tại sao Mỹ là siêu cường và sẽ vẫn là một siêu cường
Sau
một chuyến đi dài hơn một tháng qua bốn bang của Mỹ tôi lại quay trở về
Longmont, bang Colorado vào lúc 9h00. Mặc dầu thấm mệt, tôi vẫn dừng lại cùng
dòng người xem màn bắn pháo hoa của thành phố. Thực ra đêm hôm trước, tại bữa tiệc
chiêu đãi chứa chan tình cảm của chị Thúy, người phụ nữ Quảng Ninh lấy chồng Mỹ
ở thành phố Columbia, Missouri, chúng tôi đã được xem một màn pháo hoa hai mươi
phút của riêng những nhà giàu có trong khu phố, tổ chức bắn chào mừng quốc
khánh Mỹ tại một bờ hồ rộng rãi. Sau khi thưởng thức màn pháo hoa đó, tôi còn
chứng kiến rất nhiều nhà xung quanh khu vực bắn hàng chục quả pháo lên bầu trời,
cả một vùng sáng bừng pháo hoa lộng lẫy bao sắc mầu huyền ảo. Đúng là phong
cách của người Mỹ.
Sáu
năm trở lại đây, năm nào tôi cũng có dịp sang Mỹ từ hai cho đến ba tháng. Tôi
đi khá nhiều bang, đọc và biết về thực tế nước Mỹ cũng tàm tạm, nhưng chưa bao
giờ tôi đặt ra cho mình câu hỏi tại sao nước Mỹ lại trở thành một siêu cường
trong suốt gần thế kỉ thứ 20 và có lẽ đến giữa thế kỉ thứ 21 cũng chưa có quốc
gia nào, hay một thực thể nào giành được cái địa vị đó của người Mỹ. Có lẽ vì đã
được học về Hoa Kỳ ở nhà trường với những giáo sư đầu ngành về quan hệ quốc tế nên
tôi hiểu phần nào về lịch sử nước Mỹ. Và trong đầu tôi, Mỹ mặc nhiên là một
siêu cường duy nhất sau khi Liên Xô sụp đổ.
Chỉ
khi xem xong màn pháo hoa tại Longmont, trên đường trở về nhà, lại chứng kiến cảnh
nhiều gia đình người Mỹ bắn pháo hoa, cộng với những gì đã thấy từ đêm hôm trước,
tôi mới đặt ra câu hỏi tại sao người dân Mỹ lại giầu có như vậy và trên hết tại
sao nước Mỹ lại vượt lên các cường quốc châu Âu như Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức
và trở thành một siêu cường duy nhất hiện nay.
Trong
lịch sử nhân loại, đã xuất hiện những cường quốc hùng mạnh, tiêu biểu như Đế quốc
La Mã, Đế quốc Mông Cổ, Đế quốc Anh và đối với người Việt các đế quốc phong kiến
Trung Quốc cường thịnh như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã từng xâm lược
Việt Nam, tất cả cuối cùng đều bị sụp đổ. Theo các sử gia, Đế chế La Mã sụp đổ không phải do các mối đe dọa từ bên ngoài.
Nguyên nhân nằm ở các cuộc nội chiến kéo dài, tàn phá nền kinh tế và phụ thuộc
vào binh lính đánh thuê. Đế quốc Mông cổ tan rã do tranh giành quyền lực giữa
các thế lực trong nội bộ, phân thành bốn vương quốc, lần lượt sụp đổ và bị các
thế lực khác chinh phục. Đế quốc Anh trải rộng khắp các châu lục trên thế giới,
thống trị nhiều nền văn hóa và trực tiếp cai trị thuộc địa thông qua các chính
quyền sở tại và cuối cùng sụp đổ vì chính cái đế chế khổng lồ của nó. Các đế chế
Trung Quốc lần lượt ra đi cũng nằm trong các nguyên nhân chung trên.
Với
Đế quốc Mỹ, quân đội của họ có khả năng đánh bại mọi kẻ thù mạnh như Đế quốc
Mông cổ, sau khi Liên Xô tự sụp đổ trong cuộc chạy đua với Mỹ, giống như Đế quốc
La Mã, Mỹ không có đối thủ về mặt quân sự. Họ thống trị vùng trời, vùng biển và
chiếm ưu thế tuyệt đối trên đất liền. Điều quan trọng nhất, tương tự như Đế quốc
Anh, Mỹ xây dựng quyền lực dựa trên nền thương mại toàn cầu và lực lượng không
hải quân hùng mạnh có thể tiếp cận mọi tuyến đường biển lớn của thế giới. Tuy
nhiên, theo quy luật, dù chiếm ưu thế đến đâu về mặt kinh tế và quân sự, sự
phát triển của các cường quốc đều có giới hạn của nó. Nước Mỹ cũng vậy, họ sẽ
giữ được ngôi vị của mình bao nhiêu lâu nữa. Ba mươi năm, năm mươi năm hay một
thế kỉ?
Nhìn
trên bản đồ và tìm hiểu về địa lí kinh tế, địa chính trị người ta thấy nước Mỹ
được thiên nhiên rất ưu đãi. Nước Mỹ có điều kiện cần và đủ để vươn lên để trở
thành một cường quốc có tầm cỡ toàn cầu từ thế kỉ 19. Hầu như mọi người đặt
chân đến đất nước cờ hoa đều choáng ngợp trước điều kiện tự nhiên của nước này.
Nước Mỹ được che chở giữa hai đại dương lớn của thế giới, lãnh thổ rộng trên
9,3 triệu cây số vuông, có những con sông dài dọc ngang đất nước, những hồ nước
lớn phân bổ khắp mọi nơi, những cánh rừng um tùm nhìn hút tầm mắt, những cánh đồng
bát ngát phì nhiêu, những cánh đồng cỏ bao la đến tận chân trời; tài nguyên
khoáng sản phong phú, dồi dào vào bậc nhất thế giới và tài nguyên biển giàu có,
tiềm tàng ẩn giấu giữa hai đại dương rất đa dạng. Có thể nói nước Mỹ có điều kiện
địa kinh tế, địa chính trị lí tưởng nhất so với các đế quốc từ trước đến nay.
Trong
lịch sử thế giới, không có một đế quốc nào bắt đầu từ khi ra đời (4-7-1776) lại
phải bỏ ra một chi phí thấp cho công việc bảo vệ an ninh quốc gia và trong một
thời gian rất dài không phải lo ngại các thế lực bên ngoài xâm phạm bờ cõi như nước
Mỹ. Kể từ năm 1865, sau khi kết thúc nội chiến Nam-Bắc, nước Mỹ không xảy ra một
cuộc chiến tranh quy mô lớn nào. Trong hơn 120 năm, kể từ khi tiến hành cuộc
cách mạng vĩ đại, giành được độc lập từ Đế quốc Anh tới khi Phát xít Nhật đánh
vào Trân Châu Cảng (7-12-1941), chủ quyền lãnh thổ Mỹ chưa bị đe dọa lần nào.
Chỉ khi Liên Xô phóng vệ tinh lên quỹ đạo vào năm 1960, có thể đưa đầu đạn hạt
nhân tới Mỹ thì miền đất hứa an toàn này mới mất đi cái ưu thế tuyệt đối của nó.
Sự
vươn lên hay sự trỗi dậy của người Mỹ diễn ra trong một thời gian ngắn với chi
phí thấp không chỉ nhờ vào điều kiện địa kinh tế, địa chính trị mà còn nhờ vào
tầng lớp tinh hoa chính trị cùng với một thể chế chính trị dân chủ vào bậc nhất
thế giới, bắt đầu từ vị Tổng thống Liên bang đầu tiên George Washington cùng với
Bản Hiến pháp hoa kỳ có hiệu lực năm 1789. Với tầm nhìn và chính sách đối nội
và đối ngoại sáng suốt, tầng lớp chính trị Mỹ đã dẫn dắt nước Mỹ nhanh chóng trỗi
dậy. Sự trỗi dậy của Mỹ là một sự trỗi dậy đầy khôn ngoan, “nghệ thuật”, “trí
tuệ”, tất nhiên cũng rất thủ đoạn.
Trong
quá trình trỗi dậy, nước Mỹ cũng như các đế quốc trước đó phải vượt qua sự kiềm
chế của một đế quốc nào đó, với Mỹ đó là Đế quốc Anh. Đầu tiên Anh không thể
ngăn cản được sự độc lập của Mỹ. Sau đó không thể đánh chiếm được Mỹ trong cuộc
Chiến tranh năm 1812. Tiếp đó Anh lại không thể làm suy yếu nền kinh tế Mỹ sau
chiến tranh. Nước Mỹ đã vượt qua được sự kiềm chế của nước Anh trên phương diện
quốc gia và quốc tế với cái giá thấp nhất. Cuộc chiến giành giật ngôi bá quyền
và bảo vệ ngôi bá quyền cũng với giá thấp nhất.
Xét
ở một phương diện, hai cuộc chiến tranh thế giới, Chiến tranh Thế giới lần thứ
nhất (1914-1918) và cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (1939-1945), là hai
cuộc chiến tranh của hai thế lực đế quốc già và trẻ mà tiêu biểu là nước Anh và
nước Đức. Thắng lợi của phe đế quốc đứng đầu là Anh là thắng lợi của người Anh,
nhưng thực chất kết quả sau hai cuộc thế chiến Mỹ mới gặt hái được thành công
nhất. Đã có sự thay đổi vị trí bá quyền giữa Đế quốc Mỹ và Đế quốc Anh. Thế chiến
một gần như Mỹ không tham gia chỉ đứng ngoài hưởng lợi. Thế chiến hai, Mỹ đã
tính toán bỏ ra không nhiều nguồn lực so với một số nước ở châu Âu mà lại thu
được nhiều lợi ích.
Lợi
ích lớn nhất là vị thế của Mỹ ở trên trường quốc tế. Có thể nói Mỹ đã thể hiện
nghệ thuật trỗi dậy cao siêu. Trong thời gian 1898, thời gian nổ ra cuộc chiến
Mỹ-Tây Ban Nha, Mỹ tiếp tục thực hiện học thuyết Monroe “Châu Mỹ của người Châu
Mỹ” cho đến năm 1920, Mỹ chẳng những
giành được quyền kiểm soát châu Mỹ mà còn thực hiện được sự hòa giải với Đế quốc
Anh. Để rồi cuối cùng quốc gia bá quyền kết đồng minh với quốc gia bá quyền
thay thế trong tương lai. Bước tiếp theo, người Mỹ chỉ trong một thời gian ngắn
đã thực hiện được cuộc chuyển giao ngôi vị quán quân một cách ngoạn mục.
Sau
Chiến tranh Thế giới thứ hai, Mỹ bắt đầu thực hiện cuộc Chiến tranh Lạnh nhằm ngăn chặn Liên Xô, siêu cường đứng đầu phe Xã
hội chủ nghĩa thách thức vị trí số một của Mỹ. Cả hai nước đều tránh đối đầu trực
diện. Cả hai đều thông qua hàng chục cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” ở các nước thuộc
thế giới thứ Ba để tiêu hao nguồn lực của nhau. Mỹ không từ một thủ đoạn từ
kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao trong cuộc chạy đua đường dài gần nửa
thế kỉ để hạ gục đối thủ. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường duy
nhất cho đến ngày hôm nay.
Sau
sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, nước Mỹ vẫn không rút ra được bài học về cuộc Chiến
tranh ở Việt Nam, họ lại tiếp tục tổ chức và đứng đầu Liên minh chống khủng bố
Quốc tế, lao vào hai cuộc chiến tranh ở Trung Đông: Afganistan và Irăc. Hai cuộc
chiến tranh này đã tiêu tốn hàng nghìn tỉ USD, nhưng cho đến nay tình hình
Trung Đông thực sự vẫn chưa có hồi kết, để lại cho nước Mỹ món nợ hàng ngàn tỉ USD
cộng với nhiều rắc rối ở khu vực. Tiếp theo, nước Mỹ lại phải hứng chịu cuộc khủng
hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 2008, cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại
Khủng hoảng Kinh tế năm 1929-1933 cũng bắt nguồn từ chính nước Mỹ.
Nhiều
nhà nghiên cứu và quan sát quốc tế tin rằng chính vì đi theo vết xe đổ gây chiến
tranh của các đế chế đã suy tàn cho nên nguồn lực của nước Mỹ đã bị tiêu hao
nhiều. Thời kì hoàng kim của nước Mỹ đã bắt đầu qua đi. Nhiều cường quốc mới nổi
lên, trong đó có cả hai đối thủ cũ của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai là
Đức và Nhật Bản- kẻ chiến thắng là Liên Xô thì đã sụp đổ, còn Mỹ thì trên mình
mang đầy thương tích. Đặc biệt trong số những cường quốc mới nổi nhất hiện nay,
đáng chú ý nhất là Trung Quốc, nước có khả năng cạnh tranh ngôi vị của Mỹ. Lợi
dụng thời cơ Mỹ tập trung sự chú ý ở Trung Đông, được hưởng lợi từ quá trình
toàn cầu hóa, Trung Quốc đã phát triển thần kì với mức tăng trưởng hai con số
liên tục trong hơn ba mươi năm và trở thành đối thủ tiềm năng lớn nhất đe dọa vị
thế của Mỹ.
Trung
Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai, không ngừng tăng cường sức mạnh
không quân và hải quân với giấc mộng phục hưng Đế chế Trung Hoa thủa nào. Họ bắt
đầu gây hấn ở Biển Đông, quân sự hóa Biển Đông nhằm đẩy người Mỹ ra khỏi khu vực,
muốn chia đôi Thái Bình Dương với siêu
cường số 1 trong chiến lược lâu dài của họ. Về vấn đề tranh giành ngôi vị bá chủ
Trung-Mỹ, tôi đã có bài viết riêng cũng trong blog này nên không nhắc lại. Tôi
chỉ xin được đưa ra một số nhận xét của ông Lý Quang Diệu, cố Thủ tướng
Singapore, một chính khánh lỗi lạc ở Đông Nam Á trong bài viết “Tại sao Hoa kỳ
là Siêu cường thế giới” viết năm 2013, trước khi ông mất.
Sở
dĩ tôi muốm đưa ra nhận xét của Lý Quang Diệu vì ông là một người gốc Hoa. Có lẽ
trong các chính khách ít người hiểu về Trung Quốc như ông. Hơn nữa, Đặng Tiểu
Bình cùng các quan chức Trung Quốc vào thập niên 70 của thế kỉ trước, trước khi
bắt đầu sự nghiệp cải cách mở cửa đã đến học hỏi ông con đường đi cho Trung Quốc
và lãnh đạo Trung Quốc đã coi ông như một vị cố vấn của quốc gia. Ông Lý Quang
Diệu cho rằng Hoa kì sẽ gặp nhiều trở ngại với Trung Quốc, nhưng Mỹ vẫn giữ vị
trí số 1 và chỉ có kẻ ngu mới đi chống lại Hoa kỳ hiện nay. Lập luận của ông dựa
trên sự so sánh về thể chế chính trị và kinh tế, sức mạnh quân sự, công nghệ
Trung- Mỹ, sự linh hoạt và sáng tạo của người Mỹ, văn hóa và ngôn ngữ Mỹ… Tất cả
ưu thế đều nghiêng về Mỹ hiện tại cũng như tương lai gần.
Tôi
đã đọc một số tác phẩm của những nhà nghiên cứu thuộc các nước phương Tây, một
số tác phẩm của các chính khách, nhà báo Mỹ nói về tốc độ phát triển thần kì của
Trung Quốc và phân tích về những khiếm khuyết từ kinh tế đến giáo dục của nước
Mỹ, họ cho rằng kẻ thay thế nước Mỹ sắp tới sẽ là Trung Quốc. Họ phán đoán rằng
Trung Quốc sẽ sớm đưa Mỹ trở thành một quốc gia “đã từng là bá chủ”. Tuy nhiên
cá nhân tôi vẫn tin rằng cho đến giữa thế kỷ này và thậm chí hơn nữa vẫn chưa
có quốc gia nào có thể thách thức được vị trí số 1 của nước Mỹ.
Mặc
dù nước Mỹ còn có những khuyết tật, thậm chí là bệnh hoạn, nhưng tôi vẫn có niềm
tin vào nước Mỹ. Niềm tin của tôi bắt nguồn từ những trải nghiệm trong thực tế
sáu năm, mỗi năm rong ruổi trên đất Mỹ vài tháng, một đất nước mà người dân gần
như có chất lượng sống cao nhất thế giới, một đất nước có nền giáo dục đại học
tốt nhất thế giới, một đất nước thu hút hầu hết nhân tài của thế giới đến sinh
sống và làm việc, một đất nước có chế độ dân sự cực kì phát triển, một đất nước
có cơ chế tuyển dụng người làm việc trong bộ máy chính quyền công từ cơ sở đến
tổng thống có chất lượng. Trên hết, nước Mỹ đã nhiều lần vượt qua chính mình,
kiềm chế và ngăn chặn thành công tất cả những thách thức trên bước đường duy
trì ngôi bá chủ. Và quan trọng nhất hiện nay người Mỹ đã nhận ra những trở ngại
đối với nước Mỹ là cái gì.
Nước
Mỹ vẫn là một siêu cường trong một thời gian dài dựa trên nền tảng vững chắc về
kinh tế, ảnh hưởng to lớn về chính trị, sức mạnh quân sự và khoa học công nghệ
cũng như văn hóa, những thành tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của một quốc gia.
Về
kinh tế, theo số liệu của Qũi tiền tệ Quốc tế GDP bình quân đầu người của Mỹ là
53.042 USD, Trung Quốc là 6.807 USD năm 2013. Một con số quá chênh lệch để so
sánh một nước phát triển hàng đầu với một nước đang phát triển mới thoát nghèo.
Điều quan trọng là kinh tế Mỹ vẫn là nền tảng của hệ thống tài chính toàn cầu.
Hơn 80% các giao dịch tài chính, hơn 87% các giao dịch trên thị trường ngoại tệ
trên thế giới được tiến hành bằng đồng đô la. Trong khi đó, đồng tiền của Trung
Quốc mặc dầu được xếp vào giỏ tiền tệ quốc tế nhưng chỉ có khoảng 5% giao dịch
tài chính và giao dịch trên thị trường ngoại tệ là bằng đồng Nhân dân tệ (Yuan).
Điều đó thể hiện niềm tin vào sự ổn định của nền kinh tế Mỹ.
Về
chính trị, Mỹ có ảnh hưởng rất lớn và có khả năng tập hợp được quanh mình nhiều
tổ chức quốc tế, nhiều cường quốc và các nước phát triển cũng như các nước đang
phát triển thành một khối đồng minh vững chắc; còn Trung Quốc thì có khả năng kết
giao với những nước nào là đồng minh? Mỹ là nước viện trợ nước ngoài lớn nhất để
củng cố sức mạnh chính trị trên toàn cầu. Năm 2014 viện trợ của Mỹ là 32,7 tỉ
USD, bỏ xa nước đứng thứ hai, nước Anh là 19 tỉ USD. Điều quan trong nhất là nước
Mỹ rất ổn định về chính trị. Hệ thống pháp luật hoàn thiện, dân chủ hàng đầu thế
giới.
Về
quân sự, ưu thế quân sự của Mỹ hiện tại vẫn không có đối thủ. Chi phí cho quân
sự của Mỹ chiếm 37% chi tiêu quân sự toàn cầu, gần gấp 4 lần Trung Quốc. Mỹ chiếm
ưu thế tuyệt đối, thống trị trên đất liền, trên biển, trên không và trên vũ trụ.
Hơn nữa Mỹ đã thay đổi, đang thay đổi quân đội cùng với hệ thống vũ khí để đối
mặt với mọi thách thức của thế kỉ 21một cách hữu hiệu nhất.
Về
khoa học công nghệ, Mỹ là quốc gia có nền khoa học công nghệ đứng đầu thế giới
về nhiều mặt. Mỹ cũng là quốc gia năng động, sáng tạo nhất thế giới. Trong số 9
công ty công nghệ lớn nhất thế giới thì 8 công ty là ở Mỹ. Đặc biệt là về năng
lượng, mạch máu của nền kinh tế, trước đây Mỹ phụ thuộc vào bên ngoài, nhưng bắt
đầu từ năm 2015, Mỹ trở thành nhà sản xuất dầu, khí tự nhiên số 1 thế giới nhờ
vào cuộc cách mạng công nghệ đứt vỡ thủy lực đá phiến. Ngoài ra Mỹ còn chi tiêu
cho nghiên cứu và phát triển lớn nhất thế giới cho phép tập trung vào những
công nghệ mũi nhọn và những kĩ năng mà họ cần nhất.
Về
văn hóa, có thể nói nước Mỹ là một quốc gia cởi mở nhất. Có lẽ trên thế giới có
bao nhiêu quốc gia thì ở Mỹ gần như có ngần ấy người của quốc gia đó đến sinh sống
và lập nghiệp. Riêng người Việt ở Mỹ ước tính có tới gần 2 triệu người. Nước Mỹ
vẫn còn là một miền đất hứa. Nó cho phép mọi người trên khắp thế giới nhập cư nếu
có đủ điều kiện. Những người nhập cư không chỉ mang theo tiền bạc cho nước Mỹ
mà còn đem theo cả kĩ năng lao động, tri thức khoa học, công nghệ, khả năng quản
lí và kinh doanh từ đất nước mình cho nước Mỹ. Điều quan trọng hơn là người Mỹ
đứng đầu thế giới về việc giúp đỡ người nhập cư đến đất nước mình sinh sống là
làm giàu.
Nhìn
tổng thể về nước Mỹ người ta thấy có những lí do thực tế trên để khẳng định nước
Mỹ vẫn là một siêu cường. Nhưng nói gì thì nói, nếu nước Mỹ không giữ được vị
trí đầu máy để kéo các toa tầu kinh tế thế giới thì sớm muộn người Mỹ cũng để
tuột mất ngôi vị bá chủ, vì nếu không có thật nhiều tiền thì Mỹ sẽ lấy đâu ra củ
cà rốt chứ chưa nói đến cái gậy để duy trì địa vị của mình. Nghĩa là phải có tiềm
lực kinh tế và khả năng quân sự đứng ở vị trí thứ nhất trong hệ thống quốc tế
và khả năng gây ảnh hưởng tất cả các mặt trên phạm vi toàn cầu. Xem xét một
cách sâu hơn về khả năng kinh tế và quân sự của Mỹ hiện tại và trong những năm
tới, tôi tin rằng Mỹ vẫn là một siêu cường có thể kiềm chế và ngăn chặn bất kì
thực thể chính trị và quốc gia nào định chiếm đoạt ngôi vị bá chủ của họ, ít nhất
cho đến giữa thế kỉ này.
Hiện
tại kinh tế Mỹ đang phục hồi nhanh chóng sau khủng hoảng và Mỹ vẫn là một nền
kinh tế lớn nhất thế giới, có năng xuất suất cao nhất thế giới. Theo US Trust,
dân số Mỹ khoảng 314 triệu người, chiếm 4,5% dân số thế giới nhưng tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) của Mỹ chiếm hơn một phần năm tổng sản phẩm của toàn cầu.
Mỹ
đứng đầu thế giới về lương hàng hóa sản xuất. Chỉ tính khi nước Mỹ mới thoát ra
khỏi cuộc khủng hoảng năm 2012 thì lượng sản xuất hàng hóa của Mỹ có tổng giá
trị 1.900 tỉ USD, tăng 27% so với năm 2009. Số lượng nhân công trong lĩnh vực sản
xuất tăng nửa triệu người kể từ năm 2010.
Mỹ
là một trong những nước xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ lớn nhất thế giới. Kim ngạch
xuất khẩu đạt giá trị trên 2.200 tỉ USD. Trong khi đó, các nhà đầu tư nước
ngoài ngày càng đổ xô đầu tư vào Mỹ. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Mỹ trong
những năm gần đây đạt mức 736 tỉ USD, tương đương 15% tổng lượng vốn toàn cầu.
Cũng
theo US Trust, ngoài việc dẫn đầu thế giới về khoa học công nghệ, đầu tư nghiên
cứu và phát triển toàn diện, Mỹ còn là quê hương của các trang mạng xã hội hàng
đầu thế giới, tiền theo đó cứ chảy vào nước Mỹ ngày càng gia tăng cùng với những
thương hiệu hàng đầu. Mười thương hiệu có giá trị lớn nhất đều nằm trong tay
người Mỹ.
Mỹ
có những trường đại học nghiên cứu xuất sắc nhất thế giới. Theo đánh giá của
Công ty chuyên về giáo dục và du học Quacquarelli Symond, trong danh sách một
trăm trường đại học đứng đầu thế giới Mỹ chiếm gần 70%, có 6 trường ở vị trí số
1 đến số 6, có trường đã qui tụ và đào tạo được tới 98 người được giải thưởng
Nobel của thế giới từ năm 1945 trở lại đây.
Đồng
Đô la của Mỹ vẫn là đồng tiền vua của quốc tế. Tất cả các nước đều giao dịch và
dự trữ chủ yếu bằng đồng USD. Trong tương lai chưa có đồng tiền nào có thể sẵn
sàng thay thế, kể cả đồng EURO của Liên minh châu Âu, nhất là trong tình trạng
tổ chức này đang ngập trong nợ công và hậu Brexit chao đảo.
Mỹ
có lượng dự trữ và sản xuất dầu khổng lồ, vàng đen trong mach máu kinh tế thế
giới. Mỹ đã vượt qua Ả Rập Saudi trở thành nhà sản xuất dầu lửa lớn nhất thế giới
và chắc chắn với công nghệ đột phá đá phiến trong năm tới, Mỹ sẽ trở thành nhà
sản xuất dầu, khí đốt tự nhiên nhiều và rẻ nhất thế giới.
Đó
là những số liệu và phân tích của những tổ chức có uy tín hàng đầu thế giới như
IMF mà tôi chỉ là người cóp nhặt lại. Tôi chỉ nói riêng trong lĩnh vực nông
nghiệp, vì tôi đã tìm hiểu khá sâu tình hình nông nghiệp ở bốn bang, lĩnh vực
có tỉ trọng khoảng 3% trong nền kinh tế Mỹ, lao động của họ chỉ chiếm 1% trong
tổng số dân với 2.109.363 trang trại, trung bình mỗi trang trại 174 ha. Vậy mà
tính đến năm 2014, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp là trên 400 tỉ USD. Xuất
nhập khẩu đứng đầu thế giới, chiếm 18% thị phần thương mại nông sản toàn cầu,
tăng 33% so với năm 2007. Thu nhập bình quân của một công nhân nông nghiệp khá
cao, khoảng 61.000 USD/năm.
Người
ta phải nói chuyện với những người nông dân Mỹ có trình độ đại học, tận mắt xem
họ điều khiển các loại máy móc cày bừa, gieo trồng, tưới tiêu, vắt sữa, chế biến;
phải tận mắt đến các trang trại, nhìn thấy trang trại của một gia đình nông dân
rộng như cả một hợp tác trong thời hợp tác hóa của xóm làng Việt Nam ngày trước,
người ta mới thấy hết thế nào là sản xuất lớn, thế nào là công nghiệp hóa nông
nghiệp, thế nào là kinh tế trang trại, thế nào công nghệ sinh học-nông nghiệp.
Những cánh đồng cỏ bát ngát, những trang trại hoa quả hàng chục ngàn cây, hàng trăm
ngàn cây; những cánh đồng ngô, đậu tương, bí, các loại rau quả phải đi mỏi rời chân;
những trang trại bò, cừu, dê, lợn hàng trăm, hàng nghìn con và những quĩ đất
còn bảo tồn hàng chục cây số… tất cả mới thấy người ta đã nói đúng là một nông
dân Mỹ có thể cung cấp đủ lương thực, thực phẩm nuôi 100 người Mỹ và 32 người
đang sinh sống tại các nước trên thế giới.
Không
kể đến việc nước Mỹ khởi nguồn một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức từ những
năm 70 của thế kỉ trước, nền kinh tế tương lai của nhân loại, nền kinh tế tạo
ra nguồn tài nguyên vô tận và đáp ứng mọi nhu cầu của nhân loại và dẫn dắt toàn
bộ thế giới đi theo nền kinh tế mới này (về điểm này toàn bộ nhân loại phải mang
ơn nước Mỹ), chỉ tính riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, tôi có cảm nhận rằng,
nước Mỹ không thể bị đánh bại trong cuộc cạnh tranh về kinh tế với những phần
còn lại của thế giới.
Nước
Mỹ vẫn sẽ là một siêu cường trong tương lai còn bởỉ vì, trong lịch sử Mỹ rất
coi trọng sự phát triển quân sự, đầu tư rất lớn vào quân sự và hiện tại cũng vậy.
Sau nội chiến, Mỹ xây dựng một đội quân mạnh theo truyền thống chung. Sau chiến
tranh thế giới lần thứ nhất Mỹ có một đội quân hùng mạnh nổi trội so với các cường
quốc. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai họ trở thành một đội quân hùng mạnh
hiện đại bá chủ, thống trị toàn cầu với những phương tiện và vũ khí tiên tiến
nhất. Tuy vậy, sau chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, nước Mỹ không còn là một
quân đội tiến hành chiến tranh theo kiểu truyền thống. Quân đội Mỹ tiến hành
các cuộc chiến tranh với vũ khí công nghệ cao, một kiểu chiến tranh hoàn toàn mới,
một cuộc chiến tranh từ xa với sự tham gia của các phương tiện và vũ khí, khí
tài hiện đại, chính xác, thông minh, giảm thiểu tới mức tối đa những thiệt hại
cho binh lính. Các cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũ, ở Afganistan, Irắc mới đây là
minh chứng rõ ràng. Và hiện tại quân đội Mỹ vẫn đang trong quá trình thay đổi
và phát triển hàng loạt chương trình nghiên cứu những phương tiện, vũ khí mới.
Theo
Businessinsider nhiều chương trình đã bước vào giai đoạn thử nghiệm và ứng dụng.
Có chương trình còn đang nghiên cứu nhưng những mục tiêu của chúng là vô cùng
tham vọng và vượt trước thời đại rất xa. Đó là những phương tiện và vũ khí tạo
ra cuộc cách mạng tác chiến trong chiến tranh cho cả bộ binh lẫn không quân và
hải quân. Đó là những phương tiện tàu không gian trinh sát tối mật, thiết bị
giúp binh lính leo trèo như tắc kè, hệ thống hỗ trợ trên không ngay tức thời,
súng tự tính toán khoảng cách, rô bốt tự vận chuyển, rô bốt tấn công mọi địa
hình, xe tăng không người lái, vũ khí lazer từ bắn tỉa của bộ binh đến vô hiệu
hóa tên lửa phòng không dùng trên mặt đất, trên biển, trên không, pháo ray điện
từ bắn đạn liên thanh hay pháo lazer năng lượng cao… Đó là chưa kể đến những
phương tiện, vũ khí bí mật chưa được Mỹ được công bố.
Hải
quân Mỹ được đánh giá là lực lượng tác chiến hàng đầu thế giới. Để duy trì lợi
thế trước các đối thủ như Nga và Trung Quốc, nhiều phương tiện và vũ khí làm
thay đổi tác chiến hải quân vốn đã tiên tiến nhất thế giới, Mỹ đã đưa vào sử dụng
tàu sân bay thế hệ mới USS Gerrald R. Ford. Kế hoạch trong thời gian tới Mỹ
đóng 10 chiếc. Trị giá mỗi chiếc là 13 tỉ USD. Tàu sân bay này mạnh hơn cả tiềm
lực quốc phòng của một quốc gia. Nó có tới gần một trăm máy bay phản lực tàng
hình và các máy bay do thám không người lái. Tàu có hệ thống tác chiến điện tử
vô đối, pháo lazer, pháo ray điện từ cùng với các loại vũ khí của tương lai để
chống tên lửa chống hạm, tên lửa hành trình như kiểu của Nga và Trung quốc đã
có và đang thử nghiệm. Nó có thể diệt các mục tiêu như máy bay, tầu chiến trong
phạm vi vài km đến vài trăm km.
Trong
các loại kể trên, đáng chú ý nhất là pháo ray điện từ đã hoàn tất giai đoạn thử
nghiệm và bắt đầu đưa vào sử dụng. Pháo có thể bắn xa như tên lửa, tốc độ gấp 7
lần âm thanh (8.575km/h). Loại pháo này bắn đạn không đầu nổ, một khối kim loại
chỉ nặng vài kg có thể phá hủy mọi mục tiêu, giá thành rất thấp so với các loại
tên lửa hiện tại. Loại pháo này có tầm bắn 160 km với tốc độ siêu thanh cực kì
lợi hại trong tấn công và phòng thủ…
Đêm
đã về khuya, tôi đi bộ dọc theo đường phố Lonmont vô cùng bình yên trong dòng người,
một thành phố nhỏ không được người ta chú ý đến thuộc bang Colorado, thành phố
cao hơn mặt nước biển 1000 m. Trời se lạnh, nhưng trong ánh đèn điện, những căn
biệt thự xinh đẹp, lộng lẫy hai, ba tầng cùng với những thảm cỏ xanh mướt, những
hàng cây cổ thụ, những vườn hoa nở rực rỡ khiến tôi không thể rời mắt và không
muốn trở về nhà ngủ. Thỉnh thoảng những quả pháo của các gia đình lại bắn nổ,
tung ánh sáng lung linh lên bầu trời… Một quốc gia đa sắc tộc nhưng người dân lại
rất có ý thức về ngày quốc khánh của đất nước mình. Tôi bắt đầu hiểu, cho đến tận
ngày hôm nay, rất, rất nhiều người, có thể nói là số đông trong số một triêu sinh viên của tất cả các nước
trên thế giới đều muốn sau khi tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở lại Mỹ
làm việc và cống hiến cho nước Mỹ. Có rất nhiều lí do giữ chân họ ở lại, tôi không
trách họ về điều đó. Gạt những quan điểm về chính trị sang một bên, tôi tin rằng
với những gì nước Mỹ đã có trong quá khứ, hiện tại, tương lai họ vẫn sẽ là một
siêu cường không có đối thủ cạnh tranh trong rất nhiều năm nữa.
Đằng sau Shangri-la 15
Hội
nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á, còn gọi là Đối thoại thoại Shangri-la, là một
diễn đàn an ninh liên chính phủ được tổ chức hàng năm bởi một tổ chức cố vấn độc
lập- Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế và Chính phủ Singapore phối hợp tổ chức.
Đối
thoại Shangri-la (tên khách sạn nơi tổ chức đối thoại) lần đầu tổ chức vào năm
2002, thu hút 161 đại biểu từ 22 quốc gia. Diễn đàn năm nay là lần thứ 15, thu
hút 602 đại biểu từ 35 quốc gia, trong đó có 30 lãnh đạo quốc phòng cùng hơn
2000 nhân viên hỗ trợ.
Đối
thoại là nơi các quốc gia trao đổi những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan
tâm, là nơi nuôi dưỡng ý thức cộng đồng trong hoạch định chính sách quan trọng
về quốc phòng và an ninh trong khu vực. Cũng nhân dịp này các đoàn đại biểu đã
tận dụng thời gian gặp gỡ song phương để trao đổi những vấn đề cùng quan tâm. Diễn đàn còn có sự tham gia của những nhà lập
pháp, chuyên gia khoa học, nghiên cứu, các nhà báo.
Chủ
đề chính tại Đối thoại Shangri-la năm nay gồm có 3 vấn đề:
Thứ
nhất là khủng hoảng hạt nhân Bắc Triều Tiên.
Thứ
hai là căng thẳng Biển Đông.
Thứ
ba là an ninh liên quan đến di dân, an ninh mạng, chống khủng bố và hợp tác quốc
phòng.
Theo
các nhà quan sát trong và ngoài nước, mặc dù chủ đề của Đối thoại Shangri-la
năm nay có ba vấn đề như trên nhưng bao trùm và thu hút sự chú ý chung thì có bốn
điểm. Đó là: 1, Biển Đông thống trị diễn đàn. 2, Từ “nguyên tắc” được nhiều quốc
gia nhắc đến nhiều nhất, riêng Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter trong bài
phát biểu của mình đã nhắc đến từ này đến 24 lần. 3, Trung Quốc là quốc gia bị
hầu hết các nước và các nhà báo bủa vây, chỉ trích về lập trường bành trướng ở
Biển Đông. 4, Mâu thuẫn Mỹ-Trung đặc biệt căng thẳng.
Theo
ý kiến cá nhân tôi, cả bốn điểm nhấn trên tựu trung lại chỉ xoay quanh một vấn
đề Biển Đông mà tác nhân gây ra căng thẳng chính là sự bành trướng của Trung Quốc.
Trong đó có việc Trung Quốc đã đánh chiếm các đảo; cố tình áp dụng, diễn giải
sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển UNCLOS năm 1982; vi phạm chủ quyền, quyền
chủ quyền, quyền tài phán, vùng đặc quyền kinh tế, những lợi ích hợp pháp của Việt
Nam và nhiều quốc gia ASEAN. Trung Quốc cải tạo các thực thể đá, quân sự hóa
các thực thể đó trở thành các căn cứ quân sự nhằm hiện thực hóa đường chín đoạn
(đường lưỡi bò), đe dọa hòa bình ổn định của khu vực, đe dọa tự do hàng hải, hàng
không theo luật pháp quốc tế.
Tôi
đã đề cập đến âm mưu và thủ đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông ở một số bài viết
trong Blog này nên không nhắc lại vấn đề này, và chủ đề bài viết là Shangri-la
15 nên tôi không muốn để sa đà vào việc
thuật lại những âm mưu và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trong những năm
qua. kết luận lại là thủ phạm làm leo thang căng thẳng ở Biển Đông từ trước đến
nay là chủ nghĩa dân tộc Đại Hán mà Bắc Kinh đang theo đuổi, thể hiện thông qua
đường chín đoạn. Shangri-la năm nay lại nằm trong bối cảnh Tòa Trọng tài Liên Hợp
Quốc sắp ra phán quyết; nếu phán quyết
các thực thể mà Trung Quốc đã đánh chiếm không có lãnh hải và vùng đặc quyền
kinh tế, hoặc có lãnh hải nhưng không có vùng đặc quyền kinh tế thì sẽ đập tan
cơ sở pháp lí đối với yêu sách bên trong đường chín đoạn. Chính vì thế
Shangri-la năm nay không phải là vấn đề của riêng ai.
Xưa
nay Bắc Kinh chỉ muốn giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông qua đàm phán song
phương để dễ bề lấn lướt, ép các nước, nhưng cho đến bây giờ điều này đã hoàn
toàn vượt tầm kiểm soát, tính toán của họ. Vấn đề Biển Đông đã hoàn toàn quốc tế
hóa, đó là sự thật không thể đảo ngược. Trong Tuyên bố chung của G7 mở rộng, tình
hình Biển Đông đã được đề cập với sự quan ngại sâu sắc về lập trường bành trướng
của Bắc Kinh. Tòa án Trọng tài Thường trực Liên Hợp Quốc (PCA) ở Hà Lan sắp ra
phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc về đường chín đoạn vào đầu tháng Bẩy.
Tuyên bố chung của Hội nghị đặc biệt các ngoại trưởng ASEAN tại Vân Nam bị
Trung Quốc ép không được công bố bất chấp danh dự và quy tắc ngoại giao nước chủ
nhà.
Có
lẽ qua Đối thoại Shangri-la cộng đồng quốc tế và ASEAN đã “bày tỏ sự quan ngại
sâu sắc về những diễn biến phức tạp gần đây và đang diễn ra ở Biển Đông, nhất
là việc bồi đắp, tôn tạo và xây dựng quy mô lớn các bãi đá, quân sự hóa các đảo
nhân tạo và các hành động khẳng định chủ quyền không dựa trên luật pháp quốc tế”.
Trước tình hình phức tạp, các bộ trưởng đã “đề nghị ASEAN và Trung Quốc thể hiện
quyết tâm chính trị và nỗ lực hơn nữa để đảm bảo hòa bình và an ninh ở Biển
Đông, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”… Mặc dù còn có những
khác biệt, nhưng ASEAN đã tỏ ra đoàn kết và không nhượng bộ trước thái độ chiếu
trên của Trung Quốc.
Về
phía Việt Nam, tôi nghĩ có lẽ đây là Shangri-la đầu tiên Việt Nam đã thể hiện lập
trường cứng rắn của mình về Biển Đông. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh trưởng đoàn
tham dự Shangri-la tuyên bố tình hình Biển Đông “càng căng thẳng phức tạp việt
Nam càng phải quyết tâm giữ vững độc lập, chủ quyền”. Tướng Vịnh khẳng định Việt
Nam kiên trì cuộc đấu tranh với Trung quốc đồng thời cũng nhấn mạnh tinh thần hợp
tác với Trung quốc, đấu trang và hợp tác cũng như hợp tác và đấu tranh để bảo vệ
nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
năn 1982. Cũng tại đối thoại này, trước những câu hỏi của báo chí về việc Mỹ dỡ
bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, một lần nữa Tướng Vịnh khẳng định
đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Và tuyên
bố Việt Nam sẽ không liên minh với một nước nào để chống lại nước thứ ba.
Điều
đặc biệt trong Đối thoai Shangri-la 15, lần đầu tiên một số nước phương Tây,
trong đó có Bộ trưởng quốc phòng Anh, Pháp, Canada có những tuyên bố mạnh mẽ sẽ
tham gia tuần tra ở Biển Đông và kêu gọi Liên minh châu Âu tham dự tuần tra
chung với Mỹ ở Biển Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Anh Michael Fallon và người đồng
cấp Pháp Jean Yves Le Drian đã nói châu Âu có lợi ích chính trị tại khu vực
châu Á-Thái Bình Dương, họ quan tâm tới luật pháp quốc tế và tự do hàng hải.
Người
Anh nhắc tới thỏa thuận phòng thủ 5 bên gồm Anh, Úc, New Zealand, Malaisia,
Singapore cùng với căn cứ ở Brunei. Người Pháp nhắc tới các đảo của mình nằm giữa
Thái Bình Dương và các đảo trên Ấn Độ Dương. Cả hai bộ trưởng quốc phòng Anh,
Pháp đều khẳng định kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á-Thái Bình
Dương. Bộ trưởng Quốc phòng Pháp còn kêu gọi sự hiện diện “thường xuyên và rõ
ràng” tại khu vực. Ông nói: “Nếu chúng ta muốn kiềm chế nguy cơ xung đột, chúng
ta phải bảo vệ các nguyên tắc”. Theo ông “Nếu luật biển không được tôn trọng tại
các biển gần Trung Quốc thì sau này nó sẽ bị đe dọa ở Bắc Cực, Địa Trung Hải
hay ở nơi khác. Rõ ràng xu hướng đấu tranh đòi Trung Quốc tôn trọng luật pháp
quốc tế và các nguyên tắc, chuẩn mực chung đang trở thành một xu thế và trở
thành vấn đề quốc tế, không phải là vấn đề riêng của Bắc Kinh với các nước có
tranh chấp chủ quyền, bất chấp mọi âm mưu thủ đoạn tinh vi và trắng trợn của Bắc
kinh nhằm biến Biển Đông thành ao nhà của mình.
Tính
quốc tế nằm ngay ở bản chất đường chín đoạn phi lí và phi pháp do Trung Quốc tự
vẽ ra đè lên chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven
Biển Đông nhằm độc chiếm Biển Đông, kiểm soát một trong những tuyến đường giao
thông quan trọng nhất của thế giới. Do vậy nó có liên quan đến năm nước sáu
bên. Do vậy ASEAN ngày càng nhận rõ vai trò của mình, không vì một vài quốc gia
bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc mà né tránh vấn đề. Cũng do vậy cộng đồng quốc tế
ngày một quan tâm. Các nước lớn ngày càng can thiệp sâu hơn tới khu vực, thậm
chí tình hình Biển Đông có nguy cơ vượt khỏi tầm tay vai trò trung tâm của
ASEAN nếu tổ chức này không có được tiếng nói thống nhất với Trung Quốc.
So
với các Shangri-la trước, người ta nhận thấy giọng điệu của đoàn Trung quốc tỏ
ra mềm mỏng một cách bất thường. Tôi cho rằng họ nghĩ mình đã đạt được một số mục
tiêu trên thực địa, nên cố nhẫn nhục tỏ ra mình là nạn nhân “chịu đòn”. Đô đốc Tôn
Kiến Quốc, đại diện cho Trung Quốc cố gắng giải thích việc làm của họ ở trên Biển
Đông là “chính đáng, hợp pháp và hợp lí”. Trung quốc không có dấu hiệu thỏa hiệp
nào. Họ phủ nhận những chỉ trích của các nước và cho rằng họ không có vấn đề gì
ở Biển Đông. Họ đổ vấy cho Mỹ mới là tác nhân xúi giục và quân sự hóa Biển
Đông. Họ ngang ngược tuyên bố Trung Quốc “không gây rối và cũng không sợ ai gây
rối”. Họ tỏ rõ việc không tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, đặc biệt
là không chấp nhận phán quyết do Tòa Trọng tài Thường trực sắp đưa ra và công
khai ý đồ thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông nếu nhận
thấy “các mối đe dọa đi quá giới hạn”.
Như
vậy là không chỉ có Mỹ và các nước đồng minh sẽ phải tính toán những biện pháp
phản ứng phù hợp với những hành động phiêu lưu của Trung Quốc sau phán quyết của
Tòa án Trọng tài Thường trực Liên Hợp Quốc sắp tới, mà tất cả các thành viên
ASEAN, đặc biệt là Việt Nam phải chuẩn bị những cách thức đối phó với nguy cơ của
chủ nghĩa bành trướng quân phiệt. Tôi tin rằng trong thời gian ngắc hạn, Bắc
kinh chưa thay đổi lập trường và cách hành xử thô bạo, xô vanh nước lớn. Quan
điểm của họ ở Shanri-la là một minh chứng cho việc họ sẵn sàng đối đầu với khu
vực và quốc tế trong vấn đề Biển Đông.
Nếu
như Biển Đông là đề tài bao trùm lên Shangri-la 15 thì mâu thuẫn Mỹ Trung trở
thành một tâm điểm. Ngày 4 tháng 6 Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã có
bài phát biểu dài hơn hai mươi phút khai mạc phiên thảo luận “Đối phó với các
thách thức an ninh phức tạp của châu Á”. Ông Carter tiếp tục cam kết có mặt tại
khu vực châu Á-Thái Bình Dương và nhấn mạnh tầm quan trọng của một trật tự khu
vực dựa trên luật pháp quốc tế, liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông. Ông
cho rằng những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đang “xây dựng bức trường
thành tự cô lập” trước khu vực đang hợp tác và gắn kết với nhau.
Cũng
trong bài phát biểu, Bộ Trưởng Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh Mỹ tiếp tục bay, di chuyển
và hoạt động ở bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép, trong đó có Biển
Đông. Ông cũng kêu gọi các nước trong và ngoài khu vực có thể làm theo cách thức
Mỹ đã và đang làm. Ông cho rằng “chỉ khi tất cả mọi người đều cùng tuân thủ một
nguyên tắc, chúng ta mới có thể tránh các sai lầm của quá khứ giống như khi các
quốc gia thách thức lẫn nhau bằng sức mạnh và ý chí, gây ra những hậu quả tàn
khốc cho khu vực trước đây”. Ông Carter muốn ám chỉ các cuộc chiến tranh lớn
trước đây ở khu vực đều có “bàn tay” của Bắc Kinh. Trung Quốc cần phải thận trọng
và kiềm chế.
Đặc
biệt trong bài phát biểu của mình, ông Carter tuyên bố Mỹ đang xây dựng một mạng
lưới an ninh tập thể (collective security network) mới, dựa trên những nguyên tắc
và chuẩn mực chung. Đây chính là một nét đáng chú ý nhất trong toàn bộ bài phát
biểu, một vấn đề cực kì quan trọng vì bản chất của mạng lưới này là An ninh Tập
thể. Nó có thể ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường ổn định của khu vực. Nó đặt ra
một cách thức tiếp cận mới cho các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam, tiếp
cận với một xu hướng mới trong việc bảo vệ đất nước?
Theo
những điều tôi hiểu trong bài phát biểu thì mạng lưới an ninh tập thể mới, dựa
trên những nguyên tắc và chuẩn mực chung được Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đưa ra
ngày 4 tháng 6 tại Shangri-la 15 là một khái niệm bao quát mà nội dung cơ bản
là mạng lưới an ninh tập thể của châu Á, không giống như NATO của châu Âu, nó
là một tập hợp những cơ chế song phương, ba bên, đa phương trong khu vực tập
trung vào việc giữ gìn những giá trị cốt lõi và thúc đẩy chia sẻ các cơ sở hậu
cần, chia sẻ gánh nặng giữa các quốc gia tham gia.
Thực
ra khái niệm mạng lưới an ninh mới đã được chính Bộ trưởng Carter đề cập đến ở
Shangri-la năm trước. Tuy nhiên các nước và giới quan sát không quan tâm nhiều
đến nó vì từ trước đến nay, các nước châu Á không có truyền thống hình thành hệ
thống an ninh tập thể như kiểu của châu Âu. Họ quen thuộc với các hiệp ước song
phương theo kiểu Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn, Mỹ-Philippines. Nhưng chính tình hình xung đột
ở châu Á, đặc biệt là tình hình căng thẳng ở Biển Đông cùng với tầm nhìn rõ
ràng mang tính tích cực, tính định hướng cho tương lai mà ông Carter đã nêu ra
trong Shangri-la lần này được dư luận các nước đặc biệt quan tâm và chú ý. Hơn
nữa các nước nằm trong khối ASEAN tiềm lực kinh tế và quốc phòng đều rất dễ bị
tổn thương trước một Trung Quốc đầy tham vọng. Họ đã, đang và sẽ là mục tiêu bị
gặm nhấm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và những lợi ích kinh tế
chính đáng. Họ không thể không suy nghĩ theo hướng tiếp cận mà Mỹ đã khởi xướng.
Họ tin Mỹ chứ không tin Trung Quốc.
Khái
niệm mạng lưới an ninh tập thể mới là sự kết hợp giữa các nguyên tắc cốt lõi mà
Mỹ tin rằng sẽ đoàn kết các nước trong khu vực. Đó là chủ quyền, quyền tự quyết,
giải quyết hòa bình các tranh chấp, tự do hàng hải, hàng không… Mạng lưới này sẽ
tạo ra triển vọng các quốc gia phối hợp cùng với nhau có hiệu quả hơn trước các
thách thức truyền thống và phi truyền thống. Khả năng này thể hiện việc Mỹ ủng
hộ các quốc gia cũng như cách nhìn nhận về sự phát triển của châu Á-Thái Bình
Dương. Trong đó các quốc gia sẽ thể hiện vai trò lớn hơn trong khu vực, đồng thời
xây dựng các mối quan hệ để giải quyết các thách thức.
Theo
tôi, trên thực tế Mỹ đã xây dựng mạng lưới an ninh này từ trước đây, đặc biệt
là từ năm 2012 trở lại đây gắn liền với việc xoay trục về châu Á nhằm thúc đẩy
việc chia sẻ gánh nặng an ninh của Mỹ cùng với các nước đồng minh và các đối
tác. Từ sáng kiến liên kết Mỹ-Nhật-Ấn, Mỹ-Nhật-Úc cho đến sự phối hợp ba bên Mỹ-Thái-Lào,
Mỹ đang cố gắng xây dựng mạng lưới bao gồm các biện pháp được tiến hành bởi các
quốc gia trong khu vực như Úc-Ấn-Nhật hay các sáng kiến đa phương như Hội nghị
Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+)… Như vậy là Mỹ sẽ duy trì an ninh
qua việc giữ gìn môi trường ổn định châu Á-Thái Bình Dương bằng chính sức mạnh
vượt trội của mình và thông qua hợp tác với các đồng minh truyền thống, thông
qua các đối tác trong khu vực.
Mạng
lưới an ninh tập thể mới, dựa trên các nguyên tác và chuẩn mực chung của Mỹ nêu
ra trong Đối thoại Shangri-la 15 có thể đem lại hòa bình hay không, theo tôi vẫn
còn là một ẩn số. Suy cho cùng đó là một dạng tập hợp lực lượng của Mỹ, sự đa dạng
hóa cách thức duy trì an ninh khu vực ở châu Á- Thái Bình Dương nói chung và ở
Biển Đông nói riêng, nhằm kiềm chế Trung Quốc. Vì vậy cảnh báo của Bộ trưởng Quốc
phòng Carter Trung Quốc đang dựng lên một bức tường tự cô lập không phải là
không có cơ sở. Và việc Việt Nam chúng ta
tính đến, có nên tham gia vào mạng lưới an ninh tập thể do Mỹ đứng đầu,
hoăc tham gia với một hình thức như thế nào đó để bảo vệ chủ quyền đất nước có
lẽ cũng không phải là không có cơ sở.
Đối
thoại Shangri-la đã khép lại, các nhà nghiên cứu và bình luận trong và ngoài nước
còn có những đánh giá trái chiều như các nước trong đó có việc Việt Nam đã bỏ lỡ
cơ hội đối thoại và tranh luận về cách diễn giải UNCLOS, làm sáng tỏ những hành
vi leo thang quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông và việc bảo vệ pháp luật quốc
tế, bảo vệ UNCLOS và phán quyết của Tòa Trọng tài Liên Hợp Quốc sắp tới… Tôi
cho rằng các ý kiến trái chiều đó đều đúng, nhưng thời gian quy định dành cho
các nước là có hạn. Vả lại chủ đề Shangri-la đâu chỉ có xoay quanh chuyện về Biển
Đông. Tôi tin rằng sau Shangri-la và tiếp theo là sau phán quyết của Tòa Trọng
tài trong tháng Bẩy, các nước trong đó có Việt Nam sẽ có những bước đi thích hợp,
tiếp tục đấu tranh lên án việc cải tạo và việc quân sự hóa các thực thể; đặc biệt
là việc bác bỏ yêu sách chủ quyền lịch sử phi lí về đường chín đoạn để bảo vệ
chủ quyền, quyền chủ quyền, những lợi ích hợp pháp của mình cũng như bảo vệ,
hòa bình, ổn định khu vực và luật pháp quốc tế.
Về chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam
Đã
lâu trong đời sống chính trị Việt Nam tôi mới thấy có một chuyến thăm của một
nguyên thủ quốc gia nước ngoài được đông đảo dư luận quan tâm quan tâm đến như
vậy. Không chỉ có giới chính trị, những nhà nghiên cứu, giới truyền thông trong
ngoài nước mà ngay cả những người lao động, những người dân bình thường, những
người ít quan tâm đến chính trị ở các vùng nông thôn hẻo lánh cũng chờ đón,
theo dõi, bàn luận.
Sự
kiện này không chỉ thu hút sự quan tâm chú ý của lớp người đã luống tuổi, sống
qua hai cuộc kháng chiến, những người mới về hưu, những người đang làm việc ở
các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp mà còn thu hút sự quan tâm chú ý của đông đảo lớp
trẻ, bao gồm cả những thanh niên mới bước vào các trường cao đẳng, đại học và
trường nghề. Có không khí chung gì đó mà người ta ai cũng háo hức mong chờ. Trên
các trang mạng xã hội tràn ngập những lời nhận xét bình luận. Thật hiếm có một
chuyến thăm của một nguyên thủ quốc gia nào lại dành được đầy đủ các cung bậc
tình cảm của nhiều người dân Việt Nam đến thế.
Tôi
nghĩ rằng không phải hoàn toàn vì Tổng thống Barack Obama là tổng thống của một
siêu cường nên được người dân ưu ái. Cái tình cảm đặc biệt này tôi đã trải nghiệm
một vài lần. Vào đầu những năm 2000, trong chuyến thăm của Tổng thống Nga
Putin, người dân Việt Nam đã dành cho ông biết bao tình cảm trìu mến, sự kính
trọng và cả sự hi vọng về nước Nga, mối quan hệ Việt-Nga, nhà nước thừa kế Liên
bang Xô Viết thủa nào.
Tôi
nghĩ với Tổng thống Obama người dân Việt Nam cũng có những cảm nghĩ tương tự
như vậy, không phải vì ông là người đứng đầu một siêu cường có khả năng chi phối
đời sống chính trị quốc tế. Nếu so sánh với chuyến thăm Việt Nam của Tổng bí thư,
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cập Bình, một chuyến đi nhạt nhòa, dân tình không chào
đón, không quan tâm chú ý, có chăng chỉ là những lời xì xào bàn tán; mặc dù ông
ta là người có quyền lực nhất quốc gia gần một tỉ tư người, một quốc gia có nền
kinh tế lớn thứ hai thế giới, một cường quốc đang hung hăng trỗi dậy với “giấc
mơ Trung Hoa vĩ đại”. Thế mới biết người dân có cách đánh giá riêng của họ về
chân giá trị của một nhà lãnh đạo.
Tôi
không muốn nói đến nhân cách, chỉ nói đến nụ cười rạng ngời quen thuộc, cách ứng
xử của ông với gia đình chủ nhà hàng bán bún chả ở phố Lê Văn Hưu, tháo nhẫn bắt
tay mọi người ở trong quán ăn, giơ tay chào thân thiện đáp lại tiếng vỗ tay reo
hò của người dân Hà Nội; chỉ nói đến bài phát biểu đầy xúc đông của ông tại
Trung tâm Hội nghị Quốc gia, trích dẫn Kiều của Nguyễn Du và việc ông trích lời
bài hát trữ tình của Văn Cao, Trịnh công Sơn; chỉ nói đến việc ông đi chân trần
vào thăm chùa Ngọc Hoàng, hỏi đáp bình đẳng cùng các nhà doanh nghiệp trẻ… Tất
cả đối với người Việt đều gần gũi, sâu sắc và tinh tế. Cho dù không được bắt
tay, được nghe ông nói nhưng hàng nghìn người vẫn đội mưa đứng đợi để có cơ hội
tận mắt trông thấy ông. Đó là một thứ tình cảm nồng nhiệt hoàn toàn tự nhiên, không
thể mua được.
Riêng
cá nhân tôi đang ở Mỹ, còn được chứng kiến những quan điểm, tình cảm, nguyện vọng
của Việt kiều, của đông đảo sinh viên Việt Nam đang theo học tại Mỹ với nhiều
mong muốn khác nhau về chuyến thăm của Tổng thống Obama tới Việt Nam. Đa số đều
cảm nhận được chuyến thăm này là một dấu mốc, là một bước ngoặt lịch sử trong mối
quan hệ Việt Mỹ. Và họ đều hi vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước
và cho bản thân. Mặc dù còn một số người trong bộ máy chính quyền ngụy quyền cũ
trước năm 1975 vẫn thể hiện thái độ thù địch, hằn học với chính quyền hiện tại,
nhưng nhìn chung họ phải thừa nhận sự thay đổi, sự phát triển, xu thế hội nhập
và vị thế không thể đảo ngược của đất nước. Nhiều người trong số họ đã tính
chuyện quay trở về đất nước để làm ăn.
Tôi
đã đề cập đến quan hệ Việt Mỹ ở một số bài viết trong blog này, từ cái khởi điểm
ban đầu, thời kì bao vây cấm vận đến việc bình thường hóa quan hệ vào tháng 7
năm 1995, cho đến chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai bên xác
lập quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên Hợp
Quốc, tôn trọng thể chế chính trị, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
Trước
khi bình luận sự kiện Tổng thống Obama đến Việt Nam tôi cho rằng cần phải quay
lại chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới thăm Mỹ nhân kỉ niệm
hai mươi năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước vào năm trước. Bởi vì
nếu không có chuyến thăm này, có thể không có chuyến thăm của Tổng thống Mỹ, hoặc
nếu có thì chưa chắc đã có được sự mến mộ của người dân cũng như có được sự
thành công tốt đẹp của cả hai phía như dư luận đã đề cập. Đại sứ Mỹ tại Việt
Nam Ted Osius đêm 22 tháng Năm đã tiết lộ với một số người rằng chính chuyến
thăm Mỹ rất thành công của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khiến Tổng thống
Obama quyết định có chuyến thăm Việt Nam vào dịp này.
Chuyến
thăm của Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu
tháng 7, 2015 diễn ra vào thời điểm quan trọng khi hai nước kỉ niệm 20 năm bình
thường hóa quan hệ, 40 năm kết thúc chiến tranh và thống nhất đất nước Việt
Nam. Chuyến thăm lịch sử này đánh dấu tiền lệ chưa từng có, một chương mới trong
quan hệ song phương Việt Nam và Hoa kì.
Trong
quan hệ giữa hai nước cựu thù, tuy trước đó đã có nhiều chuyến thăm của các
nguyên thủ quốc gia Việt Nam tới Mỹ, nhưng chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đến
Mỹ. Việc mời và đón một tổng bí thư của một Đảng Cộng sản nước ngoài là một
chuyện hiếm có trong lịch sử. Nếu người viết không nhầm thì từ cuối những nững
năm 1980 trở lại đây chỉ có ba nhân vật là Gorbachov, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận
Bình được Mỹ đón tiếp, nhưng cả ba người đều đóng vai với tư cách là tổng thống
và chủ tịch nước. Còn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không giữ cương vị gì trong
chính quyền.
Tuy nhiên nước Mỹ đã đón tiếp Tổng Bí thư với
nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia. Đích thân Tổng thống Barack
Obama đã đón tiếp là làm việc với Tổng Bí thư tại Nhà Trắng, họp báo và ra
tuyên bố về Tầm nhìn chung quan hệ Việt-Mỹ. Nhân dịp này, Thượng Nghị sĩ John
McCain, người thay mặt cho Thượng viện Mỹ đã phát biểu: “Chuyến thăm này thể hiện
sức mạnh đang lên của quan hệ đối tác Việt Nam Hoa kỳ khi chúng ta kỉ niệm lần
thứ 20 bình thường hóa quan hệ hai nước”.
Tuyên
bố về Tầm nhìn chung Việt-Mỹ đã ghi nhận những bước phát triển tích cực trên
nhiều lĩnh vực hợp tác trong hai mươi năm, nhất là về hợp tác kinh tế và thương
mại, hợp tác trong việc xử lí các vấn đề hậu quả chiến tranh cũng như trong
khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, quyền con
người và tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế trên những vấn đề cùng quan tâm.
Tuyên
bố về Tầm nhìn chung cũng ghi nhận nhiều thành tựu có ý nghĩa kể từ khi xác lập
quan hệ Đối tác Toàn diện Việt-Mỹ năm 2013 về thương mại, đầu tư song phương, hợp
tác sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình; đặc biệt Mỹ đã dỡ bỏ một
phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương; Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ Quốc
phòng; hợp tác trong những vấn đề khu vực và đa phương…
Có
được những thành tựu đó là do hai bên đã cùng có những nỗ lực mang tính xây dựng
nhằm vượt lên trên quá khứ, khắc phục những khác biệt, thúc đẩy những lợi ích
chung để hướng tới tương lai. Trên cơ sở đó hai bên xác định làm sâu sắc quan hệ
đối tác lâu dài; tăng cường hợp tác trên các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Tóm
lược nội dung tuyên bố thì như vậy, nhưng thực tế để đạt được những thành tựu
“phát triển như tên lửa” giữa hai cựu thù là cả một vấn đề. Mỹ có hội chứng Việt
Nam ở Mỹ. Việt Nam có hội chứng của Mỹ ở Việt Nam. Là người lính và có điều kiện
đi thực tế với đồng đội sau chiến tranh khá nhiều, người viết hiểu những đau
thương mất mát mà mấy chục năm đằng đẵng mà người Việt phải chịu, nên không dễ gì
hai nước vượt qua được những trở ngại để đến
với nhau, chứ chưa nói gì đến đạt được những thành tựu mà tuyên bố hai
bên đã nêu.
Suy
cho cùng thì dù là đường lối của Đảng sáng suốt với phương châm đa phương hóa,
đa dạng hóa, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước vì hòa bình và phát triển,
thì nó vẫn phải dựa trên một nền tảng đó là lòng dân. Người dân mới là cốt lõi,
nền tảng của bất kì hệ thống chính trị nào. Mối quan hệ Việt Mỹ phát triển chắc
chắn nó được thúc đẩy bởi chính người dân. Một minh chứng cho điều đó là Tổng
thống George Bush khi thăm Việt Nam có được người dân đón tiếp như Tổng thống
Obama đâu.
Có
rất nhiều yếu tố trong ngoài nước để lí giải về sự kiện này, nhưng rõ ràng có một
yếu tố là người dân phải có lòng tin về quan hệ giữa hai nước. Đã là niềm tin
thì phải xuất phát từ hai phía, nó cũng giống như trong tình bạn và tình yêu.
Không thể có sự cưỡng bức. Như vậy, chuyến thăm của Tổng Bí thư thể hiện đỉnh
cao về niềm tin trong hợp tác về chính trị vì lợi ích của hai quốc gia. Đồng thời
nó cũng là sự thừa nhận vị trí vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong bước đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Tôi
cho rằng, ở cấp nhà nước phải có niềm tin thì mới có chuyện về hợp tác về an
ninh quốc phòng, bởi vì an ninh quốc phòng luôn là lĩnh vực nhạy cảm trong quan
hệ, nó thể hiện mức độ gần gũi, tin cậy cao. Tại sao Việt Nam lại không mua hay
hợp tác sản xuất vũ khí cùng với Trung Quốc? Chắn hẳn mọi người đều có câu trả
lời của riêng mình.
Trước chuyến thăm của Tổng Bí thư, Bộ trưởng
Quốc phòng Mỹ có chuyến thăm Việt Nam. Hai bên đã kí Tuyên bố Tầm nhìn chung
trong quan hệ quốc phòng, một văn bản tổng hợp những nguyên tắc trong quan hệ
hai bên trên cơ sở những thỏa thuận của hai nhà nước. Thượng nghị sĩ John McCain,
Chủ nhiệm Uỷ ban Quân vụ của Thượng viện Mỹ, một cựu binh trong chiến tranh Việt
Nam, người đã ủng hộ mạnh mẽ việc Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận bán vũ khí
sát thương cho Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Kerry, một cựu binh ở Việt
Nam cũng đã đến Việt Nam nhiều lần. Rất nhiều người trông chính giới Mỹ đều muốn
đưa mối quan hệ giữa hai nước bước vào một chương mới.
Báo
chí đã nói tới một hai nước lớn, bằng nhiều con đường đã bày tỏ sự quan ngại với
Việt Nam. Nhưng chúng ta có hợp tác với Mỹ để làm phương hại đến ai đâu. Chủ
trương đa phương hóa, đa dạng hóa đâu có loại trừ lĩnh vực quốc phòng. Chúng ta
đã công khai đường lối của chúng ta là Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy,
là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Cho nên tăng cường quan hệ
quốc phòng với Mỹ là để tự bảo vệ mình, góp phần vào hòa bình, ổn định chung của
khu vực. Chẳng quốc gia nào có quyền ngăn cấm và cũng không thể ngăn cấm được.
Đâu có chuyện như một nhà nghiên cứu nào đó đã từng nói “Tôi cứ quan hệ với Mỹ
thoải mái, nhưng anh đi một bước là tôi lo”.
Chuyến
đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phản ánh xu thế thực tế trong quan hệ quốc
tế là hợp tác và đối thoại. Chúng ta phải vì lợi ích của chính chúng ta, như thế
chúng ta mới đảm bảo được chính sách đối ngoại độc lập tự chủ. Tất nhiên trong
bối cảnh Mỹ chuyển hướng trọng tâm về Châu Á-Thái Bình Dương, chuyến đi không
khỏi có những ý kiến bàn tán và suy diễn rằng Việt Nam cũng đang chuyển động
theo cái trục đó. Chúng ta làm gì có đủ thế và lực để làm chuyện đó. Và chúng
ta cũng không có ý định đi với một nước để chống lại nước thứ ba. Chúng ta quan
hệ với tất cả các nước, với tất cả các trung tâm quyền lực vì chính quyền lợi của
chúng ta.
Trong
bối cảnh Trung Quốc ngày một hung hăng leo thang, quân sự hóa Biển Đông, chuyến
đi của Tổng Bí thư càng có ý nghĩa. Có nhà Nghiên cứu cho rằng, kết quả của
chuyến đi có khi phải mất hàng chục năm nữa chúng ta mới thấu hiểu hết ý nghĩa
sâu xa của nó. Chỉ biết rằng để phát huy kết quả tích cực, cần tránh những diễn
giải một chiều lệch lạc. Việt Nam không ảo tưởng vào Mỹ, không đi với Mỹ để có
thêm đồng minh chống lại ông đồng minh cũ, và cũng không làm một người lính
xung kích cho bất kì ai. Kết quả của chuyến đi phản ánh lợi ích nhu cầu của Việt
Nam và Mỹ, đương nhiên Việt Nam phải tính đến yếu tố xấu nhất để bảo vệ sự toàn
vẹn lãnh thổ.
Hơn
nữa, quan tâm đến khu vực Đông Nam Á đâu chỉ có Mỹ. Ấn Độ có chính sách hướng
Đông từ hàng chục năm nay. Họ không chỉ hướng đông mà còn hành động về phía
đông. Nhật Bản cũng coi Đông Nam Á là trọng tâm chiến lược của mình, cam kết ủng
hộ ASEAN về mọi mặt trong đó có an ninh, quốc phòng. Nga cũng đang quay trở lại
Đông Nam Á. Hội nghị Thượng đỉnh Nga-ASEAN vừa rồi là một nấc thang mới trong
quan hệ và Nga đã coi Việt Nam là một đối tác chiến lược quan trọng nhất. Và bản
thân ASEAN cũng muốn có sự tham gia của càng nhiều các nước lớn thì càng tốt.
ASEAN muốn giữ vai trò trung tâm để bảo vệ quyền lợi của tất cả các thành viên.
Chẳng lẽ Việt Nam không được quan hệ quốc phòng với tất cả những nước đó hay sao?
Tại sao lại phải phân biệt nước này nước khác?
Có
nhiều nước lớn quan tâm và cùng có lợi ích ở một nước, một khu vực đương nhiên
là phức tạp, thậm chí nếu xử lí không khéo lại trở thành bi kịch. Trung Đông, Bắc
Phi, Ucraina là minh chứng hùng hồn cho việc đó. Nhưng ở Việt Nam và Đông Nam Á
càng đan xen nhiều lợi ích của các nước lớn lại càng mang tính tích cực. Chúng
ta hiểu rất rõ điều này. Tại sao chúng ta lại không kết hợp sức mạnh của dân tộc
với xu hướng của các nước, của khu vực? Chúng ta không liên minh với Mỹ để chống
Trung Quốc nhưng không có nghĩa là không được quan hệ với Mỹ để tự bảo vệ mình.
Quay
trở lại với chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam, tôi hi vọng
trong chuyến đi này, ông sẽ mang đến cho Việt Nam hai “món quà” trước khi bàn đến
công việc của hai nước. Đó là dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương
cho Việt Nam và công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên
chỉ có một. Mặc dù thất vọng một chút nhưng tôi vẫn rất vui. Như thế cũng đủ rồi.
Vì ngay cả đến Trung Quốc, một nền kinh tế khổng lồ cũng có được EU và Mỹ công
nhận là nền kinh tế thị trường đâu. Sớm muộn chúng ta cũng sẽ được các nước
công nhận điều này.
Điều
quan trọng nhất là thực tiễn đã đem lại cái gì cho Việt Nam, cho Mỹ và cho người
dân hai nước. Người viết xin trích lại bài viết của Tờ New York Times, bài tổng
hợp đánh giá về mối quan hệ của những quan chức từng là cựu binh Mỹ tham chiến ở
Việt Nam để cho có cái nhìn hai chiều. Đó là Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, Thượng
nghị sĩ John McCain và Thượng nghị sĩ Bob Kerry- Chủ tịch Ban điều hành Đại học
Fulbright Việt Nam: “Trong thời điểm Tổng thống Mỹ Barack Obama thăm Việt Nam,
có lẽ chúng ta phải thừa nhận một thực tế rằng phần lớn người dân ở hai nước hiện
không còn nhiều kí ức về cuộc chiến tranh vốn đã cướp đi sinh mạng của hơn
58.000 người Mỹ và của hơn 1.000.000 người Việt Nam”.
Sau
khi nêu ra bốn bài học về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, những việc hai bên đã
làm được, bài báo viết tiếp: “ Hai mươi năm trước, chỉ có 60.000 nghìn người Mỹ
tới Việt Nam du lịch. Ngày nay con số này lên tới gần nửa triệu người. Hai mươi
năm trước, thương mại song phương chỉ đạt 450 triệu USD. Ngày nay con số này đã
gấp 100 lần. Hai mươi năm trước chỉ có 1000 sinh viên Việt Nam sang học Mỹ.
Ngày nay, Mỹ đang chào đón gần 19.000 sinh viên sang du học… Khó có thể tưởng
tượng Mỹ và Việt Nam sẽ hợp tác trong các vấn đề về an ninh. Mỹ sẽ giúp Việt
Nam xây dựng một trung tâm huấn luyện cho quân đội Việt Nam ở ngoại ô thủ đô Hà
Nội… Hướng tới tương lai, chúng tôi biết lợi ích chung, hơn tất cả, sẽ chỉnh hướng
cho quan hệ của chúng tôi với Việt Nam. Tuy nhiên, mối quan hệ sẽ càng được củng
cố bởi những gắn kết tự nhiên giữa hai xã hội. Nó sẽ bao gồm mối quan hệ gắn kết,
thái độ lạc quan, một mong muốn mãnh liệt cho tự do và độc lập, cũng như nhận
thức rõ ràng rằng hòa bình luôn là giải pháp tốt nhất, thay vì chiến tranh”.
Chuyến
thăm của Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam diễn ra trong bối cảnh căng thẳng,
có thể nói là sự đối đầu chiến lược giữa một siêu cường với một cường quốc đang
đi lên với tham vọng muốn thay đổi trật tự thế giới sau chiến tranh Lạnh, đặc
biệt là mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc xây dựng chiến lược quân sự chống
tiếp cận (A2/AD) nhằm chọc thủng chuỗi đảo thứ nhất, phá vỡ sự phong tỏa của Mỹ
và đồng minh ở khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á; nỗ lực tăng cường quân sự hóa ở
Biển Đông, cải tạo các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã chiếm của Việt Nam vào năm
1974 và năm 1988 bằng vũ lực, biến nó thành bức vạn lí trường thành; thực hiện
mưu đồ độc chiếm Biển Đông, nhằm đẩy Mỹ ra khỏi khu vực, ngăn chặn ảnh hưởng của
Nhật bản, Ấn Độ, Nga; ép nhiều nước Đông Nam Á phải nhượng bộ về chủ quyền và lệ
thuộc vào Trung Quốc.
Đáp
lại Mỹ thực hiện chiến lược xoay trục về Châu Á-Thái Bình Dương, chuyển 60% lực
lượng quân sự, đặc biệt là lực lượng không quân và hải quân; xây dựng Chiến lược
Tác chiến trên không-trên biển (ASB); thắt chặt khối liên minh Mỹ-Hàn-Nhật-Philipines-Astrailia,
tăng cường hợp tác quân sự với Ấn Độ, tăng cường quan hệ với ASEAN nhằm thống
nhất hành động về kinh tế và nâng cao năng lực an ninh quốc phòng với khu vực,
định hướng hợp tác với ASEAN thông qua cuộc họp Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở
Sunnyland …
Chuyến
thăm của tổng thống Mỹ tới Việt Nam không ngoài mục đích tăng cường quan hệ Mỹ-
Việt, đặc biệt là về kinh tế thương mại, trong đó có một mặt hết sức nhạy cảm
là an ninh quốc phòng. Có thể nói với Mỹ, Việt Nam có một vị trí địa chính trị
vô cùng quan trọng, án ngữ tuyến giao thông huyết mạch ở Biển Đông, cửa ngõ vào
Trung Quốc. Việt Nam là một dân tộc không có thế lực nào có thể áp đặt được ý
chí và xâm phạm chủ quyền được, là nước có ý chí và quyết tâm nhất trong việc
chống lại chủ nghĩa bành trướng, cường quyền; là một mắt xích không thể thiếu
trong chiến lược xoay trục của Mỹ. Chuyến đi này còn khẳng định vai trò, vị thế
và lợi ích của Mỹ ở khu vực. Chỉ cần được đặt chân vào một vài vị trí, chẳng hạn
như cảng Cam Ranh là Mỹ có thể cắt rời đường lưỡi bò phi lí mà chính quyển Quốc
dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đã vẽ ra từ năm 1947.
Chuyến
thăm của Tổng thống Obama tới Việt Nam thực ra cũng có khác gì chuyến thăm của
ông Obama tới Trung Quốc và chuyến thăm của Tập Cận Bình tới Mỹ. Các phương tiện
thông tin đại chúng của Việt Nam chỉ đưa tin chứ không hề có bình luận soi mói
gì. Nhưng khi Tổng thống Mỹ Obama tới thăm Việt Nam, tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh
cấm vũ khí sát thương cho Việt Nam, cung cấp 18 tàu tuần tra tuần tiễu biển cho
cảnh biển Việt Nam, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc đã có phản ứng,
Trung Quốc “vui mừng khi thấy Việt Nam và Mỹ có bước tiến trong quan hệ giữa
hai nước” và không quên kèm theo tuyên bố đầy ẩn ý “hi vọng việc cải thiện quan
hệ Việt Nam Mỹ có lợi cho hòa bình và ổn định”.
Tuyên
bố thì như vậy, nhưng các cơ quan báo chí từ trung ương đến địa phương đều khó
chịu, xuyên tạc mối quan hệ Việt-Mỹ, hạ thấp chuyến thăm của Tổng thống Obama
và phản đối việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Phải chăng có
tật giật mình, người ta lo ngại khả năng Việt- Mỹ thúc đẩy hợp tác an ninh, quốc phòng, bảo vệ pháp luật quốc tế,
tự do hàng hải ở Biển Đông sẽ ảnh hưởng giấc mơ bành trướng của các nhà cầm quyền
Trung Nam Hải và một bộ phận quần chúng mang tư tưởng đại Hán?
Người ta còn cho rằng Mỹ đang tạo ra một mồi lửa
có thể bùng phát ở khu vưc Đông Nam Á. Người ta cũng khuyên Việt Nam phải nhớ
bài học lịch sử chủ nghía thực dân, phải cảnh giác với âm mưu thâm độc: “diễn
biến hòa bình” vì Mỹ sẽ dùng TPP “thay đổi Việt Nam”. Người ta nghĩ rằng vấn đề
trở ngại giữa Trung Quốc và Việt Nam chỉ có vài hòn đảo, tại sao người Việt phải
làm ầm lên. Đồng thời họ cũng ngộ nhận và kể công, Việt Nam không thể xa rời được
Trung Quốc vì hệ thống chính trị với “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng”, sở dĩ Việt
Nam được như ngày hôm nay là vì đã học theo mô hình cải cách của Trung Quốc và
rằng Trung Quốc là trụ đỡ cho giới tinh hoa Việt Nam… Người ta cũng không quên
cảnh báo sức mạnh chi phối của nền kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt có tờ báo còn
hăm dọa nên dạy cho Việt Nam một bài học nữa…
Với
tư cách cá nhân, tôi xin trân trọng ghi nhận những ý kiến thiện ý cũng như ác ý
của các bạn đồng nghiệp nghiên cứu, của các cơ quan tuyên truyền Trung quốc.
Người viết luôn ghi nhớ hàng trăm năm bị thực dân đô hộ và cũng luôn ghi nhớ
hàng nghìn năm Bắc thuộc cùng hàng chục cuộc viễn chinh xâm lược của phong kiến
phương Bắc trong lịch sử Việt Nam, cũng như cuộc xâm lược Việt Nam vào tháng 2
năm 1979 do Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ Trung Quốc phát động.
Còn về Biển Đông, tôi xin trích dẫn lời của Ngoại trưởng John Kerry phát biểu tại
Thành phố Hồ Chí Minh với báo giới trong và ngoài nước “Nếu muốn đề cập đến khả
năng xuất hiện mồi lửa có thể đốt cháy thứ gì đó, chúng tôi lưu ý rằng Trung Quốc
không nên có hành động đơn phương như cải tạo đất hoặc quân sự hóa các đảo ở
khu vực có những bên tuyên bố chủ quyền chồng lấn”.
Sau
cuộc hội đàm với phía Việt Nam, hai bên đã ra Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Hợp
chủng quốc Hoa kì. Có thể tóm tắt nội dung chính như sau: Hai bên hài lòng trước
những tiến triển nhanh chóng, thực chất và toàn diện của quan hệ hai nước trong
thời gian qua theo định hướng của quan hệ Đối tác toàn diện năm 2013 và Tuyên bố
về Tầm nhìn chung nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng
7, 2015. Theo hướng đó hai bên nhất trí trong thời gian tới sẽ tăng cường quan
hệ trong các lĩnh vực sau:1, Tăng cường quan hệ chính trị- ngoại giao. 2, Đẩy mạnh
quan hệ kinh tế, bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, đào
tạo nguồn nhân lực và ứng phó biến đổi khí hậu. Hai bên cũng nhất trí cho rằng
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có tầm quan trọng chiến lược. 3, Làm
sâu sắc mối quan hệ giữa nhân dân hai nước. 4, Hai bên tái khẳng định tăng cường
hợp tác quốc phòng song phương hai nước. Phía Việt Nam hoan nghênh quyết định của
Chính phủ Hoa kì dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương đối với Việt
Nam. 4, Thúc đẩy quyền con người và cải cách tư pháp. 5, Hai bên tái khẳng định
cam kết chung đối với việc giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và trên
biển bằng biện pháp hòa bình theo luật pháp quốc tế. Hai bên quan ngại với những
diễn biến gần đây ở Biển Đông làm gia tăng căng thẳng, xói mòn lòng tin, đe dọa
hòa bình và ổn định. Hai bên nhấn mạnh tính cấp thiết của việc đảm bảo tự do
hàng hải và hàng không, kêu gọi phi quân sự hóa Biển Đông và khẳng định cam kết
chung theo tuyên bố Sunnyland trong Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Mỹ tháng 2,
2016. 6, Hai bên nhất trí làm sâu sắc quan hệ đối tác lâu dài theo hướng thực
chất, sâu sắc và hiệu quả.
Các
phương tiện thông tin đại chúng quốc tế và Mỹ đồng loại đưa tin và bình luận sự
kiện này. Nhìn chung dư luận đánh giá tích cực về chuyến đi của Tổng thống
Obama cũng như ý nghĩa của mối quan hệ Việt-Mỹ. Thậm chí có bài báo còn đưa mối
quan hệ Việt-Mỹ là một trong những bài học, một mẫu mực về việc giải quyết những
bất đồng khác biệt giữa những cựu thù trên con đường trở thành bạn bè, đối tác.
Có những bài báo lí giải sở dĩ có hiện tượng phát triển vượt bậc trong mối quan
hệ giữa hai nước là vì nhân tố Trung Quốc, là vì hai nước có chung những lợi
ích trên Biển Đông. Có những bài báo đi sâu đến chính sách đối ngoại thực dụng
và khôn khéo của Hoa Kì. Có những bài báo đi sâu vào chính sách đối ngoại linh
hoạt của Việt Nam. Cũng có những bài báo và cơ quan ngôn luận, chẳng hạn như của
Trung Quốc và Campuchia phản đối việc dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương
cho Việt Nam… Tôi cho rằng tất cả những bình luận trái chiều đó cũng là chuyện
bình thường trong quan hệ quốc tế.
Theo
PGS-TS Alexander Luving thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh khu vực châu Á-Thái
Bình Dương APCSS-Mỹ thì chuyến thăm là một dấu mốc lớn trong quan hệ hai nước. “Nó
nối tiếp một quá trình lịch sử kịch tính giữa Mỹ và Việt Nam trong những năm
qua, đặc biệt là từ năm 2012, khi Mỹ bắt đầu tái cân bằng về châu Á. Có lẽ sự
kiện có ý nghĩa quan trọng nhất trong chuyến thăm là Mỹ tuyên bố bãi bỏ hoàn
toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam… Những rào cản cuối cùng giữa
hai quốc gia còn nhiều khác biệt đã được dỡ bỏ. Nhà Trắng cũng loan báo Mỹ sẽ
cung cấp 18 tàu tuần tra cho Việt Nam, đồng thời hỗ trợ huấn luyện, hỗ trợ thiết
bị thực thi pháp luật trên biển cho cảnh sát biển Việt Nam. Điều này có ý nghĩa
gì trong việc duy trì ổn định an ninh hàng hải trong khu vực và trên thế giới”?
Theo
GS Thayer người Austrailia thì “Việt Nam là câu chuyện thành công của Mỹ ở Châu
Á. Thành công lớn nhất là hai bên đã cam kết tăng cường hợp tác trên tất cả các
lĩnh vực cùng quan tâm, điều này đã được nêu trong thỏa thuận về Đối tác Toàn
diện năm 2013. Hai nước đã thống nhất thiết lập một cơ chế cấp cao giám sát hợp
tác song phương theo thỏa thuận này. Năm 2015 Tổng thống Obama và Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng ra tuyên bố về Tầm nhìn chung, thể hiện sự tôn trọng thể chế
chính trị. Và trong chuyến thăm này, Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí, có thể
nói cờ đã đến tay Việt Nam. Tất nhiên nó cũng thể hiện câu chuyện thành công của
chính sách mang dấu ấn của ông Obama trong việc tái cân bằng ở châu Á”.
Tôi
nghĩ có lẽ đối với những người dân lao động Việt Nam, người ta không có thời
gian và điều kiện đọc các bình luận của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu,
cũng như việc theo dõi đầy đủ những ý kiến từ các phương tiện thông tin đại
chúng ở trong nước, chứ chưa nói đến nước ngoài. Nhưng có điều chắc chắn rằng từ
thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hàng triệu người dân Việt
chăm chú theo dõi từng cử chỉ, lời nói, hành động của ông Obama với một tình cảm
trìu mến, khâm phục và kính trọng. Ông đã trở thành một hiện tượng, một tâm điểm
để người ta bàn luận.
Tôi cho rằng chính sự chân thành, bình dị của
ông đã lôi cuốn người dân Việt. Ông đã chọn nhà sàn, ao cá Bác Hồ để gặp gỡ Chủ
tịch Quốc hội Nguyễn thị Kim Ngân. Ông đã chạm vào nơi sâu thẳm trong trái tim
người Việt. Điều đó thể hiện thiện chí chân thành muốn hòa giải hợp tác, đồng thời
cũng thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của ông. Vì Chủ tich Hồ chí Minh là người sáng
lập Đảng Cộng sản Việt Nam, là người lãnh đạo và là biểu tượng cho hai cuộc
kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tại sao ông và đội ngũ của ông lại không
chọn tòa nhà Quốc hội?
Tâm
điểm sự chú ý của người dân là bài phát biểu của ông Obama ở Trung tâm hội nghị
Quốc gia. Tổng thống Obama và cộng sự rất hiểu lịch sử và văn hóa dân tộc Việt.
Ông trân trọng quá khứ huy hoàng của người Việt. Ông nhắc đến Hai bà Trưng và người
anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt và đọc hai câu thơ trong bài Nam Quốc sơn hà,
bài thơ được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt. Phải nói
nhiều người đã chia sẻ rằng, khi nghe ông nói trong lòng họ đã dâng lên một một
“cảm xúc thật khó tả”. Chân lí trong bài thơ cũng như Tuyên ngôn Độc lập của Hợp
chủng quốc Hoa Kì và Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam đều ghi rõ chủ quyền
thiêng liêng, quyền sống, quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Đó là giá trị, là lí
tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, là lẽ sống của mỗi dân tộc. Điều này
được khẳng định lại trong bài phát biểu của ông: “Việt Nam là một nước có chủ
quyền và không có quốc gia nào có thể áp đặt ý chí của họ lên người dân Việt Nam”.
Ông
Obama cũng hiểu ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt, giặc đến
nhà đàn bà cũng đánh; người Việt như những bụi tre, rừng tre mọc trên khắp đất
nước khiến tôi lại liên tưởng đến người anh hùng làng Gióng nhổ tre bên đường đánh
giặc Ân, đến hình ảnh chiếc gậy tre, chông tre, giáo mác trong bao cuộc kháng
chiến trường kì chống giặc ngoại xâm; liên tưởng đến bài Cây tre bất hủ của nhà
văn Thép Mới, Bài thơ Cây tre của nhà thơ Nguyễn Duy… Thật là cảm động.
Ông
Obama không né tránh nhắc đến chiến tranh giữa hai nước. Đó là nỗi đau thương
cho cả hai dân tộc. Trên hết ông rút ra những bài học bổ ích, sâu sắc và nhân
văn. Ông chỉ ra có nhiều cách để giải
quyết vấn đề, không chỉ có chiến tranh và khẳng định hòa bình luôn tốt đẹp hơn
chiến tranh. Ông cho rằng quan hệ Việt Mỹ là một bài học cho thế giới.
Trong
bài phát biểu ở Trung tâm hội nghị Quốc gia trước 2000 người đủ các tầng lớp,
ông Obama cũng đề cập đến dân chủ, nhân quyền, cái giá trị mà Mỹ và phương Tây
luôn áp đặt cho tất cả các dân tộc trên thế giới, nhưng người nghe không hề cảm
thấy bị áp đặt, bị lên lớp bởi một siêu cường ở chiếu trên giống như người láng
giềng và thật sự làm người ta phải suy nghĩ. Vì bản thân ông cũng thừa nhận
chính phủ của ông cũng phải đối mặt với những vấn đề mà người dân chỉ trích. Có
điều là người lãnh đạo phải biết lắng nghe và giải quyết.
Sự
chân thành của ông không chỉ dừng lại ở lời nói đi vào lòng người mà thể hiện ở
những hành động thiết thực: Nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng mối
quan hệ đối tác toàn diên; dỡ bỏ lệnh bán vũ khí; hỗ trợ tàu tuần tra, tăng cường
giúp đỡ năng lực tuần tra trên biển; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam và hàng hóa
Việt Nam vào thị trường Mỹ để không phụ thuộc vào một “quốc gia duy nhất nào
đó”.
Ông
nhiệt thành tin tưởng trong tương lai hai nước sẽ trở thành bạn bè. Ông chia sẻ
trong bài nói chuyện rằng nền kinh tế tri thức sẽ thay đổi đất nước nào biết đầu
tư vào giáo dục. Trường Đại học Fulbright của Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ
đào tạo nhân lực đẳng cấp quốc tế cho Việt Nam. Ông tin TPP sẽ thúc đẩy hợp tác
giữa hai nước, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân và đảm bảo nhiều tổ chức,
nhiều doanh nghiệp Mỹ sẽ đến Việt Nam làm ăn…
Cuối
cùng ông khẳng định “mọi quốc gia đều có chủ quyền và dù là nước lớn hay là nước
nhỏ, chủ quyền của quốc gia đó cần phải được tôn trọng và không được xâm phạm
lãnh thổ của họ. Các nước lớn không nên chèn ép các nước nhỏ và các tranh chấp
cần phải được giải quyết một cách hòa bình”. Ông khẳng định người Việt Nam sẽ
quyết định tương lai của người việt và nhấn mạnh : “Đây là thời điểm của các bạn
và khi các bạn theo đuổi tương lai của mình, tôi muốn các bạn hiểu rằng, nước Mỹ
luôn ở bên các bạn với tư cách là một đối tác và một người bạn”.
Phải
nói rằng ông Obama đã hoàn toàn chinh phục được người nghe và chiếm được tình cảm
nồng nhiệt của người Việt. Suy cho cùng những điều ông nói vẫn chỉ là những nội dung đã được ghi trong thông cáo chung giữa
hai quốc gia. Nhưng đó là không phải là ngôn ngữ chính trị ngoại giao công thức.
Đó là ngôn ngữ của một chính khách lão luyện, ngôn ngữ của một nhà
hùng biện tài năng, tinh tế và lịch lãm, ngôn ngữ của một con người nhân văn biết
sống và làm việc cho công lí và lẽ phải; và trên hết đó là lòng chân thành, sự
mong muốn, một niềm tin sâu sắc vào mối quan hệ giữa hai nước trong tương lai.
Theo
đánh giá của dư luận trong và ngoài nước, chuyến đi của Tổng thống Obama và cộng
sự đã thành công tốt đẹp. Dù còn có những ý kiến trái chiều, nhưng tựu trung lại
có bốn điểm nhấn. Một là sự dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, đánh dấu sự
bình thường hóa hoàn toàn trong quan hệ song phương và phát đi một thông điệp
có ý nghĩa chiến lược trong tương lai. Hai là quan hệ phát triển thực chất
trong rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về chính trị-ngoại giao, kinh tế, an ninh
quốc phòng. Ba là Việc Việt Nam cấp phép cho việc thành lập Trường Đại học
Fullbright Việt Nam, cho thấy sự phát triển quan hệ giữa hai nước là toàn diện,
tin cậy, không phải chỉ vì vấn đề Biển Đông. Cuối cùng là sự đón tiếp nồng hậu
của nước chủ nhà và đặc biệt là sự đón tiếp nồng nhiệt của người dân dành cho Tổng
thống và phái đoàn cũng như sự thân thiện nhiệt tình của cá nhân tổng thống
trong việc giao lưu và tiếp xúc với người dân. Trong bốn điểm nhấn đó, cả dư luận
trong nước và ngoài nước chú ý nhất là lệnh dỡ bỏ việc bán vũ khí sát thương
cho Việt Nam
Vấn
đề đặt ra là tại sao trong mấy năm gần đây mối quan hệ giữa hai nước, hai cựu
thù lại phát triển nhanh chóng, sâu rộng như vậy? Đương nhiên đó là kết quả của
sự cố gắng nỗ lực không biết mệt mỏi hơn hai mươi năm của cả hai phía. Điều này
thì ai cũng thấy rõ. Nhưng sự phát triển như “tên lửa” trong mối quan hệ giữa
hai nước còn do một nguyên nhân sâu xa là tình hình Trung-Việt ngày càng căng
thẳng về vấn đề chủ quyền biển đảo và việc Trung Quốc cải tạo một số đảo trong
quần đảo Trường sa đã chiếm của Việt Nam thành các căn cứ quân sự. Nghĩa là
Trung Quốc đã mang súng ống đến trước của nhà của người Việt, hăm dọa người Việt.
Chẳng lẽ người Việt lại cam chịu đứng nhìn.
Chính
nền kinh tế phát triển liên tục trong hơn ba mươi năm qua đã khiến Trung Quốc cảm
thấy đến lúc cần vứt bỏ chiến lược “giấu mình chờ thời” của Đặng để thực hiện
giấc mộng vươn lên trở thành một cường quốc toàn cầu từ thời Mao. Việc chiếm
các đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam là một bước tiến hiện thực hóa đường
lưỡi bò nhằm độc chiếm Biển Đông, một bước đi bành trướng tiếp theo của Đại Hán
ngày càng bộc lộ rõ qua việc gây căng thẳng ở Biển Hoa Đông và Biển Đông. Đặc
biệt khi Tập Cận Bình lên nắm quyền, ông ta không hề dấu diếm ý định chia đôi
Thái Bình Dương với Mỹ.
Với
việc cải tạo các đảo, xây dựng các đường băng và hệ thống cầu cảng trên các đảo,
đưa hệ thống tên lửa ra đảo, không ngại va chạm với không quân và hải quân Mỹ,
bất chấp sự lo ngại của đa số các nước ASEAN, thậm chí coi thường ASEAN, Trung
quốc ngày càng hung hăng thách thức dư luận quốc tế, ngang ngược không tham gia
tòa án quốc tế, phủ nhận phán quyết sắp tới của tòa án quốc tế… Tất cả những việc
làm của họ đều chứng tỏ họ đang đi trên con đường quân phiệt. Những đòi hỏi
chính nghĩa của Việt Nam về chủ quyền chắc chắn sẽ bị Bắc Kinh gạt bỏ. Đã đến
lúc Việt Nam không thể không hành động. Tôi cho rằng, hiện tại chỉ có hành động
kiên quyết của cộng đồng quốc tế và Mỹ mới có thể ngăn chặn được cuồng vọng của
Trung quốc.
Bắt
đầu từ những năm 2000 trở đi Mỹ bắt đầu cảm thấy quyền lợi và địa vị của mình bị
đe dọa ở Biển Đông nói riêng và ở Đông Á nói chung. Tại các hội nghị ASEAN ở Hà
Nội năm 2010, Việt Nam và Hoa kì chính thức có những động thái nhằm đưa vấn đề
Biển Đông ra các hội nghị. Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đã bị xâm phạm và ngày
càng bị đe dọa. Việt Nam không thể vì cùng ý thức hệ chính trị, vì cái vỏ “đại
cục” nhẫn nhịn trước những hành động vừa ăn cướp vừa la làng của người hàng xóm
to tảng. Mỹ cũng bắt đầu tuyên bố có quyền lợi ở Biển Đông. Có thể nói cuộc chiến
thầm lặng nhưng quyết liệt trên tất cả các mặt trận đã bắt đầu giữa Trung Quốc với
Mỹ và các các nước có tranh chấp với Trung Quốc từ Hoa Đông cho tới Biển Đông.
Về
mặt quân sự, Mỹ tiến hành cuộc chiến bằng việc xoay trục về châu Á-Thái Bình
Dương, tăng cường tập trận với các quốc gia, liên tục tuần tra trinh sát và hiện
diện trên Biển Đông trong vòng 12 hải lí xung quanh các đảo chiếm phi pháp của
Trung quốc, đồng thời thúc đẩy cuộc đấu
tranh trên ba mặt trận. Thứ nhất là về chính trị, Mỹ tăng cường củng cố khối
liên minh truyền thống Mỹ-Nhật-Hàn- Philipines, Austrailia… Về ngoại giao, Mỹ thực
hiện chiến dịch thông tin tuyên truyền cấp độ song phương lẫn đa phương ở tất cả
các chuyến công du, các hội nghị ASEAN, ARF, EAS, APEC … Thậm chí cả G20, G7; yêu
cầu Trung Quốc phải làm rõ cơ sở pháp lí và bản chất đường chín đoạn hay còn gọi
là đường lưỡi bò. Mỹ và các nước đều lên án thủ đoạn gây sức ép, đe dọa, chia rẽ
các nước ASEAN cùng việc quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc tại tất cả các diễn
đàn quốc tế. Thứ ba, ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ phối hợp, hỗ trợ các nước tranh
chấp với Trung Quốc trong các lĩnh vực anh ninh biển, cảnh sát biển, chia sẻ
thông tin tình báo… để tăng cường năng lực bảo vệ, kiểm soát an ninh hàng hải của
các nước có tranh chấp với Trung Quốc.
Việt
Nam là nước có ý chí, quyết tâm và năng lực mạnh mẽ nhất trong cuộc đấu
tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước
hành động tham lam bành trướng của Trung Quốc. Cả Việt Nam và Mỹ đều có lợi ích
chiến lược trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình về an ninh, tự do đi lại
trên Biển Đông. Cả Việt Nam và Mỹ đều có chung mục tiêu xóa bỏ đường lưỡi bò
phi lí, phi pháp mà Trung Quốc tự vẽ ra trên Biển Đông và chính lợi ích song
trùng đó là động lực tăng tốc trong mối quan hệ Việt-Mỹ. Và đó cũng là động lực
Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vũ khí sát thương cho Việt Nam.
Trung
Quốc đã nhiều lần phàn nàn và gây sức ép với Nga trong việc Nga bán các vũ khí
hiện đại cho Việt Nam. Mới đây nhất là việc Nga chần chừ chưa bán hệ thống tên
lửa S 400 vì sức ép của Trung Quốc. Việt Nam không thể không đa dạng hóa nguồn
cung vũ khí bằng việc mua vũ khí, khí tài của Mỹ và phương Tây. Xét ở một góc độ
khác, các loại vũ khí chủ lực của Trung Quốc cũng như của Việt Nam đều có chung
nguồn gốc từ Nga. Các tính năng tác chiến, kĩ thuật của các loại vũ khí đó quân
đội Trung Quốc nắm rất chắc. Họ cũng nắm rõ sở trường cũng như sở đoản của từng
loại vũ khí. Do vậy việc đa dạng hóa vũ khí với Việt Nam càng trở nên cấp thiết.
Nhiều
nhà nghiên cứu và bình luận cho rằng Việt Nam không có khả năng mua ồ ạt ngay
các loại vũ khí hiện đại đắt tiền của Mỹ và phương Tây. Tôi cho rằng nhận xét
đó hoàn toàn có cơ sở. Nhưng nếu tình hình xấu đi, chắc chắn Việt Nam sẽ có những
loại vũ khí mình cần của Mỹ và phương Tây. Nếu kẻ thù nào đó muốn vẽ lại bản đồ
thế giới và xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trong tương lai, với truyền thống
và tinh thần “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”, cùng với vũ khí tự vệ đầy uy lực, người Việt chắc chắn sẽ
buộc kẻ thù phải tính toán hơn hàng trăm lần trước khi chúng quyết định toan
tính hành động.
Trước
mắt với việc xóa bỏ lệnh cấm bán vũ khí, với quan điểm riêng, tôi cho rằng Việt
Nam có thể lựa chọn mua một số máy bay trinh sát, săn ngầm tiên tiến, hệ thống
ra đa cảnh giới biển, nâng cấp hệ thống ra đa vốn có tầm bao phủ cả bán đảo
Đông Dương, Biển Đông và một phần nam Trung Quốc có từ thời Mỹ ngụy để lại để đảm
bảo đất nước không bị bất ngờ trước mọi âm mưu xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.
Theo
những thông tin tôi được biết, Việt Nam có khoảng 100 chiếc máy bay chiến đấu
và trực thăng, hàng trăm xe thiết giáp của Mỹ còn lưu kho sau năm 1975 vì thiếu
phụ tùng thay thế, việt Nam có thể mua hay hợp tác với Mỹ và các nước phương
Tây nâng cấp lên chuẩn đáp ứng yêu cầu thay thế cho hàng trăm chiếc MIC 21 cùng xe
tăng đã đến tuổi về hưu từ thời Liên Xô cũ. Điều đó chắc chắn sẽ tăng cường thêm
sức mạnh phòng thủ trước mắt mà không mất nhiều kinh phí. Còn về trung hạn và
dài hạn Việt Nam sẽ có điều kiện đa dạng hóa nguồn cung, có điều kiện tìm hiểu,
chọn lựa những loại vũ khí hiện đại, có hiệu quả mình cần cho việc phòng thủ.
Chuyến
thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama có thể nói là một chuyến thăm thành
công trên nhiều phương diện. Nếu chỉ có việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí không
thôi, tôi nghĩ có cái gì đó vẫn không ổn. Nếu Việt Nam không có cơ hội để phát
triển kinh tế và hội nhập, nếu lại bị một nước nào đó chèn ép, thậm chí bao vây
và cấm vận về kinh tế, chắc chắn chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Chuyến
thăm Việt Nam của ông Obama chứng tỏ trở ngại cuối cùng trong quan hệ hai nước
đã được dỡ bỏ mà không kèm điều kiện có đi có lại như quan hệ của Mỹ với đa số
các nước khác. Chính quyền của ông Obama còn mở ra nhiều cơ hội mới về kinh tế
cho Việt Nam. Và ngay sau chuyến đi, Thượng nghị sĩ Joln McCain đã viết thư cho
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thúc giục Việt Nam thúc đẩy hơn nữa về việc hợp
tác quốc phòng. Đặt vào bối cảnh quốc tế và khu vực, đứng trước một Biển Đông đầy
giông bão chúng ta mới thấy hết kết quả của chuyến đi không chỉ mở ra một
chương mới trong quan hệ Việt Mỹ mà nó còn mở ra một thời cơ mới trong việc bảo
vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như một vận hội mới trong
phát triển kinh tế.
Blog Archive
About this blog
Giới thiệu về tôi
Được tạo bởi Blogger.