứng hai bên giúp dâng hương, dâng rượu, chuyển chúc văn , đọc chúc văn.
- Đồng văn: Người lo việc đánh chiêng trống.
Nghi thức tế lễ bao gồm các bước: 1. Nghênh thần (chủ tế lễ bốn lễ, như đã giải thích ở trên), 2. Hiến lễ: Dâng lễ 3 lần, quỳ lễ và đọc văn tế (ba tuần tế). 3. Âm phúc và thu tộ: chủ tế nhận lộc thần linh ban. 5. Lễ tạ: Chủ tế lễ bốn vái.
Theo dõi xong 3 tuần tế tôi sang đền mẫu (thờ mẫu là một hình thức tín ngưỡng đặc trưng của cư dân nông nghiệp biểu hiện sự kính trọng với quyền năng sinh sản và công ơn với người mẹ). Đền mẫu thờ bà “Phi Vân” giống như bao đền thờ mẫu khác, phía trước có nguồn nước. Ở Canh Trầm là hồ bán nguyệt. Bên trong đền bài trí nhiều mũ nón quai thao, hài và đồ dùng đặc trưng của phụ nữ. Không gian có ba tầng thờ. Bên trên cùng là thờ đôi thanh xà, bạch xà (đôi rắn xanh và rắn trắng trên sát bờ nóc. Đây là lớp văn hóa có từ thời nguyên thủy). Phía dưới đất là ban thờ ngũ hổ hay còn gọi là ông ba mươi (ban thờ này cũng thuộc về lớp văn hóa nguyên thủy). Ở chính giữa, gian giữa là ban thờ vua cha Ngọc Hoàng, Ngũ vị tôn ông. Gian bên trái (từ đền nhìn ra) là ban Sơn Trang (thờ bà chúa Sơn Trang; theo cá nhân tôi thuộc về lớp văn hóa khác dung hợp vào đền thờ mẫu Tam/Tứ phủ). Gian bên phải (từ đền nhìn ra là ban thờ đức Thánh Trần; Xin xem bài Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần cũng trong trang Facebook này để hiểu thêm về một tín ngưỡng đặc trưng riêng của người Việt).
Hậu cung là Tam tòa Thánh Mẫu: Đệ nhất Mẫu Thiên, áo đỏ; Đệ nhị Mẫu Thượng ngàn, áo xanh; Đệ tam Mẫu thoải (thủy), áo trắng. Ba mẫu cai quản ba phủ/vùng (xin xem bài Một buổi xem hầu đồng cũng trong trang Facebook này để hiểu thêm về tín ngưỡng thờ mẫu, một di sản văn hóa nhân loại của riêng người Việt). Và điều đặc biệt nhất là tượng Mẫu Phi Vân đầy đặn phúc hậu đẹp như ngọc ngà. Mẫu ngự ở trên cao, trên cả Tam tòa thánh mẫu có Chầu Quế, Chầu Quỳnh ở hai bên. Đây là điều khác thường. Nhưng rất có lý vì trong tâm thức người Canh Trầm Mẫu còn sinh ra cả Thánh Xạ Thần Quốc Cao Minh Sơn Đại Vương, cũng giống như bà mẹ Phù đổng Thiên Vương sinh ra Thánh Gióng, không ai có thể hơn Mẫu.
Trong lúc tôi tìm hiểu suy ngẫm, bên ngoài các thiếu nữ xinh đẹp trong tà áo dài đỏ múa điệu múa sinh tiền thật đắm say, duyên dáng. Sau điệu điệu múa sinh tiền là màn múa quạt của các mẹ, các bà vận áo vàng rực, xập xòe trong tiếng hát chầu, tiếng đàn sáo nhị hòa quyện đến nao lòng. Bởi người dân quan niệm phải hát thật hay, thật ngọt. Phải múa thật đẹp, thật dẻo thì các mẫu mới giáng. Dân làng mới thịnh vượng, phát đạt. Đúng là một màn diễn xướng nghệ thuật tổng hợp. Một nét đẹp rất văn hóa. Tôi không bao giờ nghĩ quan niệm đó là quan niệm mê tín.
Anh Tính cho tôi biết, tất cả đều là của dân, do dân và vì dân. Họ tự nguyện đóng góp, cung tiến. Có người cung tiến đến vài chục triệu đồng. Anh Tính còn cho tôi biết nếu không có Covid còn có thể thao, bóng chuyền. Tối đến là văn nghệ của các cháu, của đoàn thanh niên, của hội phụ nữ, hội cựu chiến binh... Đúng là ngày hội của tất cả các tầng lớp trong làng.
Chiều ra về, vẫn trong lúc xúc cảm thẩm mỹ dâng trào, tôi có nói với anh Tính, một giá trị của lễ hội truyền thống là ở tính tự quản, tinh thần dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Lễ hội truyền thống của Canh Trầm, cũng như ở các địa phương khác là của dân, do dân và quay trở lại phục vụ nhu cầu đời sống văn hóa, tín ngưỡng của dân. Anh ở trong ban tổ chức, không biết anh có đề cập vấn đề tổ chức lễ hội làng là một tiêu chí của nông thôn mới không?
Tien Nguyen, Thành Vũ và 81 người khác
33 bình luận
3 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Lan man chuyện SGK lớp 2 và lớp 6

1 comment

 Lan man chuyện SGK lớp 2 và lớp 6

Chưa bắt đầu vào năm học mới, thị trường sách giáo khoa (SGK) lớp 2 và lớp 6 đã nóng trên nhiều mặt báo. Đáng chú ý là sách giáo khoa không có giá trần, người dân chắc sẽ phải chạy theo nhà phát hành. Họ bị rơi vào tình thế không mua không được. Theo chỗ tôi được biết, để phục vụ cho việc lựa chọn SGK, Bộ GDĐT đã yêu cầu các nhà xuất bản phải cung cấp thông tin, công bố công khai giá SGK mới. Theo đó, cả 3 bộ SGK lớp 2 và lớp 6 theo chương trình giáo dục phổ thông mới được phê duyệt đã công khai mức giá bán.
Cụ thể, với bộ sách lớp 2 "Kết nối tri thức với cuộc sống", giá sách giáo khoa 10 môn học là 179.000 đồng. Bộ "Chân trời sáng tạo" có giá 186.000 đồng. Còn bộ Cánh diều là 203.000 đồng. Tất cả đều chưa bao gồm sách Tiếng Anh và sách bài tập. SGK tăng giá, gánh nặng đè lên vai người dân nghèo. Theo công bố, hai bộ SGK lớp 6 mới của Nhà xuất bản Giáo dục có giá 245.000 đồng và 234.000 đồng chưa kể sách Tiếng Anh. Riêng bộ Cánh Diều có giá 259.000 đồng. Nếu tính cả sách Tiếng Anh, mỗi bộ sách giáo khoa lớp 6 có giá khoảng gần 400.000 đồng.
Thực tế tôi đã nghe được lời phàn nàn của một phụ huynh học sinh ở một quận, mới vào thời điểm này (cuối tháng 4) đã phải đóng 400.000 đồng cho cô giáo để mua sách giáo khoa cho năm học tới. Vợ tôi có người bạn ở quận đó cũng ca cẩm qua điện thoại vừa cho cháu 400.000 đồng để mua sách giáo khoa, sợ mua ở ngoài với số tiền đó không đủ đầu sách (hôm qua tôi đến thăm nhà một anh bạn bên kia cầu Long Biên. Anh nói mỗi tuần phải đưa cháu đến nhà cô học thêm một buổi tối với một ba lô sách. Mẹ cháu phải đưa cháu đến nhà một buổi. Một tháng tám buổi 800.000 đồng). Chẳng lẽ đây là sự thật? Chẳng lẽ giáo dục là thị trường?
Đó mới chỉ là tiền SGK, một khoản trong hàng chục khoản tiền phụ huynh bắt buộc phải chi cho con em mình trong dịp đầu năm mới. Với một bộ phận phụ huynh có thu nhập khá, số tiền vài ba triệu đầu năm không có vấn đề gì, nhưng với đa số thì đó là cả một vấn đề. Với trải nghiệm của người đã làm công tác quản lý giáo dục các cấp gần 40 năm, tôi thấy thật tội cho biết bao nhiêu gia đình phụ huynh nghèo. Và không chỉ là một năm, vì sau một năm bộ sách giáo khoa mới dùng lại bỏ đi, lên lớp phụ huynh lại phải mua bộ sách mới. Cái túng quẫn cứ theo đuổi những phụ huynh nghèo suốt 12 năm học. Chẳng lẽ đó không phải là vấn đề xã hội?
Tại sao lại cứ bắt buộc phải có một bộ sách giáo khoa mới cho mỗi học sinh (một sự bắt buộc không thành văn)? Quan trọng hơn là có cách quản lý nào để không lãng phí tiền SGK cho hơn 20 triệu học sinh các cấp (20.000.000 học sinh tạm nhân với 400.000 đồng một bộ SGK bình quân cho các lớp học). Biết bao nhiêu tiền của, một sự lãng phí cho cả xã hội và cho mỗi phụ huynh. Cái thời anh để cho em SGK, hàng xóm để cho láng giềng SGK đi đâu rồi?
Chắc bạn đọc sẽ hỏi lại tôi nếu không có sách giáo khoa thì học sinh sẽ học theo cái kiểu gì? Câu hỏi này khiến tôi nhớ lại câu chuyện đáng xấu hổ hồi học cấp 3 và thời học đại học. Một lần để quên bút ở nhà không ghi bài vở, bị thầy bắt đứng dậy, quở mắng: “Đi học quên bút chẳng khác gì người nông dân đi cày quên trâu”. Và thật khốn nạn cho tôi, hôm sau tôi bỏ quên sách giáo khoa, thầy bắt phải chép một định lý từ SGK vào vở ghi, nên tôi phải nhìn sang quyển SGK của bạn ngồi bên cạnh. Thầy lại bắt đứng dậy: “Đi học quên SGK chẳng khác gì người nông dân đi cày bỏ quên cày ở nhà”.
Theo quan niệm của thầy, đi học mà không có sách, bút thì chẳng khác gì người nông dân đi cày quên cả trâu lẫn cày. “Không mang sách, bút thì học hành kiểu gì”, thầy ghi vào sổ ghi đầu bài như vậy… Rồi vào đại học, một lần thầy giáo nói xa chủ đề bài giảng, một bạn trong lớp hỏi có phải ghi vở không. Thầy trả lời: “Phàm cái hắt hơi, sỉ mũi còn tất cả những lời tôi nói đều phải ghi vào vở”. Nhìn vào quyển vở của tôi thầy có vẻ không bằng lòng nói xa nói gần khiến tôi không dám ngẩng đầu lên (bạn đọc tự nhận xét, đánh giá về nền giáo dục truyền thụ, ghi chép của chúng ta. Xin đọc thêm bài viết trước của tôi: Đôi điều về mô hình dạy học 5E trong trang Facebook này)…
Mươi mười năm trước, vào khoảng tháng Năm, tháng Sáu tôi thường sang Mỹ. Tranh thủ thời gian xuất ngoại, tôi luôn tìm mọi cách tiếp xúc với phụ huynh và học sinh người Việt, mượn sách giáo khoa và vở ghi của các cháu để tìm hiểu về việc học hành ở trường học Mỹ (tôi có 5 cháu và quen biết tới vài chục gia đình có con học ở các trường tiểu học, THCS và THPT ở Mỹ). Nhưng tôi không mượn được một cuốn SGK, một quyển vở ghi vì đơn giản là các cháu không có SGK và vở ghi. Tôi đi một số hiệu sách trong các thành phố cũng không tìm mua được một quyển SGK (trên mạng thì có). Theo cái lô gích tư duy của một nhà giáo Việt tôi cứ băn khoăn, không biết học sinh của họ học hành cái kiểu gì?
Thú thực ban đầu tôi bị sốc. Tôi có cảm giác ở cái xứ cờ hoa này có vẻ “trường không ra trường, lớp không ra lớp” vì học sinh của họ không có SGK và vở ghi chép. Nhưng nghĩ kỹ biết chắc là mình nhầm. Vì nếu “trường không ra trường, lớp không ra lớp” thì Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ không thể là nước đi tiên phong trong các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2, lần thứ 3 và lần thứ 4. Nếu như vậy thì nước Mỹ không thể là quê hương của hầu hết những phát minh làm thay đổi bộ mặt của nhân loại. Nếu như vậy thì nước Mỹ không thể là siêu cường về chính trị, kinh tế, quân sự và về khoa học kỹ thuật suốt từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay.
Đến thăm và dự giờ ở hàng chục trường tiểu học, trung học ở các bang Missouri, Corolado, Arkansas, Illinois, California tôi mới hết băn khoăn. Đúng là học sinh của họ không ghi chép. Học sinh không có sách giáo khoa. Thời gian ghi chép của ta là thời gian các em ở Mỹ làm việc với thầy, làm việc với bạn, làm việc theo nhóm. Các em sử dụng máy tính bảng hoặc máy tính cá nhân để học tập (máy tính trình chiếu của cô, máy tính học sinh làm việc theo nhóm, máy tính trình chiếu của học trò là của riêng nhà trường; mỗi học sinh sở hữu một máy tính, học sinh nghèo không có máy tính được nhà nước cấp, kèm theo bữa ăn tự chọn buổi trưa miễn phí). Nhiều loại học liệu ở trong máy tính, SGK để ở giá sách trên lớp. Khi cần học sinh lấy ra dùng (học sinh rất ít khi dùng SGK). Nếu học sinh nào muốn mượn SGK về nhà thì đến thư viện nhà trường (hầu như học sinh không mượn SGK, vì học sinh không phải học, không phải làm bài tập ở nhà và không có chuyện học thêm như ở Việt Nam). Sách giáo khoa lưu cố định hàng chục năm trên giá sách ở lớp. Có trường tôi đến thăm 5 năm chưa phải bổ sung thêm SGK (người ta đã giàu lại vô cùng tiết kiệm; còn chúng ta rất nghèo thì lại lãng phí hàng trăm tỷ in sách giáo khoa mỗi năm. Đó là chưa kể số tiền hàng chục tỷ vở ghi của học sinh nữa).
Ở Mỹ và Phương Tây theo tôi được biết và trực tiếp quan sát, vai trò SGK và việc ghi chép rất mờ nhạt (một số nước Bắc Âu học sinh không phải mang bút và vở ghi khi đến trường). Họ quan niệm, nền văn minh nông nghiệp phát minh ra chiếc bút lông sử dụng trong nền giáo dục buổi đầu của nhân loại. Nền văn minh công nghiệp (cách mạng công nghiệp lần thứ nhất) phát minh ra chiếc bút sắt, bút máy sử dụng trong giáo dục. Cách mạng công nghiệp lần thứ 2 phát minh ra bút bi. Cách mạng công nghiệp lần thứ 3 (cuộc cách mạng 3.0) phát minh ra máy tính. Giáo viên và học sinh sử dụng máy tính để dạy-học. Cuộc cách mạng lần thứ 4 (4.0) là cuộc cách mạng số. Nhà trường các nước tiến tiến đã và đang hoàn thành việc chuyển đổi số, học theo bài giảng số trong thế giới số. Học sinh không sử dụng bút. Học sinh sử dụng máy tính, thậm chí không cần gõ bàn phím vì âm thanh, tiếng nói của người dạy được máy tính chuyển thành dạng văn bản hiện ra trước mắt. Cho nên học sinh của họ không phải chép bài và không cần dùng bút. Bút lông, bút sắt là thành quả của nền giáo dục trong xã hội nông nghiệp và xã hội tiền công nghiệp. Bây giờ là thời đại công nghiệp 4.0 và xã hội 5.0. Nhà trường người ta ứng dụng cuộc cách mạng số trong dạy học. Không có lý gì người ta bắt học sinh phải mua SGK và mua vở ghi chép như chúng ta.
Dự giờ thăm lớp của họ tôi hiểu nhà trường, lớp học và thầy cô không còn là nơi, là người “độc quyền” dạy học. Dưới sự hướng dẫn của thầy, học sinh là trung tâm tự học trong thế giới số. Các em có thể tự thám hiểm hệ mặt trời qua cơ quan vũ trụ NASA, đi sâu vào lòng đất để khám hoạt động của núi lửa, tìm hiểu thế giới động thực vật trong lòng đất, trong đại dương qua kính thực tại ảo; nghiên cứu tế bào trong thế giới tự nhiên và con người qua cặp kính điện tử của nhà nghiên cứu với sự hỗ trợ của Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo. Lớp học của họ là lớp học không biên giới, được nối kết với thế giới số. Mỗi học sinh có một vài địa chỉ, tài khoản, mã số, ở đó có video các bài dạy theo khung chương trình do các nhà sư phạm giỏi nhất quốc gia hướng dẫn. Ở đó có những robot hấp dẫn hướng dẫn học sinh cùng chiếm lĩnh kiến thức. Người ta còn đang chuẩn bị cho ra mắt kính trực tiếp kết nối Internet, và một thế giới các thầy cô giáo ảo dạy học cho từng học sinh. Thầy cô giáo ở trên lớp chỉ là người cố vấn, tổ chức, hướng dẫn mà thôi…
Trong Ngày Hội Công nghệ Thông tin và Chuyển đổi số do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Trường Chuyên Nguyễn Huệ quận Hà Đông, Hà Nội tuần trước, một anh bạn có hỏi tôi: “Anh là cán bộ quản lý nhiều năm, cho em hỏi ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học cụ thể là ứng dụng cái gì? Và bây giờ ngành giáo dục lại yêu cầu chuyển đổi số thì chuyển đổi cái gì? Tôi giải thích, tôi không còn ở trong ngành giáo dục nữa, có thể có điều tôi đã lạc hậu. Nhưng theo tôi hiểu, ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường là việc sử dụng máy tính, các phần mềm máy tính và mạng Internet để hỗ trợ việc quản lý và giảng dạy trong trường học. Chẳng hạn như sử dụng phần mềm quản lý cán bộ, giáo viên, học sinh; phần mềm kế toán, phần mềm xếp thời khóa biểu, phần mềm vào điểm, chia điểm tổng kết học kỳ và năm học, phần mềm quản lý học bạ; cán bộ quản lý có thể nhận thông tin, yêu cầu của cấp trên và báo cáo cấp trên qua máy tính; giáo viên có thể sử dụng Powerpoint soạn giảng bài cho sinh động, dễ hiểu hơn… Còn chuyển đổi số là sự tiếp nối ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Nói nôm có nghĩa là số hóa các công việc của nhà trường. Cụ thể nhà quản lý giáo dục không còn phải làm công việc báo cáo nữa. Tất cả các số liệu về giáo viên và học sinh có ở trên mạng. Cấp nào cần cứ việc lấy ra mà phân tích, tổng hợp. Giáo viên có thể kiểm tra học sinh bất cứ lúc nào, thời điểm nào trong ngày mà không cần phải chấm điểm. Trí tuệ nhân tạo với các thuật toán tự động theo dõi sẽ đánh giá, phân tích điểm mạnh điểm yếu của học sinh. Tất cả học sinh sẽ được học qua video với những thầy cô giỏi nhất hoặc thầy cô dạy học trên cơ sở những bài giảng số chất lượng cao nhất trong thế giới số dạy học. Như vậy thầy cô chỉ đóng vai trò là người cố vấn, hướng dẫn, giải đáp cho học sinh ở trên lớp, để các em đi vào thế giới số học tập…
Theo tôi, công việc chuyển đổi số trong ngành giáo dục là một cuộc hành trình. Kéo dài bao nhiêu lâu thì tôi không biết. Mười năm? Hai mươi năm? Ba mươi năm? Tùy thuộc vào sự quan tâm đầu tư của xã hội. Chỉ biết việc ứng dụng công nghệ thông tin trên bình diện cả nước hiện tại vẫn còn gặp nhiều bất cập, vẫn chưa ổn. Việc chuyển đổi số mới bắt đầu trên đường lối, giấy tờ. Cuộc hành trình này thật sự là một cuộc cách mạng. Và cuộc cách mạng nào cũng có cái giá của nó. Tôi nói với anh bạn: “Chúng ta đang đi trên mây, nói về những điều trên mây. Bây giờ chúng ta phải trở về thực tại”.
Anh bạn tôi cần mua một bộ SGK cho cháu năm học tới. Cái gì chứ SGK, vở ghi chép tôi tin trên đường về, ở bất kỳ hiệu sách nào vào thời điểm này, mua bao nhiêu cũng có. Cơ chế thị trường mà! Một thị trường khổng lồ hơn 20.000.000 học sinh.
Nguyễn Nhu, Nguyễn Thị Điệp và 64 người khác
46 bình luận
9 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Đôi điều về mô hình dạy học 5E

Leave a Comment

 Đôi điều về mô hình dạy học 5E và quy trình 5 bước lên lớp

Có một thực tế mà các nhà quản lý giáo dục và giáo viên trong các trường học thường phàn nàn là một bộ phận học sinh không hứng thú học, hay nói khó nghe là học sinh không thích học, chán học. Tình trạng này đã diễn ra trong nhiều năm trở lại đây, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục. Mặc dù ngành giáo dục và các nhà trường đã có nhiều cố gắng cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong quá trình dạy học, nhưng xem ra vẫn chưa cải thiện được “hứng thú học tập của học sinh”. Cũng chính vì vậy chất lượng giáo dục thực chất còn xa mới đạt yêu cầu.
Tại sao học sinh không thích học? Có rất nhiều lý do (xin xem các bài viết về giáo dục của tôi trong trang Facebook này: Bao giờ giáo dục Việt Nam mới hội nhập được với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, Liệu cải cách giáo dục có đáp ứng được yêu cầu, Cảm nghĩ về kỳ thi tốt nghiệp THPT trong những ngày đại dịch). Trong các lý do dẫn đến học sinh chán học, theo tôi có một lý do thuộc về phương pháp dạy học. Ngoại trừ các tiết thao giảng, nhìn chung thầy cô ở các nhà trường vẫn truyền thụ giảng giải tri thức một chiều. Học sinh phải thụ động ghi chép nhiều để nhớ, để hiểu, để áp dụng. Tiết học nào cũng vậy, ngày học nào cũng vậy, Học sinh không chán mới là lạ.
Ngành giáo dục bao năm nay loay hoay cố gắng thoát ra khỏi tình trạng trên nhưng không thoát được ma trận sĩ số. 50 học sinh, thậm chí có nhà trường còn gần 60 học sinh trên một lớp học. Yêu cầu giáo viên áp dụng phương pháp tích cực, phương pháp hợp tác, dạy học nêu vấn đề, học tập theo nhóm, cá thể hóa học tập… Bao nhiêu công sức của giáo viên, học sinh vẫn chán học. Sĩ số quá lớn dẫn đến mâu thuẫn giữa số lượng và chất lượng. Giáo viên không thể giải quyết được mâu thuẫn này (các nước tiên tiến chỉ 10 đến 25 học sinh trên một lớp). Không thể trách giáo viên. Nói theo thuật ngữ quốc tế, họ phải “talk and chalk” (nói cùng với phấn viết) để giúp 50 học sinh hiểu nội dung bài giảng, thực tế đã là một thành công rồi.
Một nguyên nhân học sinh chán học nữa là vì học sinh là con đẻ của thời đại, thời đại công nghiệp 3.0, 4.0. Các em được thừa hưởng những thành tựu khoa học kỹ thuật trên các các phương tiện thông tin đại chúng vô cùng phong phú và hấp dẫn. Khi “phải” nghe giảng lý thuyết và ghi chép hết tiết này sang tiết khác, hết môn xã hội đến môn tự nhiên rồi kỹ thuật, công nghệ… Tất cả thuần lý thuyết suông nhồi nhét nên học sinh chán học là đúng. Nhà trường các nước tiên tiến người ta đã đưa công nghệ, khoa học vào nhà trường như máy tính (mỗi học sinh đều có một máy tính hoặc một máy tính bảng (nghèo không có thì nhà nước cấp), phim 3D, internet, thực tế ảo, robot thậm chí đưa cả máy in 3D, trí tuệ nhân tạo vào trong lớp học, còn giáo viên chúng ta chỉ có lời nói và phấn với bảng đen (các trường ở thành phố có đưa máy tính vào lớp học nhưng việc sử dụng ít hiệu quả).
Đến thăm và dự giờ một số trường học ở một số bang của Mỹ tôi mới thấy trường học của mình quá lạc hậu, lạc hậu về cơ sở vật chất, lạc hậu về phương pháp dạy học, lạc hậu về tâm lý sư phạm và mới thấy thương cho thầy trò của mình. Tôi nhận thấy mỗi ngày học của họ thật sự là một ngày vui, một ngày vui của cả thầy và của trò; còn của chúng ta hoàn toàn chỉ là khẩu hiệu, rất căng thẳng nặng nề. Một trong những điều dễ nhận thấy khi dự giờ thăm lớp tôi thấy giáo viên người ta không sử dụng 5 bước dạy học như chúng ta. Thay vào đó họ áp dụng mô hình dạy học 5E.
Mô hình dạy học 5E là một mô hình được các thầy cô giáo ở Mỹ áp dụng khá phổ biến trong giờ dạy các môn học tự nhiên, đặc biệt là trong giáo dục STEM (xin xem 8 bài viết của tôi trên trang mạng Diễn đàn giáo dục STEM ở trường trung học). Nó giống như 5 bước lên lớp, quy trình khép kín của một tiết dạy học tại các trường học phổ thông Việt Nam.
Theo tôi cả hai mô hình lên lớp đều có ý nghĩa khoa học và tác dụng nhất định. Tuy nhiên nó khác nhau về chất. Mô hình 5E dựa trên thuyết kiến tạo nhận thức (cognitive constructivism) trong quá trình học, một trong những lý thuyết mới giúp học sinh phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, vai trò trung tâm của người học. Còn 5 bước lên lớp truyền thống ở Việt Nam có từ khi khai sinh ra nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là sản phẩm của quá trình lên lớp truyền thống từ hơn 70 năm nay (đến nay vẫn không thay đổi, cải tiến. 5 bước đó là ổn định tổ chức (1-2 phút), bước đầu tiên chuẩn bị tâm thế bước vào tiết học. Bước kiểm tra bài cũ (2-3 phút) với quan niệm chỉ có kiểm tra thường xuyên mới thúc đẩy học sinh làm bài, học bài nghiêm túc. Tiếp theo là bước giảng bài mới (35-40 phút), đây là bước trọng tâm. Tiếp theo nữa là bước củng cố (2-3 phút). Bước cuối cùng là dặn dò (2-3 phút).
Quy trình 5 bước lên lớp ở Việt Nam suy cho cùng bản chất nó là hướng tới việc thầy cô xoay quanh truyền thụ kiến thức và giảng giải; trò ghi chép ghi nhớ để hiểu và vận dụng nhằm tối đa hóa tư duy bậc thấp trong thang nhận thức Bloom: Nhớ, hiểu, vận dụng.
Mô hình dạy học 5E ở Mỹ là một mô hình gọi theo 5 chữ cái đầu của 5 từ tiếng Anh: 1. Engage (Gắn kết). 2. Explore (Khảo sát, khám phá). 3. Explain (Giải thích). 4. Elaborate (Áp dụng cụ thể). 5. Evaluate (Đánh giá). Mô hình này ra đời vào năm 1987, được Tiến sĩ Rodger W. Bybee cùng với các cộng sự của ông đề xuất cho chương trình dạy học các môn sinh học ở bậc tiểu học của Mỹ, gọi tắt là mô hình 5E.
Mô hình 5E dựa trên lí thuyết kiến tạo về học tập, theo đó người học xây dựng kiến thức từ quá trình trải nghiệm thực tế, từ kiến thức đã có (xin xem các bài viết của tôi về giáo dục Mỹ trong trang Facebook này: Chọn trường mầm non cho Lâm, Thăm trường Tiểu học Russel, Thăm trường THCS Gentry, Thăm trường THPT Rock Bridge Columbia…). Mô hình này đã kế thừa từ sự phát triển của các mô hình giáo dục đã có trước đó. Mô hình thể hiện được đặc điểm của quá trình học khoa học cũng như tạo ra được sự gắn kết giữa các hoạt động trong lớp học.
Mô hình 5E ảnh hưởng sâu rộng đến với nhiều bộ môn khoa học như lý, hóa, sinh, đặc biệt đem lại hiệu quả đối với học sinh trong quá trình học các môn liên quan đến STEM (toán, khoa học, công nghệ, kỹ thuật) . Mô hình này lan truyền từ Mỹ đến nhiều quốc gia và châu lục, lan truyền đến nhiều trình độ dạy học khác nhau, từ tiểu học đến đại học.
Mô hình dạy học 5E gồm 5 giai đoạn và có những đặc điểm chính như sau:
- Engagement (Gắn kết)
Ở khâu này, về phía thầy, “người hướng dẫn” cần có sự hiểu biết về kiến thức sẵn có của học sinh và xác định khoảng trống kiến thức học sinh về những kiến thức mới. Khuyến khích học sinh quan tâm đến các khái niệm sắp học để học sinh sẵn sàng tìm hiểu. Giáo viên có thể hỏi, có thể khuyến khích học sinh tự đặt câu hỏi mở hoặc ghi lại những gì họ đã biết về chủ đề bài học; cần thu hút sự chú ý và quan tâm của học sinh, tạo không khí trong lớp học. Trên cơ sở đó giáo viên có thể giới thiệu rất ngắn gọn tổng quát kiến thức mới, khái niệm mới. Về phía học sinh, học sinh cảm thấy có sự liên hệ và kết nối với những kiến thức hoặc trải nghiệm trước khi học bài mới liên quan đến quá trình học. Nó cho phép học sinh gắn kết, liên hệ lại với các trải nghiệm và quan sát thực tế mà các em đã có trước đó.
Ở Việt Nam khâu này này tương đương với khâu ổn định tổ chức và kiểm tra bài cũ. Kiểm tra bài cũ của mình là nhằm theo dõi sự chuyên cần, kiểm tra xem học sinh học bài và làm bài như thế nào. Thực chất là giáo viên kiểm soát việc học thuộc kiến thức, áp dụng kiến thức, buộc học sinh tạo thành thói quen thụ động học thuộc lòng và vận dụng nhận kiến thức sách vở làm bài tập.
- Exploration (Khảo sát, khám phá)
Ở khâu này, học sinh được chủ động khám phá các khái niệm mới thông qua các trải nghiệm học tập cụ thể. Sau đó, giáo viên cung cấp kiến thức rất ngắn gọn hoặc trải nghiệm mang tính cơ bản, nền tảng, dựa vào đó các kiến thức mới bắt đầu được triển khai. Học sinh sẽ trực tiếp khám phá và thao tác trên nguyên vật liệu hoặc học cụ được chuẩn bị sẵn. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện các hoạt động như quan sát, làm thí nghiệm, thiết kế, thu thập số liệu.
- Explanation (Giải thích)
Ở khâu này, “người hướng dẫn” hướng dẫn học sinh tổng hợp kiến thức mới và đặt câu hỏi nếu họ cần làm rõ thêm. Tạo điều kiện cho học sinh được trình bày, miêu tả, phân tích các trải nghiệm hoặc quan sát thu nhận được ở bước Khảo sát, khám phá. Giới thiệu các thuật ngữ mới, khái niệm mới, công thức mới, giúp học sinh kết nối và thấy được sự liên hệ với trải nghiệm trước đó. Yêu cầu học sinh chia sẻ những gì mà các em đã học được trong giai đoạn Khảo sát, Khám phá trước khi giới thiệu thông tin chi tiết một cách trực tiếp hơn.
- Elaborate (Áp dụng cụ thể)
Tạo cho học sinh có được không gian áp dụng những gì đã học được. Giúp học sinh thực hành và vận dụng các kiến thức đã học được ở bước Giải thích, giúp học sinh làm sâu sắc hơn các hiểu biết, khéo léo hơn về kỹ năng, và có thể áp dụng được trong những tình huống và hoàn cảnh đa dạng. Điều này giúp các kiến thức trở nên sâu sắc hơn. Có thể yêu cầu học sinh trình bày chi tiết hoặc tiến hành khảo sát bổ sung để củng cố các kỹ năng mới; giúp học sinh củng cố kiến thức trước khi được đánh giá.
Ở 3 khâu khảo sát, giải thích, áp dụng trong mô hình 5E, nó tương ứng như bước giảng bài mới của Việt Nam (việc định hướng “giảng bài mới” ở Việt Nam về bản chất nó đã mang tính thông báo thông tin truyền thụ kiến thức, giảng giải kiến thức; học sinh thụ động thu nhận thông tin kiến thức). Rõ ràng ta thấy vai trò của học sinh trong lớp học 5E ở Mỹ hoàn toàn khác. Học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức bằng nhiều hình thức từ trải nghiệm tới trực tiếp khám phá qua quan sát, thí nghiệm, thiết kế, thu thập, rồi trình bày, miêu tả, phân tích... Còn khâu “giảng bài mới” ở Việt Nam, bản thân nó đã định hướng thầy giảng trò nghe (dù có phát vấn, chia nhóm, dù có áp dụng một số hình thức của phương pháp tích cực, hợp tác thì vẫn là định hướng thầy truyền đạt thông tin, trò phải nắm được thông tin một chiều theo nội dung bài giảng của thầy. Sau đó áp dụng làm bài tập cũng là để nắm chắc thông tin, chứ không áp dụng trong những tình huống của cuộc sống và những hoàn cảnh đa dạng thực tế.
- Evaluation (Đánh giá)
Ở giai đoạn cuối, giáo viên có thể đánh giá học sinh dưới nhiều hình thức như các bài kiểm tra, dưới dạng những câu hỏi nhanh. Đặc biệt có thể đánh giá qua quan sát học sinh trong hoạt động nhóm để xem sự tương tác của các em trong quá trình học. Cần lưu ý học sinh tiếp cận các vấn đề theo một cách khác dựa trên những gì họ học được để đánh giá. Các yếu tố của Giai đoạn Đánh giá bao gồm việc tự đánh giá (thông qua phiếu học tập tự nhận xét của học sinh học được cái gì), bài tập viết và bài tập trắc nghiệm, hoặc thông qua qua các sản phẩm học sinh làm ra… Giáo viên linh hoạt sử dụng các kỹ thuật đánh giá để nhận biết quá trình nhận thức và khả năng của từng học sinh, đưa ra các phương hướng điều chỉnh và hỗ trợ học sinh phù hợp, giúp học sinh đạt được các mục tiêu học tập đã đề ra (nếu học sinh không đạt yêu cầu các em phải học những giờ đặc biệt, có giáo viên chuyên biệt giảng dạy).
Khâu này tương ứng với khâu củng cố và dặn dò (5 phút) ở Việt Nam. Bản chất khâu củng cố dặn dò thực chất cũng là để kiểm tra lại kiến thức, thông tin học sinh đã thu nhận được; từ đó giáo viên bổ sung và củng cố thêm. Đồng thời hướng dẫn học sinh học bài, làm bài ở nhà và chuẩn bị cho việc học bài mới. Có nghĩa là trung tâm vẫn là thầy cô. Tất cả mọi điều học sinh cần phải thực hiện là thụ động làm theo yêu cầu của thầy. Cụ thể là việc đánh giá phải dựa trên cơ sở nhớ, hiểu và vận dụng làm bài tập. Nó khác về chất so với khâu đánh giá linh hoạt, toàn diện theo mô hình 5E. Mô hình 5E trở thành một công cụ hữu hiệu giúp cho người học tiếp nhận bài học có tính hệ thống, liền mạch, có cơ hội phát triển tâm lý tự khám phá và kiến tạo kiến thức.
Với giáo viên mô hình 5E giúp chuẩn bị bài giảng đơn giản và có tính hệ thống, giúp tạo được những hoạt động đa dạng cho học sinh trải nghiệm. Quy trình dạy học này giảm thời lượng dạy nhiều lý thuyết, tạo ra các hoạt động thực hành và khám phá. Với học sinh mô hình này tạo ra “một sự hiểu biết khoa học tốt hơn đáng kể so với cách học truyền thống”; giúp tăng đáng kể hiệu quả học tập và duy trì tính kết nối giữa các bài học khoa học. Nó hướng tới việc hình thành những kỹ năng tư duy bậc cao trong thang nhận thức Bloom: Phân tích, đánh giá, sáng tạo
Theo nhiều nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ, mô hình dạy học 5E là một cách tiếp cận có hệ thống, giúp phát huy vài trò trung tâm của người học. Ở mô hình này, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, gợi mở và tạo các cơ hội cho học sinh được tiếp cận kiến thức mới, các khái niệm mới ở dưới nhiều góc độ với mức độ khác nhau và cải thiện được tình trạng chán học hiện nay của một bộ phận học sinh. Ignacio Estrada nhà triết học, nhà giáo dục học có nói nếu trẻ không thể học theo cách chúng ta dạy, có lẽ chúng ta nên dạy theo cách mà chúng học ( If a child can’t learn the way we teach, maybe we should teach the way they learn). Với tinh thần này, tôi nghĩ mô hình dạy học 5E là một mô hình đáng để giáo viên Việt Nam tham khảo và học hỏi.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.