Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Đình làng Kim Quan Thượng và Linh Lang Đại vương

Leave a Comment

 Đình làng Kim Quan Thượng và Linh Lang Đại vương

Tôi có công việc ở trường Đoàn Khuê nên đi xe buýt từ nhà rất sớm. Còn hơn một giờ mới đến giờ làm việc nên đi loanh quanh khu vực trường học, định tìm một nơi nào đó ngồi đợi. Qua công viên Kim Quan Thượng thấy một ngôi đình, tôi quyết định vào thăm.
Bước qua cổng đình, tôi đã cảm nhận được bầu không khí trang nghiêm, thanh tịnh vốn có của nơi thờ thành hoàng làng, một trong những tín ngưỡng truyền thống của người Việt. Mặc dù đình có vẻ mới được trùng tu nhưng kiến trúc vẫn giữ được nét cổ kính với mái ngói cong, những bức chạm khắc gỗ tinh xảo, mang đậm dấu ấn văn hóa làng xã.
Trời vẫn còn sớm. Đình đóng cửa, Tôi dạo quanh khu vực bên ngoài. Nhiều loại cây, hoa được trồng mọc xanh tươi, um tùm. Có hai loại cây phổ biến người ta thường trồng ở khuôn viên đình làng và chùa chiền là muỗm và bưởi. Xuân về muỗm và bưởi đều bắt đầu trổ hoa.
Tôi thích nhất là hoa bưởi, loại hoa dân dã đầu làng cuối ngõ xưa kia. Người ta chưa thấy cây đã thấy hương, chưa thấy hoa đã thấy hương thơm ngào ngạt. Bưởi ở đây rất nhiều. Cây nào cũng chi chít hoa. Những bông hoa nhỏ, màu trắng tinh khiết. Cánh hoa mỏng manh đều đặn, xin xắn. Nhú lên trên cánh hoa là lớp nhụy vàng, tạo nên hình dáng đặc trưng, hài hòa đẹp mắt. Những cánh hoa bười đầu mùa tụ lại thành những cụm hoa nhỏ, xếp thành chùm. Một vẻ đẹp đơn sơ và thanh lịch bao trùm cả một không gian cảnh quan rộng rãi, thoãng đãng. Lâu lắm rồi tôi mới được thụ hưởng sự bình lặng, tươi mới và đầy thú vị của miền đất tịnh thổ.
Tôi chậm rãi bước đi, tận hưởng điều từng rất quen thuộc nhưng lại cảm thấy rất mới lạ. Ở khu vực này cũng giống như quê tôi, tốc độ đô thị hóa phát triển rất nhanh. Cái chất thôn quê dần dần biến mất. Mới ngày nào từ đây nhìn sang Lệ Mật, nơi có ngôi đình thờ thành hoàng Hoàng Đức Trung (độc giả nào quan tâm xin đọc bài Cảm nghĩ về lễ hội làng Lệ Mật và Thập tam trại qua một cuộc thi của tôi trong trang Facebook này), là một cánh đồng lúa. Vậy mà bây giờ nhà cửa mọc lên san sát thay cho những ngôi nhà ngói 5 gian và vườn ao rộng rãi…
Hương thơm tươi mới và ngọt ngào đánh thức bao kỷ niệm xưa. Đặc biệt là vào những ngày đầu xuân, hương bưởi dường như dịu nhẹ, tinh tế và tinh khiết hơn. Hương thơm của nó lan tỏa hòa cùng với hương hoa muỗm ngất ngây trong không gian đầy sắc xuân, mang lại cảm giác thật thư giãn và sảng khoái…
Ông Từ mở cửa. Ông mời tôi vào lễ Thánh. Tôi hỏi ông: “Đình nhà mình thờ vị thánh nào thế ông”.
- Linh Lang Đại Vương ông ạ!
Bài vị Linh Lang đại vương được đặt trang trọng ở vị trí trung tâm, uy nghiêm và toát lên vẻ linh thiêng. Phía trước và hai bên xung quanh là tàn vàng, lọng tía và bộ bát bảo. Đứng trước ngài tôi cảm thấy tôi và ông Từ thật vô cùng nhỏ bé.
Ông Từ kính cẩn châm lửa từ chiếc đèn dầu, trao cho tôi ba cây hương nghi ngút khói. Dâng hương tưởng nhớ vị Thánh Thành hoàng làng, vị thành hoàng được 269 làng quê khắp đồng bằng Bắc bộ thờ phụng. Tôi thầm cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình bình yên.
Theo thần phả, Linh Lang là con vua Lý Thánh Tông, sinh ngày 13 tháng 12 năm Giáp Thìn 1064. Mẹ Ngài là Hạo Nương (có thần phả ghi là Cảo Nương), vốn người làng Bồng Lai huyện Từ Liêm, nay thuộc huyện Đan Phượng Hà Nôi, sống ngụ ở Thị Trại.
Tuy là cung phi nhưng bà vẫn được nhà vua cho ở riêng, gần hồ Tây. Một lần Hạo Nương đi tắm ở hồ bị Giao Long cuốn lấy người, sau có mang, sinh ra Linh Lang.
Khi quân Tống sang xâm lược, vua cho sứ giả đi cầu hiền tìm người đánh giặc cứu nước. Sứ giả tới Thị Trại, cậu bé Linh Lang nói: “Nhà vua hãy sắm cho ta một thớt voi, một lá cờ hồng cán dài 10 trượng để đi dẹp giặc”. Vua truyền người làm theo ý ngài.
Cậu bé Linh Lang như Phù Đổng năm xưa, vươn mình cao 9 trượng, cưỡi voi, cầm cờ cùng với 5000 quân sĩ ra trận. Ngài thét lớn “Ta là thiên tướng”. Nghe tiếng thét, tướng giặc kinh hồn phách tán. Chỉ sau một trận, quân giặc đại bại…
Sau khi thắng trận, nhà vua muốn nhường ngôi nhưng Linh Lang từ chối, trở về Trại Chợ. Ít lâu sau chàng bị bệnh đậu mùa rồi từ trần, hóa rồng đen trườn xuống hồ Tây. Vua cho lập đền thờ nơi hóa và phong thần cho Ngài ở Thủ lệ (Đền Voi phục), một trong Tứ trấn bảo vệ kinh thành Thăng Long…
Sự tích Linh Lang theo thần phả mỗi nơi mỗi dị bản. Xã tôi có 2 thôn, một thôn thờ Linh Lang, thần phả hơi khác với ở Voi Phục. Làng Kim Quan Thượng cũng có một dị bản riêng. Trong thần phả của làng còn ghi nguồn gốc của làng. Việc thờ phụng trong đình còn thờ thêm 2 nữ thần, tương truyền là 2 vị tổ của hát ca trù… Dù có nhiều dị bản nhưng về cơ bản hình tượng Linh Lang vẫn là hình tượng người anh hùng chống giặc ngoại xâm.
Gần đây các nhà sử học cho rằng Linh Lang là hình ảnh đã thần linh hóa giống như mô tuýp người anh hùng làng Phù Đổng. Tuy nhiên có người cho rằng Linh Lang là nhân vật có thật. Hiện thân của Ngài chính là hoàng tử Hoằng Chân đã chiến đấu chống quân xâm lược Tống và tử trận vào năm 1077 trên bờ sông Như Nguyệt. Tác giả Hoàng Xuân Hãn còn dẫn nguồn thần phả khác cho rằng Linh Lang vốn là con của thủy cung, được lệnh lên giúp vua Lý chống giặc. Sau khi đánh lui quân giặc Ngài qua đời. Riêng tôi thì phỏng đoán rằng, hình tượng Linh Lang là ảnh xạ của một lớp văn hóa trước đó, lớp văn hóa thờ rồng rắn, cỏ cây của người Việt cổ. Theo thời gian, hình tượng này được huyền thoại hóa trở thành hình tượng người anh hùng chống giặc ngoại xâm tương tự như câu chuyện chàng trai làng Phù Đổng.
Dù nguồn gốc và lai lịch của Linh Lang như thế nào đi nữa, với 269 làng quê thờ Ngài, con dân đất Việt vẫn tràn đầy lòng biết ơn đối với công lao to lớn của Linh Lang đại vương trong việc bảo vệ đất nước. Ngài là vị thần được người dân Việt Nam tôn kính, là biểu tượng cho sức mạnh và lòng dũng cảm chống giặc ngoại xâm (độc giả nào quan tâm xin đọc hai bài viết về Hội Phù Đổng của tôi cũng trong trang Facebook này cách đây 6 năm).
Thăm đình thờ Linh Lang đại vương làng Kim Quan Thượng, ngoài thời gian thư giãn hiếm có, hơn một giờ đã giúp tôi hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và truyền thống của nông thôn Việt Nam trong lịch sử. Đó là một trải nghiệm thật ý nghĩa, giúp tôi thêm trân trọng những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Read More

Vẻ đẹp ba tác phẩm Bonsai của Đỗ Thanh Tùng

Leave a Comment

 Vẻ đẹp ba tác phẩm Bonsai của Đỗ Thanh Tùng trong triển lãm cây cảnh nghệ thuật Triều Khúc

Trong triển lãm cây cảnh nghệ thuật Triều Khúc, ở khu vực trưng bày cây Bonsai tôi rất ấn tượng với ba tác phẩm của tác giả Đỗ Thanh Tùng. Ba tác phẩm bonsai đẹp trong ba chậu gốm đặt trên ba chiếc bàn gỗ xinh xắn được quang dầu bóng, chạm khắc tinh xảo. Tất cả gợi nên hiệu ứng cảm xúc thẩm mỹ đến kỳ lạ.
Tác phẩm đầu là một bụi si tự nhiên đẹp đến nao lòng. Người ta nói song thụ tức là 2 cây quấn vào nhau cùng 1 gốc, hay 2 cây sát vào nhau, quấn qua thân nhau ôm lấy nhau thể hiện ý tưởng ở bên cạnh nhau, yêu thương chăm sóc lẫn nhau, bảo vệ nhau như tình phụ tử, tình phu thê, tình bằng hữu… Tác phẩm của Đỗ Thanh Tùng có tới 8 thân cây quấn sát bên nhau thoáng đãng, nhìn xuyên thấu, không đè nhau, không chen nhau, gợi cho nguời xem liên tưỏng đến nhiều điều kỳ thú.
Trước hết nói vể vẻ đẹp tổng thể. Tác phẩm Bonsai này thể hiện sự hài hòa giữa các yếu tố: số lượng cây (8 cây) cùng hình dạng chậu (hình ô van) và tỷ lệ, kích thước tổng thể khá mẫu mực. Tám cây si, số lượng cây nhiều được bố cục hợp lý, sắp xếp cân đối trong chậu, tạo cảm giác quần tụ, vững vàng và cuốn hút.
Tôi được biết từ một bụi si hàng chục năm trước ở nhà, tác giả đã dày công tạo dáng cây bên nhau, cây thì đứmg trực, cây thì hơi xiêu. Nhưng các gốc cây quấn bện bên nhau như chung một cội. Thân cây đều vươn lên thẳng, hoặc uốn lượn gân guốc, sần sùi, u bướu; phân tầng cao ở giữa, thấp dần hai bên, tạo tán tam giác tiêu chuẩn như khóm cây trong tự nhiên.
Về chi tiết, tôi thích nhất sự tương phản giữa các mảng màu như trong hội họa. Đó là màu xanh tươi, sum suê sinh động đầy sức sống của lá cây si với màu nâu già nua nhuốm màu năm tháng của thân cây, cùng với màu gốm nâu trầm của chiếc chậu hình ô van; mầu mảng hài hòa tạo ra một điểm nhấn ấn tượng cho tác phẩm…
Về ý nghĩa, tác phẩm Bonsai này của Đỗ Thanh Tùng thể hiện sự gắn kết trong một gia đình truyền thống. Ngoài ra nó còn gợi cho người xem cảm nhận được ý chí vượt mọi khó khăn của con người trước thiên nhiên và cuộc sống. Và theo quan niệm về số, bụi si 8 cây tượng trưng cho sự sung túc, phát tài, may mắn và thịnh vượng.
Có thể nói tác phẩm Bụi si 8 cây trong chậu gốm trên chiếc bàn gỗ là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả. Tác phẩm thể hiện sự hài hòa, cân đối, tương phản và mang nhiều ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc. Tôi cho rằng thành công nhất là tác giả đã tạo ra được một tác phẩm mô phỏng thành công một bụi si trong tự nhiên với dáng vẻ già cỗi, uy nghi, mang đến cho người xem cảm giác về với cội nguồn bình yên, thư thái và gần gũi với thiên nhiên.
Tác phẩm thứ hai của Đỗ Thanh Tùng là cây sanh thế hoành. Cây có thân phát triển theo bề ngang, đua sang bên, song song với mặt chậu hình ô van.
Xét về tổng thể, đây là cây bonsai có nét kỳ, cổ. Tác phẩm Bonsai này thu hút người xem bởi hình ảnh cây sanh thế hoành độc đáo, mô phỏng cây cầu bắc qua dòng suối. Ngắm nhìn tác phẩm này tôi chợt nhớ đến một thời trai trẻ trên rừng, hành quân trên đại ngàn Trường Sơn, đi qua những thân cây đổ ngang các dòng suối… Thế cây của tác giả rất ảo mà rất thực. Thân cây rỗng, uốn hình vòm bên những hòn đá, tác phẩm như mô phỏng lại những cảnh tự nhiên mà tôi đã từng được trải nghiệm…
Về bố cục, cây sanh cân đối, hài hòa với hình ảnh cây cầu và dòng suối, tạo cảm giác khoáng đạt và thanh bình. Ở bức tranh này, người xem thấy rất rõ sự tương phản giữa màu xanh của tán cây, của lá cây với màu gỗ của thân cây giống như cây cầu và bên dưới là đá… Nó là điểm nhấn ấn tượng cho tác phẩm.
Về nghệ thuật, tác phẩm thể hiện sự sáng tạo trong việc chọn phôi, tạo gốc, nuôi rễ và kỹ thuật uốn cây, cành, dăm bông đến kỳ công. Đặc biệt tác giả đã nuôi được một thân cây sanh to, khỏe khoắn, uốn cong tương xứng với bộ rễ bám vào lòng đất vững trãi, mô phỏng hình cây cầu tự nhiên vởi dáng vẻ bình yên, tĩnh lặng.
Về ý nghĩa nghệ thuật, tác phẩm Bonsai này thể hiện sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Cây cầu tượng trưng cho sự kết nối, giao thoa giữa hai bờ suối, cũng như giữa con người với nhau. Tuy nhiên tôi thấy có cái gì đó hơi thiêu thiếu, giá như tác giả tạo thêm một nét gì đấy, chảng hạn như thêm vài viên đá, sỏi để người xem tưởng tượng rõ hơn về một dòng suối thì thật tuyệt, vì dòng suối tượng trưng cho sự luân chuyển, sinh sôi nảy nở của cuộc sống của con người và thiên nhiên. Ý nghĩa nhân văn của tác phẩm cũng sẽ đậm nét hơn.
Cảm nhận riêng của tôi, tác phẩm "Cây sanh thế hoành" (tên này không phải do tác giả đặt mà do nhiều người gọi để phân biệt với các cây khác) là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, sáng tạo và mang nhiều ý nghĩa nghệ thuật, ý nghĩa nhân văn. Tác phẩm thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật Bonsai và nghệ thuật tạo hình, tạo nên một tác phẩm đẹp và ấn tượng, xứng đáng được người xem bàn luận và chiêm ngưỡng.
Tác phẩm thứ ba là cây sanh hai thân thế trực được đặt trong chiếc chậu hình chữ nhật. Tôi cho rằng đây là một tác phẩm mang vẻ đẹp cổ điển, giống như một tác phẩm bon sai tiêu chuẩn. Tác phẩm này thu hút sự chú ý, bàn luận của nhiều người xem vì vẻ đẹp đặc biêt. Nếu không có chiếc rễ rủ xuống từ một thân cành thì nhiều người đã lầm tưởng nguyên tác phẩm có nguồn gốc từ Nhật Bản.
Sự kết hợp giữa cây sanh hai thân thế trực và chậu gốm hình chữ nhật tạo nên một sự cân đối và hài hòa đáng ngạc nhiên. Cây sanh vừa thể hiện được sự cứng cáp, mạnh mẽ vừa thể hiện được nét mềm mại tự nhiên; trong khi chậu gốm hình chữ nhật thì lại thể hiện sự vững chãi và độc đáo đến hoàn chỉnh cho tác phẩm. Sự kết hợp này tạo nên một sự hài hòa giữa yếu tố cứng cáp và mềm mại, tạo nên một trạng thái cân bằng đẹp mắt.
Ngoài ra, tác phẩm còn thể hiện sự khéo léo trong nghệ thuật Bon sai. Cây sanh được tạo hình một cách tỉ mỉ để tạo ra hình dáng thân cành đẹp hài hòa giữa yếu tố nhân tạo và yếu tố tự nhiên. Các cành cây, các nhánh cây được uốn nắn, cắt tỉa một cách tinh tế để tạo hình khối tam giác cân đối đến ngạc nhiên.
Từng chi tiết nhỏ trong tác phẩm này cũng đáng để lại ngưỡng mộ cho người xem. Từ hình dáng chung của cây, từ đường nét hoa văn trên chậu gốm đến các cành lá và nhánh cây được tạo hình rất cẩn thận. Nó gợi cho người xem cảm nhận được sự tinh tế trong nghệ thuật chơi cây Bon sai.
Cuối cùng, để đánh giá chính xác về vẻ đẹp của ba tác phẩm Bonsai của Đỗ Thanh Tùng, tôi nghĩ người xem nên trực tiếp ngắm nhìn, tiếp xúc với tác phẩm ở mọi góc độ để cảm nhận được nét tổng thể cùng với những chi tiết và cảm xúc mà ba tác phẩm mang lại. Việc đánh giá giá trị của một cây Bonsai còn phụ thuộc vào sở thích, phụ thuộc vào quan điểm cá nhân của mỗi người. Trong việc thưởng thức vẻ đẹp của cây cảnh nghệ thuật, người xem cũng giống như người đọc một tác phẩm văn học, xem một tác phẩm tạo hình đều có quyền đồng sáng tạo tác phẩm, tạo nên những giá trị thẩm mỹ của riêng mình. Dù sở thích, quan điểm có khác nhau nhưng tôi tin rằng ba tác phẩm trong triển lãm cây cảnh nghệ thuật Triều Khúc của Đỗ Thanh Tùng đã đem đến cho người xem những cảm xúc thẩm mỹ nhất định. Với tôi, đó là cái đẹp của sự hài hòa, cân đối, cái đẹp của sự tương phản tinh tế và ấn tượng, cái đẹp trong tạo hình tạo nên tác phẩm cây cảnh nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn.
Read More

Vẻ đẹp triển lãm cây cảnh nghệ thuật Triều Khúc

Leave a Comment

 Vẻ đẹp triển lãm cây cảnh nghệ thuật Triều Khúc

Để chào mừng ngày thảnh lập Đảng, chào mừng ba ngày hội xuân, ngày 12/2, Câu lạc bộ cây cảnh nghệ thuật Triều Khúc khai mạc Lễ trưng bày cây cảnh nghệ thuật. Về dự lễ khai mạc có đại diện của Trung ương Hội Sinh vật cảnh, đại diên Hội Sinh vật cảnh Hà Nội, đại diện Huyện ủy, Hội đồng Nhân dân huyện Thanh Trì, Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân xã Tân Triều, cùng một số thành viên câu lạc bộ cây cảnh nghệ thuật các tỉnh, huyện lân cận và đông đảo bà con yêu thích nghệ thuật cây cảnh triều Khúc.
Cảm nhận chung của những người yêu cây cảnh, của các đại biểu, các phóng viên báo đài, các bogger cây cảnh nghệ thuật thì đây là một cuộc triển lãm quy mô hoành tráng, quy tụ gần đầy đủ tác phẩm của các nghệ nhân, các tác giả nổi tiếng của Triều Khúc. Ngoài những tác phẩm nổi tiếng nhiều người biết đến như Khổng tước hạ sơn, Đại thụ lưu quang, Cổ Triều danh tự… còn có nhiều tác phẩm mới ra mắt lần đầu như Lão mai sinh quý tử của nghệ nhân Nguyễn Gia Hiền, Đại cổ làng Triều của Triệu Khắc Thủy, tác phẩm An Lành của Triệu Thế Cường, Mẫu tử tình thâm, Mẫu hiền tử hiếu của Triệu Khắc Hùng, Cửu liên hoa của Giang Nguyên Long, Giao long đẳng vân của nghệ nhân Cao Xuân Đô, Huyền Hữu Duyên của Nguyễn Gia Lâm… Tất cả đều đẹp và rất đẹp, mang phong cách riêng rất đặc trưng của Triều Khúc, không thể lẫn với các tác phẩm bất kỳ ở một cuộc triển lãm cấp quốc gia, cấp tỉnh, huyện nào trong cả nước. Bởi trong số hơn 200 tác phẩm cây cảnh nghệ thuật các loại, chỉ có hơn một chục tác phẩm của các nghệ nhân ở bên ngoài.
Có một số phóng viên, blogger hỏi tôi, cái gì tạo nên phong cách riêng của nghệ thuật cây cảnh Triều Khúc. Thâm chí có người còn gọi là trường phái cây cảnh nghệ thuật Triều Khúc. Tôi không đồng ý với cách gọi này. Nói phong cách riêng Triều Khúc thì còn có thể chấp nhận được.
Tôi cho rằng thế Mai bò, Mẫu tử, một trong những thế cây phổ biến, được các nghệ nhân, các tác giả xưa nay làm nên “thương hiệu” nổi tiếng của Triều Khúc. Chính thế này với thời gian, biến thành thế hai cây, ba cây, đã in đậm dấu ấn ở nhiều tỉnh thành, để lại nhiều cây cảnh nghệ thuật cổ, mỗi cây có giá trị hàng chục tỷ đồng.
Thế Mai bò, Mẫu tử Triều Khúc mang một vẻ đẹp độc đáo và đầy ý nghĩa, thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng và cao quý chung, đồng thời nó cũng mang nét đặc trưng rất riêng của làng Triều Khúc.
Về mặt hình thức: Thế mẫu tử thường được tạo ra từ hai cây, cây lớn tượng trưng cho người mẹ và cây nhỏ tượng trưng cho đứa con. Hai cây được ghép đối nhau tạo nên một tổng thể cân đối và đẹp mắt. Thân cây mẹ to khỏe, sần sùi, thể hiện sự già dặn theo năm tháng như con hạc gương cánh, hồi đầu che chở cho con non. Cây con mọc lên từ thân cây mẹ, vươn lên, nương theo cây mẹ đầy sức sống, tượng trưng cho cuộc sống tiếp nối.
Thân, cành lá của hai cây mẫu, tử được các nghệ nhân Triều Khúc tạo dáng, uốn nắn và cắt tỉa cẩn thận theo một nguyên tắc chặt chẽ giống như bố cục của một bức tranh, niêm luật của một bài thơ, tạo nên những đường nét cương nhu, cứng cáp khỏe khoắn nhưng mềm mại và uyển chuyển. Chẳng hạn như tay Trấn phong khỏe khoắn can trường che chắn nhưng vẫn dịu dàng viên dung bao lấy cây tử. Tay Diều hay tay Nghênh phong mềm mại vươn lên đón sinh khí của đất trời. Tay Hổ ngắn chùn chũn, mập mạp đối xứng với tay Long thon dài mềm mại…
Ngay cả tay, tán, dăm bông cành lá cũng được tạo theo nguyên tắc âm dương tương sinh tương khắc, tương phản nhau nhưng nương tựa vào nhau, hòa hợp với nhau, tạo nên nét cương nhu hài hòa. Các cụ xưa đã mang cả triết lý âm dương ngũ hành vào trong cây thế. Sự cân đối hài hòa phải đạt đến mức tổng thể, trong mối tương quan giữa tổng thể với bộ phận, giữa các bộ với bộ phận của cả cây. Toàn bộ thân, cành, tán phải hài hòa với gốc rễ theo một tỉ lệ nhất định. Và bộ rễ của hai cây mẫu tử được bện chặt vào nhau, tượng trưng cho sự gắn kết bền vững, không phân tán, tách rời.
Về mặt ý nghĩa: Thế Mai bò, Mẫu tử là biểu tượng cho tình mẫu tử thiêng liêng, cao quý và đầy hy sinh. Tình yêu thương của người mẹ dành cho con cái là vô bờ bến; luôn che chở và bảo vệ con trong mọi hoàn cảnh. Hình ảnh cây con vươn lên từ thân cây mẹ tượng trưng cho sự tiếp nối thế hệ, tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở và phát triển của cuộc sống.
Thế mẫu tử còn mang ý nghĩa về sự đoàn kết, gắn bó và yêu thương trong gia đình. Đó chính là ý nghĩa nhân văn trong tiêu chuẩn đánh giá về cây đẹp: Kỳ, cổ, mỹ, văn. Trong đó, tôi cho rằng cái chất văn phải là hồn cốt của cây cảnh nghệ thuật. Độc giả quan tâm có thể tham khảo lời bình của tôi trong các video của Hoàng Lịch Thiệp trên Youtube qua một số tác phẩm tiêu biểu về thế mẫu tử ở triển lãm cây cảnh hội làng Triều Khúc năm 2024.
Với vẻ đẹp độc đáo và ý nghĩa sâu sắc, thế Mai bò, mẫu tử luôn là một lựa chọn hàng đầu cho những người yêu thích nghệ thuật chơi cây cảnh Triều Khúc. Nói như vậy không có nghĩa là các nghệ nhân chỉ bảo thủ với thế cây tủ của mình. Trong quá trình tạo thế cây, các nghệ nhân qua các thế hệ vẫn luôn tự đổi mới. Nhiều nghệ nhân sau này bỏ tay trấn phong, thêm vào tay tế thân, hoặc bỏ dáng mai bò, thân hai cây mang dáng long tựa như cây của xứ Nam. Tiêu biểu trong số xu hướng này là các tác phẩm của Nguyễn Quang Dũng hay tác phẩm Giao long đẳng vân của Cao Xuân Đô, cặp long một trên một dưới bay bổng như đang đùa rỡn dưới trời mây. Một anh bạn họa sỹ đi cùng hỏi tôi: “ Chủ nhân có phải là họa sỹ không mà hình khối, kết cấu vừa bay bổng vừa chặt chẽ như một tác phẩm điêu khắc vậy”…
Có một điều đáng chú ý là các cụ Triều Khúc xưa không làm cây thế huyền, không để lại một tác phẩm thế huyền nổi tiếng nào. Ngày nay có nhiều nghệ nhân, nhiều tác giả đã tập trung khai phá thế này. Nhiều người đã gặt hái được thành công. Tiêu biểu trong số nghệ nhân này có nghệ nhân Vũ Minh Châu, Cao Xuân Đô, Nguyễn Gia Lâm, Nguyễn Huy Đào, Triệu Khắc Huy… với hàng chục tác phẩm thế huyền rất ấn tượng trưng bày trong triển lãm. Tôi đã phân tích tác phẩm Huyền hữu duyên trong một video của Hoàng Lịch Thiệp, độc giả có thể tham khảo thêm trên Youtube.
Vẻ đẹp độc đáo của thế huyền trong nghệ thuật chơi cây cảnh bắt đầu được giới chơi cây cảnh Triều Khúc chú ý. Thế huyền là một trong những thế cây bonsai được yêu thích bởi vẻ đẹp độc đáo, mang đậm tính nghệ thuật và triết lý nhân văn. Nó thể hiện xu hướng hội nhập với nghệ thuật Penjing của Trung Quốc, nghệ thuật Bonsai của Nhật Bản trong lối chơi cây cảnh của người Triều Khúc.
Về hình thức, thế huyền rất uyển chuyển, mềm mại. Thân cây uốn cong như thân rồng, tán lá nhấp nhô buông xuống, tạo cảm giác bồng bềnh như dòng thác đổ hay nhành liễu rủ từ vách đá xuống. Nét đẹp kỳ thú nằm ở sự tương phản, tương phản giữa phần thân già cổ kính, gân guốc, sần sùi khắc khổ uốn cong với tán cây xanh non đầy sức sống hướng lên trời cao, tạo nên sự cân bằng, hài hòa cho tổng thể. Tác phầm Huyền hữu duyên, Long hý thủy cùng hàng chục tác tác phẩm thế huyền đẹp đã thu hút được sự chú ý và tán thưởng của nhiều người.
Về mặt ý nghĩa, hình ảnh cây thế huyền, cây nghiêng đổ, nhưng vẫn vươn lên dù thân mình nghiêng ngả, thể hiện cho ý chí kiên cường, bất khuất trước nghịch cảnh. Thế huyền cũng thể hiện khả năng thích nghi với môi trường sống khắc nghiệt, tượng trưng cho tính linh hoạt, mềm dẻo trong cuộc sống. Tán cây hướng lên thể hiện tinh thần vươn lên, hướng tới những điều tốt đẹp.
Để tạo ra thế huyền đẹp, người nghệ nhân phải có kỹ thuật uốn cây cao, giúp thân cây uốn cong mềm mại một cách tự nhiên. Nghệ nhân phải biết kết hợp hài hòa giữa cây, chậu, đá và phụ kiện phải được lựa chọn và kết hợp hài hòa với nhau để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh tùy theo sự sáng tạo của mỗi nghệ nhân, thể hiện phong cách và cá tính riêng trong qua trình tạo hình.
Tôi được biết trong triển lãm năm sau sẽ có nhiều tác phẩm thế huyền nữa được ra mắt. Bởi vẻ đẹp của thế huyền không chỉ nằm ở hình thức bên ngoài mà còn ở ý nghĩa sâu sắc bên trong. Cây thế huyền là một tác phẩm nghệ thuật, mang lại giá trị thẩm mỹ cao và mang đến nhiều lợi ích về mặt phong thủy cho gia chủ. Trong quá khứ cây thế huyền ở Triều Khúc chưa xứng tầm với các dáng thế khác như Mai bò, mẫu tử, tam đa, ngũ phúc… hy vọng rằng thời gian tới sẽ có một số tác phảm thế huyền để lại dấu ấn trong giới cây cảnh nghệ thuật toàn quốc!
Ấn tượng cuối cùng của tôi trong triển lãm lần này là số lượng trên 100 cây Bosai ở tất cả các dáng thế. Nó thể hiện xu thế chuyển mình trong lối chơi cây cảnh hiện đại, trong thời đại toàn cầu hóa, trong hoàn cảnh đô thị hóa, đất chật người đông.
Một số nghệ nhân và khá nhiều tác giả như Triệu Chi Năng, Triệu Khắc Tiệp, Giang Nguyên Long, Triệu Khắc Huy, Nguyễn Hữu Ninh, Đỗ Thanh Tùng, Nguyễn Huy Thông, Bùi Văn Úy, Triệu Khắc Cường , Nguyễn Duy Nam, Triệu Khắc Chiến, Nguyễn Gia Cường… đã tạo ra nhiều tác phẩm thật sự gây “sốc” cho người xem. Tuy chưa đạt tiêu chuẩn cổ, kỳ, mỹ, văn như các tác phẩm truyền thống lớn nhưng thực sự nhiều cây đã đạt đến mức khá hoàn mỹ theo tiêu chuẩn của cái đẹp hiện đại. Và điều đặc biệt là nó vẫn mang bóng dáng, hồn cốt của phong cách Triều khúc, một tín hiệu đáng mừng về nghệ thuật cây cảnh nghệ thuật hiện đại nối tiếp được truyền thống của người chơi cây cảnh Triều Khúc… Trong số đó có hơn 30 tác phẩm của nhóm Bonsai mini kết hợp tiểu cảnh cực kỳ tinh xảo, có thể để trên tay. Anh bạn thủa thiếu thời Nguyễn Huy Hiền, Chủ nhiệm Câu lạc bộ cây cảnh nghệ thuật đầu tiên của Triều khúc đã nhận xét: “ Một vườn cây, một triển lãm thu nhỏ, có rừng núi, có sông suối, có đồng bằng. Thật tuyệt”…
Để kết thúc bài viết, tôi xin trích một đoạn trong bài phát biểu của mình nhân Lễ khai mạc trưng bày cây cảnh nghệ thuật Triều Khúc: “Triển lãm này không chỉ là nơi giới thiệu những tác phẩm đẹp mắt mà còn là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai, là thành qủa của ông cha truyền lại cho con cháu. Chúng ta có cơ hội tìm hiểu về kỹ thuật truyền thống, những bí quyết trồng cây cảnh được truyền từ đời này sang đời khác. Chúng ta cũng có cơ hội để tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật cây cảnh Pẹnjing Trung Hoa, nghệ thuật Bonsai Nhật Bản; đồng thời, triển lãm cũng tạo điều kiện để các nghệ nhân trẻ tuổi và những người yêu thích cây cảnh khám phá và thể hiện tài năng sáng tạo của mình.
Read More

Trăm năm một đời già

Leave a Comment

 Trăm năm một đời già

Tôi không bất ngờ về sự ra đi của già, người tôi rất kính trọng và yêu thương. Các cháu xa gần mấy hôm trước đã bàn ra Giêng tổ chức làm lễ mừng thọ già 100 tuổi. Vậy mà già đã ra đi. Già ra đi nhẹ nhàng, thanh thản. Tuy vậy, cái cảm giác mất đi người thân yêu vẫn luôn là sự mất mát đau lòng, xót xa và hụt hẫng.
Vẫn biết rằng cái chết là một phần không thể tránh khỏi của cuộc sống, nhưng cái chết của già với tôi có ý nghĩa và nhiều tác động sâu sắc. Tôi biết già mong muốn được về thế giới bên kia từ hàng chục năm nay rồi. Già vượt khỏi bản năng sợ chết cố hữu thì đã là một trong những con người đặc biệt. Già mong muốn được chết không bệnh tật, không đau ốm kéo dài để phiền hà tới các cháu. Và già thực sự đã được trở về, theo cách như từng mong ước.
Trước khi đi đài hóa thân hoàn vũ, tôi nghe ông đại diện dòng họ Triệu đọc điếu văn: “Hôm nay, sau gần 80 năm cụ TTĐ mới được đi gặp người bạn đời, người chiến sỹ Việt Nam giải phóng quân đã hy sinh trong ngày đầu tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội”. Tôi nghĩ có lẽ già là người vợ liệt sỹ cuối cùng trong số những người vợ liệt sỹ thời Cách mạng tháng 8.
Đó là lý do chính tôi mừng cho già vì già luôn có niềm tin sẽ gặp lại người chồng thân yêu sau gần 80 năm dài đằng đẵng. Sau đó già còn được gặp những người thân yêu cùng một thời sau nhiều năm xa cách. Sao chúng tôi phải thương tiếc về sự ra đi này?
Tôi cùng với các cháu của già chia sẻ những cảm nghĩ giằng xé. Già tôi chỉ nằm trong số hàng triệu người phụ nữ Việt trong cuộc trường kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc bao nhiêu năm qua. Đất nước đã hòa bình, thống nhất. Cuộc sống như một dòng sông vẫn tiếp tục chảy, Mỗi cá nhân phải chấp nhận số phận riêng của mình cuốn theo dòng thời cuộc.
Trong tâm thức tôi, già trước hết là người vợ liệt sỹ. Tôi phần nào hiểu được nỗi đau khổ của những người phụ nữ mất chồng, mất chồng mà không tái giá. Suốt đời già phải đối mặt với sự mất mát và cô đơn, cùng với bao khó khăn về kinh tế, xã hội và tâm lý trong suốt những năm tháng chiến tranh, những năm tháng khắc phục hậu quả chiến tranh đầy gian khổ.
Mất đi người chồng, người trụ cột bảo vệ gia đình ở tuổi 20 là sự mất mát không thể bù đắp, không có gì có thể thay thế. Già phải vượt qua quá trình chấp nhận thực tế và điều chỉnh cuộc sống, vượt qua cảm giác đơn chiếc vò võ vô cùng đáng sợ với những khoảng trống khó mà đong đếm từ năm 1945 cho đến ngày hôm nay.
Tôi biết những người phụ nữ như già thường nhận được sự quan tâm của người thân, của các tổ chức xã hội, của chính quyền. Nhưng có không ít người thật sự đã không vượt qua được những trở ngại, trở thành nạn nhân của số phận. Già tôi đã vượt lên hoàn cảnh định mệnh để trở thành một người bình thường: Gánh vác công việc gia đình nội ngoại hai bên, tham gia công tác xã hội, công tác phụ nữ, công tác hội đồng nhân dân, công tác mặt trận sau hòa bình lập lại cho đến năm 2000. Cũng chính vì vậy trong đám tang của già tôi thấy sự hiện diện của tất cả những đời bí thư chủ tịch xã qua những thời kỳ già công tác.
Là chị ruột mẹ tôi, già luôn thể hiện sự quan tâm và tình yêu thương chân thành với người em gái. Trong ký ức tôi luôn cảm nhận hai con người thường xuyên quấn quýt bên nhau, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn, và những khó khăn trong suốt cuộc đời họ.
Mẹ tôi đông con. Những năm tháng chiến tranh đồng ruộng bị máy bay Mỹ tàn phá, những năm tháng mất mùa cuộc sống gia đình tôi rất túng bấn. Tôi biết già luôn giúp đỡ mẹ tôi về cả tinh thần và vật chất, khi thì công khai, khi thì dấm dúi. Già cho mẹ tôi vay mượn tiền nong buôn bán xuôi ngược, khuyến khích phát triển một số nghề nghiệp thủ công, cho vay mượn làm nhà cửa… Qua già lớp con cháu chúng tôi tiếp thụ được những giá trị tốt đẹp vốn có của một gia đình làng nghề nông thôn truyền thống.
Càng ngày tôi càng nhận thấy tình cảm của họ có một giá trị quan trọng trong một thời kỳ khó khăn của Xã hội. Nó là hạt nhân đóng vai trò tạo nên sự đoàn kết gia đình và họ hàng. Nó thể hiện lòng nhân ái, lòng trắc ẩn và là một tấm gương cho các thế hệ sau; giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì sự hòa hợp, sự phát triển của các thành viên trong gia đình.
Cách đây 6 năm khi mẹ tôi gần mất, già cầm tay mẹ tôi ấp vào má mình, khuôn mặt già gầy gò, nhăn nheo sương gió, mếu máo: “Sao dì nỡ để tôi ở lại một mình thế này. Kiếp sau mình vẫn là chị em nhé”. Tôi thương mẹ tôi một đời khốn khó nuôi 8 người con. Nhưng ít ra mẹ tôi còn có cha tôi, có chúng tôi; các con các cháu đều trưởng thành. Ít nhiều cuối đời còn được bù đắp. Nhưng già tôi thì không, chỉ có chị em, chỉ có các cháu. Mẹ tôi ra đi chỉ còn lại một mình già. Ngay cả người cháu trưởng chỗ dựa của già cũng đã ra đi. Chứng kiến già và mẹ phút lâm chung, chúng tôi thương mẹ một, thương già hai…
Tôi không biết nhiều về già lúc còn trẻ. Chỉ biết già học lỏm từ lớp học của các bác trai nên ít nhiều biết chữ Nho, chữ Nôm. Tôi là người được gần gũi với già từ tuổi còn thơ, còn nhớ được già đưa đi chơi khắp hàng xóm láng giềng, nội ngoại. Đặc biệt là những ngày tết, ngày giỗ nội, ngoại.
Khi tôi mới học cấp 1 già đã đưa cho tôi những quyển truyện nôm khuyết danh để đọc, đọc đi đọc lại cho các già, các dì nghe trong khi họ dệt khăn mặt, trong lúc họ rỗi rãi ngồi chơi cùng nhau bên bờ ao, dưới gốc những cây bàng. Kho tàng truyện nôm khuyết danh như Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Nhị Độ Mai, Lý Công, Bích câu kỳ ngộ, Nữ Tú tài… cứ thế thấm vào trong tôi từ những ngày đó.
Ngoài một số truyện Nôm khuyết danh, già còn thuộc lầu cuốn Chinh phụ ngâm, đặc biệt là Truyện Kiều, già có thể đọc tiếp theo sau bất cứ câu nào tôi nhắc tới. Tôi có cảm giác như già hóa thân vào những nhân vật, sống cùng với các nhân vật trong truyện. Vào đầu năm mới, tôi và các cháu già đến già chúc tết. Già vẫn theo thói quen bảo mọi người bốc Kiều và luận giải những gì có thể diễn ra trong năm. Đó là một thói quen và cũng là một niềm vui của già.
Đầu năm 2000, già buồn rầu đưa cho tôi giữ cuốn Kiều cổ, bản chữ nôm. Già nói với tôi: “Trong số các cháu, cháu là người còn quan tâm đến Truyện Kiều. Già trao lại cho cháu. Đây là kỷ vật của cha già, ông Cai”. Bây giờ già bách tuế về với tổ đường, có lẽ người bói Kiều cuối cùng của ngôi làng cổ cũng ra đi theo.
Tôi là người duy nhất được già kể đôi nét về người chồng của già. Đó là vào một buổi tối trước ngày tôi nhập ngũ, khi tôi đang sắp xếp đóng gói số sách báo, tạp chí giáo trình, truyện để khi về lại tiếp tục công việc học tập. Già đến bên tôi, đưa cho một ít tiền: “Cháu cầm lấy để uống nước với anh em bạn bè. Trai thời loạn thì phải lên đường làm nhiệm vụ như bao người. Năm ấy ông T cũng lên đường vào độ tuổi cháu. Cả thời trai trẻ ông ấy say mê với sáo diều. Trước hôm lên đường ông ấy còn gác cây sáo diều lên vách nhà ngang… Cháu cố gắng đừng để lại mẹ cháu một mình, giống như ông ấy để lại già một mình”. Dứt lời già vội đứng dậy đến bên mẹ tôi, cả hai cùng chan hòa nước mắt.
Già đã đi hết hành trình sinh mệnh trăm năm theo cả nghĩa đen cũng như nghĩa bóng. Trong hành trình ấy già đã đi theo và định hình cách sống riêng của mình, tác động mạnh đến các cháu, đặc biệt là đối với tôi. Tôi nhớ già thích nhất mùa Xuân trong truyện Kiều, cái đoạn Kim Kiều ban đầu gặp gỡ nhau, có lẽ cũng là khao khát một đời già. Trời đất đã lập Xuân. Năm mới cũng sắp đến. Hy vọng trong thế giới tâm lính, già được đoàn tụ với tất cả mọi người!
Read More

Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản sau chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính

Leave a Comment

 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản sau chuyến đi của Thủ tướng Phạm Minh Chính tới Nhật

Từ năm 1977, cựu Thủ tướng Fukuda Takeo Nhật Bản đã đưa ra học thuyết "từ trái tim đến trái tim", đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN, trong đó có quan hệ với Việt Nam. Khi phát biểu tại cuộc họp cấp cao ASEAN - Nhật Bản, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã bổ sung thêm khái niệm trên thành “từ hành động đến hành động, từ cảm xúc đến hiệu quả” vào định hướng phát triển quan hệ ASEAN - Nhật Bản trong tình hình mới.
Kết quả chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Nhật Bản là một thành công lớn, góp phần thúc đẩy quan hệ ASEAN – Nhật Bản và Việt Nam - Nhật Bản lên một tầm cao mới, thực chất và hiệu quả hơn. Trong khuôn khổ chuyến công tác này, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có các cuộc hội đàm, hội kiến với lãnh đạo cấp cao Nhật Bản: Thủ tướng Kishida Fumio, Chủ tịch Hạ viện Kōichi Hagiuda, Chủ tịch Thượng viện Shunsuke Sonoda. Tại các cuộc gặp này, hai bên đã trao đổi về những vấn đề quan trọng trong quan hệ hai nước, khu vực và quốc tế.
Trong các cuộc hội đàn, hội kiến Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ Việt Nam - Nhật Bản và mong muốn hai nước tiếp tục tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, văn hóa. Thủ tướng Kishida Fumio cũng bày tỏ mong muốn Nhật Bản và Việt Nam tiếp tục là những người bạn, đối tác tin cậy của nhau ở hiện tại cũng như trong tương lai.
Kết quả chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính thể hiện sự tin cậy và gắn bó sâu sắc giữa Việt Nam và Nhật Bản. Hai bên đã đạt được những thỏa thuận quan trọng, cụ thể như:
(i)Tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư hiện thực hóa Quan hệ hợp tác Chiến lược Toàn diện: Hai bên đã ký kết hơn 30 văn bản hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư. Các lĩnh vực hợp tác được chú trọng bao gồm công nghiệp, năng lượng, cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, thương mại điện tử,...
(ii)Tăng cường hợp tác giáo dục, đào tạo: Hai bên đã ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam với Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản. Thỏa thuận này nhằm tăng cường trao đổi sinh viên, giáo viên, giảng viên, hợp tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
(iii)Tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh: Hai bên đã nhất trí tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh, hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng,...
Trong hai thập kỷ qua Nhật Bản đã trở thành nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam từ năm 2003 và duy trì vị trí hàng đầu cho đến ngày hôm nay. Có thể kể đến một số nguyên nhân chính dẫn đến điều này:
Nhật Bản và Việt Nam có mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp, được xây dựng trên nền tảng lịch sử lâu đời và sự tương đồng về văn hóa, chính trị. Hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào năm 1973 và đã ký kết nhiều hiệp định và thỏa thuận hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực.
Chính phủ Nhật Bản có chính sách viện trợ ODA rộng rãi và hào phóng, với mục tiêu hỗ trợ các nước đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam là một trong những đối tác nhận viện trợ ODA lớn nhất của Nhật Bản. Sở dĩ như vậy là vì Việt Nam nằm trong số nước đang phát triển với nhiều nhu cầu về đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế,... Viện trợ ODA của Nhật Bản đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng những nhu cầu này của Việt Nam.
Cụ thể, viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng của Việt Nam như đường cao tốc, cảng biển, sân bay, nhà máy điện. Nhật Bản đã hỗ trợ cho nhiều dự án xây dựng trường học, đào tạo giáo viên, sinh viên. Nhật Bản đã hỗ trợ cho nhiều dự án xây dựng bệnh viện, cung cấp thuốc men, thiết bị y tế. Nhật Bản đã hỗ trợ cho nhiều dự án phát triển nông nghiệp, thủy sản, phát triển nông thôn,...
Viện trợ ODA của Nhật Bản thực sự đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Các dự án ODA của Nhật Bản đã giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế, nông nghiệp,..., tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của người dân.
Vấn đề đặt ra tại sao Nhật Bản lại là nước viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chứ không phải là các cường quốc kinh tế khác, chẳng hạn như nhóm 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Đặc biệt là Trung Quốc, một nước XHCN anh em cùng chung chí hướng với định hướng và phương châm 4 tốt, 16 chữ vàng? Có lẽ mọi người đều có câu trả lời riêng của mình.
Theo tôi, Thứ nhất Nhật Bản có động cơ thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam, một quốc gia có vị trí địa lý chiến lược và tiềm năng kinh tế lớn, để tạo ra một môi trường khu vực ổn định, hòa bình và an ninh, có lợi cho Nhật Bản. Thứ hai Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng của Nhật Bản trong khu vực. Nhật Bản lo ngại về tham vọng của Trung Quốc trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo ở Đông Á và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Do đó, Nhật Bản muốn tăng cường hợp tác với các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, để đối trọng với Trung Quốc. Thứ 3, một Việt Nam hùng cường, bảo vệ được chủ quyền, trong đó có chủ quyền biển đảo ở Biển đông, ngăn chặn được tham vọng độc chiếm Biển đông của Trung Quốc là phù hợp với lợi ích nhiều mặt của Nhật Bản.
Chính vì vậy, trong những năm gần đây, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản có những chuyển biến tích cực. Hai nước đã tăng cường giao lưu, hợp tác trên nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục,... Điều này càng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản tiếp tục hỗ trợ cho Việt Nam. Hơn nữa quan hệ Việt - Nhật thời gian qua và trong tương lai không tiềm ẩn bất kỳ bất ổn nào. Việc nâng cấp Việt Nhật lên đối tác Chiến lược Toàn diện trước chuyến đi của Thủ tướng Phạm Minh Chính trước đó ít ngày càng tạo điều kiện hai nước hợp tác đi vào chiều sâu.
Nhìn chung, chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Nhật Bản là một thành công lớn, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Nhật Bản lên tầm cao mới, thực chất và hiệu quả. Không ồn ào, nhưng hơn 30 văn kiện hợp tác trị giá gần 3 tỷ USD, 3 dự án hợp tác ODA 200 triệu USD, cùng với triển vọng Nhật Bản giúp đỡ và hợp tác xây dựng nền công nghiệp bán dẫn, đường sắt tốc độ cao là những “trái ngọt” trong chuyến công tác Nhật Bản của Thủ tướng.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.