Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Thăm Trường Đại học Chicago

Leave a Comment
Đêm thứ hai ở Chicago, tôi nghỉ ngơi và uống rượu tại nhà Thăng cùng với hai anh bạn trẻ Huy và Hùng. Sáng dậy, Thăng tiếp tục đưa tôi đến thăm hai điểm: Bảo tàng Cửa sổ Kính màu Smith và Khu Trung tâm trưng bày các công trình kiến trúc của Hội Kiến trúc Chicago. Sau đó, chúng tôi đến thăm Trường Đại học Chicago (The University of Chicago). Đây là trường đại học nghiên cứu tư thục. Trường được Hội Giáo dục Baptist Hoa Kỳ thành lập năm 1890 từ khoản tiền hiến tặng của tỉ phú dầu lửa John D. Rockefeller.
University of Chicago bao gồm Trường Đại học Chicago (College of Chicago) và 6 trường chuyên nghiệp (School) cùng với một trường giáo dục thường xuyên. Trường Đại học Chicago còn có 4 phân khoa sau đại học: Khoa Sinh học, Khoa Vật lí, Khoa Nhân văn và Khoa Xã hội. 6 trường chuyên nghiệp là Trường Y khoa (The Pritzker School of Medicine), Trường Kinh doanh (The Booth School of Business), Trường Thần học (The Divinity School), Trường Luật (The Law School), Trường Nghiên cứu Chính sách công (The Harris School of public Policy Studies) và Trường Quản trị Dịch vụ Xã hội (The School of Social Service Aministration). Ngoài ra nhà trường còn điều hành 12 viện nghiên cứu, 6 thư viện, một Trung tâm Y khoa, 113 Trung tâm Nghiên cứu theo dự án và một hệ thống trường thực nghiệm từ mầm non tới THPT (University of Chicago Laboratory Schools).
Năm học 2014, theo thống kê trên trang web University of Chicago, nhà trường có 2.168 giảng viên, 14.772 nhân viên, 5.134 sinh viên đại học, 9.820 học viên sau đại học. Theo số liệu trên thì số cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhiều hơn số lượng sinh viên. Chẳng trách học phí bình quân một năm là trên 41.000 đô. Tiền tài trợ của trường hiện có khoảng 6,8 tỉ đô la. Nếu so sánh số tiền tài trợ của Đại học Chicago với số tiền tài trợ của Đại học Harvard (32 tỉ đô la) thì quả là khiêm tốn. Nhưng chỉ với 6,8 tỉ đô thì cũng đã đủ là niềm mơ ước của hầu hết số các trường tư nổi tiếng trên thế giới.
 Tuy nhiên, với Đại học Chicago, vấn đề quan trọng là phát triển các lĩnh vực học thuật khác nhau chứ không phải là vấn đề tiền. Tiêu chuẩn để được vào nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại trường cực kì khắt khe. Chưa đến 10% các ứng viên sáng giá được nhận vào trường. Khẩu hiệu cho mỗi cán bộ giáo viên, nhân viên và sinh viên của Đại học Chicago là “Hãy làm giàu thêm kiến thức và nhờ đó làm phong phú thêm cuộc sống của nhân loại”. Với tinh thần đó, Đại học Chicago đã xây dựng được những thương hiệu nổi tiếng riêng biệt cho mình: Trường phái Kinh tế học Chicago, Trường phái Xã hội học Chicago, Trường phái Phê bình Văn học Chicago, Trường phái Nghiên cứu Tôn giáo Chicago, Trường phái Khoa học Chính trị cùng với thuyết hành vi và Phong trào Luật, Kinh tế học trong Phân tích Pháp lí…
Đại học Chicago luôn được xếp là một trong những trường đại học hàng đầu của thế giới. Ngôi trường này đã quy tụ và đào tạo được 89 người đã từng đạt giải thưởng Nobel (trong số này hiện có 10 giáo sư đang trực tiếp giảng dạy tại trường), 49 học giả Rhodes và 9 người nhận Huy chương Fields cùng hàng ngàn những giải thưởng danh giá khác. Việt Nam có 2 nhân vật lỗi lạc trong lĩnh vực toán học và vật lí là giáo sư Ngô Bảo Châu (Giải thưởng Fields), Giáo sư Đàm Thanh Sơn (Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ) cũng hiện đang giảng dạy tại đây.
Rất tiếc cả hai giáo sư có việc về Việt Nam dự hội thảo nên tôi không gặp được. Tôi cứ băn khoăn tự hỏi, điều gì khiến nhân tài của cả thế giới đều đổ dồn về Mỹ. Tôi nghĩ có lẽ không phải là vấn đề tiền bạc. Trung Quốc có 8 bộ óc lỗi lạc nhất được giải thưởng Nobel trong các lĩnh vực khoa học, trước và sau khi nhận giải thưởng cao quý này, họ đều nhập quốc tịch Mỹ. Chắc chắn Trung quốc có thừa tiền để đảm bảo cuộc sống vật chất cho các nhà khoa học và gia đình của họ, nhưng vẫn không giữ chân được họ ở lại quê hương. Ngay đến Giáo sư Ngô Bảo Châu, người từng được một trường đại học hàng đầu của Trung Quốc mời về làm việc với mức lương cao hơn ở Mỹ nhưng ông đã khước từ lời mời. Tại sao lại như vậy? Tôi nghĩ vấn đề ở chỗ nước Mỹ đã tạo ra được một môi trường kinh tế, xã hội, chính trị và học thuật để kích thích các nhà khoa học nghiên cứu, sáng tạo và phát triển. Cũng chính vì thế Giáo sư Đàm Thanh Sơn mới giã từ cương vị giáo sư giảng dạy ở Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva nổi tiếng mang tên ML. Lomnosov để đến Đại học Chicago.
Thời gian của tôi ở Chicago không có nhiều. Tối nay, tôi cùng Huy và Hùng dự một buổi dạ hội và xem biểu diễn ca nhạc, nên Thăng phải gọi cho tôi một tour xe điện đi thăm trường Đại học Chicago. Thăng phân trần: “Chỉ có cách này mới đáp ứng được yêu cầu của anh hai. Em mang tiếng là dân du lịch, nhưng chỉ biết giới thiệu chung chung về thành phố và những điểm tiêu biểu trong thành phố. Còn về các trường đại học thì có tour riêng của họ. Vả lại, em cũng không am hiểu lắm về chúng”. Người lái xe đến sau ít phút. Ông lần lượt bắt tay chúng tôi rồi dẫn tôi đi thăm trường và giới thiệu về các cơ sở trong trường.
Nhìn chung, khuôn viên Trường Đại học Chicago cũng giống như khuôn viên các trường đại học khác tôi đến thăm: Đều rất rộng, đều rợp bóng những hàng cây, đều thênh thanh những thảm cỏ, đều rực rỡ với những vườn hoa, đều tràn ngập không khí thể thao, âm nhạc và học thuật. Nhìn vào kiến trúc gothic của những tòa nhà từ cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, những tòa nhà hiện đại từ những năm 1930 đến những năm 1980 và những tòa nhà siêu hiện đại từ những năm 1990 trở lại đây, người ta vừa thấy được bề dày lịch sử cũng như vừa thấy được những nét riêng biệt của một ngôi trường thuộc một trong những thành phố lớn nhất của Hoa Kỳ.
Người giới thiệu đưa tôi đến trước một tòa nhà, một tòa nhà đồ sộ, nằm trên trục chính của trường Đại học Chicago. Tòa nhà chia làm 3 khối liền nhau, hai khối 4 tầng nằm trải dài hai bên; ở giữa là khối nhà 5 tầng và trên chính giữa của khối nhà 5 tầng sừng sững một đài tưởng niệm hình khối vươn lên trời cao. Đó là Thư viện Harper, thư viện mang tên người hiệu trưởng đầu tiên, định hình con đường đi cho Đại học Chicago, một con người can đảm, đầy nhiệt huyết và có tầm nhìn xa trông rộng. Thư viện Harper lưu trữ gần 9 triệu đầu sách, là một trong những thư viện lớn nhất của Mỹ và cũng là một trong số 15 thư viện đẹp nhất thế giới. Thư viên Harper là thư viện trung tâm nằm trong hệ thống 6 thư viện lớn và 11 thư viện nhỏ của các cơ sở trực thuộc nhà trường.
Được các kiến trúc sư nổi tiếng của Viện Nghệ thuật Chicago thiết kế, bản thiết kế thư viện được lấy cảm hứng từ các thư viện nổi tiếng của châu Âu và Mỹ theo phong cách gothic thanh lịch. Đặc biệt là những nét chạm khắc tinh xảo của Thư viện Oxfort, Cambridge, Harvard, Yale… cũng được các kiến trúc sư đưa vào thiết kế chi tiết tại thư viện này. Thư viện bắt đầu khởi công xây dựng từ tháng 1 năm 1910 đến tháng 6 năm 1912 mới hoàn thành. Năm 1970 thư viện được tôn tạo lại. Trong những năm gần đây có nhiều sự thay đổi. Hai triệu bản sách được chuyển tới các thư viện thành viên để lấy không gian cho các lớp học và cho các phòng hành chính. Hiện tại tầng trên cùng của tòa nhà chuyển thành không gian mở dành cho các nhóm hợp tác và nghiên cứu 24 giờ với cái tên gọi mới là Harper Memorial Library Commons.
Không chỉ là thư viện có số lượng sách khổng lồ với những giá sách đầy ắp quý hiếm từ thời con người mới có chữ viết, từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại cho đến ngày nay mà thư viện còn có kiến trúc độc đáo bên trong khiến tôi hoàn toàn bị mê hoặc. Từ lúc tôi bước vào tòa nhà đến khi lên tầng trên cùng, tất cả hành lang, trần nhà, cửa ra vào đều giống như những tác phẩm nghệ thuật. Đặc biệt là vào phòng đọc chính, tôi thấy rất rộng nhưng không gợi cho người ta cái cảm giác trống trếnh vì những tấm thảm màu ghi ấm cúng trải kín khắp căn phòng. Toàn bộ vòm trần phòng đọc làm bằng thủy tinh mờ sáng dìu dịu. Áp sát vòm trần là một mạng lưới giá đỡ bạch kim như những ngôi sao gắn kết nhau lại. Bên dưới giá đỡ, những hàng đèn chùm màu tỏa sáng kì ảo.
Dọc theo phòng đọc, có hai dãy khung cửa sổ gỗ cuốn vòm màu cánh kiến. Bên trong khung cửa sổ trang trí, những tấm kính màu in hình những bức tranh nghệ thuật tinh xảo. Trung tâm của căn phòng có đến hàng trăm bộ bàn ghế sang trọng bằng gỗ dành cho người đọc. Trên mỗi chiếc bàn đọc, người ta đặt một chiếc đèn chụp pha lê có núm điều chỉnh độ sáng. Tôi thử ngồi lên một chiếc ghế. Thật thoải mái. Chỉ còn thiếu một cuốn sách là tôi trở thành một bộ phận trong số hàng trăm độc giả đang ngồi trong căn phòng tráng lệ và sang trọng này.
Thấy tôi quan tâm đến thư viện, ông hướng dẫn viên gợi ý nhỏ nhẹ: “Ông có muốn đến Thư viện Regenstain không? Đó mới là thư viện hiện đại nhất của Đại học Chicago”. Tôi hẹn ông dịp khác vì không có thời gian. Trong thâm tâm tôi cứ thấy tiêng tiếc. Đã đến đây mà không vào thăm Regenstain thì thật uổng. Giá tôi có một tuần lễ ở đây. Một trường đại học mà có tới 17 thư viện. Chỉ điều đó thôi cũng đã thể hiện được lí tưởng cao đẹp của trường đại học danh tiếng này. Tôi còn được biết hệ thống thư viện không chỉ phục vụ cán bộ giáo viên sinh viên của nhà trường mà còn phục vụ bất kì người dân nào trong thành phố. Ai cũng có quyền tới thư viện đọc và mượn sách. Kể cả tôi muốn đọc sách gì thì cứ việc vào kho sách mà lấy. Có khó khăn gì thì cứ hỏi các nhân viên trong thư viện. Người ta sẽ tận tình giúp đỡ để ai cũng hài lòng khi đến nơi đây. Và vì vậy, thư viện thật sự là điểm đến gần gũi, một nơi thân thiện để cho những người theo đuổi tri thức tiếp cận được những cuốn sách cần nhất, có giá trị nhất.
Theo yêu cầu của tôi, người hướng dẫn đưa tôi đến thăm Hệ thống các trường giáo dục thực nghiệm của trường. Tôi không biết mục đích chiến lược của mô hình hệ thống trường thực nghiệm trong trường đại học là gì? Nó là hệ thống trường dành cho các nhà khoa học sư phạm, các giáo viên sư phạm của Trường Đại học nghiên cứu, thể nghiệm những ý tưởng liên quan đến quá trình phát triển nhận thức, phát triển tâm sinh lí trong khoa học giảng dạy và rèn luyện các kĩ năng nghề nghiệp cho giáo sinh hay là một trường thực nghiệm theo đuổi một triết lí giáo dục, một nguyên lí giáo dục, một phương thức giáo dục nào đó giống như mô hình giáo dục của Trường thực nghiệm Giảng Võ Hà Nội do Giáo sư Hồ Ngọc Đại đứng đầu.
Trường được Joln Dewey, một nhà triết học, một nhà tâm lí học, một nhà giáo dục và cải cách giáo dục thành lập năm 1896. Trải qua hơn một thế kỉ phát triển, hệ thống các trường trở thành một cơ sở giáo dục tốt nhất ở Chicago. Nhà trường đã cung cấp nhiều học sinh ưu tú theo học tiếp ở Trường Đại học Chicago và cung cấp nhiều học sinh ưu tú theo học ở các trường đại học hàng đầu của Mỹ cũng như của thế giới. Năm học 2013-2014 có 1850 học sinh, phần lớn là con em cán bộ giáo viên nhân viên của trường Đại học Chicago theo học. Ngoài ra nó còn thu hút học sinh xuất sắc từ 45 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới theo học tại đây.
Qua tìm hiểu tôi thấy mô hình hệ thống trường thực nghiệm của Đại học Chicago hoàn toàn không giống như tôi nghĩ. Nó cũng không giống với các mô hình trường quốc tế ở Việt Nam. Mục tiêu ban đầu của hệ thống trường thực nghiệm là xây dựng các nhà trường thành môi trường mà các giáo viên và học sinh cùng nhau học tập. Học sinh học tập và trải nghiệm thông qua việc việc vừa học vừa làm, vừa học vừa chơi. Nhà trường hoàn toàn tôn trọng tính độc lập và tinh thần dân chủ của cả thầy lẫn trò. Triết lí của nhà trường là tự do, dân chủ.
Theo thời gian những mục tiêu trên được bổ sung và phát triển thêm những nguyên lí như phát huy tính tích cực chủ động; phát triển tư duy tích cực. Ngày nay, ngoài những giá trị trên, các nhà trường trong hệ thống còn tiếp tục cam kết tăng cường Chương trình giáo dục tiên tiến (Chương trình giáo dục tiên tiến cho từng khối lớp được phát tới từng phụ huynh, được cụ thể hóa trong từng học kì, từng tháng và công khai đăng tải trên trang mạng của nhà trường) để giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, phê phán và khả năng hợp tác, sáng tạo cũng như xây dựng ý thức học tập suốt đời. Mô hình này cũng na ná như mô hình các trường tư của Mỹ mà tôi đã đi thăm.
Tôi có cảm nhận hình như trường tư Mỹ tiên tiến và có sức sống hơn các trường công. Ở Missourri, ở Colorado, ở Chicago và ở cả thủ đô Washington DC, tôi thấy nhiều người Mỹ phàn nàn về chất lượng của các trường công. Ngay cả trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhìn chung dư luận cho rằng các trường công của họ đang có vấn đề. Cho nên đa số tầng lớp trí thức và những gia đình giàu có đều cho con đi học trường tư ngay từ mầm non.
Cho dù trường công của Mỹ có trì trệ đi chăng nữa thì tôi vẫn thấy, những điều mà cải cách giáo dục Việt Nam sắp làm là chuyển từ nền giáo dục từ trang bị kiến thức cho học sinh để đi thi sang nền giáo dục phát triển năng lực, kĩ năng cần thiết cho học sinh, thì người Mỹ họ đã làm cách đây hàng thế kỉ rồi. Trong khi chúng ta vẫn đang loay hoay cấu trúc lại các cấp học, đang tranh luận chương trình và sách giáo khoa, tức là bàn cãi xem học cái gì và dạy cái gì, thì người Mỹ chỉ tranh luận với nhau học để làm gì và phải học như thế nào. Điều đó có nghĩa là chúng ta mới tư duy giáo dục ở thời kì Văn minh Nông nghiệp (nền văn minh đẻ ra một nền giáo dục sử dụng bút lông) cộng với tư duy giáo dục ở thời kì Văn minh tiền Công nghiệp (nền văn minh đẻ ra nền giáo dục sử dụng bút máy/bi). Còn người Mỹ đang ở một nền giáo dục của nền văn minh tri thức (nền văn minh đẻ ra nền giáo dục sử dụng máy tính, mạng internet). Cho đến khi thăm hệ thống trường thực nghiệm của Đại học Chicago tôi mới tự giải đáp hết băn khoăn rằng tại sao học sinh Mỹ lại không mang sách vở, bút mực và sách giáo khoa đến trường. Thì ra mọi cái đều có ở trong máy tính và ở trên mạng (mạng của trường, các mạng giáo dục của bang và của liên bang).
Hệ thống trường thực nghiệm Chicago bao gồm 5 trường: Trường mầm non, Trường tiểu học từ lớp 1 đến lớp 2, Trường tiểu học từ lớp 3 đến lớp 5, Trường THCS từ lớp 6 đến lớp 8, Trường THPT từ lớp 9 đến lớp 12. Trường có chương trình riêng cho từng cấp học và từng môn học; có sách giáo khoa của trường riêng cho từng cấp học và từng môn học; có mạng riêng cho từng cấp học và từng môn học. Học sinh của trường có ưu thế là được sử dụng tất cả các nguồn lực của trường Đại học Chicago từ thư viện, phòng thí nghiệm đến việc tiếp xúc, giao lưu, học tập, thậm chí được cùng làm việc với các sinh viên xuất sắc và các nhà khoa học hàng đầu thế giới.
Người giới thiệu dẫn tôi đến tòa nhà Blaine Hall, tòa nhà dành cho các cháu học mầm non. Tòa nhà này xây năm 1903, mang phong cách kiến trúc cổ điển. Bên ngoài tòa nhà có rất nhiều bụi dây leo phủ kín từ chân tường lên đến tầng ba và lên đến tận mái nhà. Nó gợi cho người tham quan cái cảm giác rêu phong về thời gian.
Các phòng học đều trải thảm, đồ chơi xếp đầy trên các giá gỗ, có các góc học tập theo chủ đề. Mỗi lớp khoảng 15 đến 20 học sinh, một cô giáo chủ nhiệm và hai cô giáo phụ. Theo lời người giới thiệu và cô trợ lí giám đốc điều hành, các cháu mầm non của trường được học cách chơi với đồ chơi và chơi để tìm hiểu, khám phá. Các giáo viên tạo điều kiện cho các cháu chủ động làm quen với các bạn, phát triển ngôn ngữ, năng lực tư duy và phát triển nhận thức xã hội. Ngoài ra các cháu còn được học và thực hành cách chia sẻ những ý tưởng, biết lắng nghe người khác, biết làm thành viên của một nhóm. Giáo viên cũng trú trọng đến các hoạt động hỗ trợ các cháu nhận biết toán học, nhận biết chữ viết và làm quen với môi trường xung quanh…
Ấn tượng nhất ở trường mầm non là việc tôi thấy các cháu được học ở trong phòng thư viện. Một thầy giáo đạo mạo, trang nghiêm (ở Việt Nam tôi chưa thấy một thầy giáo nào dạy ở mầm non. Ở cấp tiểu học thầy giáo cũng rất ít. Có nhà sư phạm cho rằng tính cách của các boy vì thế đang có xu hướng mang tính cách girl) hướng dẫn các em bé tí tẹo vào phòng đọc, phòng thông với hai bên là kho sách đầy ắp. Thầy cầm một cuốn sách ở trên giá, vừa kể vừa làm động tác mô phỏng. Giúp thầy còn có một cô giáo rất trẻ, cô cùng thầy đối thoại theo những nhân vật trong chuyện. Cô cũng làm các động tác phụ họa, mô phỏng cùng thầy. Các cháu cứ dán mắt nhìn vào. Nhiều em trong lớp đứng lên bắt chước các động tác của thầy cô rất ngộ ngĩng…
Tôi bỗng nhớ lần đến thư viện thành phố Columbia, các mẹ Mỹ đến thư viện đọc sách, đưa con gửi ở phòng nghe cho các nhân viên thư viện kể chuyện cho bé. Thì ra người Mỹ, thư viện Mỹ đã dạy các bé đến thư viện ngay từ lúc mới chập chững biết đi. Và khi mới vào mẫu giáo thôi, các bé lại được nhà trường tiếp tục nuôi dưỡng niềm đam mê với sách trong thư viện. Không biết ở Việt Nam có bao nhiêu trẻ em được bố mẹ đưa đi thư viện, bao nhiêu học sinh được thầy cô và nhà trường đưa đến thư viện hướng dẫn đọc sách? Vả lại nếu có muốn cũng không được. Các cháu cần phải học thêm để đi thi, để lấy thành tích và để nhà trường, thầy cô thu tiền. Lấy đâu ra thời gian vào thư viện. Đó phải chăng cũng là sự khác biệt về chất giữa hai nền giáo dục?
Tiếp theo tôi đến tòa nhà Belfield Towers và tòa nhà Judd Hall. Hai tòa nhà này dành cho học sinh tiểu học. Kiến trúc của chúng cũng giống như tòa nhà Blaine Hall. Trong phòng học, các thiết bị dạy, học và bàn ghế cũng giống như các trường phổ thông khác của Mỹ mà tôi đã có dịp đến thăm. Mỗi lớp học cũng vẫn chỉ khoảng 20 học sinh, một giáo viên chủ nhiệm và một số giáo viên chuyên biệt. Cô giáo trợ lí giám đốc điều hành cho tôi biết, học sinh tiểu học được cung cấp kiến thức cốt lõi về nghệ thuật ngôn ngữ, toán học, khoa học tự nhiên và xã hội. Ngoài ra học sinh còn được học âm nhạc, nghệ thuật, thể dục, máy tính, ngoại ngữ theo phương châm nhà trường phải giúp đỡ học sinh khả năng sáng tạo, tinh thần hợp tác; giúp học sinh học cách suy nghĩ; khuyến khích trí tưởng tượng, sự tò mò khoa học và ý kiến cá nhân; tìm hiểu vấn đề qua hoạt động học và thực hành. Còn về phần giáo viên, giáo viên thực hiện đúng chương trình của nhà trường nhưng vẫn được đảm bảo quyền tự chủ; phát huy tính sáng tạo, nhằm đáp ứng mọi nhu cầu và lợi ích của học sinh.
Tòa nhà Trường THCS &Trường THPT cùng với các phòng chức năng được xây dựng từ cuối những thập kỉ trước, rất hiện đại nhưng vẫn hài hòa trong khung cảnh chung. Học sinh hai cấp này bắt buộc phải học các môn nghệ thuật ngôn ngữ, toán học, khoa học, khoa học xã hội và nhân văn, thể dục, âm nhạc, nghệ thuật và một số môn tự chọn giống như các trường công mà tôi đã được đến thăm. Chỉ có điểm khác là ở Trường THCS thực nghiệm, do tính phức tạp tâm sinh lí độ tuổi, nhà trường quy định mỗi học sinh phải có một giáo viên phụ trách hay một cố vấn thường xuyên nói chuyện về tất cả các vấn đề mà không được phép phán xét học sinh đó. Có nghĩa là học sinh có quyền tự do trong tất cả các vấn đề trừ việc vi phạm những điều pháp luật Hoa Kỳ cấm.
Ở cấp THPT, chương trình có một số môn bắt buộc và tự chọn mang tính nâng cao, mang tính thử thách hơn khung chương trình chung quy định. Mục đích cũng chỉ để phát huy tính độc lập và sáng tạo của học sinh để học sinh biết trình bày, phân tích kiến thức trong sách vở và những vấn đề trong thực tế cuộc sống với tinh thần tự tin; đồng thời hoàn thiện một số kĩ năng để học sinh bước vào cuộc sống sinh viên.
Khi ra về, tôi được cô trợ lí giám đốc điều hành tặng một quyển sách giới thiệu tổng quan về hệ thống các trường thực nghiệm. Như vậy tôi có trong tay tròn một tá handbook và sách giới thiệu về các nhà trường phổ thông đủ các loại hình. Tôi nhận ra rằng có 4 cụm từ mà các ông, các bà hiệu trưởng, các trợ lí và các giáo viên thường xuyên nhắc đến, 4 cụm từ mà trong các quyển handbook và sách giới thiệu về các nhà trường thường xuyên nhắc đi nhắc lại nhiều nhất trong giáo dục, đó là: Tính độc lập, tư duy phản biện, sự hợp tác và tinh thần sáng tạo. Họ ít nói về mục tiêu. Họ ít nói về nguyên tắc. Họ ít nói về kế hoạch, về chỉ tiêu, về biện pháp, về việc phấn đấu, về việc thi cử. Họ rất ít đề cập đến thành tích của mình. Có chăng nói đến thành tích thì đó là thành tích trong lĩnh vực thể thao và âm nhạc.
Chưa thể kết luận giáo dục phổ thông của Mỹ là một nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới, nhưng chắc chắn rằng nó đã góp phần không nhỏ để nước Mỹ trở thành một siêu cường trong gần 100 năm ở thế kỉ 20 và có lẽ nó còn góp phần không nhỏ để nước Mỹ có thể giữ được vị thế siêu cường số 1 trong suốt thế kỉ hai mươi mốt này. Bởi một lẽ đơn giản, học sinh của họ là những con người có tính độc lập; có tư duy tích cực và phản biện; có tinh thần hợp tác; có sự sáng tạo. Đó là những phẩm chất đảm bảo cho đội ngũ nhân lực của họ đủ sức cạnh tranh và thành công trong nền kinh tế tri thức, nền kinh tế khởi nguồn từ chính nước Mỹ.


Read More

Đi thăm thành phố Chicago

Leave a Comment
Mùa hè năm 2013 đối với tôi đầy ắp những sự kiện đáng ghi nhớ. Nhà tôi xin nghỉ dạy học từ Việt Nam bay sang Colorado sớm hơn dự kiến gần một tháng. Vợ chồng Vân và cháu Bảo nghỉ hè đi sang nhà bác tụ họp cùng gia đình. Đặc biệt là Thúy sinh cháu trai thứ hai, gia đình tôi đón thêm một thành viên mới, cháu bách khỏe mạnh và kháu khỉnh. Đầu tháng 6 sinh nhật tôi lần thứ 60.Tại xứ người năm nay, các con tôi tổ chức một lễ sinh nhật đơn giản mà ấm cúng. Điều quan trọng nhất là đầy đủ con cháu. Tôi thích thú nhất là cảnh hai cháu Lâm thổi nến cùng ông, thổi mãi mà không tắt hết nến. Khi tôi giúp Lâm thổi tắt ngọn nến cuối cùng thì Lâm lại đòi tôi châm thắp nến để ra sức phồng mồm thổi và cười. Vậy là tôi bắt đầu bước sang cái tuổi lục tuần.
Những ngày sau đó, gần như ngày nào chúng tôi cũng đi chơi một địa điểm ở một nơi nào đó. Khi thì đi bảo tàng, khi thì vui chơi ở sở thú, khi thì tắm khoáng, khi thì lên tham quan các địa điểm trên dãy núi Rocky, khi thì đi ăn cơm thết và giao lưu với các gia đình bạn Thúy, khi thì ăn cơm thết và giao lưu với các gia đình bạn Hoài Anh, khi thì tổ chức tiệc tùng tại nhà. Một xã hội người Việt thế hệ thứ nhất, thứ hai và thứ ba thu nhỏ bên Mỹ, một xã hội Mỹ thu nhỏ trong các gia đình Việt, một nền văn hóa Việt, một nền văn hóa phương Tây, một nền văn hóa chung… Có những câu chuyện thù hận Việt cộng của những người trung thành với quốc gia Việt Nam Cộng hòa, có những câu chuyện bi thảm và đắng cay về những ngày tháng vượt biên, có bao nỗi nhớ nhung hoài niêm về quê hương đất nước, có bao những khát vọng trở về quê cha đất tổ… Có thể nói, tôi đã được trải nghiệm rất nhiều điều và tôi thực sự cảm thấy mình giàu có về điều đó.
Tôi đặc biệt thích thăm thú các trang trại nổi tiếng rộng hàng trăm, hàng ngàn ha gần chân núi Rocky như trang trại ngô, trang trại đậu nành, trang trại bí, trang trại ngựa, trang trại bò, trang trại cừu và các trang trại hỗn hợp. Đúng là một nền kinh tế nông nghiệp trang trại qui mô lớn, được công nghiệp hóa dựa trên nền tảng khoa học công nghệ sinh học. Chẳng hạn trang trại bò, trang trại cừu có tới vài trăm con. Đó là chưa kể các loại cây con phụ thêm khác. Tất cả các khâu đều sử dụng máy móc. Nhân công rất ít. Tận dụng tối đa nhân lực trong gia đình.
Có lẽ chỉ có trang trại cây và hoa là tôi thấy có thuê mướn nhiều nhân lực nhất. Hôm đi thăm trang trại cây và hoa, mặc dù mẹ gàn “ mới sinh cháu được hơn một tháng còn phải kiêng” nhưng Thúy vẫn  đòi đi để tự chọn mua một cây đào và một cây lê về trồng trong vườn, để xuân đến hoa nở, nơi xa xôi đỡ nhớ quê nhà. Trang trại này rộng khoảng nghìn ha, cung cấp một số lượng lớn hoa và cây trồng cho cả thành phố. Trang trại có khu nhà hành chính riêng. Khu nhà chức năng riêng. Khu vực các loại hoa riêng. Khu vực các cây trồng riêng. Khu vực ươm gieo trong nhà kính riêng. Khu vực nuôi dưỡng trong nhà kính riêng. Khu vực hoa, cây trưởng thành riêng. Khu vực hoa cây thành phẩm riêng.
Các loại hoa rực rỡ đủ màu sắc, bạt ngàn treo trên các giá cao thấp và trên mặt đất. Đúng là đâu đâu cũng thấy hoa. Ngoài hoa còn các loại cây giống xanh non trải dài, trập trùng ngút tầm mắt. Người đi chơi và mua sắm đông như chợ phiên cấp tỉnh ở Việt Nam. Đại đa số người ta đi theo cả gia đình. Muốn đi tham quan hết các khu vực phải ngồi trên xe điện. Tôi và Vân mải mê thay nhau chụp ảnh. Giang đẩy xe chở Lâm và bảo trong một chiếc xe đẩy nhỏ. Hoài Anh và nhà tôi thay phiên đẩy mẹ con Thúy trên một một chiếc xe đẩy lớn…
Hết thời gian nghỉ, vợ chồng Vân về Misouri. Hoài Anh tiếp tục đi làm. Lâm bắt đầu tới lớp. Phần lớn trong ngày ở nhà chỉ có vợ chồng tôi cùng Thúy và cháu Bách. Công việc cơm nước và chăm sóc hai cháu, hai người đàn bà là quá đủ. Tôi ngoài việc đẩy máy cắt cỏ trong khu vườn trồng cỏ, chăm sóc mấy luống rau, mấy khóm bí, mấy khóm bầu, mấy khóm dưa chuột, ngày ngày chỉ biết dạo chơi ngắm nghía các khu đô thị và thơ thẩn trong những khu trang trại ở Longmont.
Sau hai tuần hối hả, bắt đầu từ tuần này, tôi thấy nhịp độ cuộc sống như chùng xuống. Đúng lúc tôi quá nhà rỗi thì Huy trở về. Hai tuần vừa rồi, Huy đi Cali tiếp tục giải quyết một số việc riêng. Năm nay, Huy không về Việt Nam, vì ngoài việc đi Cali làm các thủ tục để lấy visa định cư, Huy còn muốn tham dự một chuyên đề về Vật lí Thiên văn ở Đại học Chicago bang Illinois. Huy hào hứng nói với tôi về chuyên đề “Những thế giới khác trong vũ trụ” do Giáo sư nổi tiếng người Thụy Sĩ, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ Michel Mayor trình bày trong hội thảo khoa học. Nội dung chuyên đề này giới thiệu mô hình sự hình thành các hành tinh; những khám phá về những hành tinh ngoài Hệ Mặt trời; sự đa dạng của các hệ hành tinh; cách thức quan sát hành tinh và các công nghệ để quan sát; tìm kiếm những hành tinh ngoài Hệ Mặt trời và tìm kiếm sự sống ở những hành tinh ngoài trái đất.
-           Những nội dung này, Huy hăm hở nói, cháu và anh bạn cháu học ở chicago rất mê. Cháu vừa mới được biết. Bác có muốn đi cùng cháu tới Đại học Chicago không?
-           Bác thích đi lắm. Bác thích bầu trời và những vì sao từ thủa ấu thơ. Bác đã từng nghe, từng đọc bao chuyện đồn đại về người ngoài hành tinh. Bác mong có một ngày nào đó trong đời được thấy sự sống ngoài trái đất. Nhưng bác đã già rồi và nếu được tham dự chuyên đề cháu nói thì chẳng khác gì nước đổ lá khoai.
-           Vậy thì như thế này, dự hay không dự mấy buổi đó thì tùy bác. Chúng cháu sẽ tham gia hội thảo, còn bác đi chơi thăm thành phố Chicago và thăm trường đại học. Bác yên tâm. Chúng cháu sẽ giới thiệu cho bác một lái xe taxi kiêm hướng dẫn viên du lịch người Việt.
Tôi như mở cờ trong bụng. Cái anh chàng Huy này thật phổi bò. Tôi vừa đồng ý là đề nghị tôi chuẩn bị hành trang để lên đường ngay. Tám giờ sáng xe bắt đầu xuất phát. Từ Thành phố Longmont bang Colorado tới Thành phố Chicago bang Illinois theo đường cao tốc khoảng trên 1.600 km. Tính cả thời gian ăn uống nghỉ ngơi, xe đi mất khoảng mười lăm tiếng. Đây là chặng đi xe đường bộ dài nhất của tôi trong một ngày, từ trước tới nay.
Xe đi qua hai bang thuộc miền Trung Tây Hoa kỳ: Bang Nebraska và bang Iowa. Suốt chặng đường đi dài dằng dặc, tôi thấy rừng núi, đồng cỏ và thảo nguyên xen kẽ các thành phố, thị trấn. Không gian ở đây thật khoáng đạt. Cảnh sắc thật hùng vĩ. Nhìn hết tầm mắt cũng không thấy hết thảo nguyên. Nó dường như tương phản với những ngôi nhà một tầng, hai tầng nho nhỏ, xinh xắn trong khoảng không bờ rào bằng gỗ, vừa thoáng đãng vừa thơ mộng ở hai bên đường. Thì ra đây chính là một trong những khu vực miền Tây hoang dại trong thời kỳ Tây tiến mà tôi đã được biết qua những trang sách và phim ảnh trước đó. Nó khác xa trong tưởng tượng của tôi. Tôi không tìm thấy bóng dáng của những cao bồi với chiếc mũ phớt trong ruổi với những đàn bò trên những cánh đồng bát ngát. Tôi cũng không còn thấy những ngôi nhà heo hút, tồi tàn giữa những trang trại mênh mông…
Bang Nebraska là bang thuộc Vùng Đồng bằng Lớn của Hoa kỳ. Diện tích bang trên 200.500km2, bằng hai phần ba diện tích của Việt Nam mà chỉ có 1,8 triệu dân. Thu nhập bình quân của người dân bang này hơi thấp so với mặt bằng chung: 31 ngàn đô trên đầu người. Bang Nebraska là bang duy nhất trong số 50 bang chỉ có một viện lập pháp. Mặc dầu là bang có số dân ít như vậy nhưng vẫn có tới 32 trường đại học và cao đẳng.
Bang Iowa có diện tích 145.743 km2 với số dân trên 3 triệu người. Thu nhập bình quân đầu người cũng giống như bang Nebraka: 31 ngàn đô. Cả hai bang trên đều có thế mạnh nhất là về nông nghiệp: Nhà sản xuất lớn về thịt bò, thịt lợn, ngô, đậu nành và lúa Miến. Trong những năm gần đây, hai bang này đã có sự kết hợp hài hòa giữa sản xuất nông nghiệp và công nghệ sinh học, tài chính. Dù mệnh danh là bang nông nghiệp nhưng chủ yếu dân cư lại sống trong các đô thị nhỏ với những tòa biệt thự  xinh đẹp.
Đến địa phận bang Illinois, trời đã đi sâu vào đêm. Đất trời chìm trong bóng tối, im lìm. Tôi chỉ nhìn thấy con đường với mũi tên chỉ đường đi và giọng nữ trầm ấm nhắc người lái xe chuyển làn đường hoặc rẽ trái hoặc rẽ phải. Bang Illinois còn có tên gọi là Quê hương của Lincoln (Land of Lincoln), tên vị tổng thống đã có công xóa bỏ chế độ nô lệ và giữ vững sự thống nhất của nước Mỹ trong thế kỷ 19. Diện tích bang Illinois khoảng 150.000 km2 với dân số trên 12.419.000 người. Bang Illinois là bang đông dân nhất Vùng Trung Tây nước Mỹ. Thủ phủ của bang đặt tại thành phố Springfield.
Về kinh tế, với nguồn đất đai màu mỡ, Illinois có nền kinh tế phát triển. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của bang là ngô, đậu tương, lợn, gia cầm và các sản phẩm từ sữa. Illinois dẫn đầu nước Mỹ về sản xuất đậu tương, xếp thứ hai về sản lượng ngô. Các ngành công nghiệp có cơ khí, luyện kim, hóa chất, các ngành công nghệ cao, chế biến thực phẩm, khai khoáng và du lịch. Bình quân thu nhập đầu người trên 46 ngàn đô.
Chính quyền bang Illinois được tổ chức thành ba nhánh là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhánh lập pháp bao gồm hai viện: Hạ viện có 118 ghế đại diện cho số lượng dân cư trong bang; Thượng viện 59 ghế đại diện cho số khu vực trong bang. Đứng đầu nhánh hành pháp là thống đốc bang. Đứng đầu nhánh tư pháp là tòa án tối cao. Illinois cũng rất nổi tiếng về văn hóa, giáo dục, thể thao. Riêng về giáo dục đại học, Illinoi có tới 130 trường đại học và cao đẳng. Một số trường nằm trong top 10, top 100 theo xếp loại của các tổ chức có uy tín trên thế giới.
Đến căn hộ của Hùng, bạn của Huy ở thành phố Chicago đúng 1 giờ sáng. Chuyện trò xã giao dăm câu ba điều xong, chúng tôi lăn ra ngủ trong phòng khách. Ngủ một mạch tới gần 7 giờ sáng tôi mới trở dậy. Hùng và huy vẫn còn ngủ. Tôi đến bên khung cửa sổ nhìn ra bên ngoài, phía dưới là những tán cây xanh non phủ kín mặt đất. Xa xa bên trái là khoảng trống ven hồ Michigan chạy dài tít tắp. Trên cái thảm thực vật mầu lục um tùm, rải rác hàng trăm khối nhà chọc trời cao thấp đua nhau vươn lên trên không trung. Tương phản với cái phông nền thành phố, bên phải là một vùng nước xanh biếc, trải rộng hút tầm mắt như đứng trước một cửa biển. Đây là một góc nhìn thành phố Chicago nổi tiếng mà trước đó tôi mới chỉ biết qua sách vở và được nghe người ta nói đến.
Được thành lập từ năm 1833, ban đầu Chicago chỉ là một thị trấn ở biên giới lãnh thổ Tây Bắc. Trải qua 180 năm phát triển, Chicago hiện là trung tâm tài chính, công nghệ của nước Mỹ và là quê hương đầu tiên của những nhà chọc trời trên thế giới. Tòa nhà Bảo hiểm Nhà cửa (Home Insurance Building) là trung tâm kiến trúc tài chính và văn hóa của cả miền Trung Tây. Chicago cũng là trung tâm vận tải của cả nước Mỹ; có đường xe lửa và đường xuyên bang nhiều nhất trong các thành phố của Mỹ. Chicago cũng là thành phố đứng đầu thế giới về số lần đăng cai các hội chợ quốc tế hàng năm.
Chicago là thành phố lớn nhất của bang Illinois và là thành phố đông dân thứ ba của Hoa Kỳ sau Thành phố New York và Thành phố Los Angeles. Chicago nằm ven bờ Tây Nam hồ Michigan, rộng 606 km2 với trên 2.836.000 người. Chính quyền thành phố được chia thành ngành lập pháp và ngành hành pháp, bao gồm 50 người trong hội đồng thành phố được bầu từ 50 phường có nhiệm kì 4 năm và một thị trưởng đứng đầu thành phố được bầu trực tiếp cũng với nhiệm kì trên. Về giáo dục đại học, thành phố tập trung tới 98 trường đại học và cao đẳng cộng đồng, thu hút gần 80% học sinh tốt nghiệp THPT của cả khu vực Đại đô thị Chicago.
Đúng như Huy đã nói với tôi, sau bữa ăn sáng, Hùng bạn Huy gọi điện cho chú Thăng, người lái xe taxi, đồng thời là người hướng dẫn tôi đi thăm thành phố. Anh là thế hệ thứ hai di cư sang Mỹ vào những năm 1980. Nói chính xác là anh phải theo một người cha, một sĩ quan quân đội quốc gia Việt Nam Cộng hòa, sau năm 1975 hoạt động cho FULRO, bị chính quyền bắt, trốn vượt biên trên một chiếc thuyền lúc anh mới 16 tuổi.
Đó là một chuyến di cư bất hợp pháp, mà cho đến bây giờ, Thăng vẫn còn cảm thấy đau đớn và hãi hùng đến tột độ. Thăng nói với tôi, thỉnh thoảng nhớ lại, anh vẫn như nghe thấy tiếng kêu khóc của trẻ con, người già trên chiếc thuyền năm nào lênh đênh trên biển cả. Đặc biệt cái cảnh người ta thả những đứa trẻ nhỏ, đau ốm bị chết xuống dưới biển trong tiếng kêu xé ruột của những người mẹ. Bản thân em gái Thăng cũng bị chết vì sốt rét trong trại tị nạn trên đảo Ga Lang ở Inđônêsia. Quá khứ đau buồn đã qua đi, nhưng bao điều đau xót vẫn còn để lại. Đêm đêm Thăng vẫn thấy mẹ mình khóc thương nhớ em. Rồi cuộc sống buồn tủi và bệnh tật ở Mỹ đã khiến bà mất sớm. Cho đến lúc chết, bà vẫn không tha thứ cho ba anh, vì đã ép mẹ con bà ra đi, để rồi gửi xác người con gái trên một hoang đảo.
Cuộc đời thật khó đoán định. Cha của Thăng thì quyết ra đi cập bến “tự do”, dù có phải trả giá rất đắt. Nhưng con gái và con rể anh thì lại trở về Việt Nam. Tháng trước, chúng thông báo cho vợ chồng anh là vừa nhập thêm quốc tịch Việt. Một đứa thì dạy toán, một đứa thì dạy khoa học cho Trường Quốc tế Việt-Mỹ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Lương hai đứa tổng cộng 4 ngàn rưởi. Vậy mà mới hơn một năm, cộng thêm khoản dạy thêm tiếng Anh bên ngoài, chúng đã dành dụm mua được một căn hộ trong thành phố. Nếu dạy học ở Mỹ, nằm mơ chúng cũng không thể nghĩ có một ngôi nhà riêng, trong một thời gian ngắn như vậy.
Hai đứa con Thăng khuyên vợ chồng anh bán ngôi nhà ở Chicago để về Việt Nam mua một cơ sở du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ở Mũi Né, Bình Thuận. Chúng nói, vì anh đã có nghề, nên sẽ nhanh chóng hiểu và làm quen với môi trường mới. Chúng tính anh sẽ chuyên đón khách du lịch Mỹ ở thành phố, tổ chức tour đi một vài thành phố xung quanh nữa. Vợ anh thì mừng rỡ ra mặt, muốn về ngay tức khắc. Còn anh thì nấn nuối muốn chờ thêm một hai năm nữa. Vả lại, anh cũng hơi ngài ngại, vì mình là con của một sĩ quan FULRO.
-           Anh hai có biết về FULRO không, Thăng hỏi giọng lơ lớ tiếng người Bình Thuận.
-           Tôi biết khá rõ, vì tôi đã nghiên cứu để viết một chương về FULRO trong một luận văn về vấn đề li khai ở Đông Nam Á. Chú có muốn nghe không?
-           Để đến tối, em mời anh tối nay về nhà em. Chắc nhà em mừng lắm. Em chưa kể anh nghe chuyện em về Việt Nam lấy vợ. Cũng là người nhà của mẹ em ở Bình Thuận, do mẹ em ngày còn sống làm mối. Nhưng thôi, để sau đã, còn bây giờ chúng ta phải đi thăm Chicago đã.
-           Chú đừng lo. Sau năm 1986 mọi cái đều khác rồi. Anh là người Bắc. Ông nội anh vào trong Nam với chính quyền “ Quốc gia”. Cha đẻ anh thì đi lính cho thực dân Pháp. Bao nhiêu năm nay anh vẫn là cán bộ đấy thôi.
-           Người ta cứ nói ra, nói vô. Nghe anh nói vậy thì rứt khoát em sẽ về.
Tôi thật may mắn gặp Thăng. Anh là hướng dẫn viên làm việc theo giờ (part-time) cho một hãng du lịch thành phố. Anh chuyên dẫn khách du lịch người Việt ở Chicago. Vì công việc không có thường xuyên nên anh chạy thêm xe taxi. Có lẽ vì theo đuổi công việc này mà anh rất tường tận về thành phố. Anh kể tôi nghe ngọn nguồn từng con đường, từng dãy phố. Không chỉ có cảnh quan thiên nhiên phong phú, Chicago có vô số những công trình kiến trúc lộng lẫy. Nói đầy đủ hơn, Chicago là một bảo tàng mở ngoài trời đầy ắp những công trình lịch sử, văn hóa, thương mại. Đi đâu tôi cũng bắt gặp những ban nhạc ngoài trời: Công viên, siêu thị, nhà hàng, đường phố. Tôi nghĩ mình phải mất nhiều tuần sống tại thành phố thì mới nắm bắt được nét tinh hoa cũng như hiểu được tầm vóc của những công trình bậc nhất thế giới ở đây.
Sau hàng giờ lướt qua những con phố chính của thành phố, Thăng đưa tôi đến Bảo tàng Phương Đông (Oriental Museum). Ban đầu tôi cứ nghĩ chắc bảo tàng này trưng bày những hiện vật về Trung Quốc, về Ấn Độ, về Nhật Bản giống như một số bảo tàng mà tôi đã được chiêm ngưỡng. Tôi định đi lướt qua một vài gian phòng cho biết, rồi bảo Thăng đưa đi điểm khác. Thì ra không phải như tôi nghĩ. Đến Mỹ có rất nhiều điều không phải như tôi tưởng. Tôi luôn bị bất ngờ. Chẳng hạn như Bảo tàng Phương Đông ra vào miễn phí này. Nó cho tôi biết Phương Đông đâu chỉ có Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại vĩ đại mà còn rất nhiều quốc gia cổ đại vĩ đại khác.
 Bảo tàng Phương Đông bao gồm những tòa nhà ba tầng và hai tầng, xây dựng theo lối kiến trúc cổ điển, có mái ngói dốc, nằm ở khu vực công viên Hyde Park rất thoáng và rộng rãi. Bảo tàng được thành lập năm 1919, sở hữu bộ sưu tập 207.000 hiện vật, 405.000 tác phẩm và hàng trăm ngàn cuộn phim ảnh đẳng cấp thế giới về lịch sử, văn hóa của toàn bộ khu vực Trung Đông thời cổ đại như Sumeria cổ đại, Babilon cổ đại, Lưỡng Hà cổ đại, Ba Tư cổ đại, Ai Cập cổ đại…
Tôi đi thăm một số phòng trưng bày như: Mesopotamian Gallery, Assyrian Gallery, Syro-Amatotian Gallery, Megiddo Gallery, Egyptian Gallery, Nubia Gallery và Persian Gallery. Bảo tàng nghe nhìn (Virtual Museum) và các phòng triển lãm chuyên đề tôi đành phải bỏ để đến dịp khác. Biết bao hiện vật vô giá trong kho tàng lịch sử, văn hóa Phương Đông đến giờ tôi mới được biết. Thật mãn nhãn, thật ngạc nhiên, thật sung sướng, thật thú vị. Thú vị nhất khi tôi được chiêm ngưỡng bức tượng Pharaon cao 5 m và con vật Lamasu nặng 40 tấn. Về bức tượng Pharaon thì có thể hiểu được, nhưng còn hình tượng con vật phía dưới là thân hình con bò có cánh, phía trên là đầu người thì thật kì lạ. Tôi cứ băn khoăn tự hỏi sao người cổ đại lại có thể sáng tạo ra hình tượng một con vật lạ lùng đến như vậy? Người ta định gửi gắm điều gì vào trong đó? Con vật thân sư tử đầu người thì người ta gọi là con nhân sư. Con vật thân ngựa đầu người thì người ta gọi là con nhân mã. Còn con Lamasu thì gọi là con gì? Chắc chắn không ai người ta gọi nó là con nhân bò.
Thăng đưa tôi đến điểm tham quan thứ hai là Công viên Lincoln Park. Tôi nói với Thăng tháng trước, tôi cùng với các con và các cháu đi thăm một số công viên ở Misouri và ở Colorado nên ở công viên này tôi không cần đi xem chi tiết. Vì thế Thăng đề nghị tôi đi xe điện để thăm tổng thể. Đây là một công trình văn hóa lớn có bề dày lịch sử nằm gần trung tâm thành phố. Công viên bắt đầu hình thành vào năm 1860, rộng 489 ha, dọc theo hồ Chicago và đối diện với hồ Michigan. Là một công viên công cộng lớn nhất thành phố, khách vào cửa miễn phí, những năm gần đây, hàng năm Lincol Park đón trên 20 triệu lượt khách trong và ngoài thành phố đến tham quan.
Công viên là nơi tập trung giải trí của mọi người, không phân biệt du khách là ai, không thấy bóng dáng cảnh sát hay bảo vệ hỏi han bất kì ai. Thăng cho biết vì là ngày thường nên lượng khách vắng hơn thứ bảy và chủ nhật, nhưng tôi vẫn thấy  tấp nập, nhộn nhịp. Phần lớn người ta đi theo đoàn và đi theo gia đình. Dòng người ban đầu rất đông rồi tản dần theo các hướng một cách yên bình. Không một chút xô bồ, nhộn nhạo. Đặc biệt tôi không thấy một tờ giấy hay một cọng rác trong công viên.
Công viên có 15 sân bóng chày, 6 sân bóng rổ, 35 sân tennis, 163 sân bóng chuyền và nhiều sân bóng đá, bắn cung, sân gôn, lối dành cho người đi xe đạp, đi bộ. Ngoài ra còn rất nhiều ngôi nhà được xây dựng từ đầu những năm 1900 cho đến những năm gần đây, bao gồm hệ thống nhà hàng, điểm giải khát, bãi nghỉ, khu bơi lội, bến cảng, nơi chèo thuyền, rạp chiếu phim và các sàn biểu diễn âm nhạc ngoài trời. Đặc biệt trong công viên còn có Bảo tàng Lịch sử Chicago, Bảo tàng tự nhiên Peggy Natebarerd, Bảo tàng thực vật, Bảo tàng các loại chim, Bảo tàng các loại bướm, Bảo tàng sinh cảnh thiên nhiên và vườn hoa lan với 25.000 ngàn loài lan tự nhiên…
Tôi nghĩ Công viên Lincol Park nổi tiếng nhất, hấp dẫn nhất có lẽ là khu vườn thú, khu bảo tồn thiên nhiên và khu bảo tồn động vật hoang dã. Vườn thú của công viên có 1250 loài với đầy đủ các khu vực trưng bày các loài cá, các loài lưỡng cư, bò sát, chim và thú. Trong đó có nhiều loài quý hiếm như mèo rừng, gấu Bắc cực, chim cánh cụt, khỉ đột và nhiều loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng. Có những điều tại vườn thú đã để lại cho tôi những ấn tượng không thể phai mờ. Đó là vườn thú không chỉ là nơi nuôi dốt các loại động vật để thỏa mãn sự tò mò của con người, nó còn là nơi nuôi dưỡng, bảo vệ và nhân giống các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng. Thực sự vườn thú là nơi giáo dục tốt nhất để con người bảo vệ sự đa dạng các loài sinh vật.
Khu các loài thú trong danh sách đỏ được người ta nuôi dưỡng ở một chế độ lí tưởng, từ việc tạo sinh cảnh giống như tự nhiên đến việc chăm sóc chúng. vì thế chúng đã sinh đẻ và nuôi con như trong môi trường sống của nó. Voi trắng nuôi con. Bò tót nuôi con. Ngựa vằn nuôi con. Tê giác đen nuôi con. Khỉ đột lớn nuôi con. Đười ươi nuôi con. Vượn đen má trắng nuôi con. Voọc đầu trắng nuôi con… Tất cả chúng đều có một gia đình. Chúng cũng biết yêu thương con như con người. Chúng cũng biết chăm sóc con cái như con người. Đặc biệt là quan sát các loài linh trưởng, tất cả mọi người đều thấy thú vị, nhất là trẻ con. Chúng dán mắt vào những con mẹ đang ôm con, cho con bú, bắt rận cho con, rồi những đứa con nghịch ngợm nhảy nhót lung tung. Trông chúng tình cảm chẳng khác gì con người. Vậy mà hàng ngày, hàng giờ ở các nước châu Á, Châu Phi người ta vẫn săn bắt để ăn thịt chúng. Còn ở đây, cả thành phố tạo điều kiện cho những con vật đáng thương này. Có cả một đội ngũ bác sĩ, tình nguyện viên đông đảo lo cho chúng từng bữa ăn, từng giấc ngủ.
Trong công viên người ta đã mở ra nhiều khu vực cho trẻ em vui chơi, ăn uống và thậm chí tương tác với các loài chim thú không gây nguy hiểm. Đặc biệt là ở những điểm xiếc thú và khu vực tái tạo lại trang trại miền Trung Tây, có đồng cỏ với các loại gia súc như ngựa, bò, cừu. Trẻ em mọi lứa tuổi đều rất chăm chú, say mê xem các loài thú biểu diễn, được gần gũi chúng, được cho chúng ăn, được tung tăng chạy nhảy, được làm việc như những người công nhân nông nghiệp. Khi chúng cười, cả đôi mắt và cả khuôn mặt chúng lấp lánh rạng ngời. Hàng trăm, hàng nghìn đứa trẻ với khuôn mặt tràn trề hạnh phúc, sao chúng đáng yêu đến vậy. Bên cạnh chúng là những người đàn ông, đàn bà cũng rạng rỡ niềm vui. Tôi bỗng ao ước có Lâm có Bảo đi cùng để cho chúng hòa vào đám trẻ này. Mặc dù tháng trước, bố mẹ chúng và tôi đã đưa chúng đi vườn thú ở Colorado. Lâm cưỡi trên lưng những con thú giả cùng mẹ, miệng toét cười, đôi mắt sáng lên. Rồi Lâm đuổi theo những con chim to nhỏ, đuổi theo những con vẹt sặc sỡ, đuổi những con công xòe đuôi, xòe cánh trên bãi cỏ và lệ khệ ôm những con rùa rụt đầu đến đưa cho ông…
Điều cuối cùng khiến tôi dâng trào cảm xúc là được ngắm nhìn bức tượng Tổng thống Lincoln trong công viên. Ông là tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, sinh ra trong một gia đình nghèo ở bang Illinois. Ông là người có công lao trong việc duy trì liên bang, người chấm dứt chế độ nô lệ, người hiện đại hóa nền kinh tế và tài chính, một tài năng đích thực trong nền chính trị Mỹ. Tôi ngưỡng mộ ông nhất là mặc dù ông thuộc về Đảng Cộng hòa, đảng theo đuổi đường lối cúng rắn trong mọi vấn đề. Nhưng sau nội chiến, ông lại chủ trương một đường lối ôn hòa nhằm tái thiết đất nước thông qua chính sách hòa giải và bao dung trong bối cảnh xã hội phân chia đầy cay đắng. Một con người như vậy mà vẫn bị ám sát vào tháng 4 năm 1865. Tại công viên, tượng Lincoln đứng trên bệ cao giữa đất trời lồng lộng. Ông đứng thẳng, đầu hơi cúi, râu cằm rậm, tay nắm phần dưới cổ áo khoác. Dường như ông đang suy tư. Đằng sau ông là chiếc ghế tựa có in hình con đại bàng đang tung cánh bay.
Chính sách hòa giải và bao dung của Lincoln cho đến ngày hôm nay vẫn đầy giá trị nhân bản và thực tiễn. Khi mà thế giới và ngay cả trong nội bộ từng quốc gia vẫn sống trong thù hận, chia rẽ, xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, nội chiến triền miên, khủng bố, tôi nghĩ các quốc gia và đặc biệt là nước Mỹ nên thực thi chính sách hòa giải và bao dung của Lincoln trong quan hệ quốc tế, chắc chắn đi theo chiều hướng này, nhân loại sẽ bớt đi nhiều khổ đau không đáng có. Thật đáng buồn, câc nhà lãnh đạo, nhất là ở các nước được gọi là cường quốc, người ta vẫn còn mang cái bản năng bầy đàn, vẫn luôn luôn muốn khẳng định cái mà người ta gọi là sức mạnh áp đặt thành chính sách quốc gia và áp đặt thành chính sách trong quan hệ quốc tế.




Read More

Thăm trường Đại học Colorado, Boulder

Leave a Comment
Tôi đến nhà Thúy đã hai tuần nhưng buổi sáng hôm nay mới có dịp nói chuyện với Huy. Tôi biết Huy từ trước qua những lần nói chuyện với Thúy. Huy là một thanh niên cao lớn lực lưỡng, nước da ngăm đen, tính tình hiền lành, nói năng từ tốn. Huy ở nhờ nhà Thúy, hiện là sinh viên năm thứ 2 Khoa Toán Ứng dụng, Trường Đại Colorado, Boulder. Trước đó, Huy cùng với bố mẹ và người anh trai sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Huy học Trường PTTH Nguyễn Tất Thành, một trong những ngôi trường chuyên nổi tiếng của thành phố. Sau khi tốt nghiệp THPT, Huy không thi đại học trong nước mà xin đi du học tự túc. Bố mẹ Huy có một tiệm vàng, làm ăn lại thuận buồm xuôi gió nên gia đình tương đối khá giả. Tuy vậy, cuộc sống gia đình họ lại không được bình lặng. Người bố đam mê cờ bạc rượu chè, thường hay đánh chửi vợ con. May mà được người mẹ biết nhường nhịn để lo toan mọi bề. Đó là một trong những lí do mà Huy sang Mỹ du học.
-           Mấy tuần vừa rồi, Huy nhìn tôi và nói, cháu đi Cali (California) vì công việc nên chưa thưa chuyện với bác. Đến Cali cháu rất lạ. Nhiều gia đình Việt vẫn treo cờ ba que (cờ của chính quyền Ngụy quyền miền Nam trước năm 1975). Bác thấy thế nào?
-           Bác đoán chủ những gia đình đó trước kia là những người có địa vị, có thế lực, có tiền tài trong chế độ Việt Nam Cộng hòa. Họ vẫn trung thành với chế độ cũ, mang lòng oán hận chế độ mới, thậm chí điên cuồng chống phá chế độ mới. Họ cho rằng mình luôn ở bên kia chiến tuyến, không đội trời chung với cộng sản. Nhiều người trong số họ còn không muốn quay về Tổ quốc. Họ là những người con dân của đất Việt mà không thức thời. Ngay đến Tướng Nguyễn Cao Kỳ, người từng là Phó Tổng thống của Chính quyền miền Nam Cộng hòa, khi về nước, nói với những người bạn cùng hội cùng thuyền của mình năm xưa: “Chúng ta đã thất bại. Ngay cả khi chúng ta có trong tay trên một triệu quân với sự hỗ trợ của người Mỹ, chúng ta cũng không làm gì được. Vậy mà một số người trong chúng ta bây giờ còn định toan tính cái gì? Bảo nhau mà làm ăn thôi”. Và thực tế, ông Kỳ đã đầu tư vào một số cơ sở trong nước để làm ăn. Bác đã từng nghỉ ở “Resort” của ông ấy ở Sơn Tây. Một ông tướng, một phó tổng thống của chế độ cũ mà còn biết suy nghĩ và làm việc sau thời hậu chiến như thế. Huống hồ những người khác. Nói như người xưa đã từng nói, họ là những người ngu trung.
-           Có lẽ bác nói đúng. Thế còn việc đa số sinh viên Việt Nam học xong đều ở lại Mỹ làm việc, bác đánh giá sao?
-           Theo ý kiến riêng của bác, đó là xu thế của toàn cầu hóa, không chỉ có người nước ngoài đến Mỹ, mà hàng triệu người Mỹ cũng đi ra nước ngoài làm việc và sinh sống. Nói như Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong buổi nói chuyện với sinh viên Việt Nam về vấn đề này tại Oa sinh tơn: “Các cháu ở lại Mỹ làm viêc, điều đó không có vấn đề gì. Có điều kiện, các cháu trở về đất nước phục Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Điều quan trọng nhất, các cháu phải là người Việt Nam”. Bác cho rằng ông Triết nói đúng và rất thực tế. Nếu như tất cả sinh viên đi học ở nước ngoài trở về nước thì nhà nước cũng chẳng bố trí được công ăn việc làm cho một bộ phận chứ chưa dám nói là tất cả.
Tôi biết Huy đi Cali giải quyết một việc rất tế nhị nên không hỏi. Chẳng là mẹ Huy biết được một “đường dây” chạy Thẻ Xanh 45 ngàn đô, một loại giấy tùy thân được phép định cư ở Mỹ nên bà quyết định đầu tư khoản này cho con. Cho tới khi sang Mỹ tôi mới hiểu tại sao người ta phải bỏ ra một số tiền lớn đến như vậy để có một tấm thẻ. Có nó người mước ngoài mới trở thành thường trú nhân của nước Mỹ, được làm ăn sinh sống như người Mỹ. Với sinh viên sang Mỹ học ở các trường công, nếu có Thẻ Xanh, sinh viên được hưởng quyền lợi như sinh viên Mỹ. Có nghĩa là tiền đóng học phí sẽ thấp hơn rất nhiều. Nếu học bốn hay năm năm, sinh viên có thể bù được số tiền đã bỏ ra để “mua” hộ khẩu thường trú. Và điều quan trọng hơn là sau khi học song đại học, sinh viên dễ dàng có điều kiện xin việc làm tại Mỹ. Chẳng hạn như vợ chồng em gái Hoài Anh, tháng trước nhận bằng tốt nghiệp đại học, tháng sau đã xin được việc ở một ngân hàng Mỹ với mức lương khởi điểm 4000 đô một tháng, trong khi vẫn có điều kiện thuận lợi học tiếp thạc sĩ.
Nói “mua” ở đây không phải là hối lộ các quan chức Mỹ. “Đường dây” chạy Thẻ Xanh đã lách luật, trên cơ sở các điều luật visa định cư theo diện ưu tiên gia đình và visa thành viên gia đình của thường trú nhân để có được tấm thẻ một cách hợp lệ. Giống như trường hợp Thắng, bạn tôi đã chạy cho cả nhà sang định cư ở Phần Lan, hay trường hợp cô giáo Khuất Thị Lan ở trường tôi cũng bỏ ra 45 ngàn đô để cho con đang theo học ở một trường cao đẳng cộng đồng ở Mỹ có được tấm visa định cư. “Đường dây” sẽ tổ chức kết hôn giả hoặc kết hôn trên giấy tờ cho các đối tượng.  Sau khi đối tượng đã đạt được mục đích, người ta lại tổ chức cho các đối tượng li dị. Trường hợp Huy đi Cali là để thực hiện cái quy trình mà “đường dây” yêu cầu. Thì ra cái quy luật cung cầu khuất tất ở xã hội văn minh cũng giống như ở xã hội Việt Nam, nơi nào cũng đúng.
Tôi ngỏ ý, hôm nào Huy rỗi nhờ Huy đưa đến thăm Trường Đại học Colorado. Huy hỏi lại tôi ngay:
-           Có 4 University of Colorado. Bác muốn thăm University of Colorado Boulder nơi cháu đang học hoặc University of Colorado Fort Collins hay University of Denver.
-           University of Colorado Fort Collins có phải ban đầu là trường Đại học Nông nghiệp của Colorado?
-           Đúng đấy bác ạ. Cháu có mấy người bạn học ở đấy.
-           Nếu thế thì bác đã biết về Trường Đại học Colorado Fort Collins qua giới thiệu của đại diện trường này khi họ làm việc tại Việt Nam. Thậm chí bác đã được xem cả một chương trình video giới thiệu về nhà trường. Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội và một số trường đại học Việt Nam đã kí thỏa thuận hợp tác khá chặt chẽ với Colorado Fort Collins. Các trường của Việt Nam đã cử các giảng viên có khả năng tiếng Anh sang theo học các khóa học hai, ba tháng nhằm tiếp thu giáo trình và phương pháp giảng dạy của họ để về dạy các lớp liên kết và các lớp cử nhân chất lượng cao cho sinh viên Việt Nam bằng tiếng Anh. Bác cũng có mấy người quen đang theo học tại đó.
-           Thế thì hai bác cháu đi Fort Collins.
-           Không. Bác muốn thăm trường cháu trước đã.
-           Nếu bác không bận gì mời bác đi luôn sáng nay.
Hai bác cháu ra xe riêng của Huy để ở vệ đường trước cửa nhà. Tôi thấy Huy vẫn để chùm chìa khóa xe ở ổ khóa từ đêm trước, liền hỏi:
-           Cháu quên khóa xe à?
-           Không phải cháu quên mà là cháu không để ý đến việc khóa xe hay không khóa xe. Cháu nghĩ ở đây ai người ta lấy trộm chiếc xe còm này.
Có lẽ Huy nói đúng. Ở Thành phố Columbia, Missouri vợ chồng Vân nhận hàng chục bưu phẩm mỗi ngày (vợ chồng Vân mua một số mặt hàng chuyển về Việt Nam) nhưng suốt thời gian ở đó, chẳng bao giờ tôi thấy nhân viên bưu điện đến trả hàng, yêu cầu người nhận hàng phải kí xác nhận. Họ ấn chuông để hàng trước cửa nhà rồi lẳng lặng ra xe đi trả hàng tiếp. Có lần chúng tôi đi chơi mấy ngày, hàng về chất thành đống mà cũng chẳng mất mát gì. Vân nói với tôi hai năm mua hàng với hàng ngàn bưu phẩm, mà chưa hề thấy người ta nhầm, chưa hề thấy mất mát. Còn ở Longmont, hàng tuần tôi vẫn nhận bưu phẩm để chuẩn bị mang hàng về nước cho vợ chồng Vân, khi thì dăm bảy chiếc đồng hồ, khi thì mươi mười lăm chiếc kính Mỹ, khi thì vài chục lọ thực phẩm chức năng và mỹ phẩm… Có lô hàng giá trị lên tới vài chục ngàn đô, cũng chẳng bao giờ Thúy phải ký nhận gì cả. Người ta cứ để hàng trước cửa nhà, ngay cạnh đại lộ, xe cộ và người qua lại suốt ngày mà không thấy mất mát gì. Ở đây nhà nào cũng có vài ba chiếc ô tô. Hầu hết người ta để xe ven đường. Không thấy nhà nào kêu bị mất cắp bao giờ. Vậy thì như Huy nói, khóa xe để làm gì.
Trên đường đi, Huy giới thiệu Trường Đại học Colorado Boulder là trường đại học nghiên cứu công lập nằm ở thành phố Boulder thuộc bang Colorado. Đây là trường đại học hàng đầu nằm trong hệ thống giáo dục đại học Colorado. Trường được thành lập vào năm 1876, cùng năm với Trường Đại học Colorado Fort Collins. Cũng như nhiều trường đại học khác của Mỹ, University of Colorodo Boulder chia thành nhiều college và school. Từ ngày thành lập đến nay, trường không ngừng mở rộng về quy mô và chất lượng đào tạo. Thế mạnh của nhà trường nằm ở các ngành khoa học, kĩ thuật, kinh doanh, luật, giáo dục, nghệ thuật, âm nhạc.
Năm học 2013- 2014 trường tiếp nhận trên 30.000 sinh viên trong nước và ngoài nước. Trường có khoảng 3400 khóa học với hơn 150 ngành học, bao gồm 85 chuyên ngành khác nhau. Trường đào tạo 78 chương trình cử nhân, 56 chương trình thạc sĩ, 53 chương trình tiến sĩ. Trường là một trong 34 trường thuộc Hiệp hội các trường công lập danh tiếng nhất Hoa Kỳ. Thành tích cao nhất của nhà trường là có 11 người đạt giải thưởng Nobel, cùng với hàng trăm giải thưởng danh giá trong và ngoài nước đã chứng tỏ vị thế đáng nể của nhà trường trong làng giáo dục đại học Mỹ.
Đại học Colorado Boulder (CU) nằm ở bên cạnh thành phố Boulder, dưới chân núi Rocky hùng vĩ. Toàn bộ khuôn viên trường nhấp nhô rải rác trong rừng cây cổ thụ xen lẫn những thảm cỏ, vườn hoa, trông hài hòa như một bức tranh đẹp đầy chất thơ. Nét đặc biệt nhất của CU là tất cả các tòa nhà đều được xây bằng đá sa thạch, một loại đá đẹp và quý hiếm ở mỏ đá Lyons của Colorado. Phong cách kiến trúc cộng với vật liệu đặc biệt của các tòa nhà gợi cho người ta cái cảm giác chắc chắn, cổ điển và trường tồn, một phong cách rất riêng biệt của một ngôi trường đại học dưới chân dãy núi nổi tiếng đẹp của thế giới.
Trước tiên, Huy đưa tôi đến thăm một tòa nhà cao tầng cổ kính được khánh thành vào tháng tư năm 1876. Tòa nhà này là tâm điểm và là di sản văn hóa nổi tiếng nhất của CU. Đây là nơi làm việc của bộ phận hành chính, thư viện và giảng đường trong gần một thế kỉ rưỡi từ ngày thành lập trường. Tòa nhà này đã được cải tạo lại vào năm 1952 với chi phí 1.700.000 đô tại thời điểm đó. Hiện nay, tòa nhà còn là nơi tiến hành các cuộc triển lãm, nơi trưng bày thư viện ảnh các loại, trong đó có đề tài về thể thao và xây dựng trường.
Tiếp theo, Huy hướng dẫn tôi đi tới Bảo tàng Nghệ thuật CU. Bảo tàng này được thành lập vào năm 1939. Cho đến nay, bảo tàng đã sưu tầm được trên 8000 tác phẩm nghệ thuật, phản ánh nền văn minh 3 ngàn năm của nhân loại, bao gồm nghệ thuật của các khu vực châu Phi, nghệ thuật tiền sử và cổ đại Mỹ, nghệ thuật châu Âu, nghệ thuật đương đại, nghệ thuật nghe nhìn…
Tiếp tục, chúng tôi đến Trung tâm Diễn đàn về các vấn đề quốc tế. Về hình thức, khu vực diễn đàn cũng gần như Trung tâm Hội nghị Quốc tế Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội. Nó được thành lập vào năm 1948. Ban đầu người ta biết đến như một diễn đàn chuyên về các vấn đề quốc tế. Rồi dần dần được mở ra các lĩnh vực nghệ thuật, truyền thông, khoa học, công nghệ môi trường, tâm linh, y tế, giáo dục, quyền con người… Diễn giả thường là những nhân vật nổi tiếng trong nước và ngoài nước. Còn khán giả là các cán bộ, giảng viên, nhân viên và sinh viên của nhà trường. Ngoài ra còn có nhiều nhà báo, người dân trong thành phố và du khách từ khắp nơi đến. Hàng tuần, tại diễn đàn thường tổ chức các sự kiện. Người tham dự từ vài trăm người cho đến trên hai nghìn người.
Điểm khám phá tiếp theo của chúng tôi là Thính phòng Macky, một tòa nhà có kiến trúc rất độc đáo, được xây dựng vào năm 1920, do một nhà doanh nhân và là nhà chính trị tên là Macky tài trợ. Ở hai bên tòa nhà là hai tòa tháp màu đỏ tươi vươn lên không trung. Chính giữa thấp hẳn xuống là mái nhà tầng hình tam giác, bên trên tầng hình tam giác là những ô cửa sổ trang trí, bên dưới là 5 cổng cửa vòm cuốn ra vào. Toàn bộ công trình tọa lạc nổi bật trên một khu đất cao. Vật liệu xây dựng chủ yếu bằng đá sa thạch và gạch đỏ. Thính phòng Macky trực thuộc Trường Đại học Âm nhạc và Khoa Nghiên cứu về nhạc Jazz. Nơi đây thường tổ chức các cuộc hội thảo lớn, nơi đêm đêm biểu diễn kịch và âm nhạc, nơi công diễn của Dàn nhạc Giao hưởng Boulder.
Rời khỏi Thính phòng Macky, Huy dẫn tôi tới Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên CU. Như khoe với tôi, Huy nói:
-           Trong trường đại học mà lại có các bảo tàng cực lớn thì không phải ở nước nào cũng có. Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên CU là bảo tàng có những bộ sưu tập lớn nhất trong khu vực Rocky với hàng chục nghìn hiện vật. Nó bao gồm rất nhiều ngành: Nhân học, Thực vật học, Côn trùng học, Cổ sinh vật học, Động vật học… Ngoài ra trong bảo tàng còn có 7 phòng triển lãm chuyên đề. Không biết đến bao giờ Việt Nam mới có một trường đại học tầm cỡ như thế này.
-           Bác nghĩ cứ chờ đợi đấy, như trong một bài hát “ trong tương lai xã hội chủ nghĩa”.
-           Bác cháu ta xem bảo tàng chuyên ngành nào hay xem triển lãm?
-           Ta chỉ có một ngày nên không thể thăm mon tất cả mọi thứ được. Ta lướt xem qua triển lãm để biết.
Chúng tôi xem triển lãm về thành tựu nghiên cứu AND, xem qua một số tóm tắt nghiên cứu của các giáo sư tiến sĩ và các sinh viên ở trong và ngoài nhà trường, qua tranh ảnh hiện vật, qua các đoạn phim. Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn thôi, tôi cũng mường tượng ra được vấn đề khoa học AND với sự đa dạng trong cuộc sống. Đúng như lời giới thiệu được ghi trước cửa phòng: “Triển lãm không chỉ là vấn đề trưng bày các thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ sinh học mà còn giáo dục cho học sinh, sinh viên và công chúng một khía cạnh phát triển của sinh học tiến hóa. Từ đó phát triển sự sáng tạo của con người, để làm thế nào tạo ra được những cái mới trong cuộc sống”. Cho đến giờ, tôi mới hiểu tại sao nhiều phát minh khoa học từ cuộc cách mạng công nghiệp đến những phát minh gần đây về máy tính, các phần mềm máy tính, mạng máy tính, internet, Google, Facebook… đều là của người Mỹ.
Tôi có ấn tượng nhất khi bước vào khu Trung tâm tưởng niệm của nhà trường. Khu vực này gồm những tòa nhà cao tầng và một đài tưởng niệm nhằm tôn vinh những cựu chiến binh Colorado đã hy sinh trong những cuộc chiến tranh từ ngày lập quốc cho tới ngày nay. Tôi nghĩ có lẽ hiện tại không ở đâu trên thế giới có nhiều đài tưởng niệm những người đã ngã xuống theo tiếng gọi của đất nước như ở Việt Nam và ở Mỹ. Nó trở thành một nét văn hóa riêng biệt của mỗi nước. Ở Việt Nam, từ các làng mạc cho đến các thành phố, đâu đâu cũng thấy những đài liệt sĩ. Ở Mỹ, từ Thủ đô Washington DC tới các trường đại học đâu đâu cũng thấy những đài tưởng niệm. Điều khác nhau là ở Việt Nam, đài tưởng niệm nằm trong nghĩa trang, ở Mỹ, đài tưởng niệm phần nhiều nằm ở các trường đại học.
Vào năm 1947, Thống đốc bang Colorado Lee Knous đã khởi xướng xây dựng Đài tưởng niệm trong Trường Đại học Colorado Boulder. Ý tưởng của ông nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của những nhà hảo tâm và người dân Colorado. Đầu những năm 1950, khu tưởng niệm chính thức được cắt băng khánh thành. Từ đó nó trở thành một viên ngọc, một trung tâm hội tụ của cán bộ, giảng viên, nhân viên và sinh viên. Tới nay khu tưởng niệm còn là một trung tâm thư giãn, giải trí, ăn uống, mua sắm và nơi tổ chức các sự kiện. Nó không chỉ là nơi giáo dục truyền thống sống động mà còn là nơi tạo ra không khí cho phép mọi người tự do trao đổi các ý tưởng, phát triển các mối quan hệ, nơi gắn kết các nền văn hóa trong trường đại học và trong cộng đồng.
Huy vừa hướng dẫn vừa giới thiệu cho tôi về một vài college và một vài school. Nhìn chung các giảng đường, các phòng học, phòng thí nghiệm cũng tương tự như ở Đại học Missouri Columbia. Riêng ở Khoa Toán Huy giới thiệu cho tôi khá kĩ về các phòng học toán lí thuyết, toán lập trình, toán ứng dụng và toán sư phạm. Ở Khoa Vật Lí, tôi còn được chiêm ngưỡng những dãy phòng thí nghiệm. Không có chuyên môn nên tôi không biết đánh giá các phòng thí nghiệm đó như thế nào, nhưng nhìn những con người trong phòng thí nghiệm, những vị giáo sư, những nhân viên và sinh viên đang cần mẫn bên những thiết bị mà tôi chưa bao giờ được biết đến, tôi có cảm nhận nơi đây thực sự là nơi để học tập, là nơi để nghiên cứu.
Choáng ngợp hơn khi đi dọc hành lang tới văn phòng khoa Vật lí, tôi thấy trưng bày san sát hàng chục chiếc tủ kính để cúp, cờ, huân huy chương và các phần thưởng cao quý nhiều loại khác nhau của giáo viên và sinh viên. Đặc biệt tôi thấy hai giấy chứng nhận lồng trong một cái khung vàng treo ở vị trí trang trọng nhất, hai giấy chứng nhận của hai giáo sư được giải thưởng Nobel của khoa Vật lí. Một giấy chứng nhận vinh danh năm 2001 và một giấy chứng nhận vinh danh năm 2010. Trên khung còn có  khoảng để trống như có ý muốn nói, thời gian tới, có những cái tên mới sẽ tiếp tục được vinh danh.
Chúng tôi kết thúc cuộc hành trình thăm trường Đại học Colorado ở Cung Thiên văn Fiske (Fiske Planetarium) và Đài Quan sát Sommers - Bausch. Cung Fiske là một bộ phận của Khoa Vật lí Thiên văn và Khoa học Hành tinh. Đây là nơi điều hành các điểm quan sát thiên văn trên đỉnh Apach. Có hai kính thiên văn viễn vọng dành cho các nhà nghiên cứu và sinh viên đến làm việc tại đây.
Nơi đây sinh viên, học sinh và công chúng được phép quan sát và trực tiếp trải nghiệm công việc khoa học theo sự chỉ dẫn của các nhân viên. Người ta điều khiển hệ thống quan sát bằng quang học và tia hồng ngoại để khảo sát bản đồ vũ trụ; xác định vị trí, cấu trúc của đối tượng trong vũ trụ. Lần đầu tiên trong đời tôi được quan sát hàng trăm, ngàn đốm sáng thiên thể đang chuyển dịch trên bầu trời cách tôi hàng ngàn năm ánh sáng. Thật là huyền diệu…
Đài quan sát Sommer- Bausch nằm ở phía sau Cung Thiên văn Fiske và cũng là một bộ phận của Khoa Vật lí Thiên văn và Khoa học Hành tinh. Tại đài quan sát này, có ba kính thiên văn lớn. Người ta sử dụng chúng cho công tác học tập, nghiên cứu và cho cả công tác tham quan. Ngay cả những người xa lạ như tôi và Huy, sau khi quan sát tổng thể ở Cung Fiske, lại được đến đài quan sát này xem các thiên hà hệ, các tinh vân.
Lên xe rời khỏi Trường Đại học Colorado, tôi cảm thấy trong lòng bao lưu luyến. Tôi cứ ngoái lại nhìn ngôi trường cho đến khi khuất hẳn tầm nhìn, chỉ còn lại ánh hoàng hôn bịn rịn và một làn sương tím mờ. Không biết bao giờ tôi mới có dịp quay trở lại thăm ngôi trường này. Có điều gì đó thật khó giải thích. Chỉ là một khách vãng lai, tại sao tôi lại vương vấn? Các con tôi không học tại đây. Chỉ có Huy và mười lăm sinh viên Việt Nam học ở ngôi trường này và tôi cũng mới gặp gỡ nói chuyện với vài người trong số họ. Chẳng lẽ do thái độ tôn trọng và nhiệt tình của các nhân viên khi gặp gỡ trong quá trình giới thiệu với chúng tôi về ngôi trường? Hay do thái độ tận tình của một cô giáo công tác tại trường này hôm trước đưa tôi về lúc tôi bị lạc? Tôi phân tích và tự lí giải, tất cả những điều đó chưa đủ làm cho tâm trạng tôi phải quyến luyến đến như vậy. Phải chăng hàng ngàn sinh viên tôi gặp trong cái đêm ở Boulder, tuổi xuân tràn đầy sức sống của họ, vẻ đẹp của họ gợi lại cho tôi một thời để nhớ, một thời để yêu?
Trên đường về tôi cứ miên man suy ngẫm. Những điều tôi biết về các trường đại học ở hai quốc gia không nhiều, nhưng tôi nhận ra rằng, có một điều ở các trường đại học của Mỹ thật khác xa với trường đại học của Việt Nam. Trường đại học của họ thực sự là của mọi người. Tất cả mọi người đều có quyền vào trường đại học. Và không nhất thiết người ta vào học để lấy một tấm bằng nào đó. Không có một bức tường ngăn cách giữa nhà trường và xã hội bên ngoài. Ngay cả những con đường đi qua nhà trường cũng là của mọi người. Không có một cảnh sát hay người bảo vệ nào ngăn cản.

Quan trọng hơn, tôi nhận thấy hơi thở của cuộc sống xã hội hàng ngày, hàng giờ ùa vào nhà trường và từ nhà trường hàng ngày, hàng giờ tri thức lại lan tỏa vào cuộc sống. Còn trường đại học ở Việt Nam thì hoàn toàn trái ngược lại, nó là một cái tháp ngà, của riêng trường đại học, cả nghĩa đen cũng như nghĩa bóng. Điều khác biệt đó một phần lí giải tại sao một đất nước có tới 24.000 tiến sĩ mà nhiều lĩnh vực khoa học và kĩ thuật còn rất hẫng hụt; ngay cả đến cái máy cày, máy bừa. máy cấy, máy gặt, máy tỉa bắp, máy tỉa hạt, máy thái ngô khoai sắn, cho đến việc chế tạo tàu ngầm, trực thăng đều do nông dân và những người thợ sáng tạo làm ra. Nói như vậy, không có nghĩa là tôi phủ nhận sự đóng góp của đội ngũ trí thức, nhưng quả thực những trí thức có tâm, có tài, có tầm quá ít trong cái con số trên.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.