Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản sau chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính

Leave a Comment

 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản sau chuyến đi của Thủ tướng Phạm Minh Chính tới Nhật

Từ năm 1977, cựu Thủ tướng Fukuda Takeo Nhật Bản đã đưa ra học thuyết "từ trái tim đến trái tim", đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN, trong đó có quan hệ với Việt Nam. Khi phát biểu tại cuộc họp cấp cao ASEAN - Nhật Bản, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã bổ sung thêm khái niệm trên thành “từ hành động đến hành động, từ cảm xúc đến hiệu quả” vào định hướng phát triển quan hệ ASEAN - Nhật Bản trong tình hình mới.
Kết quả chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Nhật Bản là một thành công lớn, góp phần thúc đẩy quan hệ ASEAN – Nhật Bản và Việt Nam - Nhật Bản lên một tầm cao mới, thực chất và hiệu quả hơn. Trong khuôn khổ chuyến công tác này, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có các cuộc hội đàm, hội kiến với lãnh đạo cấp cao Nhật Bản: Thủ tướng Kishida Fumio, Chủ tịch Hạ viện Kōichi Hagiuda, Chủ tịch Thượng viện Shunsuke Sonoda. Tại các cuộc gặp này, hai bên đã trao đổi về những vấn đề quan trọng trong quan hệ hai nước, khu vực và quốc tế.
Trong các cuộc hội đàn, hội kiến Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản và mong muốn hai nước tiếp tục tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, văn hóa. Thủ tướng Kishida Fumio cũng bày tỏ mong muốn Nhật Bản và Việt Nam tiếp tục là những người bạn, đối tác tin cậy của nhau ở hiện tại cũng như trong tương lai.
Kết quả chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính thể hiện sự tin cậy và gắn bó sâu sắc giữa Việt Nam và Nhật Bản. Hai bên đã đạt được những thỏa thuận quan trọng, cụ thể như:
(i)Tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư hiện thực hóa Quan hệ hợp tác Chiến lược Toàn diện: Hai bên đã ký kết hơn 30 văn bản hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư. Các lĩnh vực hợp tác được chú trọng bao gồm công nghiệp, năng lượng, cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, thương mại điện tử,...
(ii)Tăng cường hợp tác giáo dục, đào tạo: Hai bên đã ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam với Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản. Thỏa thuận này nhằm tăng cường trao đổi sinh viên, giáo viên, giảng viên, hợp tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
(iii)Tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh: Hai bên đã nhất trí tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh, hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng,...
Trong hai thập kỷ qua Nhật Bản đã trở thành nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam từ năm 2003 và duy trì vị trí hàng đầu cho đến ngày hôm nay. Có thể kể đến một số nguyên nhân chính dẫn đến điều này:
Nhật Bản và Việt Nam có mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp, được xây dựng trên nền tảng lịch sử lâu đời và sự tương đồng về văn hóa, chính trị. Hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào năm 1973 và đã ký kết nhiều hiệp định và thỏa thuận hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực.
Chính phủ Nhật Bản có chính sách viện trợ ODA rộng rãi và hào phóng, với mục tiêu hỗ trợ các nước đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam là một trong những đối tác nhận viện trợ ODA lớn nhất của Nhật Bản. Sở dĩ như vậy là vì Việt Nam nằm trong số nước đang phát triển với nhiều nhu cầu về đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế,... Viện trợ ODA của Nhật Bản đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng những nhu cầu này của Việt Nam.
Cụ thể, viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng của Việt Nam như đường cao tốc, cảng biển, sân bay, nhà máy điện. Nhật Bản đã hỗ trợ cho nhiều dự án xây dựng trường học, đào tạo giáo viên, sinh viên. Nhật Bản đã hỗ trợ cho nhiều dự án xây dựng bệnh viện, cung cấp thuốc men, thiết bị y tế. Nhật Bản đã hỗ trợ cho nhiều dự án phát triển nông nghiệp, thủy sản, phát triển nông thôn,...
Viện trợ ODA của Nhật Bản thực sự đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Các dự án ODA của Nhật Bản đã giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế, nông nghiệp,..., tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của người dân.
Vấn đề đặt ra tại sao Nhật Bản lại là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chứ không phải là các cường quốc kinh tế khác, chẳng hạn như nhóm 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Đặc biệt là Trung Quốc, một nước XHCN anh em cùng chung chí hướng với định hướng và phương châm 4 tốt, 16 chữ vàng? Có lẽ mọi người đều có câu trả lời riêng của mình.
Theo tôi, Thứ nhất Nhật Bản có động cơ thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam, một quốc gia có vị trí địa lý chiến lược và tiềm năng kinh tế lớn, để tạo ra một môi trường khu vực ổn định, hòa bình và an ninh, có lợi cho Nhật Bản. Thứ hai Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng của Nhật Bản trong khu vực. Nhật Bản lo ngại về tham vọng của Trung Quốc trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo ở Đông Á và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Do đó, Nhật Bản muốn tăng cường hợp tác với các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, để đối trọng với Trung Quốc. Thứ 3, một Việt Nam hùng cường, bảo vệ được chủ quyền, trong đó có chủ quyền biển đảo ở Biển đông, ngăn chặn được tham vọng độc chiếm Biển đông của Trung Quốc là phù hợp với lợi ích nhiều mặt của Nhật Bản.
Chính vì vậy, trong những năm gần đây, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản có những chuyển biến tích cực. Hai nước đã tăng cường giao lưu, hợp tác trên nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục,... Điều này càng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản tiếp tục hỗ trợ cho Việt Nam. Hơn nữa quan hệ Việt - Nhật thời gian qua và trong tương lai không tiềm ẩn bất kỳ bất ổn nào. Việc nâng cấp Việt Nhật lên đối tác Chiến lược Toàn diện trước chuyến đi của Thủ tướng Phạm Minh Chính trước đó ít ngày càng tạo điều kiện hai nước hợp tác đi vào chiều sâu.
Nhìn chung, chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Nhật Bản là một thành công lớn, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Nhật Bản lên tầm cao mới, thực chất và hiệu quả. Không ồn ào, nhưng hơn 30 văn kiện hợp tác trị giá gần 3 tỷ USD, 3 dự án hợp tác ODA 200 triệu USD, cùng với triển vọng Nhật Bản giúp đỡ và hợp tác xây dựng nền công nghiệp bán dẫn, đường sắt tốc độ cao là những “trái ngọt” trong chuyến công tác Nhật Bản của Thủ tướng.
Read More

Thấy gì từ quan hệ Việt Nam và Trung Quốc

Leave a Comment

 Thấy gì từ quan hệ Việt Nam và Trung quốc sau chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình tới Việt Nam

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình tới Việt Nam ngày 12 đến ngày 13/12/2023 là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với quan hệ hai nước. Chuyến thăm đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện sự coi trọng cao độ của Đảng, Nhà nước Trung Quốc đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Qua báo chí Việt Nam, Trung Quốc và các hãng tin lớn như CNN, Bloomberg, The New York Times,... tôi thấy tất cả đều nhận định chuyến thăm này đã góp phần tăng cường quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam, một quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới và một quốc gia đang trỗi dậy có vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á. Chuyến đi cũng thể hiện Trung Quốc muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam để duy trì ảnh hưởng của mình trong khu vực.
Về mặt chính trị, chuyến thăm đã khẳng định mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường tin cậy chính trị, tăng cường giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Về mặt kinh tế, chuyến thăm đã thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa hai nước, nhất là trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, năng lượng, công nghệ, du lịch. Hai bên đã ký kết 36 văn bản hợp tác, trong đó có 13 văn bản hợp tác kinh tế.
Về mặt ngoại giao, chuyến thăm đã góp phần nâng cao vai trò của Việt Nam và Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới. Hai bên đã nhất trí phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề khu vực và quốc tế, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực.
Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình tới Việt Nam đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước. Lần đầu tiên, hai bên đã thống nhất xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại.
Theo các hãng thông tấn phương Tây đánh giá, trong tuyên bố chung, có một số điểm dáng chú ý như hai nước thúc đẩy tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng, chống khủng bố,... Điều này cho thấy sự tin cậy lẫn nhau trong quan giữa hệ hai nước. Hai nước cũng thẳng thắn trao đổi xử lý các vấn đề tranh chấp, nhất trí duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông, đồng thời tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các vấn đề tranh chấp.
Đặc biệt là về vấn đề kinh tế, Trung Quốc muốn có một bước tiến thực chất so với các đối tác kinh tế của Việt Nam như Mỹ và phương Tây đã hành động trong thời gian gần đây, bằng việc liên kết tiềm năng kinh tế giữa hai nước. Trước mắt, Sáng kiến “Hai hành lang, một vành đai” được ông Tập đưa ra từ năm 2004, năm 2017 gồm hai hành lang kinh tế “Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng”, hành lang “Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng” và “Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ” được hiện thực hóa, nhằm thúc đẩy hợp tác hai bên trên nhiều lĩnh vực.
Cần phải thấy Trung quốc bây giờ mới chạm tới mục tiêu đề ra gần 20 năm trước. Và Việt Nam thời điểm này mới vượt qua được chính mình, không còn lo ngại về ‘bẫy nợ” và lo ngại về an ninh, bởi vì con đường tơ lụa trên biển nằm trong Sáng kiến của Trung Quốc đi qua Biển Đông, một vùng biển quan trọng, ảnh hưởng đến an ninh và phát triển của Việt Nam, cũng như hoà bình, ổn định ở khu vực. Vì vậy Việt Nam trong những năm qua không mặn mà với đề xuất của Trung Quốc.
Trong chuyến thăm này hai bên đã thống nhất triển khai viện trợ không hoàn lại của Trung Quốc cho tuyến đường sắt tiêu chuẩn quốc tế Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng. Hai bên cũng thống nhất nâng cấp đường sắt tiêu chuẩn Lào Cai, Hà Nội, Hải phòng. “Hai hành lang” này tương lai gần sẽ được kết nối với đường sắt cao tốc Trung Quốc, hướng tới việc phát triển mạng lưới trên đất liền và biển nối với khu vực Đông Nam Á, Trung Đông và châu Âu.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội trên, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc cũng phải đối mặt với một số thách thức, cụ thể: (i) Vấn đề Biển Đông vẫn là một thách thức lớn đối với quan hệ hai nước. (ii) Sự thâm hụt thương mại ngày càng lớn giữa hai nước, thâm hụt 30 đến 40 tỷ USD thậm chí nhiều hơn nữa trong những năm tới, có nguy cơ Việt Nam bị phụ thuộc nhiều vào kinh tế Trung Quốc. (iii) Sự khác biệt về lịch sử, văn hóa và lối sống cũng có thể là những thách thức đối với quan hệ hai nước.
Trong những thách thức trên, thách thức lớn nhất là vấn đề Biển Đông. Tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra từ nhiều năm nay. Đây là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm, có thể dẫn đến xung đột bất cứ lúc nào, giống như năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm đảo Phú Lâm từ chính quyền Sài Gòn, giống như năm 1988 Trung Quốc đánh chiếm 5 đảo từ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Liệu hai bên có thể tìm kiếm giải pháp hòa bình cho vấn đề tranh chấp? Theo tôi các kịch bản xung đột có thể diễn ra như sau:
Kịch bản 1: Xung đột cục bộ
Kịch bản này xảy ra khi hai bên có hành động khiêu khích, gây hấn lẫn nhau ở khu vực tranh chấp giống như trong thời gian vừa qua. Ví dụ, Trung Quốc có thể tiếp tục đưa giàn khoan đến vùng biển gần các đảo của Việt Nam, hoặc Việt Nam có thể tăng cường hoạt động tuần tra, kiểm soát ở các vùng biển gần các đảo của Trung Quốc đã chiếm đóng. Trong trường hợp này, xung đột có thể xảy ra ở quy mô nhỏ, với các hành động như va chạm tàu thuyền, nổ súng cảnh cáo, hoặc thậm chí là giao tranh quân sự. Xung đột cục bộ có thể gây ra thiệt hại về người và của cho cả hai bên, nhưng khó có khả năng leo thang thành chiến tranh toàn diện.
Kịch bản 2: Xung đột lan rộng
Kịch bản này xảy ra khi xung đột cục bộ không được kiểm soát, hoặc khi một bên có hành động gây hấn nghiêm trọng đến lợi ích của bên kia. Ví dụ, Trung Quốc có thể sử dụng vũ lực để ngăn chặn tàu của Việt Nam tiếp cận các đảo của mình, hoặc Việt Nam có thể tấn công các giàn khoan của Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp. Trong trường hợp này, xung đột có thể lan rộng sang các khu vực khác, thậm chí là đất liền. Xung đột lan rộng có khả năng gây ra thiệt hại nặng nề về người và của, và có thể dẫn đến chiến tranh giữa hai bên.
Kịch bản 3: Chiến tranh toàn diện
Kịch bản này xảy ra khi hai bên sử dụng vũ lực quy mô lớn để giải quyết tranh chấp. Chiến tranh toàn diện có thể gây ra thiệt hại và thương vong khủng khiếp, và có thể ảnh hưởng đến an ninh và ổn định của khu vực và thế giới. Khả năng xảy ra chiến tranh toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc là rất thấp, nhưng không thể loại trừ hoàn toàn. Kịch bản này có thể xảy ra nếu hai bên mất kiểm soát, hoặc nếu một bên tin rằng chiến tranh là cách duy nhất để đạt được mục tiêu chiến lược của mình, nhất là với Trung Quốc, muốn biến Biển Đông thành ao nhà mình, lật đổ vị thế của Mỹ để vươn lên thành siêu cường số 1 thế giới.
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều có lợi ích kinh tế từ việc hợp tác với nhau. Kim ngạch thương mại hai bên lên năm nay đến gần 200 tỷ USD. Tiềm năng đầu tư thương mại giữa hai nước còn rất lớn. Nếu hai bên nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác, thì khả năng xảy ra xung đột sẽ thấp.
Để giảm thiểu khả năng xảy ra xung đột, Việt Nam và Trung Quốc cần nỗ lực giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Hai bên cần tăng cường trao đổi, hợp tác, và tôn trọng lẫn nhau. Ngoài ra, các nước khác trong khu vực và thế giới cũng cần đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy giải quyết hòa bình tranh chấp. Để vượt qua những thách thức này, hai bên cần tiếp tục tăng cường sự tin cậy chính trị, tăng cường giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau. Nhìn chung, chuyến thăm Việt Nam của ông Tập Cận Bình đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đi vào chiều sâu, không né tránh thách thức, góp phần tăng cường quan hệ song phương giữa hai nước trong thời gian tới.
Read More

Đằng sau vẻ đẹp sắc trắng của núi rừng Tây Bắc

Leave a Comment

 Mộc Châu, Sơn La, đằng sau vẻ đẹp sắc trắng của núi rừng Tây Bắc

Đoàn chúng tôi dừng chân ở Mộc Châu đúng vào dịp Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, Sơn La được thế giới vinh danh là điểm đến thiên nhiên hàng đầu của khu vực châu Á Thái Bình Dương. Đây là địa điểm quen thuộc, yêu thích khi chúng tôi chia tay sau 9 ngày rong ruổi trên đất nước Lào.
Cánh lính yêu thơ làm nhiệm vụ quốc tế ở thượng Lào, đến địa phận này vẫn đọc lại những câu thơ quen thuộc: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/Có thấy hồn lau nẻo bến bờ/Có nhớ dáng người trên độc mộc/Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.
Thủa mười tám đôi mươi chúng tôi chưa biết đến Đà Lạt nên không gọi Mộc Châu là Đà Lạt của Tây Bắc như giới truyền thông vẫn thường cổ súy. Chỉ biết nơi đây được ôm ấp bởi hai dòng sông, sông Đà và sông Mã, khí hậu mát mẻ quanh năm. Nơi đây có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, mỗi mùa đều mang một vẻ đẹp riêng đầy mới lạ. Nơi đây khi mới nhập ngũ anh em chúng tôi được bà con hồ hởi chào đón, được đưa về ở trong những ngôi nhà sàn của người Mường, người Thái trong thời kỳ huấn luyện trước khi đị B (đi Nam), đi C (đi Lào)
Mộc Châu ngày ấy rất hoang vu. Chúng tôi đi bộ hàng giờ, thậm chí nhiều giờ không thấy một nóc nhà. Quá vắng vẻ! Nó gợi cho bao chàng trai sống trong môi trường mới đôi khi cảm thấy buồn, xa vắng, heo hút đến đơn côi…
Nhưng bù lại, cảnh quan, thiên nhiên Mộc Châu rất đẹp. Xuân về, nơi đây như khoác lên mình chiếc áo xanh non mơn mởn của những đồi chè xanh mướt hút tầm mắt. Những đồi vườn hoa mận, hoa mơ nhuộm trắng đất trời, phủ trắng ngần hai bên đường vào các bản làng. Cùng với màu trắng hoa mận, hoa mơ là màu phấn hồng mỏng manh dịu dàng, của hoa đào rừng, hoa đào mèo, loài hoa mang vẻ đẹp hoang dã đặc trưng của vùng cao trải dài các thung lũng, các triền đồi núi. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất vẫn là hoa ban. Khi mới nở, hoa có màu tím sau đó dần chuyển sang hồng nhạt và cuối cùng là màu trắng. Vẻ đẹp của hoa ban trong làn sương mờ gợi cho người ta liên tưởng đến vẻ đẹp của người con gái vùng cao, giản dị và thuần khiết.
Tôi cảm nhận một trong những nét đẹp đặc trưng của Mộc Châu là nét đẹp của các sắc độ mầu trắng. Cái màu trắng mênh mông của hoa, của sương mù đất trời thể hiện rõ nhất khi vào mùa đông, khi những đợt gió lạnh đầu mùa ùa đến, những bông hoa cải đầu tiên hé nở, rồi cả một vùng mênh mông bát ngát hoa cải trắng ngà nở rộ. Ở một số nơi, hoa cải chìm ngập trong những thung mây. Và rồi đông chí đến, những ngọn núi cao được bao phủ bởi một màu trắng tinh khôi của tuyết. Những ngọn núi trập trùng, những bản làng vùng cao tuyết trắng xóa sau một đêm như trong cõi mơ, một cảnh tượng kỳ thú với cánh lính miền xuôi…
Đến ngày hôm nay Mộc châu đã thay đổi nhiều quá. Chúng tôi biết đến một Mộc Châu mới với rất nhiều những danh lam thắng cảnh như: Thác Dải Yếm, Ngũ Động Bản Ôn, Rừng thông Bản Áng, Đồi chè, Đỉnh Pha Luông, Cầu kính Bạch Long, cùng với nhiều địa danh khác mang trong mình những vẻ đẹp thiên tạo, nhân tạo riêng, góp phần tô điểm thêm cho bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của của vùng sơn cước.
Trong chuyến đi lần trước, chúng tôi đã có dịp lên Đỉnh Pha Luông. Mặc dù không cao hay hùng vĩ như những ngọn núi vùng cao Tây Bắc khác, nhưng đỉnh Pha Luông cao hơn 2000m được ví như “nóc nhà của Mộc Châu”. Gặp lúc trời mưa lại nhớ đến câu thơ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ càng ngẫm càng thấy hay. Tôi thấy đâu đó xa xa trong làn mưa, những ngôi nhà thấp thoáng ở lưng chừng núi tạo nên cái ấm áp và sức sống trên con đường hành quân hẻo lánh của những người lính năm xưa. Có cái gì đó rất gắn bó thân thương với chúng tôi. Đỉnh Pha Luông được xem là ranh giới tự nhiên giữa hai nước Việt Nam và Lào. Trên đỉnh núi này chúng tôi có thể quan sát toàn cảnh núi rừng hùng vĩ, những bản làng và thảm thực vật của hai quốc gia Việt Nam, Lào…
Chúng tôi đến thăm lại những Đồi chè, Đồi chè Trái Tim thị trấn Nông Trường Mộc Châu, đồi chè nổi bật với tạo hình biểu tượng trái tim tình yêu độc đáo. Riêng tôi một tháng trước cùng cánh lính ở quê về thăm lại nơi đóng quân, thăm Rừng thông Bản Áng xã Đông Sang. Rừng thông Bản Áng không còn nét hoang sơ như trước đây nhưng vẫn đẹp và thơ mộng. Đặc biệt là những ngôi nhà sàn xinh xắn, nằm dưới cánh rừng thông bạt ngàn, bên cạnh hồ Bản Áng trong vắt, phẳng như gương. Tôi cũng thăm lại Thác Tạt Nàng, dòng thác đổ nước xuống tựa như một dải yếm nằm ẩn mình sau những thửa ruộng bậc thang xanh rì.
Mới lạ nhất với tôi là Cầu kính Bạch Long, cầu kính được giới thiệu là cầu kính dài nhất thế giới, sử dụng những tấm kính trong suốt làm chất liệu. Khi bước chân lên cầu, tôi có cảm giác bất ngờ giống như mình đang treo lơ lửng giữa không trung. Trên cầu mọi người vừa có thể ngắm nhìn toàn bộ khung cảnh núi non hùng vĩ nghìn thước lên cao với bầu trời trong xanh vừa ngắm nhìn bên dưới sâu thẳm thẳm nghìn thước xuống.
Tôi gợi ý với anh em trong đoàn nên đến thăm Khu Di tích lịch sử Trung đoàn 52 Tây Tiến tại đồi Nà Bó, nơi lưu giữ nhiều kỷ vật quý giá về đoàn binh Tây Tiến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Anh Nguyễn Quốc Chinh, người lính cao tuổi nhất trong đoàn cho tôi biết Khu di tích lịch sử Tây Tiến được xây dựng năm 2016 bằng tất cả sự kính trọng, lòng biết ơn vô hạn của đồng bào các dân tộc huyện Mộc Châu, của những cựu chiến binh Trung đoàn Tây tiến đối với những người lính nguyện hy sinh tuổi xuân vì độc lập tự do của hai dân tộc Việt Lào. Rất tiếc không còn thời gian nên đoàn phải tạm hoãn lại.
Có thể nói khu di tích này là một công trình kỳ vĩ, độc đáo. Phia trước Đài tưởng niệm là không gian của Khu hoài niệm, đài vọng tưởng được thiết kế bằng kính trong suốt, mở ra một không gian thoáng đãng. Có thể ngắm nhìn toàn cảnh thị trấn, ngắm nhìn núi rừng Tây Bắc. Nếu là người lính chắc sẽ bồi hồi, xúc động ngược dòng thời gian trở về với năm tháng hào hùng, trở về với Trung đoàn Tây tiến, trở về với những chàng trai Hà thành hào hoa, lãng mạn và vô cùng dũng cảm. Đến thăm khu di tích này mọi người sẽ được nghe những vần thơ của Quang Dũng. Giọng đọc thơ của cô thuyết minh người dân tộc vang vọng truyền cảm như khắc tạc vào thời gian, không gian đất trời Tây Bắc: Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành…
Đêm chia tay nhau ở Châu Mộc, chúng tôi trằn trọc không ngủ được. Mỗi người một tâm trạng riêng. Tôi nhớ lại những câu chuyện Tướng Chu Phương Đới kể khi ông được Quân ủy Trung ương, được Bác Hồ, bác Giáp trực tiếp giao nhiệm vụ huấn luyện Sư đoàn 316 và bảo vệ biên cương (năm 1958 Thượng tá Chu Phương Đới là Sư đoàn phó, tham mưu trưởng sư đoàn 316 tại Mộc Châu, Sơn La. Sau này ông là Phó Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Vào những năm 1950 ông là một trong những trung đoàn trưởng đầu tiên dẫn quân sang giúp bạn ở Bắc Lào). Tôi nhớ đến những câu chuyện về các cán bộ chiến sĩ, những người còn sống và những người đã mất mà đồng đội nhắc đến trong chuyến đi. Tôi được anh Nguyễn Quôc Chinh cho biết, năm tới quân đội 2 nước tổ chức lễ truy tặng danh hiệu anh hùng cho các đơn vị và cá nhân… Tất cả đều có liên quan một phần đến Châu Mộc, Sơn La. Châu mộc với chúng tôi không chỉ là một địa danh, quê hương của điệu xòe Thái, quê hương của lễ hội cầu mùa, lễ hội cơm mới từng bao bọc chúng tôi trong thời kỳ huấn luyện, Châu Mộc còn là một phần cuộc đời của những người lính chúng tôi.
Read More

Thăm cố đô Luông Phabang

Leave a Comment

 Thăm Cố đô Luông Phabang

Tôi từng nghe một nhà nghiên cứu văn hóa Lào nói "Đến Lào phải đến Luông Phabang, đến Lào mà chưa đến Luông Phabang thì coi như chưa đến Lào”. Lần trước theo đoàn cựu chiến binh 324 đến Lào nhưng không có điều kiện đến Luông Phabang nên tôi có cảm nhận đúng như vậy.
Cố đô Luông Phabang, còn được gọi là Luang Prabang, là một thành phố lịch sử và văn hóa, một thành phố du lịch nổi tiếng của Lào.
Nằm ở khu vực miền bắc đất nước, Luông Phabang đã từng là kinh đô của Vương quốc Lào từ năm 1353 đến năm 1975. Thành phố này được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào năm 1995, nhờ sự kết hợp tuyệt vời giữa các yếu tố văn hóa, lịch sử và kiến trúc độc đáo, nhờ ở vẻ đẹp rất độc đáo, thể hiện rõ nét bản sắc văn hóa Lào.
Về mặt lịch sử, Luông Phabang đã chứng kiến nhiều thăng trầm và biến động trong suốt chiều dài lịch sử. Từ khi thành lập Luông Phabang đã là trung tâm chính trị, văn hóa và tôn giáo của Vương quốc Lào, kinh đô vương quốc Lan Xang, tồn tại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ hoàng kim của Lào, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ về kinh tế, văn hóa và chính trị.
Các di tích lịch sử và kiến trúc độc đáo, nổi tiếng nhất là Hoàng cung Luông Phabang: Nơi ở của các đời vua Lào, được xây dựng từ thế kỷ XIV. Hoàng cung cũng là Bảo tàng Quốc gia, được xây dựng năm 1904, có nhiều hiện vật quý giá có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, tôn giáo; đặc biệt có một viên "thiên thạch" từ mặt trăng cũng được trưng bày trong bảo tàng này.
Giá trị văn hóa của Luông Phabang thể hiện ở việc bảo tồn truyền thống, tôn giáo và phong tục tập quán của người Lào. Thành phố được coi là một trung tâm Phật giáo tiểu thừa (Nam tông) quan trọng và có nhiều ngôi chùa và đền tháp rất đẹp. Những ngôi chùa đẹp khiến chúng ta phải mê mẩn đến ngỡ ngàng bởi nghệ thuật kiến trúc, bởi những bức tượng phật sống động, bởi lối trang trí tỉ mỉ vừa tinh tế vừa tinh xảo. Đó là chùa Phật Ngọc: Ngôi chùa nổi tiếng nhất của Luông Phabang, lưu giữ bức tượng Phật bằng đồng mạ vàng quý giá; chùa Xieng Thong: Ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XVI, nổi tiếng với kiến trúc độc đáo và bức tường vàng rực rỡ; chùa Vat Visoun: Ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XVI, lưu giữ nhiều tượng Phật quý…
Luông Phabang cũng là nơi diễn ra nhiều lễ hội và nghi lễ truyền thống, chẳng hạn như Lễ hội Boun Ok Phansa, lễ hội khi đến Lào vào đúng dịp lễ, chúng ta không thể bỏ qua (Lễ hội mãn chay, được tổ chức vào ngày 15/11 Phật lịch. Đây là lễ hội quan trọng của người Lào, đánh dấu sự kết thúc ba tháng mùa chay, thời gian các nhà sư tu tập, không được phép ra khỏi chùa) và Lễ hội Pi Mai nổi tiếng (Lễ hội Té nước vào khoảng trung tuần tháng 4, lễ hội phồn thực năm mới cầu mong nước về, thể hiện ước vọng cuộc sống sinh sôi, đâm chồi, nảy lộc (có nét tương đồng với lễ hội cầu mưa, lễ hội rước nước của Việt Nam). Lễ hội Pi Mai là lễ hội được tổ chức trên toàn quốc trong ba ngày. Du khách hồ hởi chuẩn bị tâm thế ướt sũng khi mọi người dội nước thơm trên đường phố). Hai lễ hội này cùng với một số lễ hội khác được tổ chức mỗi năm, thu hút nhiều khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới.
Luông Phabang thuộc đô thị loại nhỏ, nhưng bình yên đến đáng yêu và kiều diễm đến nên thơ. Có khoảng 410.000 người, thành phố nằm bên bờ sông Mê Kông trù phú và được bao quanh bới những dãy núi xanh thẫm. Nơi đây có khí hậu mát mẻ, cảnh quan tươi đẹp, hòa hợp với những nếp nhà rất đặc trưng của các dân tộc Lào. Những nếp nhà một tầng, hai tầng hòa quyện với thiên nhiên, rợp trong bóng cây cổ thụ, xen kẽ với những ngôi chùa cổ kính. Người ta cũng có thể tham quan Luông Phabang bằng thuyền, để tận hưởng vẻ đẹp của thành phố từ dòng sông Mê Kông.
Đến với Luông Phabang còn là đến với thành phố du lịch. Về đêm, chúng ta được trải nghiệm một thành phố lung linh sắc màu với đèn lồng, thổ cẩm, những con phố dài, uốn lượn bên dòng Nậm Kha hiền hòa. Thành phố chỉ có khoảng 5 con phố chính nên vào buổi tối những con phố này đều tấp nập du khách. Nhất là những con phố liền kề dòng Nậm Khan. Người ta thường tụ tập thưởng thức cà phê, nghe nhạc, uống bia Lào, nhâm nhi chén rượu cùng hương vị món cá lăng Mê kông trứ danh và tận hưởng bầu không khí nên thơ, trong lành.
Đến với Luông Phabang chúng ta không thể không đi chợ đêm để nhìn, ngắm dòng người: Gìa trẻ, nam thanh nữ tú, đặc biệt là các giai nhân trong những bộ đồ lộng lẫy e ấp, tự tin hoặc kiêu hãnh tươi cười đi mua sắm. Chợ dài hàng cây số. Người ta có thể ăn uống vui chới suốt đêm, có thể mua sắm đồ lưu niệm, quần áo, đồ thủ công mỹ nghệ, đồ trang sức bạc vàng... Tuy nhiên, mặt hàng ấn tượng nhất với tôi là thổ cẩm rực rỡ của gần 50 dân tộc Lào. Thổ cẩm Lào thật vô cùng đặc sắc. Tôi có dịp được suy ngẫm và so sánh đường nét, họa tiết, hoa văn Lào với những đường nét họa tiết, hoa văn của các dân tộc tây bắc, các dân tộc phia tây Trường Sơn và Tây Nguyên của Việt Nam. Thật kỳ thú! Có nét văn hóa chung tương đồng, có nét riêng thật kỳ diệu…
Đến với Luông Phabang mà không được trải nghiệm hoạt động “bình minh khất thực” ở thành phố cổ kính này thì thật nuối tiếc. Tôi cố gắng cùng anh em đồng đội dậy sớm để chứng kiến cảnh những nhà sư từ chùa ra đường khất thực. Tôi có cảm giác như được quay trở về quá khứ xa xăm khi Đức Thích Ca Mâu Ni mấy nghìn năm trước dẫn 1250 đệ tử đi khất thực ở kinh thành vua cha. Từng đoàn sư vận áo cà sa vàng, nối tiếp nhau đi thong dong trong màn sương sớm. Những người phụ nữ trong trang phục truyền thống quỳ gối dưới theo hàng để làm lễ khất thực. Tôi thấy cả những người châu Âu da trắng cũng làm lễ khất thực như người dân địa phương (khất thực là một phương thức tu hành có từ thời Thích Ca, để nuôi sống bản thân và mang ý nghĩa di dưỡng tinh thần theo giáo lý phật giáo và phát triển phật giáo. Khất thực cũng là một cách để cưu mang những người kém may mắn trong xã hội ở chùa).
Đến với Luông Phabang còn có nhiều điểm đến thú vị khác. Người ta có thể đến núi Phuo Si, ngọn núi cao nhất có thể ngắm toàn bộ thành phố xinh đẹp. Đến thăm thác Kwang si hùng vĩ, dòng thác đẹp nhất nơi đây…
Tôi khuyên mọi người hãy đến với Luông Phabang! Nơi đây không chỉ thu hút người ta ở nét cổ kính rêu phong, bình yên đến kỳ lạ. Nơi đây còn thu hút hấp dẫn bởi người Lào thân thiện, nói năng nhỏ nhẹ, luôn nở nụ cười trên môi, những con người mang nét văn hóa, triết lý nhân sinh sâu sắc của dòng Phật giáo tiểu thừa.
Đến với Luông Phabang, cuối cùng Tôi phải cảm ơn anh bạn Bùi Minh Sơn, người đã quyết định dành thời gian hướng dẫn để đoàn được trải nghiệm thành phố kỳ diệu này. Có thể nói anh là một cuốn từ điển sống về đất nước Lào. Anh đã chia sẻ với chúng tôi bao điều sâu sắc về cố đô Luông Phabang, thành phố mang trong mình bao giá trị văn hóa và lịch sử đáng kinh ngạc, cùng với vẻ đẹp thiên nhiên và kiến trúc độc đáo.
Read More

Cánh đồng Chum Xiêng khoảng

Leave a Comment

 Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng

Đoàn chúng tôi phần đông là những người lính có thời gian tham chiến ở Tỉnh Xiêng Khoảng và một vài tỉnh giáp Xiêng Khoảng của Lào vào những năm 1965 đến đầu những năm 1970. Trong chiến tranh, Xiêng Khoảng từng được xem là vùng đất chết chóc. Nơi đây đã hứng chịu một lượng bom đạn khổng lồ, trung bình mỗi người dân phải chịu tới 350 tấn bom đạn. Riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, khoảng 15.000 chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh trên mảnh đất này.
Khi làm thủ tục xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn, đặt chân lên đất Xiêng Khoảng, nhiều người trong đoàn đã cảm thấy bồi hồi xúc động. Bao nhiêu kỷ niệm chiến đấu gian khổ, bi hùng lại ùa về trong tâm trí. Mọi người kể cho nhau nghe về những ngày tháng cùng đồng đội bám trụ chiến đấu qua những mùa mưa thối đất thối cát trong rừng, nơi quân ngụy Lào, lính đánh thuê Thái Lan, phỉ Vàng Pao luôn rình rập… Những câu chuyện bất tận sốt rét, sốt rét cả đơn vị không còn người để nấu cơm, những câu chuyện bất tận về đồng đội nào đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, giúp bạn Lào giành lại độc lập, tự do.
Anh em chúng tôi cũng ôn lại những trận đánh máu lửa ác liệt, những chiến dịch, đặc biệt là chiến dịch Cánh đồng chum-Xiêng khoảng, chiến dịch phòng ngự của liên quân Việt-Lào nhằm đánh bại kế hoạch lấn chiếm mùa mưa của quân phái hữu Lào và Quân đội Thái Lan, bảo vệ vùng giải phóng Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững thế chiến lược của chúng ta ở Bắc Lào, phối hợp với cuộc tiến công 1972 ở chiến trường Trị-Thiên và Bắc Tây Nguyên…
Khi thăm lại cánh đồng Chum, chúng tôi hiểu thêm về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc Lào. Hàng ngàn chiếc chum đá bí ẩn nằm rải rác ở hơn 50 điểm trên cao nguyên Mương Phuôn được xây dựng từ thời kỳ tiền sử, là minh chứng cho sự phát triển rực rỡ của nền văn minh Lào cổ đại. Có tới hơn 2000 chiếc chum đẽo từ đá, có kích cỡ to nhỏ khác nhau, nằm ngổn ngang nửa nổi nửa chìm, lăn lóc trên khu vực cao nguyên đầy nắng gió.
Một số nhà khảo cổ học cho rằng những chiếc chum tại cánh đồng chum liên quan đến nghi thức tôn giáo, liên quan đến chôn và đựng tro cốt người sau khi hỏa táng cách đây 1500 đến 2000 ngàn năm. Một số thì đưa ra giả thuyết những chiếc chum này dùng để đựng nước, chứa thực phẩm. Người dân nơi đây còn lưu truyền những chiếc chum này người xưa dùng để đựng rượu sau khi một vị thủ lĩnh đánh thắng kẻ thù khao quân... Tóm lại là đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được kết luận cuối cùng. Cánh đồng chum vẫn mang theo sự huyền bí của lịch sử mà chưa có lời giải.
Chúng tôi thật may mắn có thời gian khá dài tham quan, tìm hiểu 3 bãi trên cánh đồng chum, chúng kiến và chiêm ngưỡng di sản văn hóa quý giá của nhân loại được UNESCO công nhận năm 2019 trong hai ngày. Thăm Mường Khun (thị xã xiêng khoảng cũ), cái nôi văn hóa, nơi đặt kinh đô của 23 tộc trưởng các bộ tộc Lào cổ, nơi có khá nhiều dấu tích văn minh có giá trị văn hóa. Thăm chùa Phia Vat, ngôi chùa lớn nhất và lâu đời nhất của Vương quốc Phuang, xây dựng hơn 600 năm trước, vào thời kỳ hưng thịnh nhất dưới sự cai trị của vua Chao Lankhamkong. Năm 1874, Vương quốc Phuang sụp đổ, Phia Vat cũng bị tàn phá. Vào thập niên 60 - 70 thế kỷ trước, chùa tiếp tục bị bom Mỹ phá hoại, chỉ còn lại một pho tượng Phật lớn ở chính điện, một số cột lớn và vài đoạn tường gạch đổ nát được giữ đến tận bây giờ. Thăm di tích tháp Phun được xây dựng từ năm 307 lịch Phạt Lào. Tương truyền đây là nơi thờ một phần tro cốt của Phật Thích Ca Mâu Ni.
Chúng tôi ghé thăm bản Thẳm, nơi những cán bộ chiến sỹ nhiều sư đoàn, trung đoàn cuối những năm 1960 đến đầu những năm 1970 không ai là không biết đến. Thăm di tích núi Phu Keng, nơi diễn ra nhiều trận đánh từ năm 1969 đến năm 1972. Có những trận chúng ta tiêu diệt hàng ngàn lính đánh thuê Thái Lan. Nhiều chiến sỹ của chúng ta cũng nằm lại trên dãy núi này. Anh em chúng tôi dự định cố leo lên 1500 bậc trên dãy núi cao trên 1200 m để tìm lại bóng hình đồng đội, nhưng không còn sức lực leo lên đỉnh, chỉ nhìn lên núi nước mắt lưng tròng “Thương lắm đồng đội ơi”...
Ghé thăm các ngôi làng của người Hmong, người Khmu và người Tai Dam, tình cờ chúng tôi gặp một số người quen. Trong số đó có anh But Đi người Lào Lùm đang bế cháu, anh đã từng học 5 năm ở Học viện Hậu cần, Hà Nội. Anh ôm lấy chúng tôi, dẫn chúng tôi vào nhà, vừa đi vừa nói bằng tiếng Việt “Nhớ lắm Hà Nội ngày ấy”. Chúng tôi hàn huyên, thăm bà con trong bản, chia kẹo cho các cháu trong thôn; chứng kiến một đám cưới cùng với điệu múa Lăm Vông trên đất Lào.
Nằm vắt bên kia dãy Trường Sơn, giáp ranh với tỉnh Nghệ An, Xiêng Khoảng nằm ở đông bắc của nước bạn Lào. Dân số ước tính khoảng 250.000 người. Cái tên Xiêng Khoảng tiếng Lào có nghĩa là nghĩa là “Thành phố phía chân trời”. Ngày trước tỉnh lị của Xiêng Khoảng là Mường Khun (thị xã Xiêng Khoảng cũ), hiện nay tỉnh lị là Phôn Sa Vẳn, nơi chúng tôi ở, từ địa điểm này chúng tôi tỏa đi các ngả theo lịch trình.
Xe chúng tôi đi qua những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, hùng vĩ, qua những bản làng truyền thống của các bộ tộc Lào. Nhiều ngôi nhà, phố thị khang trang đang xây dựng. Tiếp xúc với người dân các bộ tộc Lào, ngắm nhìn từng đoàn học sinh lặng lẽ đi bộ, tỏa về từ những ngôi trường cấp 4, giống như những ngôi trường ở nông thôn Việt Nam những năm 70, 80 của thế kỷ trước, chúng tôi cảm thấy bâng khuâng một nỗi niềm…
Chúng tôi cảm thấy xúc động khi thấy sự đổi thay của Xiêng Khoảng. Có cái gì đấy vừa như lạ vừa như quen. Xiêng Khoảng đã thay đổi nhiều, phát triển, giàu có hơn xưa. Chúng tôi vui mừng khi gặp gỡ những người quen, những con người hiền lành, nhẹ nhàng, hiếu khách, chân tình. Thật vui mừng vì có rất nhiều người biết tiếng Việt. Vui mừng hơn thấy tình cảm, tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Lào ngày càng bền chặt.
Năm tháng trôi đi, nhưng trong tâm khảm, nhiều người lính vẫn nhớ mãi những năm tháng chiến đấu ở Cánh đồng chum-Xiêng Khoảng. Nhiều người đã coi thời gian ở nơi đây là những năm tháng đẹp đẽ, để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuộc đời. Thậm chí có người còn có nguyện vọng sau khi từ biệt thế giới này, muốn con cháu họ đem chôn tro cốt của mình chôn trên mảnh đất này để hội ngộ cùng với người đã khuất.
Anh Bùi Minh Sơn, trưởng đoàn kiêm hướng dẫn viên, người đã soạn cuốn tự điển địa danh Lào, anh đã dẫn chúng tôi thăm nhiều địa điểm, lần theo những “dấu chân” đoàn quân năm xưa: Thị trấn Noonghet, địa điểm tập kết khi vào các chiến dịch, Khăng mạ lén (bãi ngựa chạy), Đèo đất, Mường Xén (nơi gắn liến với Bài ca Trường Sơn: Trường sơn ơi trên đường ta qua không một dấu chân người/ Có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác (Lời thơ của Gia Dũng, lính Sư đoàn 312 trên đường vào chiến dịch), thị trấn Mường Khăm, hang Thẩm Phiu (nơi tháng 11/1968 máy bay Mỹ phóng rocket làm 374 người chết, trong đó có khoảng 100 chiến sĩ công binh E 217), đèo Phu Nốc Cốc, ngã ba Noong Pết, Khăng Khay, thị xã Phôn Sa vẳn, Đài tưởng niệm Liệt Sỹ Việt Lào...
Có nhiều địa điểm ở Xiêng Khoảng, cánh đồng chum anh em không thể đến được. Đa số các trận địa ở trên núi cao, không ai trong đoàn có đủ sức để tới những trận địa năm nào. Họ đứng dưới chân núi nghiêm trang chào đồng đội. Tôi biết có những người nói lời vĩnh biệt đồng đội. Họ biết có những người đã được đưa về nghĩa trang Anh Sơn. Có những người vĩnh viễn nằm lại đâu đó trên mảnh đất này. Họ đã ngoài 70, 80 mươi rồi, nhưng trong tâm khảm, họ mãi không quên đồng đội, những người lính đã làm nên lịch sử.
Tôi tin rằng, những chuyến thăm lại chiến trường xưa là một dịp để các cựu chiến binh ôn lại những kỷ niệm hào hùng, đồng thời cũng là dịp để giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước, tinh thần dũng cảm, kiên cường và tình hữu nghị đặc biệt được xây dựng bằng xương máu của hai của dân tộc Việt-Lào.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.