Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Về A Bia và Tướng Chu Phương Đới

Leave a Comment

 Về A Bia và về Tướng Chu Phương Đới

Hôm nay tôi nhận được tin vui từ anh Vũ Thành, nhân dịp 77 năm ngày thành Lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra quyết định công nhận Đồi A Bia tại Xã Hồng Bắc huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế là di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Đây là tin vui làm ấm lòng tất cả các cựu chiến binh Trung đoàn 3 Sư 324 nói riêng và tất cả các cựu chiến binh Sư đoàn 324 nói chung. Xin cảm ơn Đảng bộ, Chính quyền huyện A Lưới, Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế và các cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắng để nhà nước ghi nhận giá trị của một chiến dịch đã diễn ra từ 52 năm trước.
Tôi đã viết khoảng một chục bài về trận đánh có liên quan đến Đồi A Bia trong Hội thảo 50 năm chiến thắng A Bia do Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân Huyện A Lưới và các cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức. Tôi cũng viết một số bài về A Bia ở các góc độ khác nhau trên Facebook nên không viết thêm về trận đánh mà lính Mỹ gọi là trận Đồi Thịt Băm. Chỉ xin khái quát một vài nét chính.
Phía Mỹ gọi trận đánh trên Đồi A Bia là Chiến dịch Tuyết rơi trên đỉnh A Pát. Phía Việt Nam gọi là Chiến dịch A Bia (tên ngọn núi ở xã Hồng Bắc). Lực lượng tham chiến phía Mỹ có Lữ đoàn dù 3 thuộc Sư đoàn dù 101, bao gồm 3 tiểu đoàn và một tiểu đoàn ngụy với 1800 quân. Kẻ địch đã huy động một lực lượng lớn không quân kể cả lực lượng không quân chiến lược B52 và pháo binh với 270 phi vụ ném bom, 890 tấn bom phá, 115 tấn bom cháy; 10 tiểu đoàn pháo binh với 19.213 viên đạn, kể cả đạn hóa học; cùng với khoảng 900 quả rốc két. Lực lượng tham chiến phía Quân giải phóng miền Nam là Trung đoàn 3 Sư 324. Như vậy, ước chừng mỗi ngưởi lính Trung đoàn 3 trong trận A Bia phải chịu một tấn bom, 19 quả đạn pháo và 1 quả rốc két.
Thời gian diễn ra chiến dịch không dài, 10 ngày, từ ngày 10/5/1969 đếm 20/5/1969. Không gian diễn ra trân đánh trên một phạm vi không rộng, một dãy núi với ba mỏm cao 937, 916 và 903. Lực lượng hai bên không lớn, kẻ địch cấp lữ đoàn và ta cấp trung đoàn. Vậy mà phía Mỹ đánh giá đây là một trong những trận đánh “khủng khiếp nhất, đẫm máu nhất, ác liệt nhất và kéo dài liên tục nhất trong lịch sử chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam”.
Theo các sử gia trong cuốn Lịch sử Chiến tranh Hoa Kỳ ở Việt Nam, trận đánh trên Đồi A Bia đã làm thay đổi phương thức tác chiến của Quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam. Sau Đồi Thịt băm, Đại tướng Abram, Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam đã ra lệnh ngừng chính sách gây áp lực tối đa tìm diệt quân giải phóng và Quân đội Mỹ chỉ được phép tấn công khi bị đe dọa để hạn chế mức thương vong tối thiểu trên chiến trường.
Về chính trị, trận đánh A Bia khiến quốc hội Mỹ chia làm 2 phe chống đối nhau quyết liệt. Lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, quốc hội Mỹ lên án giới quân sự, chống đối các tướng lĩnh chỉ huy trên chiến trường miền Nam; thậm chí họ yêu cầu các tướng lĩnh hãy cầm vũ khí, đi trước binh lính, lên Đồi A Bia để tỏ rõ lòng dũng cảm theo phong cách binh nghiệp, không được để binh lính Mỹ chết vô nghĩa trên một ngọn núi xa xôi ở Việt Nam. Trận đánh A Bia còn khiến hàng triệu người dân Mỹ xuống đường biểu tình chống chiến tranh, đòi rút quân Mỹ về nước.
Các sử gia Mỹ gọi A Bia là một cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ. Họ ví hậu quả của Trận Đồi Thịt băm không khác gì cuộc Tổng Tấn công và nổi dậy Xuân năm 1968. Trận đánh không những mang tầm vóc chiến dịch mà còn mang tầm vóc chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến ở trường miền Nam. Rất đáng tiếc phía Việt Nam trước đây không thấy hết được ý nghĩa to lớn và giá trị chính trị, quân sự mà trận đánh trên Đồi A Bia đem lại.
Sau hơn 50 năm, chúng ta đã có điều kiện nhìn nhận lại hiện thực lịch sử từ phía bên kia chiến tuyến. Nhà nước đã công nhận giá trị to lớn của chiến thắng A Bia, chính thức công nhận A Bia là di tích lịch sử cấp quốc gia.Tôi rất vui, nhưng vẫn ngậm ngùi. Giá mà Thủ trưởng Chu Phương Đới, Thủ trưởng Ma Vĩnh Lan và một số các cán bộ chiến sỹ Trung 3 còn sống đến ngày hôm nay.
Thiếu tướng Chu Phương Đới sinh năm 1922 tại xã Hưng Đạo, Hòa an, Cao Bằng. Ngày 19/2/1946 chàng thanh niên Chu Phương Đới tham gia cách mạng. Tháng 6/1946 là Trung đội trưởng Trung đội Hoàng Su Phì ở Hà Giang. Tháng 1/1947 được đề bạt làm Đại đội trưởng. Trong Chiến dich Biên giới năm 1950, ở trận chiến Đông Khê người thanh niên dân tộc người Tày được bổ nhiệm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154, Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 308. Tháng 11/1951 được điều động làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141 Đại đoàn 312. Tháng 9/1953 đảm nhiệm Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn. Sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Sau năm 1954, miền Bắc đi lên Chủ nghĩa xã hội, miến Nam tiếp tục làm nhiệm vụ cách mạng dân tộc. Tháng 12/1955 Chu Phương Đới là Tham mưu trưởng Sư đoàn 316. Sau khi tốt nghiệp Học viện Cao cấp Bộ Quốc phòng, ông trở về làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316. Từ giữa những năm 1960, Chu Phương Đới được giao đảm nhiệm Tư lệnh phó Sư đoàn 324. Ông cùng Sư đoàn ra quân đánh Mỹ đầu tiên trên chiến trường miền tây Quảng Trị. Các đơn vị thuộc sư đoàn đã tiêu diệt căn cứ Đầu Mầu, đánh bại một số cuộc hành quân càn quét của các đơn vị Sư đoàn Thủy lục chiến Mỹ phía tây Quảng trị; đánh chiếm căn cứ Cù Đinh, Ba De mở ra thời kỳ mới thu hút chủ lực Mỹ ngụy ra Mặt trận đường 9 để tiêu diệt. Tháng 12/1967 ông là Tư lênh Sư 325 vào Mặt trận B3 Tây Nguyên. Tháng 12/1968 ông trở lại làm Tư lệnh Sư đoàn 324 và gắn bó với sư đoàn mãi cho đến đầu những năm 1970.
Trong Chiến dịch A Bia Thủ trưởng Chu Phương Đới và Thủ trưởng Trần Văn Ân (Chính ủy Sư đoàn) được Quân khu Trị Thiên giao nhiệm vụ chốt giữ khu vực A Bia, bảo vệ tuyến đường huyết mạch Hồ Chí Minh chạy qua phía bắc Thung lũng A Sầu. Ông đã cân nhắc rất kỹ khi giao nhiệm vụ chốt giữ cho Trung đoàn 3, trung đoàn đã quần nhau các đơn vị Thủy quân lục chiến trong suốt hai năm 1966 và 1967. Ông tin tưởng Trung đoàn Trưởng Ma Vĩnh Lan và các cán bộ chiến sỹ trung đoàn đã có kinh nghiệm chốt, vận động tấn công quân Mỹ ở khu vực rừng núi, có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Thủ trưởng Chu Phương Đới đã cùng phân đội trinh sát sư đoàn, trinh sát trung đoàn và đoàn cán bộ Trung đoàn 3 đi trinh sát thực địa hàng tháng ở khu vực A Bia và xung quanh A Bia. Ông sinh ra ở miền rừng núi, trải qua hàng trăm trận đánh từ chống pháp đến chống Mỹ cũng ở vùng rừng núi nên rất quen với địa hình rừng núi. Ông yêu cầu trinh sát cả ban ngày lẫn ban đêm để cán bộ, chiến sỹ quen và thông thuộc địa hình, dựa vào địa hình hiểm trở rừng núi để xây dựng chốt, để ém quân vận động tấn công bảo vệ chốt ban ngày cũng như đêm.
Sau đợt trinh sát chung, ông yêu cầu cán bộ trung đoàn và tiểu đoàn tiếp tục trinh sát sâu từng khu vực riêng dự kiến được phân công. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Nguyễn Ninh chịu trách nhiệm giữ chốt liên hoàn theo tuyến chiều sâu, từ chân núi đến đỉnh 937 A Bia. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Tăng Văn Miêu cơ động tấn công quân Mỹ theo hướng tây nam A Bia. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 Võ Vượng cơ động tấn công theo hướng đông bắc A Bia.
Ông đã yêu cầu các tiểu đoàn, đại đội, đến trung đội sau khi chiếm lĩnh trận địa lại tiếp tục thực địa để nắm chắc địa hình, địa điểm trú quân, dự định đường cơ đông tiến quân, rút quân; thậm chí các đại đội, trung đội, tiểu đội phải thực diễn giả định chiến đấu trong tình huống ban ngày, ban đêm theo phương án tác chiến. Ông luôn nhắc nhở cán bộ chiến sỹ phải nắm chắc khoảng cách giữa các vạt rừng, mỏm đá, chướng ngại vật, thậm chí nắm được những thân cây lớn để tận dụng trong chiến đấu, cũng như ứng phó nếu tình huống bất ngờ xảy ra.
Ông chỉ đạo Công binh Sư đoàn, Trung đoàn chạy đua với thời gian xây dựng và bố trí hệ thống chốt liên hoàn, chốt kiềng ba chân, giao thông hào giữa các chốt. Đặc biệt xây dựng hầm chốt chữ A, bên trong có hầm moi; phải đảm bảo “bom nổ bên cạnh, pháo nổ bên trên không gây thương vong” cho cán bộ chiến sỹ. Cùng với đó là hệ thống công sự chiến đấu, công sự hỏa lực, công sự chỉ huy, công tác hậu cần, quân y, công tác thương binh tử sỹ…
Có lần tại bệnh viện Y học Dân tộc, ông tâm sự, suốt cuộc đời cầm quân, bao giờ ông cũng vào trận với tinh thần chủ động. A Bia là một trong những trận ông cân nhắc chuẩn bị kỹ càng nhất về mọi mặt, đặc biệt là việc chọn địa hình bố trí trận địa đánh địch. Ông đã dự kiến tình huống đơn vị chốt phải rút khỏi trận địa sang bên kia biên giới Lào.
Trận A Bia ông chỉ để mất gần 100 cán bộ chiến sỹ so với ước lượng của kẻ thù là gần 1000 người. Ở hướng chính, trong 10 ngày có tới 7 cuộc tấn công cấp đại đội, tiểu đoàn…Trước mỗi cuộc tiến công, bom đạn chúng trút xuống hủy diệt hàng giờ. Chúng cho rằng không một sinh vật nào có thể sống sót. Đất đá bị nghiền vụn như bột khoảng nửa mét. Vậy mà A Bia vẫn cứ lì lợm đứng vững với phương châm chốt, vận động tấn công và vận động tấn công kết hợp chốt.
Sau chiến thắng A Bia, ông lại bắt tay ngay vào việc chỉ đạo Chiến dịch 935- Cốc Bai. Ông trực tiếp đi trinh sát cùng với trinh sát Trung đoàn 1. Ông giao cho Tư lệnh phó Sư đoàn Mai Hiền đi trinh sát cùng với Trung đoàn 3. Theo Thiếu tướng Lê Huy Mai trong cuốn Hồi ký từ Châu thổ sông Hồng đến sông Hương xứ Huế, từ cuối tháng 5 và đầu tháng 6 năm 1970, Sư trưởng Chu Phương Đới cùng các cán bộ của Trung đoàn 1 đi trinh sát địa hình, nghiên cứu tình hình địch, xây dựng phương án tác chiến ở các khu vực điểm cao 935, điểm cao 902, điểm cao 805, dốc Mây…
Khi đoàn cán bộ tới một hang đá nằm ở phía tây điểm cao 805 thì trời đã chiều muộn. Hang đá này nằm dưới chân núi, cách lòng suối khoảng 20m. Hang rộng rãi, trần cao, cửa ra vào kín đáo. Phân đội 30 người trú ẩn rất thoải mái, an toàn. Khoảng nửa đêm, mọi người đang ngủ say, bỗng nước ào ào ùa vào, cuốn theo những tảng đá lăn vào thành hang lộc cộc. Chỉ trong giây phút, nước ngập kín cửa hang. Mọi người đều bất ngờ, luống cuống. Thủ trường Đới hét lên: “Bình bĩnh! Bình tĩnh!”
Một số cán bộ chiến sỹ dùng đèn pin soi để chạy ra hướng cửa hang, cố thoát ra ngoài. Nhưng lại gặp anh em ở cửa hang chạy vào. Một người trong đó lên tiếng: “Nguy quá! Không thể ra được”. Tất cả đều lo lắng, lúng túng không biết xử trí ra sao. Thủ trưởng Đới quay tròn ánh đèn pin vào sâu bên trong hang:
- Các anh khẩn trương theo tôi!
Tất cả đoàn bỏ lại đồ đạc cá nhân, xách súng bám theo Sư đoàn trưởng, đi sâu vào trong hang đá, leo lên cao, lần lượt thoát ra ngoài qua một cửa hang nhỏ trên lưng chừng núi. Đêm đó trời tối đen. Chỉ nghe tiếng nước gầm rú bên dưới. Sáng hôm sau, một vài người được vệ binh sư đoàn cho biết, chiều hôm trước đoàn đến hang, mọi người tất bật việc riêng của mình. Một mình Thủ trưởng Đới đi khắp mọi ngõ ngách trong hang để xem xét. Ông tìm thấy một ngách ra, để rồi dẫn mọi người thoát hiểm. Trong cuốn hồi ký của mình, Thủ trưởng Mai viết: “Tôi biết ơn và kính trọng Sư đoàn trưởng đức độ, sâu sát, kiên cường, người từng trải đã cho cán bộ chiến sỹ một kinh nghiệm quý báu, một bài học thực tiễn nhớ mãi”.
Sau hàng tháng trinh sát, vào giữa tháng 6/1970 Sư trưởng Chu Phương Đới giao nhiệm vụ cho 3 trung đoàn. Trung đoàn 1 đảm nhiệm hướng chủ yếu bao vây tiến công hướng tây nam căn cứ 935, sẵn sàng dứt điểm 935; đồng thời chuẩn bị tiêu diệt quân Mỹ đến giải tỏa ở các khu vực điểm cao 902, 805, Dốc Mây. Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 6 bao vây hướng bắc căn cứ 935. Trung đoàn 3 đánh địch ngoài công sự ở khu vực Cô Pung, Cốc Muộn, điểm cao 1478…
Ngày 1/7 Chiến dịch 935- Cốc Bai bắt đầu. Sau 23 ngày đêm Quân Mỹ đã phải tháo chạy. Kết quả trân đánh như người Mỹ đã viết: “Trước khi căn cứ Ripcord (935) có thể trở thành một trận Điện Biên Phủ của người Mỹ, Sư đoàn Dù 101 đã làm cái điều mà Quân đội Mỹ chưa bao giờ làm ở miền Nam: Rút lui khỏi trận đánh lớn, ra lệnh sơ tán và tiến hành không kích phá hủy căn cứ. Ripcord đã trở thành biểu tương mang ý nghĩa ẩn dụ bi thảm cho toàn bộ cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Ripcord cũng là trận chiến lớn cuối cùng mà bộ binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Nó đánh dấu sự kết thúc thời kỳ quân đội Mỹ trực tiếp can dự trên chiến trường.
Về Chiến dịch 935- Cốc Bai, trong đó có trận đánh lớn cuối cùng của Quân đội Mỹ trên căn cứ 935 trong chiến tranh Việt Nam, phía Việt Nam chưa đánh giá hết tầm quan trọng của thắng lợi này, mặc dầu Quân ủy Trung ương có viết thư khen ngợi sư đoàn, mặc dù các nhà quân sự, các tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh về trận đánh trong cuốn Lịch sử Sư đoàn 324, bộ Lịch sử chiến tranh chống Mỹ và một số hồi ký của các tướng tá trong sư đoàn. Theo chỗ tôi biết, người Mỹ ít nhất đã viết tới bốn cuốn sách về trận đánh này. Trong số đó có hai cuốn ba đến bốn trăm trang (cuốn Đại bàng gào thét trong vòng vây của Keith Nolan và cuốn Địa ngục trên đỉnh đồi của Thiếu tướng Benjamin L.Harrison, nguyên chỉ huy Lữ đoàn 3 trong trận đánh ở căn cứ 935) để nói về thất bại và nguyên nhân thất bại của họ.
Như vậy Thủ trưởng Đới là người đầu tiên chỉ huy đánh Mỹ trên chiến trường Trị Thiên và cơ bản cũng là người chỉ huy cuối cùng khép lại cuộc chiến tranh của Mỹ trên chiến trường Trị Thiên. Ông là người chuẩn bị và là chỉ huy tối cao đã chiến thắng hai trận đánh kinh điển trong số năm trận đánh kinh điển của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam.
Khi Thiếu tướng, Tiến sỹ khoa học Quân sự Mỹ Benjamin L.Harrison, nguyên chỉ huy Lữ đoàn 3 trong trận đánh ở Căn cứ 935 đến Việt Nam, lên phỏng vấn Tướng Chu Phương Đới ở Cao Bằng để viết cuốn Địa ngục trên đỉnh đồi (Tướng Chu Phương Đới không về Hà Nội gặp đoàn Mỹ). Ông cũng không nhận lời người Mỹ dự tiệc ở khách sạn, ông mời đối thủ, cựu thù dùng bữa tại nhà riêng với tư cách là chủ nhà tiếp khách. Họ đã bàn luận với nhau rất nhiều điều. Từ những nguyên nhân thất bại của người Pháp trong Chiến dịch Biên giới, Chiến dịch Điện Biên Phủ mà Tướng Đới tham gia, đến chuyện Chiến dịch A Bia, 935. Trong đó có một câu hỏi khá thú vị của nguyên chỉ huy Lữ đoàn 3 trong trận đánh 935: “Nếu chúng tôi không rút khỏi Ripcord thì ông sẽ tính như thế nào”. Tướng Đới trả lời: “Giống như Điện Biên Phủ”. Thật thú vị! Câu trả lời của Tướng Đới đúng như người Mỹ đã nhận định: “Trước khi căn cứ Ripcord (935) có thể trở thành một trận Điện Biên Phủ của người Mỹ, Sư đoàn Dù 101 đã làm cái điều mà Quân đội Mỹ chưa bao giờ làm ở miền Nam: Rút lui khỏi trận đánh lớn”.
Có lẽ đánh giá về Tướng Chu Phương Đới, tôi nghĩ để khách quan nên trích dẫn lời của người phía bên kia chiến tuyến, lời của đối thủ, lời của kẻ thù trong cuộc đối đầu một mất một còn với ông. Tướng Mỹ Benjamin L.Harrison đã viết trong tấm ảnh đề tặng Tướng Chu Phương Đới. Những dòng chữ của Benjamin đáng để mọi người suy ngẫm về phẩm chất của một con người: “Kính tặng ngài Thiếu tướng Chu Phương Đới, một chiến binh lỗi lạc trong trận đánh ở Căn cứ Ripcord (935) và A Bia với tấm lòng kính trọng và chiêm ngưỡng”.
Tôi đã nhiều lần lên Cao Bằng, một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt nam, nơi tiếp giáp Khu Tự trị người Choang thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc với đường biên dài trên 334,4km. Tôi còn nhớ những lần cùng một số anh em cựu chiến binh Sư đoàn 324 đến thăm Tướng Chu Phương Đới, người con ưu tú của dân tôc Tày, người anh hùng của rừng núi Trị Thiên, người bạn của các dân tộc Lào. Từ đó tôi rất có cảm tình với ông.
Năm 2006 khi Tướng Chu Đới nằm ở Bệnh viện Y học Dân tộc Quân đội tại Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội, tôi đã cùng đoàn cán bộ chiến sĩ cựu chiến binh Hà Nội thuộc sư 324 đến thăm hỏi bệnh tình ông. Lúc đó ông vẫn khỏe, còn kể lại cho chúng tôi nghe thời hoạt đông cách mạng, thời trai trẻ đánh Pháp ở chiến khu và trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông cũng kể cho chúng tôi nghe thời kỳ học ở Học viện quân sự Nga, ông chọn một đề tài giả định gây sốc cho toàn học viện. Đó là cuộc chiến tranh xâm lược do Trung Quốc phát động mà ông là chỉ huy một quân đoàn phụ trách bảo vệ vùng biên cương hai tỉnh Cao bằng và Lạng Sơn. Lúc đó ông buồn rầu nói: “Thế mà sau đó có chiến tranh thật”.
Tôi rất tò mò về đề tài này. Tôi hỏi ông “Tại sao ông lại giả định về cuộc chiến tranh Trung - Việt”. Ông mỉm cười: “Mình cũng chỉ nhân đọc về cuộc chiến Trung – Ấn và cuộc chiến Trung – Xô mà nảy ra ý nghĩ đó thôi”. Trầm ngâm một lát ông nói tiếp: “Nhưng có lẽ từ trong ký ức lịch sử dân tộc, mình có cái cảm giác Tầu có thể đánh mình, mặc dù chưa rõ lắm”.
Tôi rất ấn tượng với phong cách điềm đạm, cởi mở, quần chúng của vị tướng này. Hôm đó ông vẫn còn vỗ tay theo anh em chúng tôi hát bài hát “Vang mãi khúc quân hành”: Đời mình là một khúc quân hành, đời mình là bài ca chiến đấu, ta ca vang, triền miên qua tháng ngày… Chúng tôi hát, hát say sưa để ngợi ca, tưởng nhớ những người lính và cũng để tôn vinh cuộc đời binh nghiệp của ông.
Năm 2007 tôi cùng anh em cựu chiến binh thuộc Trung đoàn 3 ở Hà Nội lên Cao Bằng thăm ông. Lúc đến nhà ông, trời về chiều, chỉ còn vài tia nắng nhạt nhòa. Chúng tôi đều ngỡ ngàng, ngậm ngùi. Ba gian nhà ngói nhỏ bé ông ở cùng gia đình hòa lẫn với tất cả những ngôi nhà xung quanh bản người Tày. Trước ngôi nhà còn có một khoảng sân lát gạch nung cũ kỹ. Cách sân vài mét là hàng rào cây gốc tần, ô rô. Trong cái khoảng trống tạm gọi là khu vườn, các đồng đội của ông đã trồng một ít thanh long, một số loại cây ăn quả và hoa đặc trưng của các vùng miền khi về thăm ông.
Bước vào nhà, tôi thấy tất cả mọi thứ đều rất đơn sơ, giản dị. Từ nền gạch hoa bằng xi măng xa xưa cái thời bao cấp đến mọi đồ vật bày biện trong nhà đều không có dấu hiệu gì là nhà của một ông Tướng. Cái tủ ba ngăn kê sát vách giữa nhà đồng thời là giường thờ, bên trên có bát hương thờ ảnh Bác Hồ. Trước tủ là một bộ bàn ghế tràng kỷ như của bao gia đình nông thôn Việt Nam. Ông ngồi trên giường, người trông gầy sọp. Bên cạnh ông, Tướng Minh Long, người đồng đội gắn bó với ông nhiều năm ở chiến trường Trị Thiên, từ Thành Phố Hồ Chí Minh lên Cao Bằng chăm sóc ông như người em ruột. Tướng Minh Long phải quàng tay ôm đỡ lấy ông ngồi dậy.
Ông bắt tay từng người trong đoàn. Đến lượt tôi, tôi chúc ông nhanh chóng khỏe mạnh, để lần sau cùng anh em chúng tôi lên thăm hang Pác Pó, thác Bản Giốc. Ông dường như không muốn rời tay tôi. Đôi mắt ông nhìn tôi rất lạ, giống như ánh mắt níu kéo của cụ tôi, bà tôi nhìn người thân trước lúc đi xa. Linh cảm mách tôi chuyện chẳng lành. Đúng như vậy, khoảng nửa đêm hôm đó, chúng tôi nhận được tin ông mất.
Ngày hôm sau, Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, các đoàn đại diện cho Đảng và nhà nước Lào (tháng 6/1978 đến 2/1981 Tướng Đới là Tư lệnh phó và Tư lệnh Binh đoàn 678 sang Lào làm nhiệm vụ quốc tế, tiễu phỉ trừ gian, giúp Lào bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng) các địa phương, người thân, làng xóm, bạn bè, anh em đồng chí ở trong và ngoài nước khắp ba miền Bắc, Trung, Nam đổ về đưa tiễn Tướng Chu Phương Đới tới nơi an nghỉ cuối cùng.
Tôi biết còn có nhiều người không có điều kiện về Cao Bằng vĩnh biệt người chỉ huy, vị tướng của các vị tướng, người đồng chí, đồng đội trong suốt hai cuộc kháng chiến. Họ sẽ đưa tiễn ông theo cách riêng của mình. Tôi biết ông không phải là vị tướng có cấp bậc cao, không phải là vị tướng thật xuất sắc, nhưng biết bao tướng tá thuộc Sư đoàn Kỵ binh bay, Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Sư đoàn dù Mỹ sau này khi gặp ông và nói về ông với niềm kính trọng, kinh ngạc trước ý chí, tài thao lược của ông. Sự ra đi của ông khiến nhiều người trong chúng tôi không cầm được nước mắt. Cả một đời binh nghiệp, qua hai cuộc kháng chiến, trải qua hàng trăm trận đánh với đội quân viễn chinh Pháp và đội quân nhà nghề khét tiếng của đế quốc Mỹ, công lao với quân đội với dân tộc là không nhỏ, nhưng ông về hưu sống thuần với đồng lương hưu, sống một cuộc sống thanh bạch, tĩnh lặng ở một làng dân tộc hẻo lánh. Tôi kính trọng ông vì ông vẫn ấp ủ một mơ ước cho tới trước lúc qua đời, đó là có đủ tư liệu để viết một cuốn sách về người Âu Việt mà có thể hậu duệ sau này là người Tày. Ước mơ đẹp đẽ đó cũng đã theo ông về bên kia thế giới.
Tôi biết đơn vị chính sách quân đội đã xây dựng cho Tướng Chu Phương Đới một căn nhà dưỡng già. Thế nhưng ông lại đem tặng ngôi nhà đó để làm trường mầm non cho các cháu tại quê hương. Tôi cứ tự hỏi mình tại sao có nhiều người lính già lại rơi lệ, thậm chí nức nở trong đám tang ông. Nước mắt những người lính này đã khô cạn trong mấy chục năm chinh chiến rồi. Họ đâu có dư nước mắt!
Hôm nay, xin báo cáo với Thủ trưởng và các liệt sỹ Trung đoàn 3, A Bia đã được Nhà nước công nhận là di tích cấp quốc gia. Tôi nghĩ sớm muộn 935 Ripcord cũng sẽ được công nhận là di tích cấp quốc gia. Mong rằng 22/12 năm nay, Thủ trưởng và các liệt sỹ đã hy sinh trong trận A Bia chắc sẽ rất vui, cũng như tất cả các cựu chiến binh Sư đoàn 324 rất vui trong ngày lễ trọng đại này của dân tộc.
Nguyen Bich Thuy, Mai Mai và 102 người khác
68 bình luận
15 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Thủ trưởng Mai Hiền

Leave a Comment

 Thủ trưởng Mai Hiền

Vào một buổi sáng cách đây khoảng hai chục năm, tôi và cậu tôi có việc đi qua nhà ông Triệu Đình Trụ. Trông thấy ông chủ nhà và một người vận quân phục cũ đang ngồi câu cá, cậu kéo tôi dừng lại: “Huệ này, trông giống Thủ trưởng Mai Hiền lắm. Không biết có phải không. Để cậu thử xem”. Cậu tôi đọc hai câu thơ mà nhiều người lính thuộc Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 trong những năm 70 ở Chiến trường Trị Thiên đều biết đến: “Mai Hiền đại tá chưa phong, Cốc Bai chưa rút đừng hòng mà ra”. Đại tá Mai Hiền ngẩng đầu nhìn chúng tôi, nét mặt rạng rỡ: “Các cậu ở Sư 324. Đơn vị nào thế”.
Hôm ấy Đại tá Mai Hiền đến thăm người bạn vào sinh ra tử và cũng là người đã từng cứu ông thoát khỏi lưỡi hái tử thần khi ông bị trọng thương trong Chiến dịch Biên giới năm 1950. Chúng tôi quá bất ngờ. Cùng làng nên biết ông Triệu Trụ từng đi Pháp và có thời gian tham gia kháng chiến. Nhưng điều chúng tôi không ngờ người bạn “phó thường dân” của Thủ trưởng Mai Hiền năm 1939 sang Pháp học Y sỹ. Học xong ông tham gia đoàn quân chiến sỹ quốc tế, theo quân Đồng minh tiến công Phát xít Ý rồi tiến vào Beclin. Kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ 2, ông tham gia hội Việt kiều kín, kéo cờ tại một cơ sở ở Pari nhân Cách mạng tháng Tám thành công. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tạm ước 14/9/1946 nhằm bảo vệ Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, cứu vãn Hội nghị Fontainebleau và kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá để chuẩn bị kháng chiến, Bác cùng một số trí thức, trong đó có Triệu Trụ trở về nước trên cùng một chuyến tàu…
Ngày 20/10/1946 ông Triệu Trụ gia nhập Vệ quốc đoàn. Sau những ngày chiến đấu ở ô Cầu Dền, Nhà thương Vọng, Việt Nam học xá, Vĩnh Tuy, Yên Phụ trong những ngày toàn quốc kháng chiến tại mặt trận Hà Nội, ông cùng đoàn quân rút lên chiến khu Việt Bắc. Ông được Cục trưởng Cục Quân y Vũ Văn Cẩn phân công nhiệm vụ xây dựng mạng lưới quân y ở Thái Nguyên. Nhưng ông Triệu Trụ thích trở thành một người lính hơn là người phục vụ chiến đấu. Năm 1947, 1948 ông tham gia nhiều trận đánh với đội quân Lê dương của Pháp ở tình Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Mai Hiền và Triệu Trụ đã trở thành những người bạn từ đó.
Tháng 7/1950 họ tham gia Chiến dịch Biên giới, trực tiếp tấn công cụm cứ điểm Đông Khê, một hệ thống phòng thủ của Pháp ở phòng tuyến Cao-Bắc-Lạng. Đông Xuân 1950-1951 tham gia Chiến dịch Trung du. Tháng12/1951- 2/1952 tham gia Chiến dịch Hòa Bình đột phá khu phòng ngự sông Đà, đánh tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ. Trong Chiến cục Đông Xuân năm 1953-1954 hai ông đã tham gia hàng chục trận đánh với cương vị chỉ huy trung đội, đại đội, và tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử với cương vị cán bộ chỉ huy tiểu đoàn. Năm 1955 vì lý do gia đình, Triệu Trụ xin phục viên về quê, còn Mai Hiền tiếp tục trong quân ngũ, theo học ở các trường quân sự cấp cao trong, ngoài nước.
Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ khi Thủ trưởng Mai Hiền cho biết ông Triệu Trụ được tặng nhiều giấy khen, bằng khen, 4 huân chương chiến công trong 9 năm kháng chiến cống pháp. Không ai ở làng biết chuyện này. Mọi người chỉ biết ông là một y sỹ giỏi, tận tình chữa trị bệnh cho dân làng từ trẻ đến già trong nhiều năm phụ trách trạm y tế của xã. Ông chỉ chuyên tâm công tác chuyên môn, không tham gia bất kỳ một công tác xã hội nào.
Vì mắc công việc riêng, chuyện xã giao một lúc chúng tôi xin phép hai ông ra về. Thủ trưởng Mai Hiền mời ông Trụ và chúng tôi đến nhà ông chơi vào mấy ngày sau đó. Có lẽ không ở trong quân ngũ những năm chống Mỹ thì chúng tôi không thể lý giải được tình bạn giữa hai người. Hai hoàn cảnh, hai địa vị xã hội, trải qua bao năm tháng thăng trầm nhưng họ vẫn đến với nhau, một vị đại tá, một phó thường dân “khác người, kín tiếng”.
Trong cái cơ chế thị trường đầy biến động này, đồng tiền, địa vị, danh lợi và bao nhiêu mặt trái đáng buồn nổi lên như sóng cồn. Nhưng những con người như họ không bị hoàn cảnh tác động. Tôi được biết khi có công việc to nhỏ, những khi trống vắng họ lại đến với nhau. Khi tôi quay trở về nhà hôm đó vẫn thấy họ ngồi lặng lẽ bên nhau. Trên chiếc bàn nhỏ có hai cốc rượu, một đĩa lạc luộc, một ấm nước vối. Tôi chợt nhớ đến Bài thơ Đồng chí của Chính ủy, Nhà thơ Chính Hữu. Hai, ba cuộc chiến tranh mấy chục năm đã trôi qua, nhưng những người “đồng chí” năm xưa họ vẫn tiếp tục là những người "đồng chí" trong chặng đường cuối của cuộc đời. Tôi ngắm nhìn hai mái đầu bạc trắng muốt, hai khuôn mặt dãi dầu thấp thoáng ánh nắng…
Vào cuối năm 1964, tình hình chính trị ở Lào khá căng thẳng. Theo thỏa thuận của hai đảng, một số lực lượng quân tình nguyện Việt Nam được điều sang giúp bạn. Trung đoàn 9 do Mai Hiền chỉ huy sau một thời gian huấn luyện ở hậu phương được điều đi làm nhiệm vụ quốc tế. Trung đoàn của ông vào chiến trường với khí thế tưng bừng. Mọi người, mọi cấp đều muốn lập công. Chỉ trong hai tháng phối hợp với Quân đội Pathet, đơn vị đã tổ chức nhiều trận phục kích, tập kích, lực lượng phản động tan rã từng mảng. Trên đà thắng lợi, đơn vị quyết định đánh vào Căn cứ Đồng Hến.
Ký ức về trận Đồng Hến cho đến cuối đời Thủ trưởng Mai Hiền vẫn chưa hết nguôi ngoai. Trong trận đánh đó, ông chỉ sử dụng tiểu đoàn 3 cùng 2 khẩu cối 120mm với hơn 300 viên đạn. Qua báo cáo trinh sát, ông và ban chỉ huy trung đoàn cho rằng hỏa lực như thế là quá ổn. Mặc dù Tiểu đoàn 3 là tiểu đoàn mới thành lập nhưng quân số, trang bị khá đầy đủ. Cán bộ chỉ huy lại là những người có kinh nghiệm trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Điều ông không lường hết khi phân đội trinh sát đi thực địa, chuẩn bị cho trận đánh, kẻ địch đã phát hiện được nên tăng cường một chi đội 4 chiếc xe bọc thép và gần một tiểu đoàn bộ binh (điều này sau trận đánh ông mới biết); hai trận địa pháo 105 ở Pha Lan, Sê Nô sẵn sàng chi viện cho căn cứ. Cảm thấy tình hình có chiều hướng bất lợi, ông đã yêu cầu ban chỉ huy tiểu đoàn cân nhắc có nên đánh Đồng Hến ngay hay không. Ông vẫn còn băn khoăn vì địch ở trong lô cốt, có công sự khá vững chắc. Hội nghị Đảng ủy tiểu đoàn 3 mở rộng được triệu tập, bàn bạc xem xét ý kiến của ông, nhưng mọi người vẫn xác định quyết tâm chiến đấu. Hội nghị kết thúc với đa số tán thành. Chỉ huy đơn vị còn chủ quan nhận định: "Địch càng tăng viện, chúng càng bị ta tiêu diệt thêm!". Có lẽ những trận thắng dễ dàng trước đó đã khiến ông xuôi chiều.
Đêm 7/3/1965, tiểu đoàn chiếm lĩnh trận địa theo đúng kế hoạch. Khi triển khai vị trí chiến đấu, mũi 2 tiến công hướng chủ yếu đi lạc đường nhập vào mũi 1, bộ đội dồn lại trên bãi đất trống. Giờ "G" đã đến, hai khẩu cối 120mm bắn cấp tập vào mục tiêu khoảng 40 phút. Đội mở cửa dùng hết bộc phá mà hàng rào kẽm gai vẫn còn (kẻ địch mới bổ sung thêm hàng rào kẽm gai và cự mã sau trinh sát). Mũi xung kích vướng rào không vào được. Hỏa lực của địch trong đồn bắn ra quyết liệt. Pháo của địch ở hai trận địa Pha Lan và Sê Nô bắn dồn dập vào đội hình.
Bộ đội tắc ở địa hình trống trải, không chuẩn bị giao thông hào và công sự, thương vong tăng lên từng giờ. Ban chỉ huy tiểu đoàn lúng túng, tiến không được mà lui thì chưa có lệnh. Cho đến sáng, tiểu đoàn trưởng Hoàng Thăng mới xốc lại đội hình, tổ chức bộ đội phá rào và cự mã để phát triển chiến đấu, nhưng ông bị trúng đạn hy sinh. Tiểu đoàn phó lên thay cũng bị trúng đạn phải đưa về tuyến sau. Trận đánh kết thúc, tiểu đoàn bị thương vong nặng nề.
Trận đánh thất bại bắt nguồn từ sai lầm chủ quan khinh địch. Do nhận định sai, trung đoàn đã không thực hiện đúng phương châm chỉ đạo của Bộ chỉ nên đánh địch ngoài công sự. Nếu đánh địch trong lô cốt và công sự thì phải thật chắc thắng mới đánh. Việc chủ quan, đánh giá thấp địch đã dẫn đến việc giao nhiệm vụ tác chiến cho tiểu đoàn 3, một đơn vị tuy sung sức, đủ quân số, trang bị nhưng chưa kinh qua chiến đấu và chưa được thực hành đánh công kiên.
Đây là trận đánh cấp tiểu đoàn đầu tiên ông không cùng đi trinh sát thực địa do bị ốm. Đơn vị trinh sát sơ hở để lộ ý đồ chiến thuật. Đó là một sơ hở chết người mà dù xảy ra ở đâu, khi nào, cũng đều phải trả giá đắt. Chính sơ hở này dẫn đến việc địch bí mật bố trí thêm cự mã, tăng cường lực lượng. Chúng bố trí thêm 3 hàng kẽm gai và cự mã, dẫn đến việc chuẩn bị bộc phá không đủ. Chúng còn chôn 2 xe M113 chìm dưới đất làm hỏa điểm ngầm mà ta không phát hiện được.
Chỉ huy trận đánh này bị động, lúng túng và xử lý tình huống thiếu quyết đoán. Khi triển khai lực lượng, một mũi trên hướng chủ yếu đi nhầm đường nhập thành một, cán bộ chỉ huy không có biện pháp giải quyết; khi hết bộc phá, hàng rào còn, bộ đội bị ùn tắc trước cửa mở cũng không có biện pháp xử trí kịp thời. Và khi tiểu đoàn đã không còn khả năng phát triển chiến đấu, Tiểu đoàn trưởng lại không ra lệnh kết thúc trận đánh.
Thất bại ở trận Đồng Hến đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 9 cũng như uy tín chính trị của đơn vị. Cộng thêm những khó khăn gian khổ mùa mưa mà đơn vị phải trải qua trên đất bạn. Mưa như trút nước. Mưa tầm tã ngày đêm. Đường vận chuyển ùn ứ. Địa hình lạ lẫm. Công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Gạo thiếu, muối hết, thuốc men không đủ. Chiến sỹ đói lay lắt. Đã vậy, sốt rét lại bùng phát. Có đại đội bị sốt rét đến 40 người. Người ngã bệnh đau đầu, đau lưng nhức nhối đến xương tủy. Da người nào người nấy vàng như nghệ. Tóc rụng hàng mảng. Sốt rét ác tính ở Lào chỉ một trận là quỵ. Hàng trăm chiến sỹ hy sinh…
Thủ trưởng Mai Hiền ứa nước mắt kiểm điểm trước đảng ủy trung đoàn. Trong hàng chục năm cầm quân chưa bao giờ ông thấy tổn thất xương máu nhiều đến mức như vậy. Khi đơn vị qua phà Địa Lợi về đến Quảng Bình, được nhân dân cơm cháo đùm bọc, yêu thương hết lòng, ông càng cảm thất đau xót. Nỗi đau đeo đẳng theo ông cho đến tận cuối đời.
Cấp trên đã có ý định giải thể Trung đoàn 9, ông Lê Khả Phiêu và ông đã trực tiếp gặp Quân ủy Trung ương xin giữ lại trung đoàn. Chỉ trong một thời gian ngắn chỉnh huấn, chỉnh quân, Trung đoàn 9 đã trở thành một trong những trung đoàn đứng đầu toàn quân. Cuối năm 1965 Trung đoàn được điều vào chiến trường Trị Thiên. Trung đoàn đã liên tục giành được những thắng lợi quan trọng ở La Vang, Mỹ Thủy… Đặc biệt trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, Trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cùng với Sư đoàn 324, quân và dân Thừa Thiên- Huế giải phóng và giữ vững thành phố Huế trong 25 ngày. Tiếp theo đó trung đoàn đã đương đầu với Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Sư đoàn Kỵ binh bay số 1, Sư đoàn Dù 101 Mỹ, kiên cường giữ vững địa bàn trong suốt năm 1968, năm 1969. Đặc biệt là trận đánh ở Động A Tây, một tiểu đoàn của trung đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu một tiều đoàn Dù Mỹ. Trong cuốn Đồi Thịt băm, tác giả Zaffiri gọi A Tây ở huyện A Lưới là sườn núi suối máu, là chương bi thảm nhất trong lịch sử chiến tranh của Sư đoàn Dù 101.
Thủ trưởng Mai Hiền đã chỉ huy nhiều trận đánh lớn ở Mặt trận Trị Thiên. Cuối năm 1969 ông được điều về làm Tư lệnh phó Sư đoàn 324. Theo kế hoạch của Quân khu Trị Thiên, ông tổ chức nhiều đợt tập huấn cho các cán bộ cấp đại đội, tiểu đoàn của Sư 324 để nâng cao trình độ chính trị cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Trong các lớp học này, cán bộ chỉ huy các cấp còn được học về nguyên tắc chiến thuật tiến công, phòng ngự, chiến thuật chốt kết hợp vận động tấn công…
Sau này Thiếu tướng Tăng Văn Miêu , Thiếu tướng Lê Huy Mai, Đại tá Hồ Hữu Lan, Đại tá Phan Đân và nhiều cán bộ trẻ của Sư đoàn thời kỳ đó kể lại, Thủ trưởng Mai Hiền đã giúp các ông “trưởng thành hơn, kinh nghiệm hơn, vững vàng tự tin hơn để bước vào cuộc chiến”. Thủ trưởng giảng bài vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn, hoàn toàn thuyết phục. Ông “phân tích rất kỹ những thủ đoạn của địch, những mặt mạnh mặt yếu của ta trong từng trận đánh”. Ông trực tiếp làm mẫu các động tác cá nhân tại công sự, chiến hào trong chiến đấu. Điều đặc biệt là Thủ trưởng luôn nhắc lại trận Đồng Hến, ông ân hận trách mình và chia sẻ với mọi người về bài học xương máu. Trong Hồi ký Trung đoàn một thời chiến trận, Đại tá Hồ Hữu lạn, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 Sư 324 đã dành nhiều tình cảm, sự kính trọng và lòng biết ơn của ông với Thủ trường Mai Hiền. Bài học xương máu của Thủ trưởng Mai Hiền là không bao giờ được chủ quan khinh địch. Trong chiến đấu “phải nắm chắc địch, phải đến tận mục tiêu chiến đấu nắm địch, không đơn thuần chỉ nghe báo cáo của trinh sát” (Hồ Hữu Lạn, Trung đoàn một thời chiến trận).
Với tinh thần đó Tư lệnh phó Sư đoàn Mai Hiền đã trực tiếp cùng cán bộ, chiến sỹ đi trinh sát Cốc Bai trong chiến dịch 935-Cốc Bai (Chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xóa bỏ hệ thống phòng thủ cuối cùng của Mỹ ngụy ở Mặt trận Trị Thiên. Với vị trí chiến lược, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu đã bay đến Căn cứ Cốc Bai kêu gọi binh lính tử thủ). Thủ trưởng gần gũi cấp dưới và chiến sỹ, cùng ăn cháo, ăn rau môn thục, rau tàu bay thay cơm suốt mấy tháng chiến dịch. Ông bám sát chỉ đạo từng trận đánh của các phân đội, cả hỏa lực và bộ binh. Thiếu tướng Lê Huy Mai, nguyên Trưởng ban Trinh- sát Đặc công Sư 324 thời kỳ đó đánh giá về ông trong cuốn Hồi ký Từ Châu thổ Sông Hồng đến Sông Hương xứ Huế: “Gần ba tháng ròng rã Trung đoàn 3 bao vây Cứ điểm Cốc Bai. Phó Tư lệnh Sư đoàn Mai Hiền bám sát đơn vị, đồng cam cộng khổ. Ông sâu sát chỉ đạo từng trận đánh. Nhờ kinh nghiệm quý báu trong bao vây, đánh lấn cứ điểm địch từ thời Pháp để lại, ông đã giúp các đơn vị của trung đoàn đánh thắng nhiều trận trong suốt quá trình bao vây, tiến công Cứ điểm Cốc Bai”.
Tư lệnh Chu Phương Đới, Phó Tư lênh Mai Hiền đã chỉ đạo Trung đoàn 1, Trung đoàn 3 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và “mở ra một cục diện mới ở Mặt trận Trị Thiên” như Thư biểu dương của Quân ủy Trung ương sau chiến thắng 935- Cốc Bai năm 1970. Thủ trưởng Mai Hiền chỉ tiếc là đơn vị không bắn chết được Nguyễn Văn Thiệu vì phân đội vận tải quá đói, kiệt sức không mang được đạn cối lên trận địa (Anh Phạm huỳnh Công, anh Bài, anh Bát, 3 cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 3 nằm trong hàng rào kẽm gai, nhìn thấy máy bay trong tầm bắn nhưng không biết đó là máy bay của tổng thống ngụy).
Cuộc đời binh nghiệp của Thủ trưởng Mai Hiền còn có rất nhiều điều để nói. Tôi chi tóm tắt vài nét về ông trong cuộc Chiến tranh Biên giới phía Bắc. Cuối năm 1978 Đại tá Mai Hiền được điều về làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 338. Sư đoàn của ông được giao nhiệm vụ hoạt động, chiến đấu chống quân bành trướng Trung Quốc tại hai huyện Lộc Bình và Đình Lập tỉnh Lạng Sơn; bảo vệ an toàn mỏ than Na Dương và các công trình kinh tế, an ninh quốc phòng tại biên giới Lạng Sơn. Từ đầu tháng 2/1979 đến khi Trung Quốc buộc phải rút quân trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, ông và tập thể cán bộ sư đoàn đã tổ chức 28 trận đánh lớn nhỏ, tiêu diệt hơn 7500 tên địch, làm thiệt hại 2 trung đoàn pháo binh, bộ binh cùng nhiều phương tiện chiến tranh.
Đại tá Mai Hiền và cán bộ chiến sỹ sư đoàn đã tổ chức chốt phòng thủ kết hợp tấn công, bao vây đánh lấn điểm cao, thậm chí tiến công sâu vào hậu phương kẻ địch đầy hiệu quả với thương vong ít đến mức khó tin. Lấy một ví dụ, chỉ với một chốt ba người của một tiểu đội thuộc Đại đội 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 460, tổ tam tam đã đẩy lùi 7 cuộc tấn công và tiêu diệt một đại đội quân xâm lược bành trướng trong một ngày mà không có ai hy sinh.
Với bề dầy kinh nghiệm hơn 30 năm cầm quân trong hai cuộc chiến ở ba chiến trường, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao cho. Sư đoàn của ông đã được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng 4 huân chương quân công, bốn huân chương chiến công hạng nhất, 10 huân chương chiến công hạng nhì, 102 huân chương chiến công hạng 3.
Điều ấn tượng nhất và xúc động nhất với tôi là khi ông Triệu Trụ, một “phó thường dân” mất, Thủ trưởng Mai Hiền và một số tướng tá đã đến dự lễ tang (khi ông Triệu Trụ tổ chức Thượng thọ 80 tuổi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đến thăm và chúc mừng). Tôi còn nhớ lúc hạ huyệt tại nghĩa trang làng Triều Khúc, Thủ trưởng Mai Hiền tay run run xúc xẻng cát, tôi nghe rõ lời ông nói: “Anh đi nhé! Ở nơi đó người thân và đồng đội đang chờ anh”.
Tháng trước tôi nhận được tin cựu chiến binh Trung tá Đặng Văn Việt, hùm xám đường số 4, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, một trong 3 trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã chỉ huy 120 trận đánh lớn nhỏ, “một sáng tạo về quân sự” (lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp), người đã góp phần không nhỏ trong chiến thắng ở Cụm cứ điểm Đông Khê năm 1950, ông đã đi hết quãng đường cuối trên cõi dương thế. Có lẽ ông Đặng Văn Việt là người bạn ra đi cuối cùng trong đám tang của ông Triệu Trụ.
Vì Covid đến hôm nay tôi mới đến gặp con ông Triệu Trụ là Triệu Chiến, trung tá quân đội đã nghỉ hưu để tìm hiểu thêm về tình bạn của những con người đáng kính trọng. Tôi được biết thêm một chi tiết, ông Triệu Trụ còn là thủ trưởng của Đại tá Mai Hiền. Anh Triệu Chiến cho tôi biết, “có lần Đại tá Mai Hiền nói với bố tôi: Anh mãi là tướng của bọn em”!
Đúng là trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc đầy dẫy những điều bất ngờ. Có biết bao người không được ghi tên vào quốc sử, nhưng hậu thế sẽ còn mãi mãi nhớ đến họ. Ông Đặng Văn Việt, ông Triệu Trụ và Đại tá Mai Hiền là những người trong số đó. Mặc dù Thủ trưởng Mai Hiền mất đã lâu, hôm nay tôi mới hiểu thêm đôi nét về ông. Nhân ngày thành lập quân đội, chúng tôi những cựu chiến binh Sư đoàn 324 xin được gửi lời tri ân tới Thủ trưởng. Chúng tôi tin rằng nếu có “nơi đó” như lời Thủ trưởng vĩnh biệt người bạn, người đồng chí, người anh, người chỉ huy thì “Ở nơi đó” chắc sẽ có rất nhiều đồng đội tổ chức lễ tri ân ông vào ngày kỷ niệm trọng đại và vinh quang của dân tộc, ngày 22/12!
Read More

Thăm Trường Đại học Stephens College

Leave a Comment

 Thăm Trường Đại học Stephens College

Trường Đại học Stephens College thành lập năm 1833, nằm gần khu Downtown của Thành phố Columbia, rộng khoảng 35 ha. Thủa ban đầu trường là cơ sở giáo dục dành cho nữ sinh trong vùng, chỉ có một tòa nhà và 25 nữ sinh theo học. Cũng như các trường học khác trong cùng thời kỳ đó, nữ sinh được học một số môn như tiếng Anh, triết học, đạo đức, đại số, địa lí. Hơn một thập kỉ sau đó, James L. Stephens hiến tặng cho nhà trường 20.000 USD, trường mới được xây dựng thêm một vài dãy và được đổi tên thành Stephens College. Hiện nay Stephens College đã được mở rộng, bao gồm 34 tòa nhà rải rác trong khuôn viên.
Trong gần 190 năm qua, Stephens College đã phát triển theo xu hướng chung của giáo dục đại học Mỹ. Bắt đầu từ sau năm 1920, nhà trường đã trở thành một trong những trường có uy tín không chỉ ở Mỹ mà ở cả châu Âu về các chương trình giáo dục xã hội, thông tin liên lạc, sức khỏe cộng đồng. Năm 1975 nhà trường triển khai chương trình nghiên cứu về phụ nữ, xem xét kinh nghiệm khác biệt, sự tác động của phụ nữ đối với cá nhân và xã hội. Và bắt đầu từ năm 1975 nhà trường triển khai thực hiện chương trình học tập dựa trên mạng trực tuyến online.
Việc học tập dựa trên mạng trực tuyến cho phép những phụ nữ trưởng thành, bận bịu việc gia đình có điều kiện học đại học. Nhìn chung dư luận xã hội đánh giá cao việc làm này. Trên cơ sở thành công đó, nhà trường áp dụng chương trình học trực tuyến kết hợp với việc học buổi tối cho các học viên theo học chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh, thạc sĩ lãnh đạo chiến lược, thạc sĩ tư vấn giáo dục, thạc sĩ chương trình và phương pháp giảng dạy.
Trường Đại học Stephens có bề dày truyền thống và cơ sở vật chất hiện đại. Điều kiện ăn ở học tập lý tưởng. Chất lượng đào tạo đẳng cấp. Stephens College được xếp thứ tư trong số các trường đại học khoa học xã hội và nhân văn trên toàn quốc. Trường nằm trong top 361 trường đại học tốt nhất quốc gia và là một trong số 158 trường đại học tốt nhất miền Trung Mỹ.
Là trường đại học tư thục dành cho phụ nữ, học viên phải đóng 40 ngàn đô một năm học (trường không nhận nam sinh viên). Stephens College nằm cạnh hai trường đại học lớn khác, nhưng nhà trường vẫn tồn tại và ngày một phát triển với những nét đặc thù riêng, với các chuyên ngành thích hợp và với các phương pháp, tổ chức phù hợp tâm sinh lý riêng của phụ nữ.
Stephens College cam kết và đảm bảo sự thành công trong công tác giáo dục đào tạo dựa trên những giá trị cốt lõi: Tôn trọng nhân phẩm bản thân và mọi người; can đảm, kiên trì; độc lập, tự chủ; tích cực giúp đỡ người khác và có tinh thần phê bình, tự phê bình;biết yêu thương và biết tiếp nhận tình yêu; nhạy cảm trong thế giới mà bản thân là một phần của nó; có trách nhiệm về sự lựa chọn của mình; có niềm tin vào tương lai; biết tạo ra cái đẹp theo thẩm mỹ của xã hội; có trí tuệ và khoan dung; biết dẫn dắt lãnh đạo và trao quyền cho người khác.
Chuyến đi tham quan trường của tôi bắt đầu từ tòa nhà Lela Raney wood Hall, nằm ở góc phía đông bắc trên đường Broadway. Đây là tòa nhà bốn tầng xây dựng năm 1938 bằng gạch đỏ, không trát vữa theo truyền thống xây dựng đặc trưng của vùng đất này. Tòa nhà Lela wood Hall có phòng khiêu vũ tập thể nổi tiếng, có phòng thư viện dành riêng cho công tác nghiên cứu, có các phòng trưng bày y phục theo thời gian và theo khu vực, có bảo tàng lịch sử trang phục với trên 15.000 bộ y phục mẫu được trưng bày bằng giá treo hoặc lồng vào mẫu người bằng gỗ. Tất cả đều sống động theo góc nhìn không gian bốn chiều. Nếu dừng lại một phút để ngắm nhìn, tìm hiểu mỗi một bộ y phục và mỗi ngày làm việc tám tiếng thì người ta phải mất một tháng mới xem xong bộ sưu tập thiết kế thời trang từ năm 1700 đến nay.
Cũng như các vị khách khác, sau khi nghe hướng dẫn viên giới thiệu, minh họa bằng hình ảnh về lịch sử, về truyền thống cũng như sơ đồ trực quan khuôn viên của nhà trường, tôi được đưa tới phòng tuyển sinh và phòng tư vấn tuyển sinh. Tại đây nhân viên phòng tuyển sinh giới thiệu một cách ngắn gọn và chuyên nghiệp. Thủ tục xin vào trường rất đơn giản. Sinh viên chỉ cần nộp đơn xin học, giấy chứng nhận tốt nghiệp phổ thông trung học, điểm thi SAT hoặc TOEFL. Sinh viên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại phòng tuyển sinh bất cứ thời gian nào trong năm. Nếu không có thời gian, sinh viên có thể đăng ký trực tuyến qua mạng. Nếu là học sinh Mỹ thì chỉ cần ba đến năm phút trước bàn phím và một cái kích chuột là biết được bạn có phải là sinh viên của trường đại học này hay chưa.
Vì là người nước ngoài nên tôi được giới thiệu sang phòng sinh viên quốc tế. Tại phòng này, tôi được giới thiệu tỉ mỉ hơn. Chẳng hạn như thủ tục nhập học của sinh viên quốc tế bao gồm: Đơn xin nhập học cho sinh viên quốc tế có mẫu kèm theo, lệ phí 25 đô không hoàn lại, chứng minh tài chính kèm theo mẫu, bản sao học bạ trung học phổ thông, giấy chứng nhận tốt nghiệp trung học phổ thông, điểm thi TOEFL (550 điểm trên giấy, 79 điểm trên máy). Các văn bản bằng tiếng nước ngoài đều phải dịch công chứng sang tiếng Anh. Nếu sinh viên học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai mà không đủ điểm TOEFL nhà trường vẫn cho nhập học nhưng phải theo học một khóa tiếng Anh tùy theo trình độ tại trường.
Nhân viên Phòng tư vấn có thể tư vấn trực tiếp tại văn phòng, có thể đến tất cả các trường trung học phổ thông trong, ngoài bang; thậm chí có thể tư vấn ở nhiều cơ sở nước ngoài như ở châu Âu, Hàn Quốc, Nhật bản. Họ có riêng một trang web với những địa chỉ email, số điện thoại của từng cá nhân trong phòng. Nhân viên tư vấn còn giúp sinh viên kết nối những sở thích, những điều quan tâm vào một ngành học. Chẳng hạn nếu sinh viên muốn sau này làm việc trong lĩnh vực y tế thì nên chọn môn sinh học trước. Hoặc nếu sinh viên yêu thích và muốn làm việc trong môi trường với trẻ em thì nên chọn những ngành trong lĩnh vực giáo dục. Cuối cùng họ đưa ra một số lựa chọn bằng cách giới thiệu những ngành, những khoa thích hợp qua những cuốn sách mỏng hoăc trên trang web để sinh viên tự khám phá và quyết định làm thế nào để Stephens College có thể giúp họ đạt được giấc mơ của mình.
Chương trình giáo dục của Stephens College là sự tổng hợp những tri thức cơ bản, nền tảng và sự tập hợp các kỹ năng cho sinh viên về khoa học, khoa học xã hội và nhân văn. Nhà trường đào tạo và cung cấp trên 50 chuyên ngành trong chương trình đại học dành riêng cho phụ nữ ở nhiều lĩnh vực như luật, dược, sinh học, y tế cộng đồng, quảng cáo, truyền thông, sáng tác, múa, hát, thiết kế, phim kỹ thuật số, phim marketing, thông tin đại chúng số, giáo dục, phát triển con người và giáo dục, phát triển con người và tâm lý học, tiếng Anh, quản trị kinh doanh, kế toán tài chính, quản lý công, quan hệ công chúng, tổ chức sự kiện, truyền thông thời trang, thiết kế thời trang và phát triển sản phẩm, thiết kế đồ họa, thiết kế nội thất, marketing thời trang và quản lí, nhà hát nghệ thuật, quản lý nhà hát, sân khấu, trang phục sân khấu, thiết kế sân khấu…
Nhân viên phòng tư vấn và tuyển sinh không chỉ giới thiệu quảng bá về các ngành học, chương trình học, thời gian học mà còn đưa khách tham quan đến tận lớp học, cơ sở thực hành của sinh viên. Chẳng hạn giới thiệu về Khoa Nghệ thuật biểu diễn và Khoa Sân khấu, người nghe biết Stephens College được xếp hạng trong top 10 trường có nhà hát và sân khấu, thính phòng trong số các trường đại học tốt nhất. Trường có ba nhà hát, sân khấu, thính phòng, đặc biệt trong đó có một nhà hát cổ xây dựng năm 1899. Nhà hát Mecklenburg Playhouse có 400 chỗ ngồi với hệ thống âm thanh và ánh sáng tự động hóa. Sân khấu của nhà hát là sân khấu tách rời, được điều khiển bởi những kỹ sư sân khấu chuyên nghiệp. Khoang thang máy dùng cho dàn nhạc hoạt động bằng hệ thống thủy lực.
Khi tôi đến các cơ sở thực tập, thấy các sinh viên trực tiếp làm việc với các nghệ sĩ, diễn viên, kỹ thuật viên đang tập dượt lần cuối để ra mắt công chúng thành phố buổi tối hôm sau. Tôi được một nữ sinh cho biết cô phải tìm hiểu, học tập, phụ giúp các nghệ sĩ không dưới 10 tác phẩm nghệ thuật một năm. Bên cạnh nhà hát Mecklenburg Playhouse là sân khấu Warehouse Theatre. Sân khấu này là sân khấu biểu diễn ca, múa, nhạc, kịch, phim ảnh quanh năm của sinh viên. Từ những buổi biểu diễn thường nhật của sinh viên trường tới biểu diễn báo cáo tốt nghiệp, từ những tác phẩm học tập nghiên cứu đến những sự kiện phim ảnh lớn mang tầm quốc gia diễn ra trong phạm vi trường đều được trình diễn tại đây. Có một ban điều hành trong đó có đại diện của sinh viên từ năm thứ nhất tới năm thứ tư tham gia.
Cơ sở tiếp theo là thính phòng Stephens Auditorium. Nó được xây dựng năm 1948 với 2300 chỗ ngồi. Đây là nơi biểu diễn liên hoan ca múa nhạc truyền thống của cả thành phố, nơi tổ chức lễ hội, lễ phát bằng và những sự kiện lớn mang tính cộng đồng xã hội hoặc mang tính liên trường. Như vậy, sinh viên theo ngành nghệ thuật không những nhận được sự đào tạo chuyên sâu liên quan đến nghệ thuật biểu diễn trong những lĩnh vực múa, hát, diễn xuất, âm nhạc, sân khấu, chỉ đạo sân khấu, trang phục, mà còn học được công việc quản lý nhà hát, công việc thiết kế chiếu sáng, công tác văn phòng nhà hát, về vấn đề công chúng và quan hệ công chúng. Sinh viên có thể học trên lớp học, có thể học tập và thực hành trong môi trường thực tế ở các cơ sở ngay tại trường để tìm hiểu, khám phá, sáng tạo và để có cơ hội thành công hơn trong ngành kinh doanh giải trí rất phát triển ở Mỹ.
Tôi đến thăm một văn phòng đặc biệt của Stephens College mà ở các trường đại học của Việt Nam chưa có và không biết đến bao giờ mới có. Đó là phòng phát triển nghề nghiệp. Giám đốc phòng phát triển nghề nghiệp là bà Amanda M. Robert. Bà cho tôi biết, ngay từ khi sinh viên bước chân vào trường, văn phòng đã có giấy mời tham dự hội thảo. Văn phòng sẽ cung cấp cho nữ sinh những cơ hội tự khám phá những mục tiêu, phát triển các kỹ năng và tìm cơ hội việc làm trong tương lai từ những bước đi chập chững đầu tiên của họ khi mới bươc vào trường.
Dù chỉ có mình tôi trong một căn phòng rộng lớn, Amanda vẫn thuyết trình trên powerpoint về công việc và các dịch vụ mà phòng phát triển nghề nghiệp sẽ cung cấp cho nữ sinh. Bà nói: “Chúng tôi giúp sinh viên tự đánh giá về bàn thân, tìm kiếm và thăm dò những ý tưởng, khả năng, sở thích để giúp họ xác định chuyên ngành cũng như nghề nghiệp thích hợp nhất. Chúng tôi cũng không loại trừ việc xác định với sinh viên về việc phải thay đổi nghề nghiệp trong thế giới đầy biến động này.”
Tôi hỏi: Thế công việc của phòng bà khác gì phòng tư vấn?
- Khác chứ, bà say sưa trình bày, nhiều sinh viên đến đây đã quyết định đổi ngành học và quyết tâm theo học thêm những chương trình mà họ cần trong thời gian học ở trường. Phòng tư vấn mới chỉ giúp sinh viên đi vào đâu. Còn chúng tôi giúp sinh viên đi theo những con đường nào. Và quan trọng hơn là đi như thế nào. Chúng tôi hỗ trợ sinh viên thiết lập mục tiêu, kế hoạch và các chiến lược thành công để thực hiện mục tiêu, kế hoạch. Chúng tôi cũng điều phối các chương trình nghiên cứu và hỗ trợ việc làm cho sinh viên trong và ngoài nhà trường. Chúng tôi cũng tổ chức các khóa giảng dạy, thuyết trình các chiến lược tìm kiếm việc làm. Chúng tôi trang bị cho sinh viên kỹ năng xin việc bao gồm: viết sơ yếu lý lịch, thư giới thiệu, các hình thức kết nối mạng với các phiên giao dịch của các trung tâm môi giới việc làm, giúp sinh viên làm quen với văn hóa kinh doanh, trả lời phỏng vấn. Chúng tôi còn điều phối các chương trình thực tập và tín dụng cho các chương trình thực tập. Chúng tôi cũng liên hệ với tất cả các công trường, nhà máy xí nghiệp, bệnh viện, trường học, các cơ quan đoàn thể xã hội và nghề nghiệp trong ngoài thành phố Columbia để tìm kiếm việc làm, thực tập cho sinh viên.
Amanda đưa tôi đến trước tấm bảng công tác cụ thể trong một tháng của phòng phát triển nghề nghiệp. Tôi thấy có sáu mục, ghi rành mạch nội dung công việc, thời gian thực hiện, địa điểm tiến hành, ai là người phụ trách. Đó là những cuộc hội thảo chuyên đề về sự nghiệp văn phòng và nhu cầu nhân lực văn phòng của xã hội, hội thảo chuyên đề về cuộc sống của sinh viên sau khi tốt nghiệp, chuyên đề cơ hội nghề nghiệp trong giáo dục, chuyên đề cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực y tế cộng đồng… Ngoài ra còn một thông báo cho sinh viên thực tập với những nội dung: Tìm việc thực tập, thiết lập kế hoạch thực tập, hợp đồng thực tập, chính sách thực tập. Tất cả nội dung chi tiết sinh viên có thể xem trong mạng của văn phòng phát triển nghề nghiệp.
Ngành học tôi quan tâm nhất ở Stephens College là ngành giáo dục. Cũng chính vì vậy, phòng tư vấn, phòng tuyển sinh và bộ phận hướng dẫn tham quan nhà trường không đi theo lịch trình đã định thông thường. Họ tập trung giới thiệu, giải thích và trả lời về những vấn đề tôi muốn đi sâu tìm hiểu. Khoa Giáo dục của Stephens College đã được Bộ Giáo dục Mỹ kiểm định và xác nhận chương trình đạt chuẩn tiên tiến. Một nhân viên đưa tôi đi thăm Trung tâm nghiên cứu trẻ em Webb Center bằng xe ô tô điện. Tại trung tâm có những lớp học dành cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học. Stephens College là một trong những trường đại học ở Mỹ có khoa giáo dục mà học sinh ở lứa tuổi mầm non và tiểu học được tổ chức thành những lớp học ngay trong trường đại học để phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, kiến tập và thực tập giảng dạy.
Tôi được biết Trung tâm nghiên cứu trẻ em Webb Center ban đầu có chức năng là một trường thực nghiệm. Vào năm 1970, Khoa giáo dục trẻ ban đầu mới đổi tên là Trung tâm nghiên cứu trẻ em như ngày nay. Trung tâm có thêm chức năng nghiên cứu khoa học về sự phát triển con người trong giai đoạn đầu, cùng với chức năng nghiên cứu khoa học sư phạm. Các nhà nghiên cứu, các giáo sinh, phụ huynh và khách tham quan có thể theo dõi, quan sát học sinh trong lớp học, ngoài lớp học ở những phòng chuyên biệt không ảnh hưởng đến việc dạy và học của thầy và trò. Giáo sinh cũng được tham gia trực tiếp với học sinh trong những hoạt động giảng dạy, vui chơi trên lớp với sự giám sát của các giáo sư, các giảng viên và giáo viên chủ nhiệm lớp.
Ở Trung tâm Webb học sinh được đặt vào vị trí trung tâm. Lớp học của trẻ mang dáng dấp của một phòng chơi, rất ít bàn ghế. Mỗi lớp chỉ có ba hay bốn chiếc bàn tròn kèm theo mấy chiếc ghế xếp xung quanh. Trên tường là giá sách, đồ chơi, đồ dùng dạy học và các loại tranh ảnh. Chỉ có vách ngăn các lớp là bằng gạch, còn lại là cửa kính để đón ánh sáng tự nhiên. Mặc dầu vậy trên trần phòng học vẫn có một hệ thống đèn chiếu sáng dày đặc. Phòng học và hành lang từ lúc các em bước vào đến lúc các em ra về đều được điều hòa ở một nhiệt độ nhất định.
Dù rất ít thời gian nhưng tôi vẫn tranh thủ xem lướt qua những cuốn sách giáo khoa của các em lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5 trên bàn học và trên giá sách. Sách giáo khoa đều được đóng bằng bìa cứng. Từ bìa cho đến nội dung các trang đều in chữ khổ lớn, thậm chí rất lớn. Vậy mà nội dung bài học cũng không quá một trang với lớp 1, lớp 2 và không quá hai trang với lớp 4, lớp 5. Trong một, hai trang đó tôi ước chừng đến 60 - 70% là kênh hình. Ở lớp 1, lớp 2 có trang chỉ có mấy dòng. Tất cả đều được in màu. Cả đến cuốn sách cho trẻ tập viết và làm bài tập cũng in chữ khổ lớn và in màu.
Tôi thầm nghĩ không biết chất lượng trường học ở đây như thế nào nhưng qua quan sát và tiếp xúc tôi có thể chắc chắn một điều, học sinh ở đây thật hạnh phúc. Khuôn mặt các em luôn rạng rỡ, luôn vui cười. Các em thật hoạt bát, tự nhiên và tự tin; không một chút e dè. Một em học sinh lớp 5 đưa tôi đi tham quan, giới thiệu với tôi về các lớp học, về các giờ học, đưa tôi đi thăm thư viện, giới thiệu các loại sách trong thư viện, rồi đưa tôi đến gặp thầy giáo đang hướng dẫn học sinh tập thể dục thể thao…
Tôi bị thuyết phục hoàn toàn về khả năng giao tiếp, ứng xử của các em. Các em nói chuyện và giới thiệu một ngày học tập ở trường không khác gì hướng dẫn viên và các giáo viên. Về mặt này, học sinh Việt Nam, kể cả học sinh THPT cũng không thể bằng các em tiểu học ở đây. Tôi tin chắc rằng mỗi ngày các em đến trường thật sự là một ngày vui, một ngày có ý nghĩa, dẫu không có lấy một dòng khẩu hiệu, một panô, một áp phích tuyên truyền như trong các nhà trường ở Việt Nam.
Có hai trình độ đào tạo tại Khoa Giáo dục của trường: Cử nhân và thạc sĩ. Chương trình thạc sĩ thường từ một năm đến hai năm nếu sinh viên theo học đã có bằng đại học và có thời gian công tác thực tiễn. Chương trình học cử nhân thường kéo dài từ ba đến bốn năm tùy theo người học. Nếu sinh viên muốn trở thành giáo viên từ mầm non đến tiểu học thì phải theo học những tín chỉ bắt buộc và tự chọn, bao gồm những môn chung và những môn chuyên ngành theo quy định chung.
Khoa Giáo dục của Stephens College đã tạo điều kiện cho sinh viên chuẩn bị công việc giảng dạy, cung cấp thời gian quan sát, tìm hiểu, học tập với trẻ em từ mầm non đến tiểu học tại trung tâm nghiên cứu trẻ em tại trường và ở ngoài nhà trường. Sau này, nếu sinh viên muốn làm việc với trẻ em và gia đình của họ ngoài nhà trường thì có thể tham gia chương trình phát triển con người. Ngoài những tín chỉ theo quy định sinh viên được kết hợp nghiên cứu về sư phạm, tâm lý phát triển trẻ em. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên sẽ làm công việc dịch vụ phục vụ con người trong các lĩnh vực như quản lý, chăm sóc trẻ em, giảng dạy, dịch vụ xã hội, tư vấn tại gia hay các tổ chức xã hội.
Ba tiếng tham quan Stephens College với tôi thật quá ngắn ngủi. Tôi nghĩ chắc chắn mình sẽ còn trở lại đây. Ngôi trường đại học tư thục dành cho nữ sinh này có gì đó thật cuốn hút. Nhà trường thật sự đã tạo ra một cộng đồng lý tưởng để sinh viên sống, làm việc và học tập. Sinh viên nhập học được sống trong khuôn viên của trường cho đến khi tốt nghiệp ra trường. Một môi trường mà sinh viên bước ra khỏi nhà là cùng với bạn bè tới lớp, đến phòng thí nghiệm, đến nơi thực hành. Từ sáng đến tối, việc ăn uống, sinh hoạt, học tập đều nằm trong khuôn viên nhà trường, một khuôn viên yên bình, thoải mái và an toàn giữa những vườn hoa, công viên và như trong một khu rừng đầy cây cối. Giữa thầy và trò, giữa trò và trò thật gần gũi ấm cúng. Đó là môi trường tối đa hóa thời gian, làm sâu sắc hơn những trải nghiệm đời sinh viên. Nhưng quan trọng hơn cả, môi trường thân thiện trong khuôn viên trường tạo không khí cho sinh viên tập trung vào những điều quan trọng nhất: Học tập, trau dồi nghề nghiệp, vui chơi giải trí và hứa hẹn một tương lai vững chắc cho người học.
Tien Nguyen, Nguyễn Lê Duyên và 49 người khác
24 bình luận
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.