Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Đi dạo phố sớm và vào bệnh xá

Leave a Comment
 Sáng nhìn đồng hồ mới 6 giờ. Nhìn qua của sổ, bên ngoài gió mạnh khiến cây cối, cành lá đều uốn ngả theo một chiều. Tôi mặc thêm áo len và áo khoác để đi bộ ra khu phố trung tâm. Mở cửa bên ngoài khu căn hộ tôi mới biết trời lạnh hơn tôi tưởng. Gió ập vào mặt sắc như kim châm. Có lẽ nhiệt độ ngoài trời chỉ khoảng 8 độ c. Biết là lạnh nhưng tôi vẫn đi vì quay lại nhà thì cũng chỉ bật ti vi hoặc nằm chờ các con, các cháu dậy. Thời gian đó thật chẳng lãng phí sao. Mong muốn được mục sở thị cái mảnh đất này đã thôi thúc tôi quyết đi, gạt bỏ cái ham muốn nằm trong phòng điều hòa ấm áp để co mình trong cái thế giới riêng mặc cho con tạo xoay vần.
 Khác với mấy buổi sáng hôm trước, sáng nay im bặt tiếng chim. Cái âm thanh hối hả, rộn rã như reo vui chào đón một ngày mới bỗng nhường cho cái âm thanh hun hút gợi cảm giác lạnh lẽo, đơn chiếc, cơ hàn. Phố xá dưới ánh đèn sáng trắng mờ sương chìm trong trong tĩnh lặng, không một bóng người. Những ngôi nhà, văn phòng, cửa hàng, cửa hiệu ở trung tâm vẫn im lìm trong giấc ngủ. Ở đây mọi người đều dậy muộn. 7 giờ mà thành phố vẫn vắng teo. Thỉnh thoảng mới có một chiếc ô tô chạy vụt qua đường. Tôi thì cứ 5 giờ đã dậy, không thể nào ngủ tiếp được nên gần một tuần kể từ khi đến thành phố Columbia, sáng nào tôi cũng dành một vài tiếng đi bộ, đi hết phố này đến phố khác nhưng tôi vẫn thấy mới lạ. Không phố nào giống phố nào. Không nhà nào giống như nhà nào. Cả đến quần áo con người và phong cách sống, không ai bắt chước ai. Chỉ có hệ thống đường nhựa to nhỏ, ngang dọc là giống nhau, giống nhau đến mức không nhìn biển đề tên phố, tên đường và không nhìn bản đồ thì không biết đâu mà đi.
 Đi ra khỏi trung tâm thành phố, tôi đến khu ở của người da mầu, chủ yếu là người da đen. Đất ở hẹp hơn, khoảng hai ba trăm mét vuông một nhà. Nhà ở cũng hẹp hơn, cũ hơn, phần lớn hai tầng và một tầng. Hàng rào,vườn hoa và những chậu hoa trước cửa nhà ít được chăm chút, đầu tư nên kém lộng lẫy kiêu sa như trong các khu phố sầm uất của tầng lớp giàu có và tầng lớp trung lưu. Tuy nhiên nhà nào cũng có một vài chiếc xe ô tô con để trong khuôn viên. Xung quanh nhà, nhà nào cũng có khoảng trống trồng cây, trồng hoa, trồng cỏ.
 8 giờ 30 tôi về đến nhà. Thúy đang trong bếp chuẩn bị ăn sáng cho cả nhà. Vợ chồng Giang, Vân vừa dậy, bế Bảo ra phòng khách. Hôm nay là ngày cháu đi đến bệnh xá kiểm tra sức khỏe. Đây là lần kiểm tra thứ 2 từ hôm cháu sinh (mới được 7 ngày). Vân đặt Bảo vào trong chiếc nôi lót chăn ấm. Cháu bé tí tẹo, quấn trong chiếc khăn tắm, nằm lọt thỏm trong nôi. Bố, mẹ, ông xúm lại kê đệm bên trái bên phải, trên đầu dưới chân để lát nữa đi xe cháu khỏi lắc. Cháu sinh ra nơi đất khách quê người nhưng được các bác sĩ, y tá chăm sóc rất đầy đủ, tận tình. Ngoài bố mẹ, ông bà, các bác, cháu còn được bạn bè nơi xa xôi của bố mẹ cháu bao bọc trong tình yêu thương trìu mến. Cháu sinh ra vào mùa xuân, mùa xuân đầu tiên của một con người trong cuộc đời, mùa xuân đầu tiên của bố mẹ cháu, của mọi người trong gia đình. Ngày tháng năm sinh cháu theo dịch số của người phương Đông khá đẹp. Hy vọng ánh nắng ấm áp, hương hoa ngào ngạt, sức sống đang bừng lên của mùa xuân đất trời tại đây sẽ nâng bước cuộc đời cháu, khi cháu bước ra khỏi chiếc nôi đối mặt với thế giới đầy bất trắc này.
 Giang ra xe trước nổ máy để bật điều hòa sưởi nóng không khí trong xe. Tôi trùm khăn tắm lên chiếc nôi và xách nôi ra sau. Tôi cảm thấy thương thương Bảo vì mới có 7 ngày đã phải đi lại đến hai lần. Tôi hỏi Giang:
       -       Bắt buộc phải đưa cháu đi à?
       -       Mình phải tuân theo qui định chứ ba.
 Giang đưa cho tôi một quyển sổ, giống như một quyển y bạ. Trên y bạ có ghi mã số, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, tình trạng thể chất, sức khỏe, cân nặng, chiều cao của Bảo. Ngày khám thứ nhất sau 3 ngày. Ngày khám thứ hai sau 3 ngày. Ngày khám thứ 3 sau một tuần. Ngày khám thứ tư sau một tháng. Rồi tiếp theo là những ngày khám kết hợp tiêm chủng… Một lịch trình được số hóa ngay từ khi cháu lọt lòng. Bố mẹ cháu cứ theo đó mà thực hiện. Tôi trả lại quyển y bạ cho Giang và hỏi tiếp:
       -       Thế chẳng may trái gió trở trời, cháu ấm đầu thì làm thế nào?
       -       Cháu có bác sĩ trực tiếp theo dõi riêng do chúng con chọn. Khi cần thì gọi điện hỏi, kể cả nửa đêm        gà gáy. Bác sĩ có thể nghe bố hay mẹ mô tả bằng lời, có thể kiểm tra trực tuyến qua iphone, ipad,            máy tính cá nhân để ra quyết định chỉ dẫn. Trường hợp cần thì mới phải đi viện.
       -       Đúng là một xã hội hậu công nghiệp. Ba nghe chị Thúy nói về việc khám định kì của bà bầu ở bệnh           viện, rồi việc hàng tháng nhân viên cứu trợ xã hội(Social worker) đến tận nhà hướng dẫn chế độ ăn         uống từ tháng thứ nhất đến tháng thứ chín và những tháng sau khi sinh đến việc kê khai, kiểm tra xem       xét tiền lương, cấp phát thực phẩm cho mẹ, cho con hàng tháng nếu thuộc diện thu nhập thấp. Một         gia đình ba người mà thu nhập chỉ có 2900 đô la một tháng là thuộc diện thu nhập thấp ở bang                 Kansas.
       -       Bang này cũng thế ba ạ
       -       Ba thấy điều đặc biệt là hàng tháng theo lịch người ta đến tư vấn, kiểm tra sức khỏe và kiểm tra sự         nhận thức của đứa trẻ cho tới khi đứa trẻ đến tuổi đi học thì thôi. Thành thử những nhân viên cứu trợ       này lại trở thành những người thân, những người bạn của gia đình. Nhớ lại khi mẹ con sang với chị           Thúy trong những ngày sinh bé Lâm ở bệnh viện, mẹ con một phòng, anh Hoài Anh một phòng, chị         Thúy một phòng đặc biệt dành cho thai sản. Bé chưa ra đời bệnh viện đã hỏi ý kiến bố mẹ về việc có       lưu giữ thai nhau như một cách giữ tế bào gốc không. Với những tiến bộ của khoa học hiện nay, từ         tế bào gốc, người ta có khả năng phát triển thành những loại tế bào khác để sau này từ tế bào gốc           của bé có thể nhân bản thành các bộ phận bên trong cơ thể cháu nếu cần. Qua sky máy tính cá nhân,       ba thấy trong các phòng bệnh viện tiện nghi sạch sẽ không khác khách sạn năm sao. Cứ nửa tiếng           đến một tiếng lại thấy bác sĩ, y tá đẩy bàn máy tính chuyên dụng cùng các dụng cụ y tế hiện đại đến          xem xét kiểm tra. Mới ngày thứ hai đã lấy mẫu máu của bé và kiểm tra thính lực. Đến ngày thứ ba          kiểm tra thị lực để hoàn chỉnh hồ sơ chăm sóc ban đầu. Giường nằm là giường nệm hơi tùy mình              điều chỉnh độ dốc, cao thấp.  Ăn uống thì theo thực đơn hộ lí mang đến tận phòng. Cả đến bàn ăn          cũng tự động điều chỉnh thích hợp cho thai sản ngay tại giường nằm. Khi ra viện, bệnh viện mời cả            gia đình dự tiệc chia tay chúc mừng. Điều kiện chăm sóc bà mẹ, trẻ em như thế này thì không biết           đến bao giờ Việt Nam mới phấn đấu theo kịp. Chẳng trách báo chí đưa tin phụ nữ giàu có Trung             Quốc tìm mọi cách nô nức đến Mỹ và các nước Bắc Âu để sinh đẻ.
        -       Không hẳn như vậy ba ạ. Không hẳn họ sang Mỹ vì nền y học tiên tiến. Theo luật Mỹ, đứa trẻ sinh          ở Mỹ sẽ mang quốc tịch Mỹ. Lí do họ sang đây còn vì muốn con họ có quốc tịch Mỹ. Kể cũng lạ,          người Trung Quốc có tiếng là hướng nội, có tinh thần dân tộc, không hiểu sao bây giờ người giàu lại        nô nức sang Mỹ mua nhà và sinh đẻ, rồi ùn ùn cho con sang Mỹ học, thậm chí sang học từ cấp tiểu          học. Con cái các quan chức to nhỏ thì đua nhau cho con vào đại học Mỹ. Trường đại học nào cũng       nhan nhản sinh viên Trung Quốc. Và đặc biệt con biết là đại đa số sinh viên Trung Quốc đều không         ưa gì chế độ và họ không có ý định trở về nước sau khi đã học xong. Chẳng lẽ đất nước có nền kinh       tế đang phát triển năng động và là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới có điều gì bất ổn? Chẳng lẽ xã       hội họ đang có vấn đề gì đó?
       -       Đất nước nào mà chẳng có vấn đề. Trung Quốc, Việt Nam và ngay cả Mỹ.
Mỹ là một quốc gia hậu công nghiệp, một quốc gia tiên tiến trong những nước phát triển. Nhưng những vấn đề xã hội, vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe có nhiều vấn đề phải giải quyết. Tuổi thọ trung bình của người Mỹ là 78 tuổi, thấp hơn tuổi thọ trung bình của người dân Tây Âu  một tuổi. Trong hơn hai mươi năm qua, tuổi thọ trung bình của quốc gia này liên tục sụt giảm thứ hạng. Đặc biệt tỉ lệ chết của trẻ sơ sinh là 6,3 trên một ngàn trẻ, xếp sau tất cả các nước Tây Âu. Khoảng một phần ba dân số béo phì, cộng với một phần ba có trọng lượng cân quá qui định, Mỹ đã trở thành quốc gia có tỉ lệ người béo phì và trọng lượng cân quá qui định cao nhất thế giới. Bệnh ung thư, tiểu đường, căn bệnh thế kỉ rất đáng quan ngại ở đất nước này. Ngoài ra tỉ lệ có thai ở vị thành niên, khoảng 80 trên 1000 phụ nữ, cũng là một vấn đề xã hội và là tỉ lệ cao nhất thế giới.
Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ vượt mức chi tiêu so sánh với bất cứ quốc gia nào nếu tính theo số chi tiêu cho mỗi đầu người và phần trăm GDP. Không như các nước Tây Âu, hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ không hoàn toàn được xã hội hóa, thay vào đó nó dựa vào sự tài trợ thêm của tư nhân. Bình quân những năm 2000, bảo hiểm tư nhân đã trả khoảng 36 % chi tiêu về sức khỏe cho cá nhân, người bệnh phải bỏ ra 15 %, chính quyền liên bang cùng với chính quyền bang và địa phương chi trả khoảng 44 %. Có thể nói viện phí là nỗi kinh hoàng với nhiều người Mỹ. Hóa đơn thanh toán viện phí với một số bệnh điều trị dài ngày thường là lí do khiến cá nhân khai báo phá sản. Năm 2013 khoảng 50 triệu người không có bảo hiểm y tế. Khoảng một phần ba số người không đóng bảo hiểm y tế sống trong các hộ gia đình chỉ có thu nhập 50.000 đô một năm và một nửa số hộ gia đình chỉ có thu nhập 75.000 đô một năm. Một phần ba số người khác có điều kiện, có tiêu chuẩn nhưng không muốn xin đăng kí bảo hiểm y tế công cộng.
Vấn đề bảo hiểm y tế là vấn đề gây tranh cãi căng thẳng ở Mỹ. Năm 2010 Tổng thống Obama đã ráo riết vận đông quốc hội Mỹ thông qua Luật Bảo hiểm Y tế bắt buộc. Đây là bộ luật cải tổ y tế quan trọng nhất kể từ thập niên 60 của thế kỉ XX. Luật qui định tất cả công dân Mỹ buộc phải có bảo hiểm sức khỏe trước năm 2014. Trước mắt, Luật cũng đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe tối thiểu cho tất cả mọi người, đặc biệt nó giúp người dân thu nhập thấp tránh khỏi cảnh bần cùng khi lâm bệnh. Nhưng luật này vấp phải sự phản đối quyết liệt từ phía Đảng Cộng hòa và những người giầu có, những người có tư tưởng tự do. Vì để đạt được mục tiêu giúp 50 triệu người được hưởng các dịch vụ y tế và để có kinh phí cung cấp bảo hiểm sức khỏe cho người dân, chính quyền Obama đề xuất tăng 5% thuế đối với người có thu nhập từ 1 triệu đô la trên một năm trở lên; đồng thời tăng mức đánh thuế vào các thiết bị y tế, tăng sự ràng buộc đối với các chủ doanh nghiệp.
 Đối thủ trong cuộc vận động tranh cử của Obama, Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa Romney tuyên bố nếu thắng cử sẽ hủy bỏ Luật Bảo hiểm Y tế đang gây tranh cãi trong dư luận Mỹ. Và đương nhiên ông Romney không trúng cử, vì nếu ông trúng cử 50 triệu người hiện đang hưởng trợ cấp y tế sẽ bị cắt giảm mạnh. Chẳng hạn như chương trình Madicaid, chương trình Madicare đã trợ cấp, tạo điều kiện chăm sóc y tế và thuốc men cho tất cả những người già, những người lao động trẻ có mức thu nhập thấp, những người tàng tật không có điều kiện chi trả khi nhập viện. Đối với 50 triệu người Mỹ đang hưởng lợi từ Luật Bảo hiểm Ytế của Tổng thống Obama, nó không chỉ đơn giản là một sự hỗ trợ về mặt tài chính mà còn là chiếc phao cứu sinh cho họ. Họ đã ủng hộ ứng cử viên Obama vì ông hứa sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ Luật Bảo hiểm Ytế.  Đó là một trong những lí do Tổng thống Obama tái đắc cử. Và cuộc chiến giữa Obama và đảng của ông với phe cộng hòa về vấn đề bảo hiểm vẫn tiếp diễn, ngay cả khi chính phủ vì việc đó mà phải đóng cửa. Họ vẫn không chịu nhượng bộ nhau.
Hai cha con còn đang dở nói chuyện về hệ thồng y tế của Mỹ thì xe đã đến bệnh viện. Đây là một trong những bệnh viện đa khoa (clinic) của Đại học Y thuộc MU. Từ xa tôi đã nhận ra ngay biểu tượng bệnh viện trường đại học. Nó nằm trên đường Provident, ở Đông Nam thành phố Columbia. Clinic này bao gồm nhiều dãy nhà một tầng khép kín. Tất cả bệnh viện, từ hành lang, lối đi, chỗ vui chơi giải trí, phòng chờ, phòng khám, phòng điều trị đến nhà vệ sinh đều có chung một nhiệt độ ổn định. Quan sát tôi không biết hệ thống điều hòa để ở đâu và hoạt động như thế nào. Tôi không dám hỏi ngay cả đối với con rể vì sợ bị nghĩ là mình dốt. Chỉ biết rằng khi bước qua cửa bệnh viện tôi cảm thấy rất ấm áp, dễ chịu. Và một điều tiện lợi cho người bệnh đến viện trong bất kể điều kiện thời tiết nào là bước xuống ô tô thì đồng thời có thể mở ngay cửa viện vào các phòng chức năng. Bước vào viện là bước ngay trên nền thảm rất dầy và êm, trải từ cổng cho tới tất cả các phòng mà không phải bỏ dày dép ở ngoài. Tôi nghĩ có lẽ đây là thứ thảm mà người ta đặt riêng dành cho bệnh viện. Nó khác một trời một vực với thảm Trung Quốc, thảm Thái, thảm Inđônêsia mà tôi được biết. Nó cũng hoàn toàn khác với thảm trải ở các khu nhà sinh viên thuê ở kí túc xá. Không lẽ người ta trang bị là vì người bệnh?
Ở phòng đầu tiên khi tôi bước vào, phòng tiếp nhận bệnh nhân, một tấm bảng lớn đập vào mắt mọi người. Đó là tấm bảng ghi các quyền của bệnh nhân (Patien Rights). Mở đầu là dòng chữ “Bạn có quyền, và nên hiểu quyền lợi của bạn. Điều này sẽ giúp bạn nhận được sự chăm sóc tốt nhất từ bệnh viện. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng trong khả năng của mình để đáp ứng sự tin cậy của mọi người. Bạn cũng có quyền đòi hỏi phiên dịch riêng theo ngôn ngữ của bạn nếu không thạo tiếng Anh”. Trong mấy chục ngôn ngữ được lấy ra làm ví dụ tất nhiên là có cả tiếng Việt, mặc dù theo tôi biết số người Việt ở thành phố này không nhiều lắm. Tiếp theo là 14 đề mục ghi lại 14 quyền của bệnh nhân. Đề mục đầu tiên là: Được điều trị và đối xử với sự quan tâm, tôn trọng của tất cả cán bộ nhân viên y tế theo tiêu chuẩn an toàn. Không ai được phép lạm dụng và quấy rối; tuyệt đối tôn trọng quyền riêng tư của bạn. Đề mục cuối cùng là: Được biểu lộ sự băn khoăn nghi vấn hay sự phàn nàn và được nhận sự phản hồi trực tiếp của cán bộ nhân viên bệnh viện. Nếu bạn không thỏa mãn, bạn có quyền trình bày lại ý kiến của mình, lãnh đạo bệnh viện có trách nhiệm phải giải quyết. Lướt qua 14 quyền của bệnh nhân tôi cảm thấy có phần nghi ngờ, phải chăng là thực hay chỉ là hình thức. Làm gì mà bệnh nhân có lắm quyền đến thế. Chia sẻ ý nghĩ này với Giang, con rể tôi cười:
        -       Người ta có đầy đủ các quyền đó đấy ba ạ. Ba còn đến đây với bé Bảo, ba sẽ biết thực hư. Và             chắc chắn không bao giờ có chuyện bệnh nhân hay người nhà bệnh nhân phải phong bì hoặc phải              nịnh nọt, húm núm như ở bệnh viện của chúng ta đâu.
          -       Ta vẫn nêu cao y đức đấy chứ? Tất nhiên có một bộ phận thái hóa biến chất thì không kể làm gì.
          -       Ta chuộng khẩu hiệu và hình thức. Đại loại những dòng chữ như “lương y như từ mẫu” thì tràn               ngập các bệnh viện. Nhìn và nghe thì thật là hay. Nhưng thực tế lại khác. Bà ngoại mổ ruột thừa tại một viện danh giá, có sổ bảo hiểm, nhà mình vẫn phải bồi dưỡng kíp mổ mấy triệu. Ngày Vân sốt xuất huyết nằm viện, mặc dầu có bảo hiểm, nhưng vẫn phải mua thuốc ở bên ngoài. Nằm có năm ngày cũng mất đến mấy triệu. Trường hợp của Vân thì đã đành. Trường hợp của bà ngoại 90 tuổi, nay sống mai chết mà họ cũng đang tâm cầm tiền được thì chẳng còn chút lương tâm gì cả. Ngay cả chú Tuấn nhà mình, có cương vị, có chức sắc, nhập viện một đêm một ngày có bác sĩ nào hỏi han gì đâu. Đêm hôm đó người nhà mình và cả đại diện chính quyền chẳng phải đi đến nhà riêng lãnh đạo bệnh viện làm việc là gì. Ai cũng biết hiện tượng vào viện người ta thường đưa hối lộ từ nhân viên y tá trở lên. Tiêu cực đầy dẫy, từ khâu chạy bảo hiểm đến việc mắc ngoặc giữa bệnh viện với nhà cung cấp thuốc, giữa thầy thuốc kê đơn với cửa hàng thuốc, giữa bác sĩ, nhân viên với bệnh nhân nhưng khi đưa ra quốc hội bàn thảo thì bộ trưởng tỏ vẻ    ngạc nhiên, yêu cầu phải có bằng chứng để kỉ luật làm gương. Văn hóa Việt là văn hóa tình, người nhà và    người bệnh ai người ta đi làm chứng, ai người ta đi tố cáo.
Bên cạnh chiếc bảng viết bằng chữ in hoa đậm 14 qui định về quyền của bệnh nhân, có hai chiếc bảng nhỏ hơn nằm cân đối ở bên trái và bên phải. Cái bên phải in bằng chữ thường về 10 điều nghĩa vụ và trách nhiệm của bệnh nhân. Cái bên trái cũng in bằng chữ thường, nội dung của nó là bức thư ngỏ của giám đốc bệnh viện gửi cho mọi người. Người Mỹ rất rõ ràng, bạn có quyền đồng thời với việc bạn phải có nghĩa vụ. Nghĩa vụ đầu tiên trong 10 điều nghĩa vụ và trách nhiệm là bạn phải tuân theo tất cả các qui định của bệnh viện đề ra. Điều cuối cùng là phải hoàn thành, thanh toán nhanh chóng, kịp thời tất cả các hóa đơn theo qui định và nếu có thắc mắc gì về tài chính, bạn cần liên hệ ngay với bộ phận tài chính của bệnh viện.
Nội dung thư ngỏ của giám đốc ngắn gọn, toát lên mong muốn chân thành được trở thành đối tác tin cậy của tất cả mọi người. Người lãnh đạo cao nhất của bệnh viện cũng bày tỏ ý nguyện nhận được sự đóng góp về những điều bệnh viện đã làm được, những điều chưa làm được, những ý tưởng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị, thuốc men cũng như nhận được sự phản hồi việc vi phạm của tập thể cán bộ, nhân viên bệnh viện về các quyền của bệnh nhân. Người đóng góp có thể trực tiếp gặp giám đốc hoặc trình bày, gửi thư theo điện thoại, địa chỉ email, fax…
Ở phòng chờ khám và điều trị cho trẻ em tôi thấy chỉ có bốn hay năm đối tượng. Những cháu đã lớn, đi lại được thì hầu hết được mẹ đưa đi. Những cháu mới sinh thường được bố đưa đi. Đến bàn lấy số, ai đến trước lấy trước, ai đến sau lấy sau. Trên tường treo một bảng nhỏ xin lỗi vì đã để mọi người phải chờ đợi. Ngoài ra trên tường còn dán một số tờ giấy khổ Ao. Đó là những phác đồ phòng chống và chữa trị một số các loại dịch bệnh. Chẳng hạn một tờ tuyên truyền phòng chống dịch cúm viết: “ Mọi người cần thường xuyên rửa tay, nhất là khi đi đâu về, trước bữa ăn. Không đưa tay lên mắt, mũi, miệng. Khi hắc xì hơi thì phải dùng khăn che miệng hoặc che bằng tay áo, không che bằng lòng bàn tay. Khi bị cúm nên nghỉ ngơi ở nhà, không đến chỗ đông người” . Điểm đáng chú ý của các phác đồ không phải là việc tuyên truyền qua kênh chữ, vì rất ít chữ mà nổi bật và dễ nhớ chính là qua kênh hình, các hình vẽ biểu thị được in màu, rất sinh động và rất ấn tượng.
Khoảng mười lăm phút kể từ lúc đến, Giang theo một y tá đưa con vào phòng khám. Tôi tranh thủ đi thăm một số phòng trong bệnh viện. Ở phòng kế tiếp, vẫn là phòng dành cho trẻ em, nhưng là trẻ em độ tuổi mầm non và tiểu học. tôi thấy rất nhiều đồ chơi bày ở các góc phòng. Một vài em tụm lại bên cạnh mô hình chiếc xe lửa đang chạy trên đường day. Hai em khác có vẻ quen nhau đang  đá đi đá lại quả bóng nhỏ màu nâu. Một em đang giở xem một cuốn sách gì đó bên giá sách. Tôi đi đến chỗ giá sách. Nó có ba ngăn, ngăn thứ nhất và thứ hai gồm vài trăm quyển truyện tranh mỏng. Ngăn thứ ba ở trên cùng là những cuốn sách cũng rất mỏng dành cho người lớn đọc trong lúc chờ đợi. Bên cạnh giá sách có một chiếc tủ cánh lùa nhỏ để một số nhật báo, tạp chí. Trên mặt tủ in mấy dòng chữ “Tủ sách, giá sách và sách ban đầu của gia đình Carvalho tài trợ. Chúng tôi hy vọng bạn sẽ thấy những điều hay ý đẹp và tình yêu trong mỗi cuốn sách nào đó. Bạn có thể đem sách về nhà cùng chia sẻ với người thân. Và cũng mong rằng nếu bạn có sách gì ở nhà mà không dùng đến nữa và nếu bạn muốn chia sẻ những điều hay ý đẹp và tình yêu với người khác, hãy đem sách đến tặng tại phòng này”.
Tôi đi hết phòng này sang phòng khác. Phòng nào cũng chỉ có dăm ba đối tượng. Người ta đi khám bệnh theo lịch hẹn nên chỉ ngồi ít phút là đến lượt mình. Tất cả mọi người đều lặng lẽ, tuần tự. Có nói chuyện, trao đổi nhưng rất nhỏ nhẹ. Các nhân viên của bệnh viện người nào việc nấy, tất bật, mau lẹ, điềm đạm. Đến mỗi phòng tôi đều được nhân viên chào hỏi “Rất vui lòng nếu chúng tôi giúp gì được cho ông”. Tôi trả lời, tôi là khách đến thăm. Vì ở ngoài cửa bệnh viện có biển đề “ Bệnh viện hân hạnh được đón tiếp, phục vụ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và khách đến thăm” nên đến mỗi phòng tôi đều đáp lại như vậy khi có nhân viên hỏi. Điều cảm động là tôi đều nhận được một nụ cười tươi kèm theo câu nói: “Cám ơn vì đã đến. Ông có cần chúng tôi giới thiệu không”.
Nhớ đến cái cảnh phải đến bệnh viện, cái cảnh đưa người nhà đi bệnh viện, rồi thăm người thân, bạn bè, đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới đi bệnh viện, nhất là trong những năm gần đây, tôi rất ớn. Chắc chắn tôi đã đến bệnh viện không dưới hàng trăm lần. Rất ái ngại và thật đáng buồn. Nói với con rể, thực ra tôi đã nói giảm nhẹ đi nhiều, và không muốn vạch áo, bới lông ngành y tế. Vì thực tế họ cũng giống như ngành giáo dục của tôi thôi. Tôi đã thấy gì ở một số không ít bệnh viện Việt? Sự chật chội quá tải. Sự đợi chờ mệt mỏi. Sự chạy vạy lo lắng. Sự gắt gỏng. Sự thấp thỏm. Sự thờ ơ. Sự lạnh lùng…
Ở đây tôi chỉ là một kẻ xa lạ, một khách vãng lai, nhưng tôi được trải nghiệm những giây phút ấm lòng. Tất nhiên tôi cũng có nhiều lần cảm động rơi nước mắt vì những tấm lòng cao đẹp ở bệnh viện Việt. Nhưng theo thời gian, cái đẹp, cái cao thượng cứ ít dần trong y đức... Chắc có người sẽ bảo tôi là kẻ nhẹ dạ cả tin, kẻ chỉ nhìn thấy cái hình thức của xứ người. Người ta biểu hiện như thế là vì túi tiền của đối tượng hoặc vì mục đích quảng cáo, đánh bóng cho bệnh viện. Có thể tôi dễ bị ai đó lừa, nhưng chắc chắn túi tôi không có tiền, mà tôi cũng không cho bệnh viện ở đây được đồng nào. Chắc nhân viên người ta biết rõ và tôi cũng chẳng có động cơ gì mà phải quảng cáo cho cái bệnh viện này.
 Mỗi phòng cầm lấy một vài tờ rơi, đi hết một dãy phòng tôi có trong tay một tập dày tờ rơi. Đó là những tờ giấy cứng in mầu khổ A4  hoặc nhỏ hơn một chút, thường đặt cố định trên bàn nhân viên trực ở các phòng. Mỗi tờ rơi đề cập một vấn đề gị đó. Chẳng hạn như hướng dẫn ban đầu cho bệnh nhân, những cách thức liên hệ với bệnh viện, việc khai báo thông tin bệnh tình và xử lí kết quả chẩn đoán qua hồ sơ điện tử, những biểu hiện bệnh lý một số bệnh, việc tiêm chủng và báo cáo lại việc tiêm chủng, cách đăng kí và sử dụng thuốc men, giới thiệu các thiết bị y tế hỗ trợ người bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Riêng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thì rất đa dạng, từ dịch vụ trẻ em cho tới dịch vụ người có tuổi, từ bà mẹ mới mang bầu tới sau sinh, từ phòng bệnh và điều trị đến sau điều trị, từ dịch vụ ở bệnh viện đến dịch vụ ở nhà…
 Ngay cả đến việc du lịch trong ngoài nước, bệnh viện cũng cung ứng và đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ví dụ trên một tờ bìa cứng in màu khổ A4, người ta gấp ngang thành ba phần bằng nhau, rồi gấp lại. Mặt ngoài, phía trên cùng in biểu tượng bệnh viện chăm sóc sức khỏe MU. Ở giữa là hai dòng chữ in hoa đậm. Dòng thứ nhất: Những vấn đề liên quan đến du lịch. Dòng thứ hai: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi đi du lịch quốc tế. Dưới cùng là hình bản đồ thế giới. Mở tờ rơi, phía bên trong có lời nói đầu: “ Trước khi gấp hành lí, bạn phải kiểm tra xem đã đủ thuốc men cho chuyến đi ra nước ngoài của mình hay chưa. Những bác sĩ tại Trunng tâm nối kết du lịch tại bệnh viện MU sẽ cung cấp những dịch vụ y tế đảm bảo giúp bạn có đầy đủ sức khỏe cho cá nhân, nhóm hoặc gia đình bạn. Trung tâm cung cấp thông tin các loại thuốc nhằm giúp đỡ người du lịch chống lại những bệnh tật, đảm bảo sự an toàn. Đội ngũ nhân viên trung tâm hơn 35 năm kinh nghiệm sẽ cung cấp đầy đủ tất cả những điều bạn cần cho một cuộc hành trình. Bạn sẽ nhận được sự tư vấn ban đầu và nhận biết được những khả năng rủi ro, những căn bệnh truyền nhiễm và cách thức sử dụng thuốc trong tình trạng khẩn cấp khi ở nước ngoài. Chúng tôi cũng tiêm chủng các loại vaccine cần thiết, cấp giấy chứng nhận quốc tế trong hồ sơ du lịch của bạn”. Phần tiếp theo tờ rơi giới thiệu:
      -       Các loại dịch vụ tiêm chủng cho người lớn và trẻ em.
      -       Tư vấn đơn thuốc phòng ngừa và điều tri bệnh sốt rét.
      -       Thông tin tài liệu những căn bệnh và các loại thuốc thích hợp cho từng quốc gia.
      -        thông tin về những vấn đề môi trường bao gồm điều kiện thời tiết, bệnh tật lây truyền qua thực phẩm, nước uống và các loại côn trùng.
      -       Những phong tục tập quán địa phương và những điều cần chú ý về an toàn cá nhân
      -       Những thông tin liên lạc cần thiết với Đại sứ quán Mỹ.
      -       Những cách thức chữa trị các căn bệnh kinh niên như tiểu đường, tim, hen trong khi đi du lịch.
      -       Làm thế nào để thuyết phục trẻ nhịn được đi tiểu trong hoàn cảnh đặc biệt.
      -       Những vấn đề chăm sóc sức khỏe sau khi đi du lịch tại bệnh viện.
Phần cuối bên trong tờ rơi là những lời khuyên cho người đi du lịch. Cụ thể là:
      -       Bạn cần tiêm chủng ít nhất bốn tuần trước khi khởi hành.
      -       Đặt lịch hẹn sớm ngay khi bạn có kế hoạch đi du lịch.
      -       Chuẩn bị sắp xếp túi thuốc cấp cứu trong đó có những loại thuốc thông dụng, thuốc dùng hàng ngày.
      -       Kiểm tra thuốc chống côn trùng.
      -       Đem theo kính đề phòng vỡ hoặc mất.
      -       Lường được sự tác động của tình trạng tress, độ cao, áp suất không khí, khí hậu, thời tiết với những căn bệnh mãn tính như tiểu đường, bệnh tim, hen.
      -       Tránh tiếp xúc với động vật hoang dã hay đã thuần dưỡng, đặc biệt ở những quốc gia có bệnh dại.
      -       Nếu tới những quốc gia đang phát triển bạn tránh không uống nước chưa được xử lí hoặc chưa được đun sôi; không dùng nước đá, không ăn thực phẩm tươi sống hay chưa được nấu chín.
      -       Để giảm thiểu tai nạn giao thông bạn nên tránh lái xe vào giờ cao điểm và vào ban đêm.
      -       Tránh đi xe đạp gắn máy, xe mô tô bánh nhỏ, xe máy nếu bạn không có bằng lái và đi thạo các phương tiện đó.
      -       Nếu bạn ốm sau chuyến đi thì phải thông báo với bác sĩ toàn bộ lịch trình đi của mình.
Gấp lại tờ rơi, ở trang cuối của mặt ngoài nổi bật tấm ảnh về một gia đình mà mọi thành viên đang cười vui vẻ. Nó như một thông điệp về cuộc sống hạnh phúc. Bên dưới tấm ảnh là số liệu cảnh báo của Tổ chức Ytế Thế giới:
       -       20 % tới 70 % lữ hành phải dùng thuốc để chữa trị những mầm bệnh phát sinh trong quá trình đi du lịch.
       -       Mỗi năm có khoảng 40.000 người Mỹ tử vong từ những căn bệnh có thể ngăn ngừa được nếu tiêm phòng vaccine.
       -       Trên 70 % lượng khách du lịch bị tiêu chảy khi đến những điểm nhiều rủi ro.
       -       Trên một triệu người chết vì tiêu chảy mỗi năm, phần lớn là ở những nước đang phát triển.
       -       Có hơn 500 triệu người mắc bệnh sốt rét và hơn một triệu người chết hàng năm trên khắp thế giới.
 Đi lướt một số phòng tôi vội quay trở lại, sợ bác sĩ khám xong cho Bảo, hai cha con phải chờ ông. Quả nhiên ngồi chờ ít phút thấy Giang bế Bảo từ phòng khám ra. Giang cười vui nói với tôi:
        -       So với ba hôm trước cháu đã cao lên được mấy phân và tăng lên được gần hai lạng ông ạ.
        -       Thế người ta khám cho cháu những gì, tôi tò mò hỏi.
        -       Cũng đầy đủ các mục như người lớn khám sức khỏe toàn diện. Chỉ có điều bà bác sĩ hỏi nhiều về việc ăn ngủ của cháu. Bà cũng xem rất kĩ rốn của cháu. Rốn cháu đã se lại. Mọi chỉ số đều tốt. Con có hỏi mắt cháu hơi đo đỏ, thỉnh thoảng có dử. Bà ấy xem xét rất lâu rồi nói không có vấn đề gì, nhưng vẫn căn dặn chúng con cần theo dõi tiếp. Nếu mấy hôn nữa còn có triệu chứng thì tiếp tục đưa cháu đến viện.

Đặt Bảo vào trong nôi. Hai cha con kê đệm chăn, khăn cẩn thận cho Bảo. Giang ra trước để bật điều hòa và lái xe vào trước cửa. Tôi xách nôi ra sau ít phút. Bên ngoài, nắng vàng rực rỡ, chan hòa khắp đất trời. Tôi thật sự thỏa mãn với quyết định đi cùng hai cha con Giang đến bệnh xá. Đóng cửa xe, đặt nôi nằm của cháu yên vị, tôi tranh thủ lấy các tờ rơi ra đọc. Những tờ rơi này hấp dẫn đối với tôi không chỉ vì nội dung và hình thức của nó mà chính vì tính hữu dụng của nó cho bản thân tôi. Nó giúp tôi hiểu ra rất nhiều điều vấn đề về các loại bệnh, đặc biệt là chứng huyết áp, về vấn đề phòng tránh, về vấn đề tự chăm sóc sức khỏe. Thú vị là tôi tìm thấy thông tin về một loại máy đo tiện dụng, tự theo dõi huyết áp bản thân kèm những chỉ dẫn sử dụng thuốc trong các trường hợp ở nhà, ở cơ quan, khi đi đường trên các phương tiện giao thông khác nhau. Thật là tuyệt vời...
Read More

Thăm Trường Đại học Giáo dục, Trường Đại học Báo chí thuộc Đại học Missori

Leave a Comment
 Hôm nay Thúy đưa tôi đi thăm College of Education, ngôi trường mà hai chi em Thúy, Vân đã và đang học tập. College of Education là một trong gần chục college của MU: Đại học Nghệ thuật và Khoa học (College of Arts & Science), Đại học Kinh doanh (College of Business), Đại học Kĩ thuật (College of Engineering), Đại học Khoa học Môi trường Nhân văn (College of Human Environmental Sciences), Đại học Thú y (College of Veterinery Medicine)…
 College of Education thành lập năm 1868 theo quyết định của chính quyền bang với phương châm đào tạo giáo viên là chức năng quan trọng nhất của bất kì trường trường đại học nào trong bang. Đến nay  nhà trường vừa kỉ niệm 145 năm ngày sinh của mình. Nhà trường vẫn tiếp tục thực hiên theo phương châm đề ra từ buổi đầu và cụ thể hóa thêm những giá trị cốt lõi của mình: Đảm bảo chất lượng đào tạo hàng đầu, phát huy tính sáng tạo và đổi mới, lấy sinh viên làm trung tâm, phát triển sự đa dạng văn hóa, phấn đấu vì mục tiêu và nhu cầu của xã hội. Nhà trường đã đào tạo được trên 47.000 cán bộ, giáo viên có trình độ đại học, hàng nghìn cán bộ giáo viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ. Nhà trường không chỉ đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên cho bang, liên bang mà còn đào tạo cán bộ giáo viên đẳng cấp quốc tế cho nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Năm 2012 trường được US. New & World Report của Mỹ xếp thứ 58 trong tổng số tất cả các trường đại học trong toàn liên bang. Riêng Khoa Tâm lí, Tư vấn, Trường học được xếp thứ 2. Khoa Lãnh đạo và Hoạch định chính sách xếp thư 17.
 College of education chia thành 5 ban: Ban Lãnh đạo và Hoạch định chính sách, Ban Tâm lí Giáo dục, Ban Dạy - Học và Chương trình, Ban Giáo dục Đặc biệt, Ban Kĩ thuật và Thông tin. Các ban lại được chia ra những khoa khác nhau. Chẳng hạn như Ban Dạy - Học và Chương trình chia ra các khoa: Ngôn ngữ và Văn hóa, Toán học, Khoa học, Nghiên cứu xã hội. Ban Tâm lí chia ra các khoa: Tâm lí Giáo dục, Tâm lí Trường học, Tâm lí Tư vấn. Trong các khoa lại chia ra các lớp khác nhau. Ví dụ như Khoa ngôn ngữ và Văn hóa chia ra các lóp: Lớp Giáo dục Nghệ thuật, Lớp giáo dục Âm nhạc, Lớp Kinh doanh và Maketing, Lớp Mầm non…
 Khu College of Education còn gọi là khu Townsend bao gồm ba khối nhà 3 tầng liền kề nhau. Ở trung tâm giáp với đại lộ là tòa nhà Townsend Hall. Tiếp bên cạnh là Tòa nhà  High School và Tòa nhà Elementary School nằm sâu ở phía trong. Thúy dẫn tôi đi thăm phòng giám hiệu, văn phòng, các phòng học. Điều tôi quan tâm nhất là phòng học. Phòng nào cũng thoáng rộng. Phòng nào cũng đầy đủ thiết bị như máy chiếu, máy tính, bảng thông minh. Bàn học thường là bàn tròn, có các ổ cắm máy tính cá nhân cho sinh viên. Nhiều phòng sinh viên đang học, đang thảo luận. Nhưng tất cả đều đóng kín cửa, không một tiếng động phát ra ngoài.
Sự im lặng đến kì lạ khiến tôi bỗng nhớ đến tứ thơ trong bài thơ Âm thanh im lặng của Vũ Quần Phương. Tôi đọc bài thơ này từ thời bom đạn chiến tranh. Cái khoảng thời gian im lặng một thời của người lính là những hoài niệm, sự chuẩn bị, sự chờ đợi, sự căng thẳng, sự dồn nén đến tột độ để rồi bùng phát cho cái âm thanh dữ dội của cái sống chết, cái thắng thua. Còn cái im lặng tôi thấy ở đây chỉ gợi cho tôi những hoài niệm đẹp đẽ gắn liền với những mơ ước tuổi trẻ; cái thời là một giáo sinh với những tháng ngày chập chững đi thực tập làm thầy giáo rồi bước vào nghề dạy học; những lớp hoc sinh xa gần lại hiện về trong tôi.
 Nghề dạy học được cho là nghề cao quý vì đã đem kiến thức, đem văn hóa của nhân loại truyền cho thế hệ trẻ với tất cả trái tim và tâm hồn con người. Sản phẩm của người thầy là con người vì vậy người thầy phải thật sự yêu người, yêu nghề. Không bao lâu nữa, những giáo sinh đang ở trong những căn phòng tôi đi qua sẽ ra trường. Họ sẽ bước vào đời như tôi đã trải qua với bao niềm say mê sáng tạo, với cả những ngọt ngào lẫn vấp váp đắng cay. Song dòng đời vốn là như vậy. Mong rằng trong số họ không ai phải trải qua cái khoảng thời gian im lặng của bất kì cuộc chiến nào, ở bất kì nơi đâu trong cái thế giới đầy bất ổn này.
 Thúy đưa tôi lên phòng làm việc của mình cách đây bốn năm khi còn là sinh viên cao học. Khi chúng tôi gõ cửa bước vào phòng, tất cả mọi người reo lên, đứng dậy đón Thúy như đón người thân đi xa lâu ngày trở về. Có bốn người trong phòng, người nào người nấy đều ở độ tuổi bốn mươi. Họ xúm quanh Thúy hỏi thăm tình hình sức khỏe, gia đình, con cái, học hành. Một cô dắt Lâm đi chơi loanh quanh. Sau khi ra về tôi mới biết cô này vào làm thay Thúy. Tôi rất tiếc vì đã chuẩn bị mấy hộp bánh đậu xanh cho buổi gặp mặt ở khoa, nhân tiện có đôi lời cảm ơn, vậy mà lại bỏ quên mất ở phòng. Đây là văn phòng đào tạo khoa sau đại học của College of Education. Thúy làm việc part time trong căn phòng này ba năm nên được miễn toàn bộ học phí và các khoản đóng góp theo quy định. Mỗi tháng lại được nhận thêm 1200 đô sinh hoạt phí. Cũng nhờ làm việc tại đây, tích lũy được chút kinh nghiệm, nên sau khi xây dưng gia đình, theo chồng về bang Arkansas, Thúy xin được làm trợ giảng và tiếp tục theo học tiến sĩ tại Trường Đại học Arkansas.
 Khoảng gần một tiếng trò chuyện, chúng tôi chia tay mọi người và lưu luyến bước ra khỏi căn phòng. Tôi cầm theo một số tài liệu giới thiệu về trường, về khoa. Chúng tôi đi xuống tầng dưới, Thúy chỉ cho tôi phòng làm việc của Vân trong thời gian sắp tới. Đó là phòng 602, văn phòng Khoa Lãnh đạo và Hoạch định Chính sách Giáo dục phổ thông. Tôi rất mừng cho Vân vì đã được xét học bổng học tiếp tiến sĩ. Mỗi tháng làm việc part time tại văn phòng khoa Vân được cấp 1500 đô sinh hoạt phí, cộng với trợ cấp của Giang 1700 đô một tháng, nếu phải gửi con đi nhà trẻ 1000 đô một tháng, chắc trong những năm tới, hai đứa không phải lo lắng gì về chuyện tiền nong.
 Tiếp theo Thúy dẫn tôi đi thăm thư viện của College of Education. Thư viên này bao gồm hai phòng, vừa là phòng đọc vừa là phòng để sách báo băng đĩa chuyên về giáo dục. Mỗi phòng áng chừng khoảng mười giá sách cao ngang đầu người. Xung quanh phòng có khoảng trống để bàn đọc sách. Phía trái áp tường của mỗi tầng đặt rải rác hàng chục máy tính nối mạng phục vụ cán bộ giáo viên, sinh viên ngồi đọc và tham khảo tài liệu. Tôi xem lướt qua các đầu sách. Có cả một số sách in lại liên quan đến giáo dục từ thời Hy – La cổ đại và từ thời khai sáng; một số sách nguyên bản có từ thế 18, 19 và đầu thế kỷ 20. Theo sự hướng dẫn của người phụ trách thư viện, tôi ngồi vào bàn máy tính thử tra cứu và xem những tiết dạy giới thiệu phương pháp dạy học và giáo dục các cấp học ở Mỹ, ở các nước Bắc Âu, Đức, Pháp, Nhật…
 Liên hệ với trường Đại học Sư phạm, Đại học Giáo dục, những cỗ máy cái đào tạo giáo viên ở Việt Nam, trường thì có lịch sử lâu đời nhất mới 60 năm, lại trong điều kiện gần 30 năm chiến tranh; trường thì mới thành lập được khoảng 5 năm, tôi hiểu chúng ta thực sự mới đang trong giai đoạn tập vận hành và chập chững những bước đi ban đầu nên thư viện còn quá nghèo nàn lạc hậu để so sánh với họ.
Chúng tôi mất khá nhiều thời gian chụp ảnh lưu niệm ở College of Education trước khi đến Trường Đại học Báo chí Missouri (Missouri School of Journalnism). Sở dĩ tôi chọn trường này để đến thăm là vì cháu tôi mới tốt nghiệp thạc sĩ khoa báo chí, hiện đang công tác tại đài truyền hình Việt Nam. Cháu  có ý định theo học tiếp tại trường này. Tôi muốn biết một vài thực tế về trường để khi về, động viên cháu sang học trong một vài năm tới. Missouri School of Journalism là một trong nhiều school của Trường Đại học Mssouri. Đó là Trường Đại hoc Y (School of  Health Professions), Trường Đại học Luật (School of Law), Trường Đại học Dược (School of Medicine), Trường Đại học Điều dưỡng (School of Nursing)…
 Missouri School of Journalism là trường báo chí đầu tiên trên thế giới. Trường được  Walter Williams, Tổng biên tập Tờ Columbia Herald thành lập năm 1908 tại khuôn viên của Trường Đại học Missouri với sự giúp đỡ của chính quyền bang và cá nhân Joseph Pulizer. Ngày thành lập trường cũng là ngày xuất bản nhật báo University Missourian. Tờ báo này là nơi thực hành cho sinh viên trong suốt thế kỷ qua. Ngày nay, nhà trường được xếp là một trong những trường báo chí hàng đầu thế giới. Với phương pháp Missouri, sinh viên học về báo chí không những học qua bài giảng và thảo luận mà còn thực hành những kiến thức đó tại tờ nhật báo Columbia Missourian của trường báo chí phát hành. Ngoài ra, sinh viên còn được làm việc tại hai tạp chí văn hóa, một tạp chí quốc tế cũng của trường; một kênh radio công công quốc gia và một đài truyền hình thương mại duy nhất thuộc một trường đại học trên toàn Hoa Kỳ.
 Trường có bề dày thành tích gần như không trường nào trên thế giới theo kịp. Năm 1910 trường bắt đầu khai trương “Tuần lễ báo chí ”. Năm 1921 trường đào tạo chương trình thạc sĩ báo chí đầu tiên trên thế giới. Năm 1930 trường trao tặng huân chương danh dự Missouri cho những dịch vụ báo chí xuất sắc của liên bang. Năm 1934 trường đào tạo tiến sĩ báo chí đầu tiên trên thế giới. Năm 1936 trường bắt đầu tổ chức những khóa học qua đài truyền hình kênh KFRU. Năm 1958 trường mở Trung tâm Tự do thông tin và Học thuật đầu tiên trên thế giới về đề tài này. Năm 1971 trường chuyển kênh radio của mình cho phòng thực nghiệp của khoa. Năm 1981 trường được xếp hạng là trường báo chí đứng đầu Hoa Kỳ. Năm 2007 trường thành lập Viện Báo chí Donal W. Reynold để bắt đầu các khóa học nâng cao nghiệp vụ báo chí trong xã hội dân chủ. Quỹ Donal W. Reynold đã trao tặng cho nhà trường 31 triệu USD nhằm xây dựng viện trở thành một trong những viện báo chí đứng đầu quốc gia.
Missouri Shool of Journalism có sáu chương trình đào tạo cho sinh viên: Quảng cáo chiến lược thông tin, Viết báo và Tạp chí, Hội tụ Truyền thông đại chúng, In ấn và Tin Điện tử, Báo ảnh, Báo hình và Báo nói. Chương trình đào tạo thạc sĩ bao gồm học tại trường và học qua mạng. Ngoài ra trường còn có các chương trình đào tạo từ xa tổ chức tại các thành phố Jefferson, Missouri, London, New York, Washington DC. Trường cũng tổ chức hợp tác thành lập 12 chương trình đào tạo với 9 quốc gia trên thế giới.
 Thúy dẫn tôi cưỡi ngựa xem hoa qua 7 tòa nhà của Missouri School of Journalism. Đã gần trưa, tôi chỉ có thời gian để lướt nhìn các phòng: Phòng tin in ấn các ấn phẩm báo chí, Phòng thực nghiệm thiết kế công nghệ cao, Thính phòng nghe nhìn nghệ thuật, Phòng báo ảnh điện tử, Phòng máy tính hiện đại sản xuất tài liệu video, audio và text. Tổng số có tới 500 máy tính kèm theo thiết bị các loại phục cán bộ, giáo viên, sinh viên học tập và làm việc. Tôi chỉ đi dạo qua Đài truyền hình thương mại, Đài phát thanh công cộng, Thư viện báo chí (50.000đầu sách, 167 tạp chí xuất bản định kỳ, 41 nhật báo trong nước, 18 đầu báo quốc tế), Viện Báo chí.
 Riêng đến Viện Báo chí, tôi và Thúy dừng lại nhìn vào sơ đồ, không thể tiếp tục đi được nữa. Viện Báo chí bao gồm Trung tâm trình diễn công nghệ, Thư viện báo chí mới, Trung tâm biên tập đa phương tiện, Phòng làm việc nhóm, Phòng chuyên đề và diễn đàn, Hội trường trình diễn những sự kiện công cộng, Phòng tiếp công chúng và khu vực triển lãm…
 Trên đường về nhà Vân, bao nhiêu cảm xúc đan xen trong tôi. Mới chỉ nhìn tổng thể và tham quan hai trường thành viên của Đại học Missouri, tôi đã nhận ra bao vấn đề mà các trường đại học của Việt Nam chưa làm được. Đó là truyền thống, là giá trị, là bản sắc văn hóa của một trường đại học. Sau này có dịp tìm hiểu sâu hơn về nhà trường tôi càng thấy rõ cái hiện hữu mà người ta cho là phi vật thể đó. Nó nằm ở kiến trúc xây dựng của nhà trường. Nó ẩn trong khung cảnh, không khí chung của nhà trường. Nó hiển hiện trong phong cách của ban lãnh đạo, của cán bộ giáo viên, nhân viên. Nó thể hiện trong ý thức học tập, thái độ ứng xử của sinh viên. Nó khác với những trường đại học như Thanh Hoa của Trung Quôc, Chulalongcon của Thái Lan, Học viện Quản lý Quốc gia của Singapore. Nó cũng khác ngay cả với các trường đại học khác của Mỹ như Texas – Austin, Arkansas, Colorado…
Thăm Đại học Missouri, tôi biết dù trường không được xếp trong top đứng đầu của Mỹ, nhưng nó vẫn sở hữu một thương hiệu mà ngay cả những trường nổi tiếng nhất cũng chưa có được. Chẳng hạn như phương pháp Missouri, một phương pháp học, thực hành, làm việc và nghiên cứu từ thực tế từ công việc. Phương pháp Misouri  bắt nguồn từ trường báo chí nhưng lan tỏa khắp các trường trực thuộc và các khoa. Nó trở thành nội dung, phương pháp dạy - học đặc trưng của nhà trường.
 Tôi quen biết một người bạn của Vân học ở Đại học Nông nghiệp, Thực phẩm và Tài nguyên của Đại học Missouri. Hai năm trước khi còn ở chung phòng với Vân. Thỉnh thoảng tôi muốn gặp (qua ipad) để hỏi han tìm hiều việc học hành của sinh viên khoa trồng trọt như thế nào. Vân nói với tôi chỉ có thể gặp được vào ngày nghỉ vì “bạn ấy” sáng đi học, sau đó ra cánh đồng hoặc đi cơ sở gieo trồng, làm việc thực tế như một nông dân đến tối mới về. Quần áo thì bê bết, lấm lem; không kịp ăn uống lao ngay vào phòng tắm; mệt quá nhiều hôm đi ngủ ngay. Chị em cùng phòng mà có khi mấy ngày trời mới gặp mặt nhau. Khi gặp tôi trên mạng, bạn của Vân ca thán “cực quá trời. Thế mới biết học ở trong nước vô cùng nhàn hạ và sung sướng”. Triết lý của phương pháp Missouri là học để làm việc, để sáng tạo. Và cuối khóa học, bằng cấp chỉ trao cho sinh viên nào biết học để làm việc và sáng tạo, chứ không trao cho sinh viên chỉ biết học thuần thúy để lấy bằng.
 Cơ sở vật chất của nhà trường theo đúng nghĩa của nó là nguồn lực giáo dục. Hàng trăm trang web chuyên nghiệp, phong phú và đa dạng từ cấp trường, trường trực thuộc, khoa đến từng lớp, các phòng ban, các phòng chức năng, thậm chí đến tổ chức chỉ có một nhóm người, tất cả đều phủ sóng wifi khắp khuôn viên. Bước chân vào trường, ở bất cứ đâu người ta cũng có thể bắt đầu làm việc được. Từ giảng đường, phòng thí nghiệm, thư viện đến phòng ăn uống giải khát, thể thao, giải trí, tất cả đều vì quyền lợi của sinh viên, đều mang tính chất học thuật; Từ các thiết bị máy móc phục vụ dạy học đến môi trường thực hành, nghiên cứu đều khuyến khích sinh viên làm việc, khám phá, sáng tạo; Từ bảng nội quy, quy định đến quyển sách hướng dẫn các loại đều khiến sinh viên phải có ý thức trách nhiệm, phải tôn trọng chính bản thân mình và người khác. Tất cả đều toát lên một thứ văn hóa của riêng Trường Đại học Missouri. Càng đi sâu tìm hiểu tôi càng ngỡ ngàng, ngỡ ngàng đến choáng ngợp trước truyền thống và sức hấp dẫn bên trong, bên ngoài của ngôi trường này.


Read More

Tiếp tục thăm MU

Leave a Comment
 Ăn sáng xong, tôi cùng mẹ con Thúy dự định tiếp tục đi thăm Trường MU. Mở cánh cửa ra vào khu căn hộ để ra ngoài, chúng tôi bỗng nghe thấy cả một dàn cung bậc âm thanh, tiếng hót của các loại chim. Chưa bao giờ tôi được thưởng thức một buổi hòa nhạc tự nhiên của tạo hóa nào hay đến như vậy. Trong lòng tôi bao điều xốn xang đang dần thức dậy. Tôi đã từng ngồi nghe hàng giờ tiếng hót chíu của đàn khuyên. Tôi đã từng ngồi nghe tiếng hót êm ái, tiếng rúc, tiếng luyến láy réo rắt, tiếng chuông rền, tiếng đổ, tiếng ngân vang xa vừa mượt mà vừa cao sang trước đàn yến. Tôi đã từng ngồi nghe hàng giờ tiếng hót dài, âm thanh thánh thót, âm điệu du dương và thay đổi liên tục âm sắc như gió rít, thông reo trước đàn sơn ca. Tôi đã từng ngồi nghe hàng giờ tiếng hót chuyện loách choách thanh bình trước đàn chào mào. Tôi đã từng ngồi nghe hàng giờ tiếng hót líu lo, lảnh lót đầy mê hoặc trước đàn chích chòe. Tôi đã từng ngồi nghe hàng giờ tiếng hót cúc cu bổ hai bổ ba thấm đượm tình quê thôn dã trước đàn gáy. Tôi đã từng ngồi nghe hàng giờ tiếng hót trầm bổng như tiếng gió ngàn, tiếng thác đổ bí hiểm, hoang dã của rừng núi trước đàn khiếu, đàn mi… Ở nhà tôi nghe từng loại chim đơn lẻ. Mỗi giọng hót gợi cho tôi những kỉ niệm, những hình ảnh, những cảm giác khác nhau. Ở đây dường như tôi được nghe tất cả thanh âm của các loại chim hót gộp lại. Cả một dàn đồng ca, vừa quen vừa lạ. Quen là vì nhiều giọng hót tôi nhận ra. Lạ là vì nhiều giọng hót tôi mới được nghe lần đầu.
 Chúng tôi đi qua làng sinh viên, thấy có biển đề phân thành hai khu vực: Student village và student heightland. Đó là những dãy nhà ở hai tầng trên khu đất cao và những dãy nhà ở hai tầng dưới khu đất thấp dành cho sinh viên cao học và nghiên cứu sinh có gia đình. Thúy cho tôi biết, chỉ những sinh viên của trường có gia đình mới được vào đây ở. Các dãy nhà đều thiết kế đơn giản, trang nhã và cách khá xa nhau. Giữa các dãy nhà là những sân cỏ mơn mởn, những hàng cây cao thấp trổ đầy hoa. Tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện trong làng sinh viên này còn có một trường mầm non, chuyên tiếp nhận con của các sinh viên. Rải rác đó đây, giữa các dãy nhà còn có những khoảng đất trống bố trí nhiều loại đồ chơi cao cấp, từ xích đu các loại đến cầu trượt, nhà trượt phục vụ cho trẻ em. Quan sát tôi nhận thấy các loại đồ chơi đều bền, chắc chắn, đẹp và an toàn. Tôi đã từng nghe Thúy kể về những làng sinh viên trước đó, nhưng không thể hình dung ra nó lại thơ mộng và tiện dụng đến như thế này. Tôi bế bé Lâm lên cầu trượt để trượt thử. Lâm giang hai tay đặt lên hai thành cầu, trượt ngoằn nghèo từ trên cao xuống dưới đất. Lâm khoái chí, không khiến ông bế lên nữa, tự trèo lên cầu trượt xuống, vừa trượt vừa cười reo. Tôi chỉ lên cầu trượt khác cao hơn, dốc hơn, mạo hiểm hơn. Lâm chỉ nhờ ông giúp đỡ lần đầu, lần sau tự mình trèo lên và trượt xuống rất mạnh mẽ và dũng cảm.
 Khu vực làng sinh viên rộng khoảng chừng trên chục ha. Bên cạnh làng sinh viên này có một cánh rừng, có những con đường dành cho người đi bộ, đi xe đạp. Buổi sáng rất nhiều sinh viên chạy, đi xe đạp, đi bộ, tập thể dục. Không khí nhộn nhịp hẳn lên. Song sự hiện diện của con người vẫn không làm tan mất đi bản hòa tấu của bao loại chim đang đua nhau biểu diễn trên những tán cây và trong cả khu rừng. Tất cả đều như thức dậy, ùa dậy, hối hả. Ngay cả những con thỏ, những con sóc cũng vội nối đuôi nhau chạy trên mặt đất tìm kiếm gì đó. Chỉ khi có người đến gần chúng mới lảng đi.
Chợt một con nai chạy vụt qua trước mặt. Tôi vội bế bé Lâm từ xe đẩy vì sợ một con gì đó chạy qua va vào. Theo tay Thúy chỉ, hai ông cháu đi đến trước một con đường, tôi định băng qua nhưng bé Lâm bỗng giơ tay lên, miệng thốt lên ớ, ớ, ớ. Tôi không hiểu Lâm muốn gì. Thúy cười, nói:
-       Ba chưa biết luật giao thông ở đây rồi. Phải đặt tay vào biển báo, chờ cho đèn sáng mới được đi qua theo đường dành cho người đi bộ. Cháu nó quen được đặt tay lên biển báo khi qua đường nên đòi ông cho đặt tay lên đó đó.
-       Nhưng có xe cộ gì ở đây đâu?
-       Không có xe vẫn phải theo luật.
Tôi  đến sát cột biển hiệu. Bé Lâm đưa tay lên đặt vào biển báo. Một tiếng “tít” phát ra. Một lát sau đèn báo sáng có in hình một bàn tay, chúng tôi mới đi qua đường. Tôi thật sự ngỡ ngàng. Đúng hơn là tôi bị sốc. Một đứa bé chưa đến trường, dù là bố mẹ cháu thường xuyên dạy và thực hành cho cháu mỗi khi đi qua đường, mới gần ba tuổi đã có ý thức khi tham gia giao thông thì thật đáng phải ngẫm nghĩ.
Hành động của Lâm vừa rồi như muốn nói với tôi rằng, nếu cháu không nhắc nhở, tôi đã sang đường sai luật. Tôi thật sự xấu hổ. Không phải xấu hổ vì vi phạm luật giao thông trên đất Mỹ mà là xấu hổ với những vi phạm luật giao thông ở Việt Nam. Bao nhiêu lần tôi vượt đèn đỏ khi không thấy công an? Bao nhiêu lần tôi đi trên trên vỉa hè để kịp giờ đi làm? Bao nhiêu lần tôi vượt đường ngược chiều? Bao nhiêu lần rẽ trái, rẽ phải sai luật? Điều đáng buồn là hầu hết mọi người tham gia giao thông đều có thái độ giống như tôi. Biết bao người còn tệ hại hơn tôi rất nhiều: Phóng nhanh, vượt ẩu, đi sai làn đường, bia rượu vẫn lái xe, hành động bất chấp người thi hành công vụ.
Tình trạng ùn tắc giao thông diễn ra ngay khi bước ra khỏi nhà, từ nông thôn tới thành thị, từ phố nhỏ đến phố lớn, từ đường trục tới đường vành đai. Mùi khói, mùi xăng cùng với hơi người ngột ngạt thật khủng khiếp. Điều khủng khiếp hơn là bình quân hàng chục năm nay, mỗi năm ở Việt Nam có tới 12.000 người chết vì tai nạn xe máy, ô tô, xe lửa. Số người chết và bị thương do tai nạn giao thông trong một năm còn nhiều hơn một cuộc chiến tranh cỡ vừa ở trên thế giới. Nhưng mỗi vụ việc tai nạn chỉ như hòn đá ném xuống sông, rồi đâu lại vào đấy. Cuộc sống vẫn diễn ra bình thường, thản nhiên.
Các nhà trường vẫn dạy học sinh từ lớp mầm non đến lớp 12 là phải nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông. Ngày tưởng niệm quốc tế các nạn nhân bị tai nan giao thông vẫn được tưởng niệm khắp nơi trên toàn quốc. Tai nạn giao thông được nói đến hàng ngày nhưng số người chết hơn một chục năm trở lại đây vẫn nằm trong khoảng  trên dưới 12.000 người. Hơn một thập niên phấn đấu mà số tử vong không hề thuyên giảm. Chẳng biết trách nhiệm thuộc về ai đây?
Hôn nay Thúy đưa tôi đi thăm Vườn ươm Mc Alester, Đài tưởng niệm Union, Sân David R.Francis, Sân Carnahan và Tòa nhà Jesse Hall. Tôi rất thích ngắm nhìn, khám phá, tìm hiểu Đài tưởng niệm Union nhưng thời gian không cho phép dừng lại lâu. Gọi là đài tưởng niệm vì đây là công trình kiến trúc xây sau chiến tranh thế giới thứ nhất để tưởng niệm một trăm mười bảy người lính hy sinh trong chiến tranh. Tên tuổi của họ được khắc trên hai bên vòm cổng cho người dân trong thành phố và sinh viên ngày ngày đi qua ngả mũ chào, tỏ lòng tôn kính và tưởng nhớ tới những tấm gương hy sinh vì nước Mỹ. Tôi chạnh lòng nghĩ đến những sinh viên ưu tú của Việt Nam đã xếp bút nghiên, theo tiếng gọi của tổ quốc, lên đường chống Mỹ cứu nước. Hàng vạn người đã nằm lại trên khắp các chiến trường. Vậy mà không một trường đại học, cao đẳng nào có một đài tưởng niệm kiểu như ở MU.
Gây ấn tượng nhất trong số các điểm tham quan với tôi là kiến trúc cổ điển Tòa nhà Jesse Hall. Đây là tòa nhà hành chính, nơi làm việc của hầu hết cán bộ công nhân viên Trường Đại học MU. Nó được xây dựng vào năm 1893 sau khi Tòa nhà Academic Hall bị cháy năm 1892. Cái tên Jesse Hall đặt cho tòa nhà nhằm tôn vinh Richard H. Jesse, vị Hiệu trưởng nhà trường tại vị trong thời gian xây dựng tòa nhà cho đến khi rời nhiệm sở năm 1908. Hiện nay Jesse Hall là một trong những biểu tượng nổi tiếng, là trái tim của nhà trường. Nét đáng chú ý nhất của tòa nhà là mái vòm trắng lớn. Nhìn từ xa, mái vòm trắng cao vút vượt lên trên những tòa nhà. Những hàng cây xanh um tùm xung quanh càng tôn thêm vẻ diễm lệ của nó. Mặt trước tòa nhà nổi bật những hàng cột tròn trặn, duyên dáng mang cái dáng dấp kiến trúc Hy-La cổ đại.
Chúng tôi đi vào bên trong tòa nhà theo lối bên cạnh cửa chính, lối dành cho xe đẩy trẻ em và người tàng tật. Tôi nhận ra một nét rất riêng là tất cả các công trình kiến trúc, xây dựng công cộng ở Mỹ đều có đường đi riêng dành cho xe đẩy trẻ em và người tàng tật. Điều này thì gần như không có trong các công trình lớn nhỏ ở Việt Nam, nơi mà số người tàng tật cao hơn rất nhiều ở Mỹ. Riêng về sự việc này thôi, tôi cũng không biết phải đánh giá về ý thúc xã hội nhân văn của hai xã hộ như thế nào cho đúng.
Chúng tôi tham quan tầng trệt, tầng 1, tầng 2. Đi vào bên trong mới thấy tòa nhà thật rộng. Thúy vừa đi vừa thuyết minh về các phòng chức năng. Hàng nghìn con người đang làm việc trong các căn phòng nhưng không hề nghe thấy một tiếng động nào phát ra bên ngoài. Điều đặc biệt là không thấy bóng một bảo vệ và cũng chẳng có ai xét hỏi. Đi mỏi chân thì cứ ngồi nghỉ trên những dãy ghế xếp ở hành lang. Thỉnh thoảng có những phòng trống, trong đó có sẵn vài bộ bàn ghế và có những chiếc tủ, giống như tủ lạnh đại nhưng lớn hơn một chút. Thúy nói chỉ cần nhét một đồng tiền Mỹ vào tủ, đồ ăn sẽ tự động đưa ra. Tôi theo chỉ dẫn của con gái, nhét thử tờ 5 đô la vào một khe hở của máy, một gói bánh Pizza bọc trong túi nilông từ máy được nhả ra. Ba chúng tôi cùng ăn chung. Lâm chỉ nhấm nháp một vài miếng. Hai cha con phải ăn cố mới hết. Ăn xong tôi đưa một đồng xu cho Lâm. Bế cháu đến gần một chiếc máy, chỉ cho cháu bỏ đồng tiền vào chiếc máy bán nước. Lập tức một hộp coca được đưa ra. Lâm dùng cả hai tay lấy hộp nước đưa cho ông.
       -       Cám ơn Lâm nhiều, Lâm giỏi lắm, tôi đặt Lâm xuống nói:
       -       Từ mai ba có thể đi một mình, quá bữa cũng không sợ đói.
       -       Bên cạnh các lớp học đều có những phòng ăn tự động như thế này. Sinh viên nếu đói hoặc khát, giờ       nghỉ cứ sang phòng ăn. Những phòng như thế này chỉ giải quyết tức thời thôi. Còn ăn sáng, ăn trưa,         ăn tối trong trường rất nhiều điểm có người phục vụ, rất tiện lợi. Con nghĩ chẳng có ai ở đây bị đói           đâu.
       -       Nhưng ăn ở đâu thì rẻ.
       -       Ăn ở nhà là rẻ nhất. Chẳng hạn bốn cha con ăn ở nhà một tháng hết chừng 500 đô. Ăn ở cửa hàng       một bữa hết khoảng từ năm đến mười đô.
 Tôi nhẩm tính, mỗi tháng trừ các khoản, các con tôi được nhà trường trợ cấp 1.500 đô sinh hoạt phí. Tiền thuê phòng ở cá nhân hết 300 đô một tháng. Tiền thuê phòng ở gia đình hết 600 đô một tháng. Ăn uống cứ gọi hết 150 đô một tháng. Còn lại là chi phí cá nhân, tiền sách vở, tiền sinh nhật hội hè, khách khứa, du lịch, xăng xe… làm sao mà đủ. Vậy mà chúng vẫn cố gắng dành dụm tiền mua thuốc men cho ông bà, cho cha mẹ. Mỗi năm tết đến vẫn gửi quà về cho cả nhà. Lại còn mua máy ảnh, ipad cho riêng tôi nữa. Tôi hoàn toàn yên tâm về cuộc sống của chúng ở Mỹ. Tôi cũng tạm yên tâm về tương lai của chúng. Vì con người ta khi đã biết nghĩ, biết lo cho cái gia đình chung, có ý thức trách nhiệm với cái gia đình chung thì có thể hoàn toàn biết nghĩ, biết lo lắng cho cái gia đình riêng, có ý thức trách nhiệm với cái gia đình riêng.
Tôi là người có tật cả nghĩ và thường bận tâm về những điều không đáng bận tâm. Có lẽ là do di truyền từ gia đình. Tôi còn nhớ bà nội, lúc tầm tuổi 80, mỗi lần cha tôi đi chơi về muộn, bà nội đứng ngồi không yên, đôi khi còn cầm chiếc gậy ra cầu ao khoắng xem cha tôi có ngã xuống đó không. Cha mẹ tôi cũng vậy. Mỗi lần tôi đi học đêm về khuya quá thường lệ, dù lúc đó tôi đã ngoài 40 mươi tuổi, cha mẹ tôi vẫn cứ ngong ngóng ra vào chờ đợi trước cổng nhà, nhất định không đi ngủ. Có lần cha tôi còn lên tận đầu làng để đợi chờ...
  Rồi đến tôi, ngay từ khi hai đứa lọt lòng, trái gió trở trời, nóng lạnh, khò khè, ho hen, quấy khóc... mọi cử chỉ bất thường tôi đều lo lắng phân tâm. Mỗi lần đi xa dài ngày, tôi nhớ chúng đến cồn cào. Trong giấc ngủ, có lần tôi mơ thấy cái cảnh lúc nhỏ Thúy ngã xuống ao. Đầu nhấp nhô dưới cầu. Vân đứng trên cầu chìa tay, chới với. Tim tôi thót lại, choàng tỉnh dậy, mồ hôi tôi ướt đẫm áo. Dù là mơ về cái chuyện từ xa xưa, tôi vẫn không chịu đựng nổi, phải bỏ chuyến đi thực tế về trước mọi người. Về đến nhà, thấy hai con chạy ra đón, bị mụn nhọt đầy đầu, tôi ôm lấy chúng, nước mắt ứ ra. Cho đến khi chúng vào đại học, tôi vẫn chưa tiệt trừ được cái tật cả nghĩ. Mỗi lần chúng đi học về muộn, tôi bồn chồn đứng ngồi không yên. Kể cả khi tiễn chúng đi Mỹ, nhìn cái cảnh chúng bước vào cổng đi ra sân bay, người thì mảnh khảnh, ba lô mang theo thì nặng trĩu, tôi cố gắng lắm mới không để nước mắt tràn ra. Sang Mỹ lần này, thấy chúng trưởng thành nhiều, biết tự định liệu cho cuộc sống của mình, có lẽ từ nay tôi không còn có gì phải phân vân lo lắng nữa.
 Một điểm nhấn của Tòa nhà Jesse Hall là thính phòng Jesse. Khi nghe Thúy nói vào thăm thính phòng, tôi cảm giác nó nhỏ, chỉ hạn chế số lượng người trong một căn phòng nhất định. Không ngờ thính phòng Jesse chẳng khác gì Nhà hát lớn thành phố Hà Nội. Nó gồm tầng cửa chính và tầng ban công. Tầng cửa chính gồm ba phần: trung tâm, bên phải, bên trái. Ở trung tâm tính từ cửa đi vào là những hàng ghế từ hàng ghế A đến hàng ghế Z theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Anh, cộng thêm hai hàng A-A, B-B ở trên cùng. Mỗi hàng ghế có 18 chỗ ngồi. Bên phải, bên trái  khu trung tâm cũng có những hàng ghế theo số thứ tự như ở khu trung tâm. Chỉ khác là mỗi hàng có 14 chỗ ngồi. Tầng ban công hoàn toàn giống tầng cửa chính. Chỉ khác số hàng ghế ít hơn: từ A đến P.
  Tôi áng chừng toàn bộ thính phòng có khoảng 1.200 chỗ ngồi. Thính phòng Jesse là trung tâm biểu diễn nghệ thuật lớn nhất của MU và của cả Columbia. Bình quân có hơn 200 sự kiện trong một năm. Những sự kiện này rất đa dạng về nội dung, là đỉnh cao về chất lượng phục vụ. Thính phòng Jesse trình diễn từ âm nhạc Broadway tới Opera châu Âu; từ Rock, Roll, Jazz tới nhạc cổ điển; từ những tác phẩm của những tác giả nổi tiếng nhất đến những diễn viên nổi tiếng nhất thế giới; từ những buổi thuyết trình khoa học, lễ phát bằng đến đêm liên hoan sinh viên quốc tế.
 Thính phòng Jesse dành tất cả những điều tốt đẹp nhất cho mọi người nơi đây. Ngay cả với tôi, lần đầu tiên bước chân đến, tôi cũng hình dung được vẻ lung linh huyền ảo và sự trang trọng quý phái của những đêm công diễn. Nơi đây các sinh viên Việt Nam, trong đó có hai con gái tôi đã hát và múa những bài hát, những điệu múa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Tôi biết được điều này là do Tiến sĩ Nelson, giảng viên khoa học của nhà trường trong một lần sang công tác tại Việt Nam đến thăm trường tôi. Ông tặng tôi một đĩa CD và nói: “Trường chúng tôi rất tự hào về những sinh viên Việt Nam. Các em không những học tập rất tốt mà văn nghệ cũng thật tuyệt vời. Con ông, Thuy Le Thi Nguyen là một tấm gương. Tôi đã quay lại một số hoạt động của các em trong dịp tổ chức đón Tết Nguyên đán ở trong CD này”.
Nelson mở máy tính cho tôi xem cảnh sinh viên Việt chào đón xuân mới trên đất Mỹ. Thật cảm động. Cũng bánh trưng xanh thịt mỡ dưa hành, cũng chúc tết mừng tuổi, cũng lì xì cho các em nhỏ. Đặc biệt có chương trình ca múa mừng xuân. Thúy mở đầu cùng các bạn bài hát Việt Nam quê hương tôi cùng với điệu múa nón. Tôi không ngờ những tiết mục đó để lại nhiều cảm xúc đến vậy cho tôi và cho cả khách. Nelson nói: “Được dự bữa tiệc hôm đó, được xem chương trình ca múa đặc sắc, được thấy những chiếc áo dài duyên dáng, được nghe sự tích bánh trưng bánh dày, trầu cau, từ lãnh đạo đến giáo viên và vợ con chúng tôi đều rất cảm động, đều rất thích nền văn hóa Việt Nam”.
  Năm ngoái tôi được xem Vân biểu diễn bài Qua cầu gió bay, Bức họa đồng quê trên sân khấu thính phòng Jesse qua Youtube trong đêm Mizzou International Night. Vì vậy, với tôi, thính phòng Jesse cũng là một điểm rất đáng để ghi nhớ. Đứng trên sân khấu thính phòng, tôi bỗng nhớ tới những ngày xa xưa dắt tay hai con gái đi học họa, học nhạc ở trường, đưa chúng đến Cung văn hóa Hà Nội; nhớ những sân khấu ngày nào đưa chúng đi thi biểu diễn từ cấp huyện tới cấp thành phố. Thúy từng đoạt một số giải họa quốc gia, giải khuyến khích trong các cuộc thi tranh vẽ toàn quốc và quốc tế. Vân cũng đạt huy chương vàng, huy chương bạc trong các hội diễn thi tiếng hát hay của thành phố Hà Nội.
Tôi không bao giờ có tham vọng cho các con học chuyên văn, toán, lí, hóa hay ép chúng học thêm các môn học này. Chúng thích học thêm nhạc họa tôi ủng hộ. Chúng không thích theo đuổi ngành nhạc họa tôi cũng ủng hộ. Tôi mong muốn chúng được học những gì bản thân mình thích, sau này có một công việc ổn định, và trở thành người phụ nữ dịu hiền theo tiêu chuẩn của người Á Đông: Công, dung, ngôn, hạnh; có tâm hồn phong phú, biết thưởng thức cái đẹp trong cuộc sống cũng như trong nghệ thuật. Được như thế là tôi hoàn toàn mãn nguyện, không đòi hỏi ở chúng cái gì hơn.
Thúy tiếp tục dẫn tôi đi tham quan thư viện Ellis Library. Đây là thư viện chính của nhà trường bên cạnh hệ thống thư viện các trường, các khoa trực thuộc. Ellis Library nằm ở trung tâm khu vực Lowry Mall, giữa Đài tưởng niệm Union và Tòa nhà Jese Hall. Thư viên này bao gồm những nguồn tài liệu nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, khoa học cơ bản và những ngành như y học, thú y, địa chất, toán học, báo chí… Tổng số đầu sách thư viện lên tới trên ba triệu bản. Thư viện cũng sở hữu sáu triệu bản phim và khoảng 33.000 đầu báo, tạp chí khoa học xuất bản hiện thời trên thế giới và trong nước.
 Việc đưa Lâm đi theo không những không ảnh hưởng đến cảm nhận và lộ trình đi mà còn đem lại cho tôi vị ấm áp, ngọt ngào của ba thế hệ đang đi trên một con đường. Một người ở thế hệ thứ nhất nằm quãng giữa bên kia cuộc đời, một người ở thế hệ thứ hai mới bước vào ngưỡng cửa cuộc sống, một người ở thế hệ thứ ba là cháu bé vừa chập chững bước đi, cả ba người đều bước vào một trong những trung tâm tri thức của một trường đại học lớn. Bầu không khí vừa trang nghiêm vừa sôi động, tràn ngập sức sống. Hàng trăm sinh viên da trắng, da vàng, da đen đang miệt mài làm việc trong các phòng thư viện khiến tôi thật bồi hồi xúc động.
 Lần đầu tiên tôi có cảm giác nuối tiếc tuổi xuân của mình sao trôi đi nhanh quá. Giá như thời sinh viên của tôi một lần được bước vào tòa thư viện này. Cái cảm xúc đam mê, sáng tạo một thời lãng quên bỗng như trỗi dậy trong con người tôi. Với Thúy nơi đây đã quá quen thuộc. Còn Lâm thì đang ngơ ngác nhìn hết cái này đến cái kia.
Tầng trệt của thư viện được chia thành năm khu vực chính: Khu vực dành cho các dịch vụ kĩ thuật của cả thư viện, khu thính phòng Ellis, khu trưng bày các hiện vật lịch sử liên quan đến bang Missouri, khu trưng bày các văn bản viết tay liên quan đến lịch sử phương Tây và cuối cùng là khu West Atrium bao gồm phòng an ninh, phòng chứa vật dụng để quên, phòng ăn uống giải trí Book Mark.
 Tầng thứ nhất bao gồm khu để trên 100 bàn máy tính; bảy phòng họp, hội thảo và nghiên cứu chuyên đề; một khu đọc sách báo, tạp chí khoa học mới xuất bản; một khu để giá sách đọc; hai kho sách tham khảo và nghiên cứu; một  khu để văn kiện, tài liệu của liên bang và bang; một khu trưng bày sách mới; hai khu đọc và tra cứu tài liệu; một phòng bản đồ; một phòng vi phim; một phòng chứa các  loại băng và phương tiện nghe nhìn; ngoài ra còn có phòng in, phòng photo, scan, fax, phòng quản lí, phòng hướng dẫn tra cứu. Tôi xem xét kĩ càng các khu vực, các phòng ở hai tầng đã đi qua, tất cả đều rộng rãi, thoáng đãng và tiện lợi. Đặc biệt bắt đầu từ tầng một, tôi nhận thấy hệ thống thư viên rất đồ sộ và phức tạp. Lần đầu tiên trong một thư viện, tôi bỗng nhận thấy cái hữu hạn của con người và cái vô hạn của tri thức, rất trực cảm và cụ thể qua số lượng sách khổng lồ. Đó là chưa kể đến một cái nhấp chuột, hàng ngàn cuốn sách, thậm chí hàng vạn cuốn sách liên quan đến vấn đề người ta quan tâm sẽ lần lượt hiện ra trên màn hình. Tôi hỏi Thúy:
        -       Làm thế nào để tìm được tài liệu, sách tra cứu tham khảo mình cần? Mặc dù có hệ thống máy tính,          sách thư mục, từ điển sẵn có để trợ giúp, nhưng đặt địa vị ba đến đây đọc thì thật khó khăn.
        -       Ba đến bàn trợ giúp, Thúy đưa tôi đến trước một chiếc bàn và nói tiếp, lúc nào cũng có hệ thống              nhân viên thư viện giúp đỡ để ba tìm ra những quyển sách ba cần.
 Thúy đưa tôi đi lướt qua tầng hai, tầng ba, tầng bốn. Về cơ bản việc sắp xếp ở các tầng theo chủ đề, loại hình cũng giống như ở tầng hai. Chỉ khác đi một chút là có thêm các phòng học điện tử dành cho sinh viên. Ở các phòng này, thầy trò sử dụng máy để giới thiệu, tìm hiểu và nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến thư viện hoăc những đề tài có liên quan đến tài liệu trực tuyến được kết nối đặc biệt. Ngoài ra còn có nhiều phòng lưu giữ và phòng đọc các loại sách quí hiếm. Phòng lưu trữ các vấn đề chuyên biệt có khoảng 15.000 băng ghi hình, ghi tiếng. Phòng lưu trữ âm nhạc có gần 34.000 băng đĩa ghi lại các chương trình về tất cả các thể loại.
 Rời thư viện chúng tôi đến một khu nhà bề thế, được gọi là Bookstores. Thúy giải thích qua “Ba có thể hiểu nó giống như một Bách hóa Tổng hợp Tràng Tiền và Nhà sách Hà nội hợp lại. Chỉ khác là nó phục vụ cho riêng sinh viên của trường đại học này thôi”. Bookstores tọa lạc ở khu Trung tâm sinh viên MU, bao gồm bốn khu vực: Khu vực mua bán sách University Bookstores, khu vực chăm sóc sức khỏe Health, khu vực nghề nghiệp luật sư Law Professions, khu vực trưng bày thiết bị kĩ thuật Tiger Tech và một khu vừa ăn uống vừa đọc sách, giải trí của sinh viên.
 Chúng tôi ngồi nghỉ ở khu giải khát. Hàng trăm sinh viên ngồi rải rác theo nhóm nhỏ quanh những chiếc bàn tròn. Hình như ăn uống đối với họ chỉ là chuyện phụ, vì hầu như tất cả mọi người đều dán mắt vào màn hình máy tính hoặc Ipad để trước mặt. Thỉnh thoảng họ có trao đổi với nhau nhưng rất nhẹ nhàng, không gây ra sự chú ý cho mọi người xung quanh. Thúy đến trước một quầy gọi mua một cốc trà đặc sản của nhà trường cho tôi, một cốc cà phê cho mình và một cốc sữa cho Lâm. Khu vực ăn uống ở đây đều có người phục vụ nên giá cả đắt hơn. Tôi vừa nhấm nháp vừa quan sát. Chè có hương vị là lạ, rất thơm. Thúy hỏi:
        -       Ba thấy chè ở đây thế nào?
        -       Hương vị rất riêng biệt, nhưng ba vẫn thấy thiếu cái gì đó. Có lẽ ba quenvới cái vị chát, ngọt rất có          hậu của chè Thái Nguyên.
        -       Các cụ sang đây ai cũng nói vậy. Mới sang cái gì cũng liên tưởng đến quê nhà. Ba nhìn Lâm kìa.
 Lâm chạy đi lung tung, đến bên bàn các cô chú sinh viên ngó nghiêng. Mọi người tạm thời dừng công việc của mình để chơi đùa với bé. Cô chú nào cho kẹo bánh Lâm cầm lấy ngay. Thằng bé thật hiếu động và bạo dạn. Trong con mắt của mọi người chắc chắn bé Lâm thật đáng yêu. Tôi cảm nhận được điều này vì khi Lâm rời khỏi bàn không ít người vẫn nhìn theo. Có cô còn bế cháu lên thơm vào má. Đúng là giây phút xáo trộn đầy hương vị cuộc sống.
 Tiếp tục đi thăm các khu Bookstores, tôi vẫn đẩy chiếc xe của Lâm và chạy gằn theo Thúy. Tôi không muốn xem xét mọi cái ở đây một cách hời hợt vì vậy Thúy luôn phải chờ đợi hai ông cháu. Thúy khuyên tôi không cần thiết phải đi vào chi tiết, chỉ cần nắm cái tổng thể, vì nhà trường có trang mạng chung, các trường trực thuộc, các khoa, các bộ phận đều có trang mạng riêng. Có đến hàng trăm trang mạng trong trường. Chẳng hạn Bookstores có trang mạng là mubookstore.com. Muốn tìm hiểu, mở trang web, tất cả thông tin kênh hình kênh chữ và video giới thiệu rất đầy đủ, rất chi tiết.
 Bookstores ra đời từ năm 1899. Tất cả các hoạt động và lợi nhuận của Bookstores đều vì lợi ích của sinh viên, lợi ích của nhà trường. Nhiệm vụ của nó nhằm tạo điều kiện nâng cao năng lực, kinh nghiệm cho sinh viên bằng việc cung cấp những nguồn lực giáo dục, việc làm và hỗ trợ cũng như phục vụ những vấn đề cá nhân cho sinh viên tại trường. Bookstores tích cực hoạt động trên 100 năm qua để đảm bảo cung cấp các loại sách báo phổ thông đến sách chuyên ngành, sách giáo trình, sách tham khảo, thiết bị kĩ thuật học tập, văn phòng phẩm, quà lưu niệm, vật dụng cá nhân với giá thấp nhất.
Sinh viên của nhà trường đã tiết kiệm được 4,6 triệu đô trong năm học 2012 – 2013 bằng việc mua lại sách cũ, sách qua sử dụng. Trong điều kiện cho phép, Bookstores còn cung cấp những tài liệu, giáo trình photo, sao chép hay cho thuê, cho mượn dưới các hình thức. Những việc làm đó giúp sinh viên tiết kiệm được từ 30 đến 55% chi phí nếu so với mua nguyên gốc. Bắt đầu từ năm 2011 Bookstores còn cung cấp dịch vụ mua bán trực tuyến tất cả các nguồn lực giáo dục và những đồ dùng dành cho sinh viên với  giá rẻ, giúp sinh viên so sánh giá cả cạnh tranh trên thị trường để mua được cái gì mình cần với giá hợp lý nhất.
 Thúy đưa tôi đi thăm lướt qua hàng chục trung tâm gần Bookstores: Trung tâm phục hồi chức năng, Trung tâm tư vấn, Trung tâm chăm sóc sức khỏe, Trung tâm kiểm định và kiểm tra, Trung tâm về giới, Trung tâm phụ nữ, Trung tâm người khuyết tật, Trung tâm văn hóa Phi, Trung tâm đa văn hóa, Trung tâm kĩ thuật máy tính, Trung tâm phát triển cộng đồng, Trung tâm pháp lí… Qua tìm hiểu, tôi được biết có rất ít nhân viên trong biên chế của nhà trường ở các trung tâm. Hầu hết nhân sự là sinh viên. Với hình thúc tổ chức này, thứ nhất nhà trường giảm được kinh phí chi trả, sinh viên có sinh hoạt phí trang trải cho việc học tập ăn ở của mình. Thứ hai qua thực tế, sinh viên làm tại các bộ phận được trải nghiệm, tự học tập, rèn luyện và trưởng thành. Khi ra trường, các em sẽ có được kĩ kỹ năng rất cần thiết để đi vào cuộc sống trong tương lai.


Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.