Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực về Biển Đông, chiến thắng của công lí và thất bại của chủ nghĩa cường quyền

Leave a Comment

Ngày 12 tháng 7 năm 2016 Tòa Trọng tài Thường trực tại La Hay Hà Lan (Permanent Court of Arbitration-PCA) đã ra phán quyết về Đường chín đoạn và yêu sách Quyền lịch sử của Trung Quốc trên các vùng biển thuộc Biển Đông (a), Tòa kết luận không có căn cứ pháp lí nào để Trung Quốc yêu sách các quyền lịch sử đối với tài nguyên, bên ngoài những quyền quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), tại các vùng biển nằm bên trong đường chín đoạn. Về Qui chế của các cấu trúc tại Biển Đông (b), Tòa  kết luận rằng Công ước không quy định việc một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa có các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất và Trung Quốc vi phạm quyền chủ quyền của Philippines đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines. Về các hành vi của Trung Quốc tại Biển Đông (c), Tòa kết luận Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ theo Công ước liên quan đến an toàn hàng hải. Và cuối cùng (d), Tòa kết luận Trung quốc đã làm trầm trọng thêm tranh chấp giữa các bên bằng các hoạt động cải tạo đất qui mô lớn và xây dựng các đảo nhân tạo tại 7 cấu trúc tại Trường sa, phá hủy môi trường và hệ sinh thái của vùng biển...
Có thể nói Phán quyết bác bỏ Đường chín đoạn (Đường lưỡi bò) của Tòa là chiến thắng vang dội của Philippines trước một Trung Quốc bành trướng đầy tham vọng. Đó cũng là chiến thắng của công lí và thất bại của chủ nghĩa cường quyền. Nó giáng một đòn chí mạng vào yêu sách biển, các quyền đối với vùng biển và thẩm quyền trong việc tiến hành các hoạt động ở vùng biển này. Mặc dầu Trung Quốc ra sức lôi kéo một số các quốc gia ủng hộ lập trường của mình, ra sức phản đối phán quyết của Tòa, nhưng phán quyết chung thẩm của Tòa mang tính chất ràng buộc với một thành viên tham gia kí kết Công ước như Trung Quốc, nó có ảnh hưởng sâu sắc tới tình hình khu vực Đông Nam Á và cục diện trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Lần lại hồ sơ các cường quốc chống lại các phán quyết của tòa, gần đây nhất, thế giới có hai vụ kiện mà chính phủ hai nước không tham gia và chống đối phán quyết của tòa án quốc tế. Đó là vụ Chính phủ Nicaragua kiện Mỹ tài trợ cho một tổ chức chống Nicaragua và vụ Chính phủ Hà Lan kiện Nga bắt và phạt tù 30 thành viên Greenpeace phản đối Nga khai thác dầu tại Bắc Cực. Cuối cùng dưới sức ép của công luận, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Nga đều phải tuân theo phán quyết của tòa. không lẽ Trung Quốc muốn trở thành một quốc gia duy nhất chà đạp lên luật pháp quốc tế? Nếu làm vậy các nước trên thế giới sẽ bất mãn, cảnh giác và xa lánh, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN sẽ thúc đẩy việc tăng cường sức mạnh quân sự, liên kết với Mỹ, Nhật Bản, Ấn độ thành một mặt trận để đối trọng với Bắc kinh.
Thế giới hiện nay rất cần đến luật pháp, dù là luật pháp quốc tế hay là luật pháp trong nước. Các cường quốc càng cần đến luật pháp để tồn tại trong hòa bình, trật tự. Bắc kinh không thể nằm ngoài vòng pháp luật. Thật nguy hiểm cho Bắc Kinh, nếu họ không tuân thủ luật pháp thì người dân của họ cũng sẵn sàng dẫm lên luật do chính họ ban hành. Hậu quả về đối nội đối ngoại sẽ không thể nào lường hết được.
Với tư cách cá nhân, tôi vô cùng cảm ơn người Philippines. Họ đã làm được một điều phi thường mà các nước có tranh chấp với Trung Quốc chưa làm được. Cảm ơn Tổng thống Philippines Benigno Aquino, người quyết định kiện Trung Quốc lên một tòa án quốc tế vì những yêu sách tham lam, phi lí của Trung Quốc trên Biển Đông. Có thể nói, việc đưa gã khổng lồ hung hăng cơ bắp ra tòa án quốc tế là một việc làm hết sức can đảm và khôn ngoan. Trong mười lăm điểm, Tòa chọn xét bảy điểm và phán xét của Tòa hoàn toàn ủng hộ lập trường của Philippines. Người Philippines có quyền tự hào vì những gì mình đã làm trong suốt ba năm qua.
Chiến thắng trong vụ kiện vượt ngoài mong đợi của tất cả những người yêu chuộng hòa bình. Trước hết nó làm sáng tỏ nhiều điều khoản của UNCLOS mà một số quốc gia còn mơ hồ và ngay ở cả Việt Nam, không ít người còn bán tín bán nghi về cái quyền của Trung Quốc ở trên Biển Đông. Tòa đã kết luận trên cơ sở pháp lí khách quan, khoa học, chính xác, chặt chẽ về việc Trung Quốc áp dụng sai, giải thích sai UNCLOS, bác bỏ đòi hỏi chủ quyền lịch sử và đường chín đoạn chiếm gần hết Biển Đông của Trung Quốc; chỉ ra những hành vi xâm phạm chủ quyền, làm căng thẳng thêm xung đột và phá hủy môi trường sinh vật biển của Trung Quốc.
Tôi cho rằng mưu đồ và hành động sai trái của Bắc Kinh trong suốt bao nhiêu năm qua là nguyên nhân của những căng thẳng, gây xung đột trên biển đông không chỉ giữa Trung Quốc với Philippines mà còn gây căng thẳng và xung đột với Việt Nam, Malaisia, Brunei và Inđônêsia. Phán quyết của Tòa Trong tài Quốc tế như câu thành ngữ người viêt thường nói: “Cháy nhà ra mặt chuột”. Dù họ có trăm phương ngàn kế biện hộ, phủ nhận, lôi kéo các nước ủng hộ, đe dọa các nước có liên quan, cả vú lấp miệng em trong các hội nghị quốc tế thì mặt chuột vẫn là mặt chuột.
Đối với khu vực ASEAN, với phán quyết của Tòa về điểm a, cùng với phán quyết về điểm b, xác định các thực thể (Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp) không có qui chế lãnh hải quá 12 hải lí, thậm chí có thực thể không quá 500m, phán quyết đó đã thu hẹp phạm vi tranh chấp giữa các bên liên quan với Trung Quốc rất nhiều, có thể nói gần như không còn cái gọi là vùng chồng lấn mà Trung Quốc cố tình tạo ra để vơ về mình, để đòi thương lượng chia chác tài nguyên với các nước trong phạm vi 200 hải lí vùng đặc quyền kinh tế của họ. Nó tạo ra cơ sở pháp lí vững chắc để Philippines và các nước tiếp tục đấu tranh hòa bình với Trung Quốc để bào vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp.
 Vì Phán quyết có thể áp dụng tương ứng cho các yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của các nước có tranh chấp nên nó sẽ thu hút được sự ủng hộ của tất cả các nước có tranh chấp, thống nhất được lập trường, đoàn kết phản đối bất cứ hành động nào dựa trên quyền lịch sử đường chín đoạn đối với các nguồn tài nguyên của họ. Nó khiến một số nước trong khối ASEAN không thể vì đồng tiền viện trợ của Trung Quốc mà xa rời mục tiêu đấu tranh vì hòa bình và vì vai trò vị thế của ASEAN trong cấu trúc của khu vực.
Đối với thế giới, phán quyết của Tòa không chỉ thay đổi cuộc chơi của các bên tranh chấp ở Biển Đông mà còn khẳng định, quyền tự do hàng hải trên tuyến Biển Đông không thể bị Trung Quốc vin vào đòi hỏi quyền lịch sử và đường chín đoạn tự vẽ ra để cản trở, kể cả việc đi qua bảy thực thể Trung quốc đã và đang tiến hành cải tạo thành các căn cứ quân sự. Phán quyết chỉ ra và đảm bảo rằng các vùng nước bên trong Biển Đông, nằm ngoài 12 hải lí từ các thực thể là khu vực biển mở cho tất cả các quốc gia thực hiện tự do hàng hải, hàng không và các hoạt đông quân sự. Nó được Mỹ và các nước phương Tây ủng hộ. Nó khẳng định cơ sở pháp lí cho việc Mỹ tiếp tục đưa tàu hải quân và máy bay đi qua vùng biển. Nó cũng khuyến khích Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Pháp cùng với các thành viên Liên minh châu Âu tuần tra qua vùng biển mà luật pháp quốc tế cho phép để bảo vệ quyền tự do hàng hải.
Phán quyết của Tòa cũng giúp Mỹ duy trì và mở rộng sáng kiến an ninh tập thể đã được Bộ Trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đưa ra tại Đối thoại Shangri-la trước đó ít ngày. Mỹ sẽ là người kiến tạo, dẫn dắt một khối an ninh tập thể mới (tôi đã có bài viết riêng cũng trong blog này- Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Châu Á năm 2016) dựa trên những nguyên tắc và chuẩn mực chung, tạo điều kiện cho những hành động tập thể nhằm tiết chế thái độ quyết đoán của Trung Quốc, tăng cường nhận thức lĩnh vực biển trong khu vực và hướng tới một  hoạt động chung của các nước ở Biển Đông. Phán quyết càng thúc đẩy Mỹ làm việc với các quốc gia ĐNA, đặc biệt là các nước có tranh chấp với Trung Quốc nhằm cải thiện khả năng của họ trong việc hiểu biết, phát hiện, ứng phó và chia sẻ thông tin về hoạt động trên không, trên biển ở khu vực Biển Đông.
Tôi tự hỏi mình vì sao người Philippines lại làm được cho đất nước và cho cả khu vực cũng như quốc tế một điều kì diệu và có ý nghĩa lớn lao đến như vậy.
Sau những năm 1970, Mỹ dần rút khỏi các lực lượng quân sự ra khỏi Việt Nam và ĐNA, Mỹ đã để lại một khoảng trống quyền lực và Trung Quốc đã tận dụng cơ hội nhanh chóng lấp dần cái khoảng trống đó, bắt đầu từng bước mở rộng bành trướng lãnh thổ trên biển, từng bước thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông và tăng cường quyền lực của mình ở Đông Nam Á (ĐNA).
Năm 1974 Trung Quốc chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa từ Chính quyền Sài Gòn thuộc Việt Nam mở đầu cho âm mưu bành trướng trên Biển Đông. Năm 1979 Trung Quốc phát đông cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam. Năm 1988 Trung Quốc lợi dụng Việt Nam đang trong cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng đánh chiếm 5 đảo trong Quần đảo Hoàng sa của Việt Nam. Và từ đó đến nay Trung Quốc không ngừng tiến hành những hành động xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam. Các cuộc đàm phán giữa hai bên đều rơi vào bế tắc vì những đòi hỏi phi lí về chủ quyền của Trung Quốc.
Với Philippine Trung quốc cũng có những hành động bành trướng như đối với Việt Nam. Lợi dụng Mỹ rút khỏi căn cứ hải quân Subic năm 1992, chấm dứt sự hiện diện của hải quân Mỹ từ khi Mỹ giành được Philippines từ Tây Ban Nha năm 1898, Trung Quốc bắt đầu thực hiện chiến lược lát cắt salami, xâm chiếm các đảo tranh chấp với Philippines. Tháng 2 năm 1995 Trung Quốc chiếm rạn san hô đá Vành khăn, sau đó vây ép bãi Cỏ Rong. Năm 2012 Trung Quốc tiếp tục gây hấn ở Bãi cạn Scarborough. Sau mấy tháng trời dùng mọi thủ đoạn, Trung Quốc đã chiếm Bãi cạn, cấm người Philippine đánh cá tại các ngư trường truyền thống xung quanh Bãi cạn Scarborough, nằm trong thềm lục địa Philippines.
Các cuộc đàm phán thương lượng từ năm 1995 đến năm 2013 giữa Trung Quốc và Philippines cũng đều rơi vào ngõ cụt, lí do cũng tương tự như đối với Việt Nam- độc chiếm Biển Đông. Trong bối cảnh Trung Quốc xé bỏ Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông mà Trung Quốc đã kí với ASEAN NĂM 2002, ngạo mạn thông báo với Liên hợp quốc chủ quyền không tranh cãi của họ với các đảo trên Biển Đông; rồi ngông cuồng áp đặt vùng nhận diện phòng không (ADIZ) tại Biển Hoa Đông chồng lấn lên ADIZ của Hàn Quốc và Nhật Bản, Tổng thống Benigno Aquino biết ông cần ai và ai cần đến Philippines; ông buộc phải lựa chọn hoặc tiếp tục đi với Trung Quốc hoặc làm sống lại mối quan hệ quân sự với Mỹ vì quyền lợi của dân tộc. Ông đã không do dự kí Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường với Mỹ (Enhenced Defense Cooperation  Agreement) ngày 28 tháng 4 năm 2014. Ông Aquino hiểu rất rõ đi trên dây với Trung Quốc sẽ còn mất đất, mất chủ quyền và ông bắt đầu cuộc chiến pháp lí với Trung Quốc, đồng thời xây dựng một mối quan hệ chiến lược mới với Mỹ, đất nước ông tin sẽ không bao giờ cướp đất và đoạt chủ quyền của Philippines.
Ông Aquino đã nhận nhiều tầu tra, các tàu chiến của Mỹ-Nhật, tham gia mạng lưới an ninh cùng với Mỹ-Nhật. Tháng 4 năm 2015, Mỹ đã yêu cầu Philippines được tiếp cận và sử dụng 8 căn cứ quân sự, trong đó có căn cứ hải quân Subic và căn cứ không quân Clark, một lưỡi kéo nhằm cắt đứt đường lưỡi bò. Tháng tư năm 2016, Mỹ và Philippines tổ chức diễn tập quân sự 10 ngày. Sau thời gian diễn tập, nhiều chiến đấu cơ và trực thăng cùng với 200 lính Mỹ đã lưu trú tại căn cứ Clark. Và khi Tòa trọng tài Thường trực Liên hợp quốc ra phán quyết, hải quân Mỹ đưa tàu chiến, tàu sân bay đến Biển Đông, đưa thêm chiến đấu cơ và máy bay tác chiến điện tử tối tân E/A-18 G Growler và 120 nhân viên quân sự để trinh sát Biển Đông và giúp đỡ Philippines huấn luyện quân đội.
Không biết việc làm của cựu Tổng thống Philippines Aquino sẽ còn giúp Philippines trong tương lai đi đến đâu trong mối quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền, nhưng chắc chắn việc ông đưa Trung Quốc ra tòa và xây dựng mối liên minh mới với Mỹ-Nhật sẽ còn có tác động đến đất nước ông, đến ĐNA và đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và với những việc mà Philippines đã làm, Trung Quốc sẽ được gì và mất gì mang tính chất chiến lược. Về vấn đề này tôi sẽ đề cấp đến trong một bài viết khác.
Riêng đối với Việt Nam, Phán quyết của Tòa hoàn toàn có lợi trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc để đảm bảo chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp mà bao nhiêu năm qua Trung Quốc đã xâm phạm. Nó làm cho các nước trên thế giới hiểu hơn về Việt Nam. Người Việt Nam sẽ vững tin hơn vào công lí và vào UNCLOS, tiếp tục kiên trì các hình thức đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình, trong đó có hình thức đấu tranh bằng pháp lí, đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế khi cần.
Có một điều cần lưu ý vì Tòa không phán quyết về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với các thực thể trên Biển Đông, vì điều đó nằm ngoài phạm vi của UNCLOS nên chắc chắn Bắc Kinh còn trơ trẽn đòi hỏi “chủ quyền không thể tranh cãi” đối các thực thể ở Trường Sa. Việt Nam sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn trước âm mưu cường quyền của chủ nghĩa Đại Hán.
Mặc dầu vậy, Việt nam có thể nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ kiện của Philippines, áp dụng kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài Thường trực Liên hợp Quốc hoặc một tòa án quốc tế nào đó thích hợp để giành lại chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp tại Quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm trái phép từ năm 1956 và năm 1974. Bởi vì những đòi hỏi về quyền lịch sử và cái đường chín đoạn đã bị Tòa ra phán quyết bác bỏ, Trung Quốc không có căn cứ pháp lí nào để biện hộ cho hành động xâm lược của họ trong qua khứ. Tất nhiên sau phán quyết của Tòa, chúng ta cũng phải rà soát điều chỉnh một số tiểu tiết về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về mặt pháp lí sao cho phù hợp với UNCLOS. Phải xác định rõ phạm vi các thực thể, các bãi nổi bãi chìm, xác định quyền và lợi ích của chúng ta một cách cụ thể, rõ ràng.
Tôi biết rằng việc kiện Trung Quốc ra một tòa án quốc tế như thế nào và khi nào còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng chúng ta không thể không chuẩn bị kĩ càng cho một cuộc chiến pháp lí, vì chúng ta không thể giành lại Quần đảo Hoàng Sa bằng sức mạnh chính trị và quân sự. Trong khi đó nguy cơ bị chèn ép, bị xâm hại chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp đã, đang và sẽ còn diễn ra trong thời gian sắp tới. Đó là điều ai cũng có thể dự đoán trước.
Sẽ có người đặt câu hỏi tại sao philippines làm được mà chúng ta lại không làm được? Phải chăng chúng ta không có đủ cơ sở pháp lí, không có đủ trí tuệ và bản lĩnh hay chưa có thời cơ? Phải chăng chúng ta sợ chọc giận Trung Quốc thì họ sẽ xâm lược trên quy mô lớn hoặc bao vây cấm vận làm suy sụp kinh tế đất nước? Phải chăng vì Việt Nam cùng chế độ chính trị với Trung Quốc và vì cái 4 tốt và 16 chữ vàng đầu lưỡi? Và còn những lí do không thể nói thẳng ra được nữa... Tôi biết việc kiện Trung Quốc như thế nào và khi nào là rất khó, và sẽ có người cho rằng kể cả kiện thắng như Philippines thì có chắc giải quyết được vấn đề hay không? Cứ chờ xem philippines được cái gì sau khi thắng kiện…
Quyền lịch sử và đường chín đoạn tưởng tương giống như cái phép thắng lợi tinh thần của  người Trung Quốc mà Lỗ Tấn viết trong AQ chính truyện. Tòa Trọng tài đã bác bỏ cơ sở pháp lí hoang tưởng của nó. Người Trung Quốc sẽ phản ứng quyết liệt, thậm chí sẽ làm càn, bất chấp thể diện của một nước thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, một cường quốc đang “trỗi dậy hòa bình”. Các nước đang cảnh giác giữa lời nói và việc làm của Bắc Kinh.
Nhưng dù sao đi nữa cá nhân tôi vẫn tin vào công lí, tin vào UNCLOS, tin vào lãnh đạo và người dân Trung Quốc chính trực. Tôi  tin rằng Đảng và Nhà nước ta đã, đang chuẩn bị những phương án cần thiết để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp của dân tộc như tổ tiên chúng ta từ hàng nghìn năm nay vẫn giữ vững được chủ quyền đất nước. Và tôi cũng tin rằng bài học về vụ kiện của Philippines sẽ được các cơ quan chức năng Nhà nước nghiên cứu tường tận. Bài học này có thể góp phần về mặt thực tiễn giúp cho công cuộc đấu tranh trên mặt trận pháp lí của Việt Nam trong thời gian sắp tới. 

Read More

tại sao Mỹ là siêu cường và sẽ vẫn là một siêu cường

2 comments
Sau một chuyến đi dài hơn một tháng qua bốn bang của Mỹ tôi lại quay trở về Longmont, bang Colorado vào lúc 9h00. Mặc dầu thấm mệt, tôi vẫn dừng lại cùng dòng người xem màn bắn pháo hoa của thành phố. Thực ra đêm hôm trước, tại bữa tiệc chiêu đãi chứa chan tình cảm của chị Thúy, người phụ nữ Quảng Ninh lấy chồng Mỹ ở thành phố Columbia, Missouri, chúng tôi đã được xem một màn pháo hoa hai mươi phút của riêng những nhà giàu có trong khu phố, tổ chức bắn chào mừng quốc khánh Mỹ tại một bờ hồ rộng rãi. Sau khi thưởng thức màn pháo hoa đó, tôi còn chứng kiến rất nhiều nhà xung quanh khu vực bắn hàng chục quả pháo lên bầu trời, cả một vùng sáng bừng pháo hoa lộng lẫy bao sắc mầu huyền ảo. Đúng là phong cách của người Mỹ.
Sáu năm trở lại đây, năm nào tôi cũng có dịp sang Mỹ từ hai cho đến ba tháng. Tôi đi khá nhiều bang, đọc và biết về thực tế nước Mỹ cũng tàm tạm, nhưng chưa bao giờ tôi đặt ra cho mình câu hỏi tại sao nước Mỹ lại trở thành một siêu cường trong suốt gần thế kỉ thứ 20 và có lẽ đến giữa thế kỉ thứ 21 cũng chưa có quốc gia nào, hay một thực thể nào giành được cái địa vị đó của người Mỹ. Có lẽ vì đã được học về Hoa Kỳ ở nhà trường với những giáo sư đầu ngành về quan hệ quốc tế nên tôi hiểu phần nào về lịch sử nước Mỹ. Và trong đầu tôi, Mỹ mặc nhiên là một siêu cường duy nhất sau khi Liên Xô sụp đổ.
Chỉ khi xem xong màn pháo hoa tại Longmont, trên đường trở về nhà, lại chứng kiến cảnh nhiều gia đình người Mỹ bắn pháo hoa, cộng với những gì đã thấy từ đêm hôm trước, tôi mới đặt ra câu hỏi tại sao người dân Mỹ lại giầu có như vậy và trên hết tại sao nước Mỹ lại vượt lên các cường quốc châu Âu như Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức và trở thành một siêu cường duy nhất hiện nay.
Trong lịch sử nhân loại, đã xuất hiện những cường quốc hùng mạnh, tiêu biểu như Đế quốc La Mã, Đế quốc Mông Cổ, Đế quốc Anh và đối với người Việt các đế quốc phong kiến Trung Quốc cường thịnh như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã từng xâm lược Việt Nam, tất cả cuối cùng đều bị sụp đổ. Theo các sử gia, Đế chế La Mã sụp đổ  không phải do các mối đe dọa từ bên ngoài. Nguyên nhân nằm ở các cuộc nội chiến kéo dài, tàn phá nền kinh tế và phụ thuộc vào binh lính đánh thuê. Đế quốc Mông cổ tan rã do tranh giành quyền lực giữa các thế lực trong nội bộ, phân thành bốn vương quốc, lần lượt sụp đổ và bị các thế lực khác chinh phục. Đế quốc Anh trải rộng khắp các châu lục trên thế giới, thống trị nhiều nền văn hóa và trực tiếp cai trị thuộc địa thông qua các chính quyền sở tại và cuối cùng sụp đổ vì chính cái đế chế khổng lồ của nó. Các đế chế Trung Quốc lần lượt ra đi cũng nằm trong các nguyên nhân chung trên.
Với Đế quốc Mỹ, quân đội của họ có khả năng đánh bại mọi kẻ thù mạnh như Đế quốc Mông cổ, sau khi Liên Xô tự sụp đổ trong cuộc chạy đua với Mỹ, giống như Đế quốc La Mã, Mỹ không có đối thủ về mặt quân sự. Họ thống trị vùng trời, vùng biển và chiếm ưu thế tuyệt đối trên đất liền. Điều quan trọng nhất, tương tự như Đế quốc Anh, Mỹ xây dựng quyền lực dựa trên nền thương mại toàn cầu và lực lượng không hải quân hùng mạnh có thể tiếp cận mọi tuyến đường biển lớn của thế giới. Tuy nhiên, theo quy luật, dù chiếm ưu thế đến đâu về mặt kinh tế và quân sự, sự phát triển của các cường quốc đều có giới hạn của nó. Nước Mỹ cũng vậy, họ sẽ giữ được ngôi vị của mình bao nhiêu lâu nữa. Ba mươi năm, năm mươi năm hay một thế kỉ?
Nhìn trên bản đồ và tìm hiểu về địa lí kinh tế, địa chính trị người ta thấy nước Mỹ được thiên nhiên rất ưu đãi. Nước Mỹ có điều kiện cần và đủ để vươn lên để trở thành một cường quốc có tầm cỡ toàn cầu từ thế kỉ 19. Hầu như mọi người đặt chân đến đất nước cờ hoa đều choáng ngợp trước điều kiện tự nhiên của nước này. Nước Mỹ được che chở giữa hai đại dương lớn của thế giới, lãnh thổ rộng trên 9,3 triệu cây số vuông, có những con sông dài dọc ngang đất nước, những hồ nước lớn phân bổ khắp mọi nơi, những cánh rừng um tùm nhìn hút tầm mắt, những cánh đồng bát ngát phì nhiêu, những cánh đồng cỏ bao la đến tận chân trời; tài nguyên khoáng sản phong phú, dồi dào vào bậc nhất thế giới và tài nguyên biển giàu có, tiềm tàng ẩn giấu giữa hai đại dương rất đa dạng. Có thể nói nước Mỹ có điều kiện địa kinh tế, địa chính trị lí tưởng nhất so với các đế quốc từ trước đến nay.
Trong lịch sử thế giới, không có một đế quốc nào bắt đầu từ khi ra đời (4-7-1776) lại phải bỏ ra một chi phí thấp cho công việc bảo vệ an ninh quốc gia và trong một thời gian rất dài không phải lo ngại các thế lực bên ngoài xâm phạm bờ cõi như nước Mỹ. Kể từ năm 1865, sau khi kết thúc nội chiến Nam-Bắc, nước Mỹ không xảy ra một cuộc chiến tranh quy mô lớn nào. Trong hơn 120 năm, kể từ khi tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại, giành được độc lập từ Đế quốc Anh tới khi Phát xít Nhật đánh vào Trân Châu Cảng (7-12-1941), chủ quyền lãnh thổ Mỹ chưa bị đe dọa lần nào. Chỉ khi Liên Xô phóng vệ tinh lên quỹ đạo vào năm 1960, có thể đưa đầu đạn hạt nhân tới Mỹ thì miền đất hứa an toàn này mới mất đi cái ưu thế tuyệt đối của nó.
Sự vươn lên hay sự trỗi dậy của người Mỹ diễn ra trong một thời gian ngắn với chi phí thấp không chỉ nhờ vào điều kiện địa kinh tế, địa chính trị mà còn nhờ vào tầng lớp tinh hoa chính trị cùng với một thể chế chính trị dân chủ vào bậc nhất thế giới, bắt đầu từ vị Tổng thống Liên bang đầu tiên George Washington cùng với Bản Hiến pháp hoa kỳ có hiệu lực năm 1789. Với tầm nhìn và chính sách đối nội và đối ngoại sáng suốt, tầng lớp chính trị Mỹ đã dẫn dắt nước Mỹ nhanh chóng trỗi dậy. Sự trỗi dậy của Mỹ là một sự trỗi dậy đầy khôn ngoan, “nghệ thuật”, “trí tuệ”, tất nhiên cũng rất thủ đoạn.
Trong quá trình trỗi dậy, nước Mỹ cũng như các đế quốc trước đó phải vượt qua sự kiềm chế của một đế quốc nào đó, với Mỹ đó là Đế quốc Anh. Đầu tiên Anh không thể ngăn cản được sự độc lập của Mỹ. Sau đó không thể đánh chiếm được Mỹ trong cuộc Chiến tranh năm 1812. Tiếp đó Anh lại không thể làm suy yếu nền kinh tế Mỹ sau chiến tranh. Nước Mỹ đã vượt qua được sự kiềm chế của nước Anh trên phương diện quốc gia và quốc tế với cái giá thấp nhất. Cuộc chiến giành giật ngôi bá quyền và bảo vệ ngôi bá quyền cũng với giá thấp nhất.
Xét ở một phương diện, hai cuộc chiến tranh thế giới, Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (1939-1945), là hai cuộc chiến tranh của hai thế lực đế quốc già và trẻ mà tiêu biểu là nước Anh và nước Đức. Thắng lợi của phe đế quốc đứng đầu là Anh là thắng lợi của người Anh, nhưng thực chất kết quả sau hai cuộc thế chiến Mỹ mới gặt hái được thành công nhất. Đã có sự thay đổi vị trí bá quyền giữa Đế quốc Mỹ và Đế quốc Anh. Thế chiến một gần như Mỹ không tham gia chỉ đứng ngoài hưởng lợi. Thế chiến hai, Mỹ đã tính toán bỏ ra không nhiều nguồn lực so với một số nước ở châu Âu mà lại thu được nhiều lợi ích.
Lợi ích lớn nhất là vị thế của Mỹ ở trên trường quốc tế. Có thể nói Mỹ đã thể hiện nghệ thuật trỗi dậy cao siêu. Trong thời gian 1898, thời gian nổ ra cuộc chiến Mỹ-Tây Ban Nha, Mỹ tiếp tục thực hiện học thuyết Monroe “Châu Mỹ của người Châu Mỹ” cho đến năm 1920,  Mỹ chẳng những giành được quyền kiểm soát châu Mỹ mà còn thực hiện được sự hòa giải với Đế quốc Anh. Để rồi cuối cùng quốc gia bá quyền kết đồng minh với quốc gia bá quyền thay thế trong tương lai. Bước tiếp theo, người Mỹ chỉ trong một thời gian ngắn đã thực hiện được cuộc chuyển giao ngôi vị quán quân một cách ngoạn mục.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Mỹ bắt đầu thực hiện cuộc Chiến tranh Lạnh nhằm  ngăn chặn Liên Xô, siêu cường đứng đầu phe Xã hội chủ nghĩa thách thức vị trí số một của Mỹ. Cả hai nước đều tránh đối đầu trực diện. Cả hai đều thông qua hàng chục cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” ở các nước thuộc thế giới thứ Ba để tiêu hao nguồn lực của nhau. Mỹ không từ một thủ đoạn từ kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao trong cuộc chạy đua đường dài gần nửa thế kỉ để hạ gục đối thủ. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất cho đến ngày hôm nay.
Sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, nước Mỹ vẫn không rút ra được bài học về cuộc Chiến tranh ở Việt Nam, họ lại tiếp tục tổ chức và đứng đầu Liên minh chống khủng bố Quốc tế, lao vào hai cuộc chiến tranh ở Trung Đông: Afganistan và Irăc. Hai cuộc chiến tranh này đã tiêu tốn hàng nghìn tỉ USD, nhưng cho đến nay tình hình Trung Đông thực sự vẫn chưa có hồi kết, để lại cho nước Mỹ món nợ hàng ngàn tỉ USD cộng với nhiều rắc rối ở khu vực. Tiếp theo, nước Mỹ lại phải hứng chịu cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 2008, cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế năm 1929-1933 cũng bắt nguồn từ chính nước Mỹ.
Nhiều nhà nghiên cứu và quan sát quốc tế tin rằng chính vì đi theo vết xe đổ gây chiến tranh của các đế chế đã suy tàn cho nên nguồn lực của nước Mỹ đã bị tiêu hao nhiều. Thời kì hoàng kim của nước Mỹ đã bắt đầu qua đi. Nhiều cường quốc mới nổi lên, trong đó có cả hai đối thủ cũ của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai là Đức và Nhật Bản- kẻ chiến thắng là Liên Xô thì đã sụp đổ, còn Mỹ thì trên mình mang đầy thương tích. Đặc biệt trong số những cường quốc mới nổi nhất hiện nay, đáng chú ý nhất là Trung Quốc, nước có khả năng cạnh tranh ngôi vị của Mỹ. Lợi dụng thời cơ Mỹ tập trung sự chú ý ở Trung Đông, được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa, Trung Quốc đã phát triển thần kì với mức tăng trưởng hai con số liên tục trong hơn ba mươi năm và trở thành đối thủ tiềm năng lớn nhất đe dọa vị thế của Mỹ.
Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai, không ngừng tăng cường sức mạnh không quân và hải quân với giấc mộng phục hưng Đế chế Trung Hoa thủa nào. Họ bắt đầu gây hấn ở Biển Đông, quân sự hóa Biển Đông nhằm đẩy người Mỹ ra khỏi khu vực, muốn  chia đôi Thái Bình Dương với siêu cường số 1 trong chiến lược lâu dài của họ. Về vấn đề tranh giành ngôi vị bá chủ Trung-Mỹ, tôi đã có bài viết riêng cũng trong blog này nên không nhắc lại. Tôi chỉ xin được đưa ra một số nhận xét của ông Lý Quang Diệu, cố Thủ tướng Singapore, một chính khánh lỗi lạc ở Đông Nam Á trong bài viết “Tại sao Hoa kỳ là Siêu cường thế giới” viết năm 2013, trước khi ông mất.
Sở dĩ tôi muốm đưa ra nhận xét của Lý Quang Diệu vì ông là một người gốc Hoa. Có lẽ trong các chính khách ít người hiểu về Trung Quốc như ông. Hơn nữa, Đặng Tiểu Bình cùng các quan chức Trung Quốc vào thập niên 70 của thế kỉ trước, trước khi bắt đầu sự nghiệp cải cách mở cửa đã đến học hỏi ông con đường đi cho Trung Quốc và lãnh đạo Trung Quốc đã coi ông như một vị cố vấn của quốc gia. Ông Lý Quang Diệu cho rằng Hoa kì sẽ gặp nhiều trở ngại với Trung Quốc, nhưng Mỹ vẫn giữ vị trí số 1 và chỉ có kẻ ngu mới đi chống lại Hoa kỳ hiện nay. Lập luận của ông dựa trên sự so sánh về thể chế chính trị và kinh tế, sức mạnh quân sự, công nghệ Trung- Mỹ, sự linh hoạt và sáng tạo của người Mỹ, văn hóa và ngôn ngữ Mỹ… Tất cả ưu thế đều nghiêng về Mỹ hiện tại cũng như tương lai gần.
Tôi đã đọc một số tác phẩm của những nhà nghiên cứu thuộc các nước phương Tây, một số tác phẩm của các chính khách, nhà báo Mỹ nói về tốc độ phát triển thần kì của Trung Quốc và phân tích về những khiếm khuyết từ kinh tế đến giáo dục của nước Mỹ, họ cho rằng kẻ thay thế nước Mỹ sắp tới sẽ là Trung Quốc. Họ phán đoán rằng Trung Quốc sẽ sớm đưa Mỹ trở thành một quốc gia “đã từng là bá chủ”. Tuy nhiên cá nhân tôi vẫn tin rằng cho đến giữa thế kỷ này và thậm chí hơn nữa vẫn chưa có quốc gia nào có thể thách thức được vị trí số 1 của nước Mỹ.
Mặc dù nước Mỹ còn có những khuyết tật, thậm chí là bệnh hoạn, nhưng tôi vẫn có niềm tin vào nước Mỹ. Niềm tin của tôi bắt nguồn từ những trải nghiệm trong thực tế sáu năm, mỗi năm rong ruổi trên đất Mỹ vài tháng, một đất nước mà người dân gần như có chất lượng sống cao nhất thế giới, một đất nước có nền giáo dục đại học tốt nhất thế giới, một đất nước thu hút hầu hết nhân tài của thế giới đến sinh sống và làm việc, một đất nước có chế độ dân sự cực kì phát triển, một đất nước có cơ chế tuyển dụng người làm việc trong bộ máy chính quyền công từ cơ sở đến tổng thống có chất lượng. Trên hết, nước Mỹ đã nhiều lần vượt qua chính mình, kiềm chế và ngăn chặn thành công tất cả những thách thức trên bước đường duy trì ngôi bá chủ. Và quan trọng nhất hiện nay người Mỹ đã nhận ra những trở ngại đối với nước Mỹ là cái gì.
Nước Mỹ vẫn là một siêu cường trong một thời gian dài dựa trên nền tảng vững chắc về kinh tế, ảnh hưởng to lớn về chính trị, sức mạnh quân sự và khoa học công nghệ cũng như văn hóa, những thành tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của một quốc gia.
Về kinh tế, theo số liệu của Qũi tiền tệ Quốc tế GDP bình quân đầu người của Mỹ là 53.042 USD, Trung Quốc là 6.807 USD năm 2013. Một con số quá chênh lệch để so sánh một nước phát triển hàng đầu với một nước đang phát triển mới thoát nghèo. Điều quan trọng là kinh tế Mỹ vẫn là nền tảng của hệ thống tài chính toàn cầu. Hơn 80% các giao dịch tài chính, hơn 87% các giao dịch trên thị trường ngoại tệ trên thế giới được tiến hành bằng đồng đô la. Trong khi đó, đồng tiền của Trung Quốc mặc dầu được xếp vào giỏ tiền tệ quốc tế nhưng chỉ có khoảng 5% giao dịch tài chính và giao dịch trên thị trường ngoại tệ là bằng đồng Nhân dân tệ (Yuan). Điều đó thể hiện niềm tin vào sự ổn định của nền kinh tế Mỹ.
Về chính trị, Mỹ có ảnh hưởng rất lớn và có khả năng tập hợp được quanh mình nhiều tổ chức quốc tế, nhiều cường quốc và các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển thành một khối đồng minh vững chắc; còn Trung Quốc thì có khả năng kết giao với những nước nào là đồng minh? Mỹ là nước viện trợ nước ngoài lớn nhất để củng cố sức mạnh chính trị trên toàn cầu. Năm 2014 viện trợ của Mỹ là 32,7 tỉ USD, bỏ xa nước đứng thứ hai, nước Anh là 19 tỉ USD. Điều quan trong nhất là nước Mỹ rất ổn định về chính trị. Hệ thống pháp luật hoàn thiện, dân chủ hàng đầu thế giới.
Về quân sự, ưu thế quân sự của Mỹ hiện tại vẫn không có đối thủ. Chi phí cho quân sự của Mỹ chiếm 37% chi tiêu quân sự toàn cầu, gần gấp 4 lần Trung Quốc. Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối, thống trị trên đất liền, trên biển, trên không và trên vũ trụ. Hơn nữa Mỹ đã thay đổi, đang thay đổi quân đội cùng với hệ thống vũ khí để đối mặt với mọi thách thức của thế kỉ 21một cách hữu hiệu nhất.
Về khoa học công nghệ, Mỹ là quốc gia có nền khoa học công nghệ đứng đầu thế giới về nhiều mặt. Mỹ cũng là quốc gia năng động, sáng tạo nhất thế giới. Trong số 9 công ty công nghệ lớn nhất thế giới thì 8 công ty là ở Mỹ. Đặc biệt là về năng lượng, mạch máu của nền kinh tế, trước đây Mỹ phụ thuộc vào bên ngoài, nhưng bắt đầu từ năm 2015, Mỹ trở thành nhà sản xuất dầu, khí tự nhiên số 1 thế giới nhờ vào cuộc cách mạng công nghệ đứt vỡ thủy lực đá phiến. Ngoài ra Mỹ còn chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển lớn nhất thế giới cho phép tập trung vào những công nghệ mũi nhọn và những kĩ năng mà họ cần nhất.
Về văn hóa, có thể nói nước Mỹ là một quốc gia cởi mở nhất. Có lẽ trên thế giới có bao nhiêu quốc gia thì ở Mỹ gần như có ngần ấy người của quốc gia đó đến sinh sống và lập nghiệp. Riêng người Việt ở Mỹ ước tính có tới gần 2 triệu người. Nước Mỹ vẫn còn là một miền đất hứa. Nó cho phép mọi người trên khắp thế giới nhập cư nếu có đủ điều kiện. Những người nhập cư không chỉ mang theo tiền bạc cho nước Mỹ mà còn đem theo cả kĩ năng lao động, tri thức khoa học, công nghệ, khả năng quản lí và kinh doanh từ đất nước mình cho nước Mỹ. Điều quan trọng hơn là người Mỹ đứng đầu thế giới về việc giúp đỡ người nhập cư đến đất nước mình sinh sống là làm giàu.
Nhìn tổng thể về nước Mỹ người ta thấy có những lí do thực tế trên để khẳng định nước Mỹ vẫn là một siêu cường. Nhưng nói gì thì nói, nếu nước Mỹ không giữ được vị trí đầu máy để kéo các toa tầu kinh tế thế giới thì sớm muộn người Mỹ cũng để tuột mất ngôi vị bá chủ, vì nếu không có thật nhiều tiền thì Mỹ sẽ lấy đâu ra củ cà rốt chứ chưa nói đến cái gậy để duy trì địa vị của mình. Nghĩa là phải có tiềm lực kinh tế và khả năng quân sự đứng ở vị trí thứ nhất trong hệ thống quốc tế và khả năng gây ảnh hưởng tất cả các mặt trên phạm vi toàn cầu. Xem xét một cách sâu hơn về khả năng kinh tế và quân sự của Mỹ hiện tại và trong những năm tới, tôi tin rằng Mỹ vẫn là một siêu cường có thể kiềm chế và ngăn chặn bất kì thực thể chính trị và quốc gia nào định chiếm đoạt ngôi vị bá chủ của họ, ít nhất cho đến giữa thế kỉ này.
Hiện tại kinh tế Mỹ đang phục hồi nhanh chóng sau khủng hoảng và Mỹ vẫn là một nền kinh tế lớn nhất thế giới, có năng xuất suất cao nhất thế giới. Theo US Trust, dân số Mỹ khoảng 314 triệu người, chiếm 4,5% dân số thế giới nhưng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ chiếm hơn một phần năm tổng sản phẩm của toàn cầu.
Mỹ đứng đầu thế giới về lương hàng hóa sản xuất. Chỉ tính khi nước Mỹ mới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng năm 2012 thì lượng sản xuất hàng hóa của Mỹ có tổng giá trị 1.900 tỉ USD, tăng 27% so với năm 2009. Số lượng nhân công trong lĩnh vực sản xuất tăng nửa triệu người kể từ năm 2010.
Mỹ là một trong những nước xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ lớn nhất thế giới. Kim ngạch xuất khẩu đạt giá trị trên 2.200 tỉ USD. Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng đổ xô đầu tư vào Mỹ. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Mỹ trong những năm gần đây đạt mức 736 tỉ USD, tương đương 15% tổng lượng vốn toàn cầu.
Cũng theo US Trust, ngoài việc dẫn đầu thế giới về khoa học công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển toàn diện, Mỹ còn là quê hương của các trang mạng xã hội hàng đầu thế giới, tiền theo đó cứ chảy vào nước Mỹ ngày càng gia tăng cùng với những thương hiệu hàng đầu. Mười thương hiệu có giá trị lớn nhất đều nằm trong tay người Mỹ.
Mỹ có những trường đại học nghiên cứu xuất sắc nhất thế giới. Theo đánh giá của Công ty chuyên về giáo dục và du học Quacquarelli Symond, trong danh sách một trăm trường đại học đứng đầu thế giới Mỹ chiếm gần 70%, có 6 trường ở vị trí số 1 đến số 6, có trường đã qui tụ và đào tạo được tới 98 người được giải thưởng Nobel của thế giới từ năm 1945 trở lại đây.
Đồng Đô la của Mỹ vẫn là đồng tiền vua của quốc tế. Tất cả các nước đều giao dịch và dự trữ chủ yếu bằng đồng USD. Trong tương lai chưa có đồng tiền nào có thể sẵn sàng thay thế, kể cả đồng EURO của Liên minh châu Âu, nhất là trong tình trạng tổ chức này đang ngập trong nợ công và hậu Brexit chao đảo.
Mỹ có lượng dự trữ và sản xuất dầu khổng lồ, vàng đen trong mach máu kinh tế thế giới. Mỹ đã vượt qua Ả Rập Saudi trở thành nhà sản xuất dầu lửa lớn nhất thế giới và chắc chắn với công nghệ đột phá đá phiến trong năm tới, Mỹ sẽ trở thành nhà sản xuất dầu, khí đốt tự nhiên nhiều và rẻ nhất thế giới.
Đó là những số liệu và phân tích của những tổ chức có uy tín hàng đầu thế giới như IMF mà tôi chỉ là người cóp nhặt lại. Tôi chỉ nói riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, vì tôi đã tìm hiểu khá sâu tình hình nông nghiệp ở bốn bang, lĩnh vực có tỉ trọng khoảng 3% trong nền kinh tế Mỹ, lao động của họ chỉ chiếm 1% trong tổng số dân với 2.109.363 trang trại, trung bình mỗi trang trại 174 ha. Vậy mà tính đến năm 2014, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp là trên 400 tỉ USD. Xuất nhập khẩu đứng đầu thế giới, chiếm 18% thị phần thương mại nông sản toàn cầu, tăng 33% so với năm 2007. Thu nhập bình quân của một công nhân nông nghiệp khá cao, khoảng  61.000 USD/năm.
Người ta phải nói chuyện với những người nông dân Mỹ có trình độ đại học, tận mắt xem họ điều khiển các loại máy móc cày bừa, gieo trồng, tưới tiêu, vắt sữa, chế biến; phải tận mắt đến các trang trại, nhìn thấy trang trại của một gia đình nông dân rộng như cả một hợp tác trong thời hợp tác hóa của xóm làng Việt Nam ngày trước, người ta mới thấy hết thế nào là sản xuất lớn, thế nào là công nghiệp hóa nông nghiệp, thế nào là kinh tế trang trại, thế nào công nghệ sinh học-nông nghiệp. Những cánh đồng cỏ bát ngát, những trang trại hoa quả hàng chục ngàn cây, hàng trăm ngàn cây; những cánh đồng ngô, đậu tương, bí, các loại rau quả phải đi mỏi rời chân; những trang trại bò, cừu, dê, lợn hàng trăm, hàng nghìn con và những quĩ đất còn bảo tồn hàng chục cây số… tất cả mới thấy người ta đã nói đúng là một nông dân Mỹ có thể cung cấp đủ lương thực, thực phẩm nuôi 100 người Mỹ và 32 người đang sinh sống tại các nước trên thế giới.
Không kể đến việc nước Mỹ khởi nguồn một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức từ những năm 70 của thế kỉ trước, nền kinh tế tương lai của nhân loại, nền kinh tế tạo ra nguồn tài nguyên vô tận và đáp ứng mọi nhu cầu của nhân loại và dẫn dắt toàn bộ thế giới đi theo nền kinh tế mới này (về điểm này toàn bộ nhân loại phải mang ơn nước Mỹ), chỉ tính riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, tôi có cảm nhận rằng, nước Mỹ không thể bị đánh bại trong cuộc cạnh tranh về kinh tế với những phần còn lại của thế giới.
Nước Mỹ vẫn sẽ là một siêu cường trong tương lai còn bởỉ vì, trong lịch sử Mỹ rất coi trọng sự phát triển quân sự, đầu tư rất lớn vào quân sự và hiện tại cũng vậy. Sau nội chiến, Mỹ xây dựng một đội quân mạnh theo truyền thống chung. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Mỹ có một đội quân hùng mạnh nổi trội so với các cường quốc. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai họ trở thành một đội quân hùng mạnh hiện đại bá chủ, thống trị toàn cầu với những phương tiện và vũ khí tiên tiến nhất. Tuy vậy, sau chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, nước Mỹ không còn là một quân đội tiến hành chiến tranh theo kiểu truyền thống. Quân đội Mỹ tiến hành các cuộc chiến tranh với vũ khí công nghệ cao, một kiểu chiến tranh hoàn toàn mới, một cuộc chiến tranh từ xa với sự tham gia của các phương tiện và vũ khí, khí tài hiện đại, chính xác, thông minh, giảm thiểu tới mức tối đa những thiệt hại cho binh lính. Các cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũ, ở Afganistan, Irắc mới đây là minh chứng rõ ràng. Và hiện tại quân đội Mỹ vẫn đang trong quá trình thay đổi và phát triển hàng loạt chương trình nghiên cứu những phương tiện, vũ khí mới.
Theo Businessinsider nhiều chương trình đã bước vào giai đoạn thử nghiệm và ứng dụng. Có chương trình còn đang nghiên cứu nhưng những mục tiêu của chúng là vô cùng tham vọng và vượt trước thời đại rất xa. Đó là những phương tiện và vũ khí tạo ra cuộc cách mạng tác chiến trong chiến tranh cho cả bộ binh lẫn không quân và hải quân. Đó là những phương tiện tàu không gian trinh sát tối mật, thiết bị giúp binh lính leo trèo như tắc kè, hệ thống hỗ trợ trên không ngay tức thời, súng tự tính toán khoảng cách, rô bốt tự vận chuyển, rô bốt tấn công mọi địa hình, xe tăng không người lái, vũ khí lazer từ bắn tỉa của bộ binh đến vô hiệu hóa tên lửa phòng không dùng trên mặt đất, trên biển, trên không, pháo ray điện từ bắn đạn liên thanh hay pháo lazer năng lượng cao… Đó là chưa kể đến những phương tiện, vũ khí bí mật chưa được Mỹ được công bố.
Hải quân Mỹ được đánh giá là lực lượng tác chiến hàng đầu thế giới. Để duy trì lợi thế trước các đối thủ như Nga và Trung Quốc, nhiều phương tiện và vũ khí làm thay đổi tác chiến hải quân vốn đã tiên tiến nhất thế giới, Mỹ đã đưa vào sử dụng tàu sân bay thế hệ mới USS Gerrald R. Ford. Kế hoạch trong thời gian tới Mỹ đóng 10 chiếc. Trị giá mỗi chiếc là 13 tỉ USD. Tàu sân bay này mạnh hơn cả tiềm lực quốc phòng của một quốc gia. Nó có tới gần một trăm máy bay phản lực tàng hình và các máy bay do thám không người lái. Tàu có hệ thống tác chiến điện tử vô đối, pháo lazer, pháo ray điện từ cùng với các loại vũ khí của tương lai để chống tên lửa chống hạm, tên lửa hành trình như kiểu của Nga và Trung quốc đã có và đang thử nghiệm. Nó có thể diệt các mục tiêu như máy bay, tầu chiến trong phạm vi vài km đến vài trăm km.
Trong các loại kể trên, đáng chú ý nhất là pháo ray điện từ đã hoàn tất giai đoạn thử nghiệm và bắt đầu đưa vào sử dụng. Pháo có thể bắn xa như tên lửa, tốc độ gấp 7 lần âm thanh (8.575km/h). Loại pháo này bắn đạn không đầu nổ, một khối kim loại chỉ nặng vài kg có thể phá hủy mọi mục tiêu, giá thành rất thấp so với các loại tên lửa hiện tại. Loại pháo này có tầm bắn 160 km với tốc độ siêu thanh cực kì lợi hại trong tấn công và phòng thủ…
Đêm đã về khuya, tôi đi bộ dọc theo đường phố Lonmont vô cùng bình yên trong dòng người, một thành phố nhỏ không được người ta chú ý đến thuộc bang Colorado, thành phố cao hơn mặt nước biển 1000 m. Trời se lạnh, nhưng trong ánh đèn điện, những căn biệt thự xinh đẹp, lộng lẫy hai, ba tầng cùng với những thảm cỏ xanh mướt, những hàng cây cổ thụ, những vườn hoa nở rực rỡ khiến tôi không thể rời mắt và không muốn trở về nhà ngủ. Thỉnh thoảng những quả pháo của các gia đình lại bắn nổ, tung ánh sáng lung linh lên bầu trời… Một quốc gia đa sắc tộc nhưng người dân lại rất có ý thức về ngày quốc khánh của đất nước mình. Tôi bắt đầu hiểu, cho đến tận ngày hôm nay, rất, rất nhiều người, có thể nói là số đông  trong số một triêu sinh viên của tất cả các nước trên thế giới đều muốn sau khi tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở lại Mỹ làm việc và cống hiến cho nước Mỹ. Có rất nhiều lí do giữ chân họ ở lại, tôi không trách họ về điều đó. Gạt những quan điểm về chính trị sang một bên, tôi tin rằng với những gì nước Mỹ đã có trong quá khứ, hiện tại, tương lai họ vẫn sẽ là một siêu cường không có đối thủ cạnh tranh trong rất nhiều năm nữa.
    
      



Read More

Đằng sau Shangri-la 15

Leave a Comment
Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á, còn gọi là Đối thoại thoại Shangri-la, là một diễn đàn an ninh liên chính phủ được tổ chức hàng năm bởi một tổ chức cố vấn độc lập- Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế và Chính phủ Singapore phối hợp tổ chức.
Đối thoại Shangri-la (tên khách sạn nơi tổ chức đối thoại) lần đầu tổ chức vào năm 2002, thu hút 161 đại biểu từ 22 quốc gia. Diễn đàn năm nay là lần thứ 15, thu hút 602 đại biểu từ 35 quốc gia, trong đó có 30 lãnh đạo quốc phòng cùng hơn 2000 nhân viên hỗ trợ.
Đối thoại là nơi các quốc gia trao đổi những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, là nơi nuôi dưỡng ý thức cộng đồng trong hoạch định chính sách quan trọng về quốc phòng và an ninh trong khu vực. Cũng nhân dịp này các đoàn đại biểu đã tận dụng thời gian gặp gỡ song phương để trao đổi những vấn đề cùng quan tâm.  Diễn đàn còn có sự tham gia của những nhà lập pháp, chuyên gia khoa học, nghiên cứu, các nhà báo.
Chủ đề chính tại Đối thoại Shangri-la năm nay gồm có 3 vấn đề:
Thứ nhất là khủng hoảng hạt nhân Bắc Triều Tiên.
Thứ hai là căng thẳng Biển Đông.
Thứ ba là an ninh liên quan đến di dân, an ninh mạng, chống khủng bố và hợp tác quốc phòng.
Theo các nhà quan sát trong và ngoài nước, mặc dù chủ đề của Đối thoại Shangri-la năm nay có ba vấn đề như trên nhưng bao trùm và thu hút sự chú ý chung thì có bốn điểm. Đó là: 1, Biển Đông thống trị diễn đàn. 2, Từ “nguyên tắc” được nhiều quốc gia nhắc đến nhiều nhất, riêng Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter trong bài phát biểu của mình đã nhắc đến từ này đến 24 lần. 3, Trung Quốc là quốc gia bị hầu hết các nước và các nhà báo bủa vây, chỉ trích về lập trường bành trướng ở Biển Đông. 4, Mâu thuẫn Mỹ-Trung đặc biệt căng thẳng.
Theo ý kiến cá nhân tôi, cả bốn điểm nhấn trên tựu trung lại chỉ xoay quanh một vấn đề Biển Đông mà tác nhân gây ra căng thẳng chính là sự bành trướng của Trung Quốc. Trong đó có việc Trung Quốc đã đánh chiếm các đảo; cố tình áp dụng, diễn giải sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển UNCLOS năm 1982; vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, vùng đặc quyền kinh tế, những lợi ích hợp pháp của Việt Nam và nhiều quốc gia ASEAN. Trung Quốc cải tạo các thực thể đá, quân sự hóa các thực thể đó trở thành các căn cứ quân sự nhằm hiện thực hóa đường chín đoạn (đường lưỡi bò), đe dọa hòa bình ổn định của khu vực, đe dọa tự do hàng hải, hàng không theo luật pháp quốc tế.
Tôi đã đề cập đến âm mưu và thủ đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông ở một số bài viết trong Blog này nên không nhắc lại vấn đề này, và chủ đề bài viết là Shangri-la 15 nên tôi  không muốn để sa đà vào việc thuật lại những âm mưu và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trong những năm qua. kết luận lại là thủ phạm làm leo thang căng thẳng ở Biển Đông từ trước đến nay là chủ nghĩa dân tộc Đại Hán mà Bắc Kinh đang theo đuổi, thể hiện thông qua đường chín đoạn. Shangri-la năm nay lại nằm trong bối cảnh Tòa Trọng tài Liên Hợp Quốc sắp ra phán quyết; nếu  phán quyết các thực thể mà Trung Quốc đã đánh chiếm không có lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, hoặc có lãnh hải nhưng không có vùng đặc quyền kinh tế thì sẽ đập tan cơ sở pháp lí đối với yêu sách bên trong đường chín đoạn. Chính vì thế Shangri-la năm nay không phải là vấn đề của riêng ai.
Xưa nay Bắc Kinh chỉ muốn giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông qua đàm phán song phương để dễ bề lấn lướt, ép các nước, nhưng cho đến bây giờ điều này đã hoàn toàn vượt tầm kiểm soát, tính toán của họ. Vấn đề Biển Đông đã hoàn toàn quốc tế hóa, đó là sự thật không thể đảo ngược. Trong Tuyên bố chung của G7 mở rộng, tình hình Biển Đông đã được đề cập với sự quan ngại sâu sắc về lập trường bành trướng của Bắc Kinh. Tòa án Trọng tài Thường trực Liên Hợp Quốc (PCA) ở Hà Lan sắp ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc về đường chín đoạn vào đầu tháng Bẩy. Tuyên bố chung của Hội nghị đặc biệt các ngoại trưởng ASEAN tại Vân Nam bị Trung Quốc ép không được công bố bất chấp danh dự và quy tắc ngoại giao nước chủ nhà.
Có lẽ qua Đối thoại Shangri-la cộng đồng quốc tế và ASEAN đã “bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về những diễn biến phức tạp gần đây và đang diễn ra ở Biển Đông, nhất là việc bồi đắp, tôn tạo và xây dựng quy mô lớn các bãi đá, quân sự hóa các đảo nhân tạo và các hành động khẳng định chủ quyền không dựa trên luật pháp quốc tế”. Trước tình hình phức tạp, các bộ trưởng đã “đề nghị ASEAN và Trung Quốc thể hiện quyết tâm chính trị và nỗ lực hơn nữa để đảm bảo hòa bình và an ninh ở Biển Đông, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”… Mặc dù còn có những khác biệt, nhưng ASEAN đã tỏ ra đoàn kết và không nhượng bộ trước thái độ chiếu trên của Trung Quốc.
Về phía Việt Nam, tôi nghĩ có lẽ đây là Shangri-la đầu tiên Việt Nam đã thể hiện lập trường cứng rắn của mình về Biển Đông. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh trưởng đoàn tham dự Shangri-la tuyên bố tình hình Biển Đông “càng căng thẳng phức tạp việt Nam càng phải quyết tâm giữ vững độc lập, chủ quyền”. Tướng Vịnh khẳng định Việt Nam kiên trì cuộc đấu tranh với Trung quốc đồng thời cũng nhấn mạnh tinh thần hợp tác với Trung quốc, đấu trang và hợp tác cũng như hợp tác và đấu tranh để bảo vệ nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năn 1982. Cũng tại đối thoại này, trước những câu hỏi của báo chí về việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, một lần nữa Tướng Vịnh khẳng định đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Và tuyên bố Việt Nam sẽ không liên minh với một nước nào để chống lại nước thứ ba.
Điều đặc biệt trong Đối thoai Shangri-la 15, lần đầu tiên một số nước phương Tây, trong đó có Bộ trưởng quốc phòng Anh, Pháp, Canada có những tuyên bố mạnh mẽ sẽ tham gia tuần tra ở Biển Đông và kêu gọi Liên minh châu Âu tham dự tuần tra chung với Mỹ ở Biển Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Anh Michael Fallon và người đồng cấp Pháp Jean Yves Le Drian đã nói châu Âu có lợi ích chính trị tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, họ quan tâm tới luật pháp quốc tế và tự do hàng hải.
Người Anh nhắc tới thỏa thuận phòng thủ 5 bên gồm Anh, Úc, New Zealand, Malaisia, Singapore cùng với căn cứ ở Brunei. Người Pháp nhắc tới các đảo của mình nằm giữa Thái Bình Dương và các đảo trên Ấn Độ Dương. Cả hai bộ trưởng quốc phòng Anh, Pháp đều khẳng định kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương. Bộ trưởng Quốc phòng Pháp còn kêu gọi sự hiện diện “thường xuyên và rõ ràng” tại khu vực. Ông nói: “Nếu chúng ta muốn kiềm chế nguy cơ xung đột, chúng ta phải bảo vệ các nguyên tắc”. Theo ông “Nếu luật biển không được tôn trọng tại các biển gần Trung Quốc thì sau này nó sẽ bị đe dọa ở Bắc Cực, Địa Trung Hải hay ở nơi khác. Rõ ràng xu hướng đấu tranh đòi Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế và các nguyên tắc, chuẩn mực chung đang trở thành một xu thế và trở thành vấn đề quốc tế, không phải là vấn đề riêng của Bắc Kinh với các nước có tranh chấp chủ quyền, bất chấp mọi âm mưu thủ đoạn tinh vi và trắng trợn của Bắc kinh nhằm biến Biển Đông thành ao nhà của mình.
Tính quốc tế nằm ngay ở bản chất đường chín đoạn phi lí và phi pháp do Trung Quốc tự vẽ ra đè lên chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven Biển Đông nhằm độc chiếm Biển Đông, kiểm soát một trong những tuyến đường giao thông quan trọng nhất của thế giới. Do vậy nó có liên quan đến năm nước sáu bên. Do vậy ASEAN ngày càng nhận rõ vai trò của mình, không vì một vài quốc gia bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc mà né tránh vấn đề. Cũng do vậy cộng đồng quốc tế ngày một quan tâm. Các nước lớn ngày càng can thiệp sâu hơn tới khu vực, thậm chí tình hình Biển Đông có nguy cơ vượt khỏi tầm tay vai trò trung tâm của ASEAN nếu tổ chức này không có được tiếng nói thống nhất với Trung Quốc.  
So với các Shangri-la trước, người ta nhận thấy giọng điệu của đoàn Trung quốc tỏ ra mềm mỏng một cách bất thường. Tôi cho rằng họ nghĩ mình đã đạt được một số mục tiêu trên thực địa, nên cố nhẫn nhục tỏ ra mình là nạn nhân “chịu đòn”. Đô đốc Tôn Kiến Quốc, đại diện cho Trung Quốc cố gắng giải thích việc làm của họ ở trên Biển Đông là “chính đáng, hợp pháp và hợp lí”. Trung quốc không có dấu hiệu thỏa hiệp nào. Họ phủ nhận những chỉ trích của các nước và cho rằng họ không có vấn đề gì ở Biển Đông. Họ đổ vấy cho Mỹ mới là tác nhân xúi giục và quân sự hóa Biển Đông. Họ ngang ngược tuyên bố Trung Quốc “không gây rối và cũng không sợ ai gây rối”. Họ tỏ rõ việc không tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là không chấp nhận phán quyết do Tòa Trọng tài Thường trực sắp đưa ra và công khai ý đồ thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông nếu nhận thấy “các mối đe dọa đi quá giới hạn”.
Như vậy là không chỉ có Mỹ và các nước đồng minh sẽ phải tính toán những biện pháp phản ứng phù hợp với những hành động phiêu lưu của Trung Quốc sau phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực Liên Hợp Quốc sắp tới, mà tất cả các thành viên ASEAN, đặc biệt là Việt Nam phải chuẩn bị những cách thức đối phó với nguy cơ của chủ nghĩa bành trướng quân phiệt. Tôi tin rằng trong thời gian ngắc hạn, Bắc kinh chưa thay đổi lập trường và cách hành xử thô bạo, xô vanh nước lớn. Quan điểm của họ ở Shanri-la là một minh chứng cho việc họ sẵn sàng đối đầu với khu vực và quốc tế trong vấn đề Biển Đông.
Nếu như Biển Đông là đề tài bao trùm lên Shangri-la 15 thì mâu thuẫn Mỹ Trung trở thành một tâm điểm. Ngày 4 tháng 6 Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã có bài phát biểu dài hơn hai mươi phút khai mạc phiên thảo luận “Đối phó với các thách thức an ninh phức tạp của châu Á”. Ông Carter tiếp tục cam kết có mặt tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương và nhấn mạnh tầm quan trọng của một trật tự khu vực dựa trên luật pháp quốc tế, liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông. Ông cho rằng những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đang “xây dựng bức trường thành tự cô lập” trước khu vực đang hợp tác và gắn kết với nhau.
Cũng trong bài phát biểu, Bộ Trưởng Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh Mỹ tiếp tục bay, di chuyển và hoạt động ở bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép, trong đó có Biển Đông. Ông cũng kêu gọi các nước trong và ngoài khu vực có thể làm theo cách thức Mỹ đã và đang làm. Ông cho rằng “chỉ khi tất cả mọi người đều cùng tuân thủ một nguyên tắc, chúng ta mới có thể tránh các sai lầm của quá khứ giống như khi các quốc gia thách thức lẫn nhau bằng sức mạnh và ý chí, gây ra những hậu quả tàn khốc cho khu vực trước đây”. Ông Carter muốn ám chỉ các cuộc chiến tranh lớn trước đây ở khu vực đều có “bàn tay” của Bắc Kinh. Trung Quốc cần phải thận trọng và kiềm chế.
Đặc biệt trong bài phát biểu của mình, ông Carter tuyên bố Mỹ đang xây dựng một mạng lưới an ninh tập thể (collective security network) mới, dựa trên những nguyên tắc và chuẩn mực chung. Đây chính là một nét đáng chú ý nhất trong toàn bộ bài phát biểu, một vấn đề cực kì quan trọng vì bản chất của mạng lưới này là An ninh Tập thể. Nó có thể ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường ổn định của khu vực. Nó đặt ra một cách thức tiếp cận mới cho các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam, tiếp cận với một xu hướng mới trong việc bảo vệ đất nước?
Theo những điều tôi hiểu trong bài phát biểu thì mạng lưới an ninh tập thể mới, dựa trên những nguyên tắc và chuẩn mực chung được Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đưa ra ngày 4 tháng 6 tại Shangri-la 15 là một khái niệm bao quát mà nội dung cơ bản là mạng lưới an ninh tập thể của châu Á, không giống như NATO của châu Âu, nó là một tập hợp những cơ chế song phương, ba bên, đa phương trong khu vực tập trung vào việc giữ gìn những giá trị cốt lõi và thúc đẩy chia sẻ các cơ sở hậu cần, chia sẻ gánh nặng giữa các quốc gia tham gia.
Thực ra khái niệm mạng lưới an ninh mới đã được chính Bộ trưởng Carter đề cập đến ở Shangri-la năm trước. Tuy nhiên các nước và giới quan sát không quan tâm nhiều đến nó vì từ trước đến nay, các nước châu Á không có truyền thống hình thành hệ thống an ninh tập thể như kiểu của châu Âu. Họ quen thuộc với các hiệp ước song phương theo kiểu Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn, Mỹ-Philippines. Nhưng chính tình hình xung đột ở châu Á, đặc biệt là tình hình căng thẳng ở Biển Đông cùng với tầm nhìn rõ ràng mang tính tích cực, tính định hướng cho tương lai mà ông Carter đã nêu ra trong Shangri-la lần này được dư luận các nước đặc biệt quan tâm và chú ý. Hơn nữa các nước nằm trong khối ASEAN tiềm lực kinh tế và quốc phòng đều rất dễ bị tổn thương trước một Trung Quốc đầy tham vọng. Họ đã, đang và sẽ là mục tiêu bị gặm nhấm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và những lợi ích kinh tế chính đáng. Họ không thể không suy nghĩ theo hướng tiếp cận mà Mỹ đã khởi xướng. Họ tin Mỹ chứ không tin Trung Quốc.
Khái niệm mạng lưới an ninh tập thể mới là sự kết hợp giữa các nguyên tắc cốt lõi mà Mỹ tin rằng sẽ đoàn kết các nước trong khu vực. Đó là chủ quyền, quyền tự quyết, giải quyết hòa bình các tranh chấp, tự do hàng hải, hàng không… Mạng lưới này sẽ tạo ra triển vọng các quốc gia phối hợp cùng với nhau có hiệu quả hơn trước các thách thức truyền thống và phi truyền thống. Khả năng này thể hiện việc Mỹ ủng hộ các quốc gia cũng như cách nhìn nhận về sự phát triển của châu Á-Thái Bình Dương. Trong đó các quốc gia sẽ thể hiện vai trò lớn hơn trong khu vực, đồng thời xây dựng các mối quan hệ để giải quyết các thách thức.
Theo tôi, trên thực tế Mỹ đã xây dựng mạng lưới an ninh này từ trước đây, đặc biệt là từ năm 2012 trở lại đây gắn liền với việc xoay trục về châu Á nhằm thúc đẩy việc chia sẻ gánh nặng an ninh của Mỹ cùng với các nước đồng minh và các đối tác. Từ sáng kiến liên kết Mỹ-Nhật-Ấn, Mỹ-Nhật-Úc cho đến sự phối hợp ba bên Mỹ-Thái-Lào, Mỹ đang cố gắng xây dựng mạng lưới bao gồm các biện pháp được tiến hành bởi các quốc gia trong khu vực như Úc-Ấn-Nhật hay các sáng kiến đa phương như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+)… Như vậy là Mỹ sẽ duy trì an ninh qua việc giữ gìn môi trường ổn định châu Á-Thái Bình Dương bằng chính sức mạnh vượt trội của mình và thông qua hợp tác với các đồng minh truyền thống, thông qua các đối tác trong khu vực.
Mạng lưới an ninh tập thể mới, dựa trên các nguyên tác và chuẩn mực chung của Mỹ nêu ra trong Đối thoại Shangri-la 15 có thể đem lại hòa bình hay không, theo tôi vẫn còn là một ẩn số. Suy cho cùng đó là một dạng tập hợp lực lượng của Mỹ, sự đa dạng hóa cách thức duy trì an ninh khu vực ở châu Á- Thái Bình Dương nói chung và ở Biển Đông nói riêng, nhằm kiềm chế Trung Quốc. Vì vậy cảnh báo của Bộ trưởng Quốc phòng Carter Trung Quốc đang dựng lên một bức tường tự cô lập không phải là không có cơ sở. Và việc Việt Nam chúng ta  tính đến, có nên tham gia vào mạng lưới an ninh tập thể do Mỹ đứng đầu, hoăc tham gia với một hình thức như thế nào đó để bảo vệ chủ quyền đất nước có lẽ cũng không phải là không có cơ sở.
Đối thoại Shangri-la đã khép lại, các nhà nghiên cứu và bình luận trong và ngoài nước còn có những đánh giá trái chiều như các nước trong đó có việc Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội đối thoại và tranh luận về cách diễn giải UNCLOS, làm sáng tỏ những hành vi leo thang quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông và việc bảo vệ pháp luật quốc tế, bảo vệ UNCLOS và phán quyết của Tòa Trọng tài Liên Hợp Quốc sắp tới… Tôi cho rằng các ý kiến trái chiều đó đều đúng, nhưng thời gian quy định dành cho các nước là có hạn. Vả lại chủ đề Shangri-la đâu chỉ có xoay quanh chuyện về Biển Đông. Tôi tin rằng sau Shangri-la và tiếp theo là sau phán quyết của Tòa Trọng tài trong tháng Bẩy, các nước trong đó có Việt Nam sẽ có những bước đi thích hợp, tiếp tục đấu tranh lên án việc cải tạo và việc quân sự hóa các thực thể; đặc biệt là việc bác bỏ yêu sách chủ quyền lịch sử phi lí về đường chín đoạn để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, những lợi ích hợp pháp của mình cũng như bảo vệ, hòa bình, ổn định khu vực và luật pháp quốc tế.    
    
    



Read More

Về chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam

Leave a Comment
Đã lâu trong đời sống chính trị Việt Nam tôi mới thấy có một chuyến thăm của một nguyên thủ quốc gia nước ngoài được đông đảo dư luận quan tâm quan tâm đến như vậy. Không chỉ có giới chính trị, những nhà nghiên cứu, giới truyền thông trong ngoài nước mà ngay cả những người lao động, những người dân bình thường, những người ít quan tâm đến chính trị ở các vùng nông thôn hẻo lánh cũng chờ đón, theo dõi, bàn luận.
Sự kiện này không chỉ thu hút sự quan tâm chú ý của lớp người đã luống tuổi, sống qua hai cuộc kháng chiến, những người mới về hưu, những người đang làm việc ở các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp mà còn thu hút sự quan tâm chú ý của đông đảo lớp trẻ, bao gồm cả những thanh niên mới bước vào các trường cao đẳng, đại học và trường nghề. Có không khí chung gì đó mà người ta ai cũng háo hức mong chờ. Trên các trang mạng xã hội tràn ngập những lời nhận xét bình luận. Thật hiếm có một chuyến thăm của một nguyên thủ quốc gia nào lại dành được đầy đủ các cung bậc tình cảm của nhiều người dân Việt Nam đến thế.
Tôi nghĩ rằng không phải hoàn toàn vì Tổng thống Barack Obama là tổng thống của một siêu cường nên được người dân ưu ái. Cái tình cảm đặc biệt này tôi đã trải nghiệm một vài lần. Vào đầu những năm 2000, trong chuyến thăm của Tổng thống Nga Putin, người dân Việt Nam đã dành cho ông biết bao tình cảm trìu mến, sự kính trọng và cả sự hi vọng về nước Nga, mối quan hệ Việt-Nga, nhà nước thừa kế Liên bang Xô Viết thủa nào.
Tôi nghĩ với Tổng thống Obama người dân Việt Nam cũng có những cảm nghĩ tương tự như vậy, không phải vì ông là người đứng đầu một siêu cường có khả năng chi phối đời sống chính trị quốc tế. Nếu so sánh với chuyến thăm Việt Nam của Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cập Bình, một chuyến đi nhạt nhòa, dân tình không chào đón, không quan tâm chú ý, có chăng chỉ là những lời xì xào bàn tán; mặc dù ông ta là người có quyền lực nhất quốc gia gần một tỉ tư người, một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, một cường quốc đang hung hăng trỗi dậy với “giấc mơ Trung Hoa vĩ đại”. Thế mới biết người dân có cách đánh giá riêng của họ về chân giá trị của một nhà lãnh đạo.
Tôi không muốn nói đến nhân cách, chỉ nói đến nụ cười rạng ngời quen thuộc, cách ứng xử của ông với gia đình chủ nhà hàng bán bún chả ở phố Lê Văn Hưu, tháo nhẫn bắt tay mọi người ở trong quán ăn, giơ tay chào thân thiện đáp lại tiếng vỗ tay reo hò của người dân Hà Nội; chỉ nói đến bài phát biểu đầy xúc đông của ông tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, trích dẫn Kiều của Nguyễn Du và việc ông trích lời bài hát trữ tình của Văn Cao, Trịnh công Sơn; chỉ nói đến việc ông đi chân trần vào thăm chùa Ngọc Hoàng, hỏi đáp bình đẳng cùng các nhà doanh nghiệp trẻ… Tất cả đối với người Việt đều gần gũi, sâu sắc và tinh tế. Cho dù không được bắt tay, được nghe ông nói nhưng hàng nghìn người vẫn đội mưa đứng đợi để có cơ hội tận mắt trông thấy ông. Đó là một thứ tình cảm nồng nhiệt hoàn toàn tự nhiên, không thể mua được.
Riêng cá nhân tôi đang ở Mỹ, còn được chứng kiến những quan điểm, tình cảm, nguyện vọng của Việt kiều, của đông đảo sinh viên Việt Nam đang theo học tại Mỹ với nhiều mong muốn khác nhau về chuyến thăm của Tổng thống Obama tới Việt Nam. Đa số đều cảm nhận được chuyến thăm này là một dấu mốc, là một bước ngoặt lịch sử trong mối quan hệ Việt Mỹ. Và họ đều hi vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước và cho bản thân. Mặc dù còn một số người trong bộ máy chính quyền ngụy quyền cũ trước năm 1975 vẫn thể hiện thái độ thù địch, hằn học với chính quyền hiện tại, nhưng nhìn chung họ phải thừa nhận sự thay đổi, sự phát triển, xu thế hội nhập và vị thế không thể đảo ngược của đất nước. Nhiều người trong số họ đã tính chuyện quay trở về đất nước để làm ăn.
Tôi đã đề cập đến quan hệ Việt Mỹ ở một số bài viết trong blog này, từ cái khởi điểm ban đầu, thời kì bao vây cấm vận đến việc bình thường hóa quan hệ vào tháng 7 năm 1995, cho đến chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai bên xác lập quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc, tôn trọng thể chế chính trị, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
Trước khi bình luận sự kiện Tổng thống Obama đến Việt Nam tôi cho rằng cần phải quay lại chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới thăm Mỹ nhân kỉ niệm hai mươi năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước vào năm trước. Bởi vì nếu không có chuyến thăm này, có thể không có chuyến thăm của Tổng thống Mỹ, hoặc nếu có thì chưa chắc đã có được sự mến mộ của người dân cũng như có được sự thành công tốt đẹp của cả hai phía như dư luận đã đề cập. Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius đêm 22 tháng Năm đã tiết lộ với một số người rằng chính chuyến thăm Mỹ rất thành công của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khiến Tổng thống Obama quyết định có chuyến thăm Việt Nam vào dịp này. 
Chuyến thăm của Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu tháng 7, 2015 diễn ra vào thời điểm quan trọng khi hai nước kỉ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ, 40 năm kết thúc chiến tranh và thống nhất đất nước Việt Nam. Chuyến thăm lịch sử này đánh dấu tiền lệ chưa từng có, một chương mới trong quan hệ song phương Việt Nam và Hoa kì.
Trong quan hệ giữa hai nước cựu thù, tuy trước đó đã có nhiều chuyến thăm của các nguyên thủ quốc gia Việt Nam tới Mỹ, nhưng chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đến Mỹ. Việc mời và đón một tổng bí thư của một Đảng Cộng sản nước ngoài là một chuyện hiếm có trong lịch sử. Nếu người viết không nhầm thì từ cuối những nững năm 1980 trở lại đây chỉ có ba nhân vật là Gorbachov, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình được Mỹ đón tiếp, nhưng cả ba người đều đóng vai với tư cách là tổng thống và chủ tịch nước. Còn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không giữ cương vị gì trong chính quyền.
 Tuy nhiên nước Mỹ đã đón tiếp Tổng Bí thư với nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia. Đích thân Tổng thống Barack Obama đã đón tiếp là làm việc với Tổng Bí thư tại Nhà Trắng, họp báo và ra tuyên bố về Tầm nhìn chung quan hệ Việt-Mỹ. Nhân dịp này, Thượng Nghị sĩ John McCain, người thay mặt cho Thượng viện Mỹ đã phát biểu: “Chuyến thăm này thể hiện sức mạnh đang lên của quan hệ đối tác Việt Nam Hoa kỳ khi chúng ta kỉ niệm lần thứ 20 bình thường hóa quan hệ hai nước”.
Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt-Mỹ đã ghi nhận những bước phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực hợp tác trong hai mươi năm, nhất là về hợp tác kinh tế và thương mại, hợp tác trong việc xử lí các vấn đề hậu quả chiến tranh cũng như trong khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, quyền con người và tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế trên những vấn đề cùng quan tâm.
Tuyên bố về Tầm nhìn chung cũng ghi nhận nhiều thành tựu có ý nghĩa kể từ khi xác lập quan hệ Đối tác Toàn diện Việt-Mỹ năm 2013 về thương mại, đầu tư song phương, hợp tác sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình; đặc biệt Mỹ đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương; Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ Quốc phòng; hợp tác trong những vấn đề khu vực và đa phương…
Có được những thành tựu đó là do hai bên đã cùng có những nỗ lực mang tính xây dựng nhằm vượt lên trên quá khứ, khắc phục những khác biệt, thúc đẩy những lợi ích chung để hướng tới tương lai. Trên cơ sở đó hai bên xác định làm sâu sắc quan hệ đối tác lâu dài; tăng cường hợp tác trên các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Tóm lược nội dung tuyên bố thì như vậy, nhưng thực tế để đạt được những thành tựu “phát triển như tên lửa” giữa hai cựu thù là cả một vấn đề. Mỹ có hội chứng Việt Nam ở Mỹ. Việt Nam có hội chứng của Mỹ ở Việt Nam. Là người lính và có điều kiện đi thực tế với đồng đội sau chiến tranh khá nhiều, người viết hiểu những đau thương mất mát mà mấy chục năm đằng đẵng mà người Việt phải chịu, nên không dễ gì hai nước vượt qua được những trở ngại để đến  với nhau, chứ chưa nói gì đến đạt được những thành tựu mà tuyên bố hai bên đã nêu.
Suy cho cùng thì dù là đường lối của Đảng sáng suốt với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước vì hòa bình và phát triển, thì nó vẫn phải dựa trên một nền tảng đó là lòng dân. Người dân mới là cốt lõi, nền tảng của bất kì hệ thống chính trị nào. Mối quan hệ Việt Mỹ phát triển chắc chắn nó được thúc đẩy bởi chính người dân. Một minh chứng cho điều đó là Tổng thống George Bush khi thăm Việt Nam có được người dân đón tiếp như Tổng thống Obama đâu.
Có rất nhiều yếu tố trong ngoài nước để lí giải về sự kiện này, nhưng rõ ràng có một yếu tố là người dân phải có lòng tin về quan hệ giữa hai nước. Đã là niềm tin thì phải xuất phát từ hai phía, nó cũng giống như trong tình bạn và tình yêu. Không thể có sự cưỡng bức. Như vậy, chuyến thăm của Tổng Bí thư thể hiện đỉnh cao về niềm tin trong hợp tác về chính trị vì lợi ích của hai quốc gia. Đồng thời nó cũng là sự thừa nhận vị trí vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bước đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Tôi cho rằng, ở cấp nhà nước phải có niềm tin thì mới có chuyện về hợp tác về an ninh quốc phòng, bởi vì an ninh quốc phòng luôn là lĩnh vực nhạy cảm trong quan hệ, nó thể hiện mức độ gần gũi, tin cậy cao. Tại sao Việt Nam lại không mua hay hợp tác sản xuất vũ khí cùng với Trung Quốc? Chắn hẳn mọi người đều có câu trả lời của riêng mình.
 Trước chuyến thăm của Tổng Bí thư, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ có chuyến thăm Việt Nam. Hai bên đã kí Tuyên bố Tầm nhìn chung trong quan hệ quốc phòng, một văn bản tổng hợp những nguyên tắc trong quan hệ hai bên trên cơ sở những thỏa thuận của hai nhà nước. Thượng nghị sĩ John McCain, Chủ nhiệm Uỷ ban Quân vụ của Thượng viện Mỹ, một cựu binh trong chiến tranh Việt Nam, người đã ủng hộ mạnh mẽ việc Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Kerry, một cựu binh ở Việt Nam cũng đã đến Việt Nam nhiều lần. Rất nhiều người trông chính giới Mỹ đều muốn đưa mối quan hệ giữa hai nước bước vào một chương mới.
Báo chí đã nói tới một hai nước lớn, bằng nhiều con đường đã bày tỏ sự quan ngại với Việt Nam. Nhưng chúng ta có hợp tác với Mỹ để làm phương hại đến ai đâu. Chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa đâu có loại trừ lĩnh vực quốc phòng. Chúng ta đã công khai đường lối của chúng ta là Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Cho nên tăng cường quan hệ quốc phòng với Mỹ là để tự bảo vệ mình, góp phần vào hòa bình, ổn định chung của khu vực. Chẳng quốc gia nào có quyền ngăn cấm và cũng không thể ngăn cấm được. Đâu có chuyện như một nhà nghiên cứu nào đó đã từng nói “Tôi cứ quan hệ với Mỹ thoải mái, nhưng anh đi một bước là tôi lo”.
Chuyến đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phản ánh xu thế thực tế trong quan hệ quốc tế là hợp tác và đối thoại. Chúng ta phải vì lợi ích của chính chúng ta, như thế chúng ta mới đảm bảo được chính sách đối ngoại độc lập tự chủ. Tất nhiên trong bối cảnh Mỹ chuyển hướng trọng tâm về Châu Á-Thái Bình Dương, chuyến đi không khỏi có những ý kiến bàn tán và suy diễn rằng Việt Nam cũng đang chuyển động theo cái trục đó. Chúng ta làm gì có đủ thế và lực để làm chuyện đó. Và chúng ta cũng không có ý định đi với một nước để chống lại nước thứ ba. Chúng ta quan hệ với tất cả các nước, với tất cả các trung tâm quyền lực vì chính quyền lợi của chúng ta.
Trong bối cảnh Trung Quốc ngày một hung hăng leo thang, quân sự hóa Biển Đông, chuyến đi của Tổng Bí thư càng có ý nghĩa. Có nhà Nghiên cứu cho rằng, kết quả của chuyến đi có khi phải mất hàng chục năm nữa chúng ta mới thấu hiểu hết ý nghĩa sâu xa của nó. Chỉ biết rằng để phát huy kết quả tích cực, cần tránh những diễn giải một chiều lệch lạc. Việt Nam không ảo tưởng vào Mỹ, không đi với Mỹ để có thêm đồng minh chống lại ông đồng minh cũ, và cũng không làm một người lính xung kích cho bất kì ai. Kết quả của chuyến đi phản ánh lợi ích nhu cầu của Việt Nam và Mỹ, đương nhiên Việt Nam phải tính đến yếu tố xấu nhất để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ.
Hơn nữa, quan tâm đến khu vực Đông Nam Á đâu chỉ có Mỹ. Ấn Độ có chính sách hướng Đông từ hàng chục năm nay. Họ không chỉ hướng đông mà còn hành động về phía đông. Nhật Bản cũng coi Đông Nam Á là trọng tâm chiến lược của mình, cam kết ủng hộ ASEAN về mọi mặt trong đó có an ninh, quốc phòng. Nga cũng đang quay trở lại Đông Nam Á. Hội nghị Thượng đỉnh Nga-ASEAN vừa rồi là một nấc thang mới trong quan hệ và Nga đã coi Việt Nam là một đối tác chiến lược quan trọng nhất. Và bản thân ASEAN cũng muốn có sự tham gia của càng nhiều các nước lớn thì càng tốt. ASEAN muốn giữ vai trò trung tâm để bảo vệ quyền lợi của tất cả các thành viên. Chẳng lẽ Việt Nam không được quan hệ quốc phòng với tất cả những nước đó hay sao? Tại sao lại phải phân biệt nước này nước khác?
Có nhiều nước lớn quan tâm và cùng có lợi ích ở một nước, một khu vực đương nhiên là phức tạp, thậm chí nếu xử lí không khéo lại trở thành bi kịch. Trung Đông, Bắc Phi, Ucraina là minh chứng hùng hồn cho việc đó. Nhưng ở Việt Nam và Đông Nam Á càng đan xen nhiều lợi ích của các nước lớn lại càng mang tính tích cực. Chúng ta hiểu rất rõ điều này. Tại sao chúng ta lại không kết hợp sức mạnh của dân tộc với xu hướng của các nước, của khu vực? Chúng ta không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng không có nghĩa là không được quan hệ với Mỹ để tự bảo vệ mình.
Quay trở lại với chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam, tôi hi vọng trong chuyến đi này, ông sẽ mang đến cho Việt Nam hai “món quà” trước khi bàn đến công việc của hai nước. Đó là dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam và công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên chỉ có một. Mặc dù thất vọng một chút nhưng tôi vẫn rất vui. Như thế cũng đủ rồi. Vì ngay cả đến Trung Quốc, một nền kinh tế khổng lồ cũng có được EU và Mỹ công nhận là nền kinh tế thị trường đâu. Sớm muộn chúng ta cũng sẽ được các nước công nhận điều này.
Điều quan trọng nhất là thực tiễn đã đem lại cái gì cho Việt Nam, cho Mỹ và cho người dân hai nước. Người viết xin trích lại bài viết của Tờ New York Times, bài tổng hợp đánh giá về mối quan hệ của những quan chức từng là cựu binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam để cho có cái nhìn hai chiều. Đó là Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, Thượng nghị sĩ John McCain và Thượng nghị sĩ Bob Kerry- Chủ tịch Ban điều hành Đại học Fulbright Việt Nam: “Trong thời điểm Tổng thống Mỹ Barack Obama thăm Việt Nam, có lẽ chúng ta phải thừa nhận một thực tế rằng phần lớn người dân ở hai nước hiện không còn nhiều kí ức về cuộc chiến tranh vốn đã cướp đi sinh mạng của hơn 58.000 người Mỹ và của hơn 1.000.000 người Việt Nam”.
Sau khi nêu ra bốn bài học về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, những việc hai bên đã làm được, bài báo viết tiếp: “ Hai mươi năm trước, chỉ có 60.000 nghìn người Mỹ tới Việt Nam du lịch. Ngày nay con số này lên tới gần nửa triệu người. Hai mươi năm trước, thương mại song phương chỉ đạt 450 triệu USD. Ngày nay con số này đã gấp 100 lần. Hai mươi năm trước chỉ có 1000 sinh viên Việt Nam sang học Mỹ. Ngày nay, Mỹ đang chào đón gần 19.000 sinh viên sang du học… Khó có thể tưởng tượng Mỹ và Việt Nam sẽ hợp tác trong các vấn đề về an ninh. Mỹ sẽ giúp Việt Nam xây dựng một trung tâm huấn luyện cho quân đội Việt Nam ở ngoại ô thủ đô Hà Nội… Hướng tới tương lai, chúng tôi biết lợi ích chung, hơn tất cả, sẽ chỉnh hướng cho quan hệ của chúng tôi với Việt Nam. Tuy nhiên, mối quan hệ sẽ càng được củng cố bởi những gắn kết tự nhiên giữa hai xã hội. Nó sẽ bao gồm mối quan hệ gắn kết, thái độ lạc quan, một mong muốn mãnh liệt cho tự do và độc lập, cũng như nhận thức rõ ràng rằng hòa bình luôn là giải pháp tốt nhất, thay vì chiến tranh”.
Chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam diễn ra trong bối cảnh căng thẳng, có thể nói là sự đối đầu chiến lược giữa một siêu cường với một cường quốc đang đi lên với tham vọng muốn thay đổi trật tự thế giới sau chiến tranh Lạnh, đặc biệt là mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc xây dựng chiến lược quân sự chống tiếp cận (A2/AD) nhằm chọc thủng chuỗi đảo thứ nhất, phá vỡ sự phong tỏa của Mỹ và đồng minh ở khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á; nỗ lực tăng cường quân sự hóa ở Biển Đông, cải tạo các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã chiếm của Việt Nam vào năm 1974 và năm 1988 bằng vũ lực, biến nó thành bức vạn lí trường thành; thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông, nhằm đẩy Mỹ ra khỏi khu vực, ngăn chặn ảnh hưởng của Nhật bản, Ấn Độ, Nga; ép nhiều nước Đông Nam Á phải nhượng bộ về chủ quyền và lệ thuộc vào Trung Quốc.
Đáp lại Mỹ thực hiện chiến lược xoay trục về Châu Á-Thái Bình Dương, chuyển 60% lực lượng quân sự, đặc biệt là lực lượng không quân và hải quân; xây dựng Chiến lược Tác chiến trên không-trên biển (ASB); thắt chặt khối liên minh Mỹ-Hàn-Nhật-Philipines-Astrailia, tăng cường hợp tác quân sự với Ấn Độ, tăng cường quan hệ với ASEAN nhằm thống nhất hành động về kinh tế và nâng cao năng lực an ninh quốc phòng với khu vực, định hướng hợp tác với ASEAN thông qua cuộc họp Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở Sunnyland …
Chuyến thăm của tổng thống Mỹ tới Việt Nam không ngoài mục đích tăng cường quan hệ Mỹ- Việt, đặc biệt là về kinh tế thương mại, trong đó có một mặt hết sức nhạy cảm là an ninh quốc phòng. Có thể nói với Mỹ, Việt Nam có một vị trí địa chính trị vô cùng quan trọng, án ngữ tuyến giao thông huyết mạch ở Biển Đông, cửa ngõ vào Trung Quốc. Việt Nam là một dân tộc không có thế lực nào có thể áp đặt được ý chí và xâm phạm chủ quyền được, là nước có ý chí và quyết tâm nhất trong việc chống lại chủ nghĩa bành trướng, cường quyền; là một mắt xích không thể thiếu trong chiến lược xoay trục của Mỹ. Chuyến đi này còn khẳng định vai trò, vị thế và lợi ích của Mỹ ở khu vực. Chỉ cần được đặt chân vào một vài vị trí, chẳng hạn như cảng Cam Ranh là Mỹ có thể cắt rời đường lưỡi bò phi lí mà chính quyển Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đã vẽ ra từ năm 1947.
Chuyến thăm của Tổng thống Obama tới Việt Nam thực ra cũng có khác gì chuyến thăm của ông Obama tới Trung Quốc và chuyến thăm của Tập Cận Bình tới Mỹ. Các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam chỉ đưa tin chứ không hề có bình luận soi mói gì. Nhưng khi Tổng thống Mỹ Obama tới thăm Việt Nam, tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vũ khí sát thương cho Việt Nam, cung cấp 18 tàu tuần tra tuần tiễu biển cho cảnh biển Việt Nam, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc đã có phản ứng, Trung Quốc “vui mừng khi thấy Việt Nam và Mỹ có bước tiến trong quan hệ giữa hai nước” và không quên kèm theo tuyên bố đầy ẩn ý “hi vọng việc cải thiện quan hệ Việt Nam Mỹ có lợi cho hòa bình và ổn định”.
Tuyên bố thì như vậy, nhưng các cơ quan báo chí từ trung ương đến địa phương đều khó chịu, xuyên tạc mối quan hệ Việt-Mỹ, hạ thấp chuyến thăm của Tổng thống Obama và phản đối việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Phải chăng có tật giật mình, người ta lo ngại khả năng Việt- Mỹ thúc đẩy hợp tác  an ninh, quốc phòng, bảo vệ pháp luật quốc tế, tự do hàng hải ở Biển Đông sẽ ảnh hưởng giấc mơ bành trướng của các nhà cầm quyền Trung Nam Hải và một bộ phận quần chúng mang tư tưởng đại Hán?
 Người ta còn cho rằng Mỹ đang tạo ra một mồi lửa có thể bùng phát ở khu vưc Đông Nam Á. Người ta cũng khuyên Việt Nam phải nhớ bài học lịch sử chủ nghía thực dân, phải cảnh giác với âm mưu thâm độc: “diễn biến hòa bình” vì Mỹ sẽ dùng TPP “thay đổi Việt Nam”. Người ta nghĩ rằng vấn đề trở ngại giữa Trung Quốc và Việt Nam chỉ có vài hòn đảo, tại sao người Việt phải làm ầm lên. Đồng thời họ cũng ngộ nhận và kể công, Việt Nam không thể xa rời được Trung Quốc vì hệ thống chính trị với “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng”, sở dĩ Việt Nam được như ngày hôm nay là vì đã học theo mô hình cải cách của Trung Quốc và rằng Trung Quốc là trụ đỡ cho giới tinh hoa Việt Nam… Người ta cũng không quên cảnh báo sức mạnh chi phối của nền kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt có tờ báo còn hăm dọa nên dạy cho Việt Nam một bài học nữa…
Với tư cách cá nhân, tôi xin trân trọng ghi nhận những ý kiến thiện ý cũng như ác ý của các bạn đồng nghiệp nghiên cứu, của các cơ quan tuyên truyền Trung quốc. Người viết luôn ghi nhớ hàng trăm năm bị thực dân đô hộ và cũng luôn ghi nhớ hàng nghìn năm Bắc thuộc cùng hàng chục cuộc viễn chinh xâm lược của phong kiến phương Bắc trong lịch sử Việt Nam, cũng như cuộc xâm lược Việt Nam vào tháng 2 năm 1979 do Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ Trung Quốc phát động. Còn về Biển Đông, tôi xin trích dẫn lời của Ngoại trưởng John Kerry phát biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh với báo giới trong và ngoài nước “Nếu muốn đề cập đến khả năng xuất hiện mồi lửa có thể đốt cháy thứ gì đó, chúng tôi lưu ý rằng Trung Quốc không nên có hành động đơn phương như cải tạo đất hoặc quân sự hóa các đảo ở khu vực có những bên tuyên bố chủ quyền chồng lấn”.
Sau cuộc hội đàm với phía Việt Nam, hai bên đã ra Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa kì. Có thể tóm tắt nội dung chính như sau: Hai bên hài lòng trước những tiến triển nhanh chóng, thực chất và toàn diện của quan hệ hai nước trong thời gian qua theo định hướng của quan hệ Đối tác toàn diện năm 2013 và Tuyên bố về Tầm nhìn chung nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7, 2015. Theo hướng đó hai bên nhất trí trong thời gian tới sẽ tăng cường quan hệ trong các lĩnh vực sau:1, Tăng cường quan hệ chính trị- ngoại giao. 2, Đẩy mạnh quan hệ kinh tế, bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và ứng phó biến đổi khí hậu. Hai bên cũng nhất trí cho rằng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có tầm quan trọng chiến lược. 3, Làm sâu sắc mối quan hệ giữa nhân dân hai nước. 4, Hai bên tái khẳng định tăng cường hợp tác quốc phòng song phương hai nước. Phía Việt Nam hoan nghênh quyết định của Chính phủ Hoa kì dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương đối với Việt Nam. 4, Thúc đẩy quyền con người và cải cách tư pháp. 5, Hai bên tái khẳng định cam kết chung đối với việc giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và trên biển bằng biện pháp hòa bình theo luật pháp quốc tế. Hai bên quan ngại với những diễn biến gần đây ở Biển Đông làm gia tăng căng thẳng, xói mòn lòng tin, đe dọa hòa bình và ổn định. Hai bên nhấn mạnh tính cấp thiết của việc đảm bảo tự do hàng hải và hàng không, kêu gọi phi quân sự hóa Biển Đông và khẳng định cam kết chung theo tuyên bố Sunnyland trong Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Mỹ tháng 2, 2016. 6, Hai bên nhất trí làm sâu sắc quan hệ đối tác lâu dài theo hướng thực chất, sâu sắc và hiệu quả.
Các phương tiện thông tin đại chúng quốc tế và Mỹ đồng loại đưa tin và bình luận sự kiện này. Nhìn chung dư luận đánh giá tích cực về chuyến đi của Tổng thống Obama cũng như ý nghĩa của mối quan hệ Việt-Mỹ. Thậm chí có bài báo còn đưa mối quan hệ Việt-Mỹ là một trong những bài học, một mẫu mực về việc giải quyết những bất đồng khác biệt giữa những cựu thù trên con đường trở thành bạn bè, đối tác. Có những bài báo lí giải sở dĩ có hiện tượng phát triển vượt bậc trong mối quan hệ giữa hai nước là vì nhân tố Trung Quốc, là vì hai nước có chung những lợi ích trên Biển Đông. Có những bài báo đi sâu đến chính sách đối ngoại thực dụng và khôn khéo của Hoa Kì. Có những bài báo đi sâu vào chính sách đối ngoại linh hoạt của Việt Nam. Cũng có những bài báo và cơ quan ngôn luận, chẳng hạn như của Trung Quốc và Campuchia phản đối việc dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam… Tôi cho rằng tất cả những bình luận trái chiều đó cũng là chuyện bình thường trong quan hệ quốc tế.
Theo PGS-TS Alexander Luving thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương APCSS-Mỹ thì chuyến thăm là một dấu mốc lớn trong quan hệ hai nước. “Nó nối tiếp một quá trình lịch sử kịch tính giữa Mỹ và Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là từ năm 2012, khi Mỹ bắt đầu tái cân bằng về châu Á. Có lẽ sự kiện có ý nghĩa quan trọng nhất trong chuyến thăm là Mỹ tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam… Những rào cản cuối cùng giữa hai quốc gia còn nhiều khác biệt đã được dỡ bỏ. Nhà Trắng cũng loan báo Mỹ sẽ cung cấp 18 tàu tuần tra cho Việt Nam, đồng thời hỗ trợ huấn luyện, hỗ trợ thiết bị thực thi pháp luật trên biển cho cảnh sát biển Việt Nam. Điều này có ý nghĩa gì trong việc duy trì ổn định an ninh hàng hải trong khu vực và trên thế giới”?
Theo GS Thayer người Austrailia thì “Việt Nam là câu chuyện thành công của Mỹ ở Châu Á. Thành công lớn nhất là hai bên đã cam kết tăng cường hợp tác trên tất cả các lĩnh vực cùng quan tâm, điều này đã được nêu trong thỏa thuận về Đối tác Toàn diện năm 2013. Hai nước đã thống nhất thiết lập một cơ chế cấp cao giám sát hợp tác song phương theo thỏa thuận này. Năm 2015 Tổng thống Obama và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra tuyên bố về Tầm nhìn chung, thể hiện sự tôn trọng thể chế chính trị. Và trong chuyến thăm này, Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí, có thể nói cờ đã đến tay Việt Nam. Tất nhiên nó cũng thể hiện câu chuyện thành công của chính sách mang dấu ấn của ông Obama trong việc tái cân bằng ở châu Á”.
Tôi nghĩ có lẽ đối với những người dân lao động Việt Nam, người ta không có thời gian và điều kiện đọc các bình luận của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, cũng như việc theo dõi đầy đủ những ý kiến từ các phương tiện thông tin đại chúng ở trong nước, chứ chưa nói đến nước ngoài. Nhưng có điều chắc chắn rằng từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hàng triệu người dân Việt chăm chú theo dõi từng cử chỉ, lời nói, hành động của ông Obama với một tình cảm trìu mến, khâm phục và kính trọng. Ông đã trở thành một hiện tượng, một tâm điểm để người ta bàn luận.
 Tôi cho rằng chính sự chân thành, bình dị của ông đã lôi cuốn người dân Việt. Ông đã chọn nhà sàn, ao cá Bác Hồ để gặp gỡ Chủ tịch Quốc hội Nguyễn thị Kim Ngân. Ông đã chạm vào nơi sâu thẳm trong trái tim người Việt. Điều đó thể hiện thiện chí chân thành muốn hòa giải hợp tác, đồng thời cũng thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của ông. Vì Chủ tich Hồ chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, là người lãnh đạo và là biểu tượng cho hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tại sao ông và đội ngũ của ông lại không chọn tòa nhà Quốc hội?
Tâm điểm sự chú ý của người dân là bài phát biểu của ông Obama ở Trung tâm hội nghị Quốc gia. Tổng thống Obama và cộng sự rất hiểu lịch sử và văn hóa dân tộc Việt. Ông trân trọng quá khứ huy hoàng của người Việt. Ông nhắc đến Hai bà Trưng và người anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt và đọc hai câu thơ trong bài Nam Quốc sơn hà, bài thơ được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt. Phải nói nhiều người đã chia sẻ rằng, khi nghe ông nói trong lòng họ đã dâng lên một một “cảm xúc thật khó tả”. Chân lí trong bài thơ cũng như Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kì và Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam đều ghi rõ chủ quyền thiêng liêng, quyền sống, quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Đó là giá trị, là lí tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, là lẽ sống của mỗi dân tộc. Điều này được khẳng định lại trong bài phát biểu của ông: “Việt Nam là một nước có chủ quyền và không có quốc gia nào có thể áp đặt ý chí của họ lên người dân Việt Nam”.
Ông Obama cũng hiểu ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh; người Việt như những bụi tre, rừng tre mọc trên khắp đất nước khiến tôi lại liên tưởng đến người anh hùng làng Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc Ân, đến hình ảnh chiếc gậy tre, chông tre, giáo mác trong bao cuộc kháng chiến trường kì chống giặc ngoại xâm; liên tưởng đến bài Cây tre bất hủ của nhà văn Thép Mới, Bài thơ Cây tre của nhà thơ Nguyễn Duy… Thật là cảm động.
Ông Obama không né tránh nhắc đến chiến tranh giữa hai nước. Đó là nỗi đau thương cho cả hai dân tộc. Trên hết ông rút ra những bài học bổ ích, sâu sắc và nhân văn. Ông chỉ ra có nhiều cách để  giải quyết vấn đề, không chỉ có chiến tranh và khẳng định hòa bình luôn tốt đẹp hơn chiến tranh. Ông cho rằng quan hệ Việt Mỹ là một bài học cho thế giới.
Trong bài phát biểu ở Trung tâm hội nghị Quốc gia trước 2000 người đủ các tầng lớp, ông Obama cũng đề cập đến dân chủ, nhân quyền, cái giá trị mà Mỹ và phương Tây luôn áp đặt cho tất cả các dân tộc trên thế giới, nhưng người nghe không hề cảm thấy bị áp đặt, bị lên lớp bởi một siêu cường ở chiếu trên giống như người láng giềng và thật sự làm người ta phải suy nghĩ. Vì bản thân ông cũng thừa nhận chính phủ của ông cũng phải đối mặt với những vấn đề mà người dân chỉ trích. Có điều là người lãnh đạo phải biết lắng nghe và giải quyết.
Sự chân thành của ông không chỉ dừng lại ở lời nói đi vào lòng người mà thể hiện ở những hành động thiết thực: Nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng mối quan hệ đối tác toàn diên; dỡ bỏ lệnh bán vũ khí; hỗ trợ tàu tuần tra, tăng cường giúp đỡ năng lực tuần tra trên biển; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam và hàng hóa Việt Nam vào thị trường Mỹ để không phụ thuộc vào một “quốc gia duy nhất nào đó”.
Ông nhiệt thành tin tưởng trong tương lai hai nước sẽ trở thành bạn bè. Ông chia sẻ trong bài nói chuyện rằng nền kinh tế tri thức sẽ thay đổi đất nước nào biết đầu tư vào giáo dục. Trường Đại học Fulbright của Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đào tạo nhân lực đẳng cấp quốc tế cho Việt Nam. Ông tin TPP sẽ thúc đẩy hợp tác giữa hai nước, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân và đảm bảo nhiều tổ chức, nhiều doanh nghiệp Mỹ sẽ đến Việt Nam làm ăn…
Cuối cùng ông khẳng định “mọi quốc gia đều có chủ quyền và dù là nước lớn hay là nước nhỏ, chủ quyền của quốc gia đó cần phải được tôn trọng và không được xâm phạm lãnh thổ của họ. Các nước lớn không nên chèn ép các nước nhỏ và các tranh chấp cần phải được giải quyết một cách hòa bình”. Ông khẳng định người Việt Nam sẽ quyết định tương lai của người việt và nhấn mạnh : “Đây là thời điểm của các bạn và khi các bạn theo đuổi tương lai của mình, tôi muốn các bạn hiểu rằng, nước Mỹ luôn ở bên các bạn với tư cách là một đối tác và một người bạn”.
Phải nói rằng ông Obama đã hoàn toàn chinh phục được người nghe và chiếm được tình cảm nồng nhiệt của người Việt. Suy cho cùng những điều ông nói vẫn chỉ là những nội dung đã được ghi trong thông cáo chung giữa hai quốc gia. Nhưng đó là không phải là ngôn ngữ chính trị ngoại giao công thức. Đó là ngôn ngữ của một chính khách lão luyện, ngôn ngữ của một nhà hùng biện tài năng, tinh tế và lịch lãm, ngôn ngữ của một con người nhân văn biết sống và làm việc cho công lí và lẽ phải; và trên hết đó là lòng chân thành, sự mong muốn, một niềm tin sâu sắc vào mối quan hệ giữa hai nước trong tương lai.
Theo đánh giá của dư luận trong và ngoài nước, chuyến đi của Tổng thống Obama và cộng sự đã thành công tốt đẹp. Dù còn có những ý kiến trái chiều, nhưng tựu trung lại có bốn điểm nhấn. Một là sự dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, đánh dấu sự bình thường hóa hoàn toàn trong quan hệ song phương và phát đi một thông điệp có ý nghĩa chiến lược trong tương lai. Hai là quan hệ phát triển thực chất trong rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về chính trị-ngoại giao, kinh tế, an ninh quốc phòng. Ba là Việc Việt Nam cấp phép cho việc thành lập Trường Đại học Fullbright Việt Nam, cho thấy sự phát triển quan hệ giữa hai nước là toàn diện, tin cậy, không phải chỉ vì vấn đề Biển Đông. Cuối cùng là sự đón tiếp nồng hậu của nước chủ nhà và đặc biệt là sự đón tiếp nồng nhiệt của người dân dành cho Tổng thống và phái đoàn cũng như sự thân thiện nhiệt tình của cá nhân tổng thống trong việc giao lưu và tiếp xúc với người dân. Trong bốn điểm nhấn đó, cả dư luận trong nước và ngoài nước chú ý nhất là lệnh dỡ bỏ việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam
Vấn đề đặt ra là tại sao trong mấy năm gần đây mối quan hệ giữa hai nước, hai cựu thù lại phát triển nhanh chóng, sâu rộng như vậy? Đương nhiên đó là kết quả của sự cố gắng nỗ lực không biết mệt mỏi hơn hai mươi năm của cả hai phía. Điều này thì ai cũng thấy rõ. Nhưng sự phát triển như “tên lửa” trong mối quan hệ giữa hai nước còn do một nguyên nhân sâu xa là tình hình Trung-Việt ngày càng căng thẳng về vấn đề chủ quyền biển đảo và việc Trung Quốc cải tạo một số đảo trong quần đảo Trường sa đã chiếm của Việt Nam thành các căn cứ quân sự. Nghĩa là Trung Quốc đã mang súng ống đến trước của nhà của người Việt, hăm dọa người Việt. Chẳng lẽ người Việt lại cam chịu đứng nhìn.  
Chính nền kinh tế phát triển liên tục trong hơn ba mươi năm qua đã khiến Trung Quốc cảm thấy đến lúc cần vứt bỏ chiến lược “giấu mình chờ thời” của Đặng để thực hiện giấc mộng vươn lên trở thành một cường quốc toàn cầu từ thời Mao. Việc chiếm các đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam là một bước tiến hiện thực hóa đường lưỡi bò nhằm độc chiếm Biển Đông, một bước đi bành trướng tiếp theo của Đại Hán ngày càng bộc lộ rõ qua việc gây căng thẳng ở Biển Hoa Đông và Biển Đông. Đặc biệt khi Tập Cận Bình lên nắm quyền, ông ta không hề dấu diếm ý định chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ.
Với việc cải tạo các đảo, xây dựng các đường băng và hệ thống cầu cảng trên các đảo, đưa hệ thống tên lửa ra đảo, không ngại va chạm với không quân và hải quân Mỹ, bất chấp sự lo ngại của đa số các nước ASEAN, thậm chí coi thường ASEAN, Trung quốc ngày càng hung hăng thách thức dư luận quốc tế, ngang ngược không tham gia tòa án quốc tế, phủ nhận phán quyết sắp tới của tòa án quốc tế… Tất cả những việc làm của họ đều chứng tỏ họ đang đi trên con đường quân phiệt. Những đòi hỏi chính nghĩa của Việt Nam về chủ quyền chắc chắn sẽ bị Bắc Kinh gạt bỏ. Đã đến lúc Việt Nam không thể không hành động. Tôi cho rằng, hiện tại chỉ có hành động kiên quyết của cộng đồng quốc tế và Mỹ mới có thể ngăn chặn được cuồng vọng của Trung quốc.
Bắt đầu từ những năm 2000 trở đi Mỹ bắt đầu cảm thấy quyền lợi và địa vị của mình bị đe dọa ở Biển Đông nói riêng và ở Đông Á nói chung. Tại các hội nghị ASEAN ở Hà Nội năm 2010, Việt Nam và Hoa kì chính thức có những động thái nhằm đưa vấn đề Biển Đông ra các hội nghị. Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đã bị xâm phạm và ngày càng bị đe dọa. Việt Nam không thể vì cùng ý thức hệ chính trị, vì cái vỏ “đại cục” nhẫn nhịn trước những hành động vừa ăn cướp vừa la làng của người hàng xóm to tảng. Mỹ cũng bắt đầu tuyên bố có quyền lợi ở Biển Đông. Có thể nói cuộc chiến thầm lặng nhưng quyết liệt trên tất cả các mặt trận đã bắt đầu giữa Trung Quốc với Mỹ và các các nước có tranh chấp với Trung Quốc từ Hoa Đông cho tới Biển Đông.
Về mặt quân sự, Mỹ tiến hành cuộc chiến bằng việc xoay trục về châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường tập trận với các quốc gia, liên tục tuần tra trinh sát và hiện diện trên Biển Đông trong vòng 12 hải lí xung quanh các đảo chiếm phi pháp của Trung quốc, đồng thời  thúc đẩy cuộc đấu tranh trên ba mặt trận. Thứ nhất là về chính trị, Mỹ tăng cường củng cố khối liên minh truyền thống Mỹ-Nhật-Hàn- Philipines, Austrailia… Về ngoại giao, Mỹ thực hiện chiến dịch thông tin tuyên truyền cấp độ song phương lẫn đa phương ở tất cả các chuyến công du, các hội nghị ASEAN, ARF, EAS, APEC … Thậm chí cả G20, G7; yêu cầu Trung Quốc phải làm rõ cơ sở pháp lí và bản chất đường chín đoạn hay còn gọi là đường lưỡi bò. Mỹ và các nước đều lên án thủ đoạn gây sức ép, đe dọa, chia rẽ các nước ASEAN cùng việc quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc tại tất cả các diễn đàn quốc tế. Thứ ba, ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ phối hợp, hỗ trợ các nước tranh chấp với Trung Quốc trong các lĩnh vực anh ninh biển, cảnh sát biển, chia sẻ thông tin tình báo… để tăng cường năng lực bảo vệ, kiểm soát an ninh hàng hải của các nước có tranh chấp với Trung Quốc.
Việt Nam là nước có ý chí, quyết tâm và năng lực mạnh mẽ nhất trong cuộc đấu tranh  bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước hành động tham lam bành trướng của Trung Quốc. Cả Việt Nam và Mỹ đều có lợi ích chiến lược trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình về an ninh, tự do đi lại trên Biển Đông. Cả Việt Nam và Mỹ đều có chung mục tiêu xóa bỏ đường lưỡi bò phi lí, phi pháp mà Trung Quốc tự vẽ ra trên Biển Đông và chính lợi ích song trùng đó là động lực tăng tốc trong mối quan hệ Việt-Mỹ. Và đó cũng là động lực Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vũ khí sát thương cho Việt Nam.
Trung Quốc đã nhiều lần phàn nàn và gây sức ép với Nga trong việc Nga bán các vũ khí hiện đại cho Việt Nam. Mới đây nhất là việc Nga chần chừ chưa bán hệ thống tên lửa S 400 vì sức ép của Trung Quốc. Việt Nam không thể không đa dạng hóa nguồn cung vũ khí bằng việc mua vũ khí, khí tài của Mỹ và phương Tây. Xét ở một góc độ khác, các loại vũ khí chủ lực của Trung Quốc cũng như của Việt Nam đều có chung nguồn gốc từ Nga. Các tính năng tác chiến, kĩ thuật của các loại vũ khí đó quân đội Trung Quốc nắm rất chắc. Họ cũng nắm rõ sở trường cũng như sở đoản của từng loại vũ khí. Do vậy việc đa dạng hóa vũ khí với Việt Nam càng trở nên cấp thiết.
Nhiều nhà nghiên cứu và bình luận cho rằng Việt Nam không có khả năng mua ồ ạt ngay các loại vũ khí hiện đại đắt tiền của Mỹ và phương Tây. Tôi cho rằng nhận xét đó hoàn toàn có cơ sở. Nhưng nếu tình hình xấu đi, chắc chắn Việt Nam sẽ có những loại vũ khí mình cần của Mỹ và phương Tây. Nếu kẻ thù nào đó muốn vẽ lại bản đồ thế giới và xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trong tương lai, với truyền thống và tinh thần “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, cùng với vũ khí tự vệ đầy uy lực, người Việt chắc chắn sẽ buộc kẻ thù phải tính toán hơn hàng trăm lần trước khi chúng quyết định toan tính hành động.
Trước mắt với việc xóa bỏ lệnh cấm bán vũ khí, với quan điểm riêng, tôi cho rằng Việt Nam có thể lựa chọn mua một số máy bay trinh sát, săn ngầm tiên tiến, hệ thống ra đa cảnh giới biển, nâng cấp hệ thống ra đa vốn có tầm bao phủ cả bán đảo Đông Dương, Biển Đông và một phần nam Trung Quốc có từ thời Mỹ ngụy để lại để đảm bảo đất nước không bị bất ngờ trước mọi âm mưu xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.
Theo những thông tin tôi được biết, Việt Nam có khoảng 100 chiếc máy bay chiến đấu và trực thăng, hàng trăm xe thiết giáp của Mỹ còn lưu kho sau năm 1975 vì thiếu phụ tùng thay thế, việt Nam có thể mua hay hợp tác với Mỹ và các nước phương Tây nâng cấp lên chuẩn đáp ứng yêu cầu  thay thế cho hàng trăm chiếc MIC 21 cùng xe tăng đã đến tuổi về hưu từ thời Liên Xô cũ. Điều đó chắc chắn sẽ tăng cường thêm sức mạnh phòng thủ trước mắt mà không mất nhiều kinh phí. Còn về trung hạn và dài hạn Việt Nam sẽ có điều kiện đa dạng hóa nguồn cung, có điều kiện tìm hiểu, chọn lựa những loại vũ khí hiện đại, có hiệu quả mình cần cho việc phòng thủ.
Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama có thể nói là một chuyến thăm thành công trên nhiều phương diện. Nếu chỉ có việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí không thôi, tôi nghĩ có cái gì đó vẫn không ổn. Nếu Việt Nam không có cơ hội để phát triển kinh tế và hội nhập, nếu lại bị một nước nào đó chèn ép, thậm chí bao vây và cấm vận về kinh tế, chắc chắn chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Chuyến thăm Việt Nam của ông Obama chứng tỏ trở ngại cuối cùng trong quan hệ hai nước đã được dỡ bỏ mà không kèm điều kiện có đi có lại như quan hệ của Mỹ với đa số các nước khác. Chính quyền của ông Obama còn mở ra nhiều cơ hội mới về kinh tế cho Việt Nam. Và ngay sau chuyến đi, Thượng nghị sĩ Joln McCain đã viết thư cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thúc giục Việt Nam thúc đẩy hơn nữa về việc hợp tác quốc phòng. Đặt vào bối cảnh quốc tế và khu vực, đứng trước một Biển Đông đầy giông bão chúng ta mới thấy hết kết quả của chuyến đi không chỉ mở ra một chương mới trong quan hệ Việt Mỹ mà nó còn mở ra một thời cơ mới trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như một vận hội mới trong phát triển kinh tế.   


       


   

       
 



Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.