Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Mốiquan hệ Mỹ-Trung sẽ đi đến đâu

Leave a Comment
Trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, có thể nói quan hệ Mỹ-Trung có tầm quan trọng hết sức đặc biệt. Nhất là từ khi Trung Hoa Dân quốc mất ghế tại Liên Hợp Quốc năm 1971, thay thế vào đó là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nếu như ba, bốn thập niên trước đây, Trung Hoa chỉ là một nước đông dân cư nhất thế giới, một nước đói nghèo thuộc thế giới thứ 3, Mỹ vẫn lợi dụng được Trung Hoa trong ván bài làm sụp đổ Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (gọi tắt là Liên Xô) để tiếp tục duy trì vị thế siêu cường duy nhất còn lại, thì ngày nay Trung Hoa nổi lên thành một cường quốc và có thể là một cường quốc lớn nhất về kinh tế thì Mỹ càng phải cần đến Trung Hoa trên nhiều vấn đề mang tính toàn cầu như chính trị, kinh tế, biến đổi khí hậu, và vấn đề hạt nhân Triều Tiên… Liệu rằng Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ có chịu chia sẻ vị thế siêu cường và quyền lợi quốc gia với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa?
Quan hệ Mỹ-Trung từ năm 1949 đến năm 2010
Quan hệ Mỹ-Trung đã trải qua nhiều thăng trầm. Từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 đến năm 1972, hơn hai mươi năm Mỹ-Trung là kẻ thù không đội trời chung. Quan hệ hai nước trong bối cảnh chiến tranh lạnh, luôn bên bở vực chiến tranh, thậm chí Mỹ đã tính đến sử dụng lực lượng hạt nhân chiến thuật sau cuộc chiến tranh Triều Tiên. Nhưng bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỉ trước, do những khó khăn của cả hai nước, họ đến với nhau và cả hai đều điều chỉnh chính sách của mình. Mỹ phải hi sinh Đài Loan, nhượng bộ Trung Quốc ngồi vào ghế Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an. Về phía Trung Quốc, họ chuyển từ chính sách mang nặng ý thức hệ sang chính sách thực dụng, sát cánh với Mỹ để chống Liên Xô, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai siêu cường để tìm kiếm lợi ích quốc gia. Nhân tố Mỹ trong chính sách đối ngoại của Trung Hoa chuyển dần từ kẻ thù sang một dạng đồng minh đôi bên cùng có lợi.
Điều quan trọng là cải thiện quan hệ với Mỹ giúp Trung Hoa đặt nền móng và phát triển quan hệ với thế giới phương Tây. Từ chỗ bị cô lập, Trung Hoa có cơ hội vươn rộng ra với cộng đồng quốc tế. Điều này đặt nền móng cho công cuộc cải cách kinh tế thần kì mà Đặng Tiểu Bình khởi xướng ở giai đoạn sau. Mâu thuẫn lớn nhất giữa hai nước là về ý thức hệ tạm  thời được gác lại. Mỹ chính là đột phá khẩu cho chiến lược hướng ra bên ngoài của Trung Hoa. Với tư cách là một thị trường, Mỹ trở thành một đối tác cần thiết có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển về mọi mặt, cụ thể là Bốn hiện đại hóa (Four Modernization) trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng và khoa học công nghệ nhằm biến Trung Hoa thành một cường quốc hiện đại.
Đến những năm 1980 trở đi, quan hệ Mỹ-Trung vẫn là mối quan hệ lợi dụng lẫn nhau, tập hợp lực lượng để tạo thế so sánh trong quan hệ với Liên Xô. Sau khi quan hệ Mỹ-Xô đi vào thế hòa hoãn cuối những năm 80, đặc biệt là sau năm 1989, sau sự kiện Thiên An Môn, Bắc kinh dùng xe tăng nghiền chết hàng ngàn sinh viên biểu tình, vị trí của Trung Quốc trong chiến lược của Mỹ bị hạ thấp, và sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ ra sức thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình. Trung Hoa lẳng lặng phát triển kinh tế, ổn định nội bộ và đã khôn ngoan không thành lập mặt trận chống Mỹ như giai đoạn đầu. Mặc dù có nhiều sóng gió trong quan hệ hai nước, nhưng Trung Hoa đã thành công thực hiện chính sách “giấu mình chờ thời” của chiến lược gia Đặng Tiểu Bình.
Sự kiện 11 tháng Chín năm 2001, sự kiện khủng bố đánh vào tòa tháp đôi, biểu tượng kinh tế của nước Mỹ, giết hại gần ba nghìn người là cơ hội trời cho đối với Trung Hoa. Mỹ lao vào cuộc chiến chống khủng bố và sa lầy trong hai cuộc chiến ở Afganistan và Iraq, tiêu tốn hàng ngàn tỉ đô la cùng với rất nhiều nguồn lực con người trong mớ bùng nhùng Trung Đông. Lợi dụng tình hình đó, tận dụng xu thế toàn cầu hóa, Trung Hoa đã biến mình trở thành công xưởng của thế giới, có nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới và vươn lên trở thành một cường quốc ở châu Á, đồng thời bước lên sân khấu toàn cầu. Đáng chú ý hơn là dựa vào tiềm lực kinh tế ngày một lớn của mình, Trung hoa không ngừng đầu tư cho quốc phòng và hiện đại hóa quân đội. Mức độ chi tiêu cho quốc phòng liên tục tăng trong nhiều năm, chỉ đứng sau Mỹ.
Bước sang thiên kỉ mới sau mười lăm năm, mặc dầu bắt đầu bộc lộ nhiều mâu thuẫn, quan hệ Mỹ-Trung vẫn phụ thuộc vào nhau về chính trị, kinh tế, ngoại giao. Họ là đối thủ của nhau nhưng đồng thời cũng là đối tác của nhau. Điều này khác hẳn với quan hệ Mỹ-Xô trong thời gian chiến tranh lạnh. Hai siêu cường kéo theo hai phe đối lập nhau trên tất cả các mặt trận chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự. Quan hệ Mỹ-Trung bây giờ phức tạp hơn nhiều. Mỹ không còn là một siêu cường trong thời hoàng kim. Trung Hoa cũng không chỉ đơn thuần là một cường quốc Cộng sản độc đoán. Chính sách của họ cũng không chỉ là mèo đen hay là mèo trắng. Họ đang tối đa tầm ảnh hưởng ở khu vực Tây Thái Bình Dương; xây dựng các mối quan hệ kinh tế với các nước, phát huy lợi thế với các nước trong khu vực xung quanh, đồng thời tìm kiếm vai trò lớn hơn tại các thể chế đa phương hiện hữu; tìm mọi cách thống nhất hai bờ eo biển Đài Loan và khẳng định yêu sách chủ quyền một Trung Quốc với các nước còn quan hệ chính trị với Đài Loan; tăng cường sức mạnh quốc phòng và phạm vi hoạt động quân sự, đặc biệt là xây dựng phát triển sức mạnh biển; duy trì quan hệ tích cực và có lợi với Mỹ, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cạnh tranh đối đầu chiến lược Mỹ-Trung ở châu Á-Thái Bình Dương.
Mục tiêu chiến lược của Trung Hoa là hoàn thành việc xây dựng một xã hội thịnh vượng trên mọi lĩnh vực vào năm 2021 khi Đảng Cộng sản Trung Hoa kỉ niệm 100 năm ngày thành lập và xây dựng một đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, vững mạnh, dân chủ, nâng cao đời sống văn hóa và hài hòa vào năm 2049, khi nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa đánh dấu chặng đường 100 năm ngày thành lập. Nhiệm vụ nòng cốt để thực hiện mục tiêu họ đề ra là gia tăng sức mạnh quân sự để bảo vệ đất nước, mở rộng quyền lực ra phía đông Thái Bình  Dương, củng cố sức mạnh tiến vào Ấn Độ Dương và tạo ra “con đường tơ lụa mới” trên biển…
Nhìn lại quan hệ Mỹ-Trung từ 1949 đến 2010, các nhà quan sát quốc tế nhận thấy mối quan hệ này chứa đựng đầy đủ hai mặt hợp tác và cạnh tranh. Trong đó cạnh tranh là đặc điểm xuyên suốt qua mọi thời kì. Nhưng trong sự hợp tác lợi dụng, cả hai bên đều thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Trung Hoa luôn cảnh giác với chiến lược diễn biến hòa bình, can thiệp nội bộ, thay đổi chế độ của Mỹ. Và cũng vì sự khác biệt về hệ thống chính trị, Mỹ luôn tấn công Trung Hoa về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, ăn cắp bản quyền, gián điệp mạng, thao túng thị trường… còn Trung Hoa thì không hài lòng với trật tự thế giới do Mỹ và phương Tây lãnh đạo. Trung Hoa chắc chắn sẽ không từ bỏ cạnh tranh với Mỹ và Mỹ cũng là đối thủ mà Trung Hoa muốn vượt qua.
Quan hệ Mỹ-Trung từ năm 2010 đến nay
Từ khi Tập Cận Bình lên nắm chính quyền, Bắc Kinh bắt đầu sốt sắng đẩy mạnh “giấc mơ Trung Hoa”. Bắc kinh tự tin đến tự mãn, quyết đoán đến hung hãn, bất chấp mọi thủ đoạn để thực hiện được các mục tiêu. Chính sách của Bắc kinh dựa trên hai trụ cột chính là: Sức mạnh kinh tế và vị thế quốc tế; vứt bỏ chính sách giấu mình chờ thời, thực thi chính sách cứng rắn ở Hoa Đông, Biển Đông, gây áp lực với Nhật Bản, Việt Nam, Philippines; tăng cường ảnh hưởng ở Mianma, Lào, Campuchia; thiết lập quan hệ kiểu mới với các nước lớn… Mục đích của Bắc Kinh là phát triển kinh tế nhằm vượt Mỹ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới; hiện thực hóa để trở thành cường quốc biển; hiện đại hóa quân đội nòng cốt là hải quân, không quân và tác chiến điện tử, không gian mạng; vươn lên trở thành cường quốc toàn cầu, có vai trò chủ chốt trong quan hệ quốc tế.
Theo quy luật lịch sử giữa một cường quốc đứng đầu và một cường quốc chuẩn bị thay thế, nhiều nhà bình luận và quan sát quốc tế đã đặt ra vấn đề quan hệ Mỹ-Trung theo thời gian sẽ dẫn đến chiến tranh. Ngay ở cả Trung Hoa cũng có nhiều người đặt vấn đề chiến tranh Trung-Mỹ là không thể tránh khỏi. Đúng là Trung Hoa đang nổi lên và trở thành một cường quốc lớn sau nhiều thế kỉ bị ngoại bang xâm chiếm và chia cắt. Giới hoạch định chiến lược Trung Hoa đã chứng minh được cùng với sự phát triển kinh tế, sức mạnh quân sự của họ đang ngày cành gia tăng, Bắc Kinh đã và đang thách thức Mỹ và các cường quốc châu Á và các quốc gia láng giềng về năng lực phòng thủ cũng như tấn công của họ. Tuy nhiên xét kĩ, thực lực quân sự của Trung Hoa so với Mỹ còn một khoảng cách khá xa. Các chuyên gia cho rằng Trung Hoa phải cần hai mươi đến ba mươi năm nữa mới mới có thể lấp được khoảng cách đó.
Cũng có nhiều nhà hoạch định chiến lược Trung Quốc muốn đi theo con đường của Đặng Tiểu Bình, đưa Trung Hoa trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất, nhưng sẽ không tranh bá. Lịch sử các cường quốc trong quá khứ như Đế quốc La Mã, Đế quốc Nguyên Mông mà Trung Hoa là một phần, Đế quốc Anh và gần đây nhất là Liên Xô… Tất cả đã cho Bắc Kinh  quá nhiều bài học cay đắng về số phận của những anh cả, anh hai trên trường quốc tế. Những người theo quan điểm này muốn Bắc Kinh thực hiện một chiến lược lâu dài là hợp tác, canh tranh và tránh xung đột với Mỹ. Các nhà hoạch định chính sách trung dung thì khuyến cáo Bắc Kinh phải hết sức thận trọng, tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ cho đến khi tiềm lực kinh tế và quân sự của họ thay đổi về chất và ở trong tình trạng đã hoàn toàn sẵn sàng. Họ cho rằng trước mắt Bắc Kinh cần trỗi dậy một cách an toàn ở châu Á mà không gây ra bất kì xung đột nghiêm trọng nào ở khu vực này
Sự thay đổi chiến lược quân sự của Trung Hoa
 Có vẻ như Bắc kinh đang đi chênh vênh giữa hai chính sách diều hâu và ôn hòa. Trước mắt họ đang tìm cách gây áp lực với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản; tìm cách áp đặt ý chí và đưa Đông Nam Á vào vòng ảnh hưởng. Họ sử dụng các phương tiện phi đối xứng như bồi đắp tôn tạo các rạn đá ở Biển Đông, mở rộng khu vực hải quân và không phận bên cạnh việc tuyên bố chủ quyền lịch sử để khẳng định sức mạnh và lợi ích của mình. Họ có đòn bẩy  kinh tế, có khả năng quân sự. Họ đã phô diễn sức mạnh cơ bắp. Vấn đề là họ sẽ đi xa đến đâu và kết quả cuối cùng trong việc thay đổi cán cân quyền lực sẽ diễn ra như thế nào ở châu Á-Thái Bình Dương.
   Có nhiều dấu hiệu chắc chắn cho thấy Trung Quốc đã, đang và sẽ đi theo con đường phát triển truyền thống của các cường quốc trong lịch sử như Tây Ban Nha, Anh, Nga, Nhật, Mỹ- phát triển sức mạnh biển với lực lượng hải quân làm trung tâm theo tư tưởng của  Alfred Mahan, có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Trung Quốc. Họ không chỉ tập trung vào hải quân và thương mại như các cường quốc trước đây mà còn quyết tâm xây dựng một chiến lược biển toàn diện, phối hợp với nhiều lực lượng như hải cảnh, tuần duyên, lực lượng dân sự đánh cá hùng hậu mà họ có ý định phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân trên biển, tôn tạo xây dựng các đảo và bãi đá ngầm thành các căn cứ quân sự trên biển… Tất cả nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp giành lấy lợi thế chiến lược trước các cường quốc trong và ngoài khu vực, đẩy Mỹ và các cường quốc khác ra khỏi Biển Đông, đồng thời ép các nước nhỏ trong khu vực phụ thuộc vào ý chí của Trung Hoa.
Để chống lại một cuộc tấn công giả định của Mỹ và các đồng minh vào các khu vực trọng điểm kinh tế phía đông, Trung Hoa đã xây dựng chiến lược chống tiếp cận (Anti-Access/ Area Denial-A2/AD). Bài học về khủng hoảng eo biển Đài Loan, Mỹ đưa hạm đội tàu sân bay đến bảo vệ Đài Loan, buộc Trung Hoa phải xuống thang, cùng với những nghiên cứu kĩ về cuộc chiến của Mỹ ở Nam Tư, Afganistan, Iraq, Giới quân sự Trung Hoa cho rằng lực lượng không quân và hải quân là át chủ bài để Mỹ và các nước đồng minh tiến hành các cuộc chiến tranh “không tiếp xúc, không giới tuyến, không cân xứng”. Ba nội dung đó là đặc điểm của các cuộc chiến tranh khu vực trong điều kiện thông tin hóa, trong đó sức mạnh không quân, hải quân cùng với khái niệm không gian vũ trụ và không gian mạng là rất cần thiết để giành thắng lợi nếu chiến tranh xảy ra.
Bắc kinh yêu cầu quân đội đẩy mạnh nỗ lực phát triển khả năng A2/AD cả ở trên không,   trên biển nhằm ngăn chặn, đánh bại Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong một cuộc chiến trên không, trên biển nhằm vào bờ biển phía đông nước này. Để đạt được mục tiêu này, chiến lược A2/AD của Trung Hoa bao gồm quy mô chiến lược và chiến thuật. Ở quy mô chiến lược, Bắc Kinh triển khai cái gọi là ba cuộc chiến tranh: Pháp lí, dư luận công chúng và chiến tranh tâm lí. Mục đích của nó là phủ nhận tính hợp pháp của các lực lượng Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương, đẩy Mỹ ra khỏi khu vực để kiểm soát tất cả các nước ven biển Đông Á. Thực hiện chiến lược này, Trung Hoa không chỉ nhằm vào Mỹ mà còn nhằm vào các đồng minh của Mỹ và các đối thủ ở châu Á-Thái Bình Dương, thuyết phục các nước không cho các lực lượng của Mỹ tác chiến trong không phận và hải phận. Họ cũng đe dọa các nước cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự nhằm ngăn chặn và phá hủy các khả năng triển khai của các lực lượng Mỹ ở khu vực.
Ở quy mô chiến thuật, chiến lược A2/AD liên quan đến các hệ thống vũ khí nhằm tiêu diệt hoặc gây tổn thất cho các lực lượng Mỹ và đồng minh như các hệ thống tên lửa đạn đạo xuyên lục địa cố định (CSS4) có tầm vươn tới bất kì mục tiêu nào trên lãnh thổ Mỹ; tên lửa DF-31A có thể tấn công di động vào các mục tiêu trên Thái Bình Dương; các loại tên lửa chống hạm, chống tàu, hệ thống tàu ngầm các loại, hệ thống tàu tên lửa các loại, thậm chí cả vũ khí tấn công siêu thanh. Đặc biệt chương trình không gian mà Bắc kinh tiến hành không phải vì mục đích hòa bình như họ nói mà nhằm chống lại các đối thủ trong trường hợp xảy ra xung đột. Không quân Mỹ tiết lộ hơn 500 vệ tinh nước này bị đe dọa từ chương trình “công nghệ phản không”, chương trình phản kích trong không gian của Trung Hoa… Có thể nói  A2/AD về quy mô chiến thuật, Trung Hoa quá thành công và thật sự là một thách thức đối với giới quân sự Mỹ.
Chiến lược mới của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương
Trong thập niên đầu của thiên kỉ mới, Mỹ đã nhiều lần cảnh báo về chính sách kinh tế, quốc phòng của Trung Hoa. Nhưng thực tế Trung Hoa vẫn chưa tìm cách thay đổi trật tự thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ 2; không đem quân đi can thiệp ở bất cứ nơi nào; không dùng vũ lực giải quyết vấn đề Đài Loan; không giải quyết xung đột bằng vũ lực và đặc biệt là không thách thức vị thế toàn cầu của Mỹ. Chính vì thế chính sách của Mỹ đối với Trung Hoa nhìn chung vẫn là nhân nhượng, cạnh tranh và hợp tác trên bình diện toàn cầu. Tuy vậy, Mỹ luôn xem Trung Hoa là một đối thủ đe dọa vị thế kính tế, quân sự của Mỹ. Như trên đã nói, ngoài việc tấn công Trung Hoa về dân chủ, nhân quyền, tự do tư tưởng… Mỹ đã bắt đầu hành động vào cuối những năm 2000.
Thể hiện rõ nét nhất bắt đầu từ nhiệm kì đầu của Tổng thống Barack Obama. Phát súng đầu tiên bắt đầu nổ vào ngày 21 tháng 10, 2010 khi Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố “Chúng tôi đã trở lại châu Á”. Sau đó bà khẳng định Mỹ có “lợi ích quốc gia” tại Biển Đông và Mỹ ủng hộ Tuyên bố ứng xử về Biển Đông giữa ASEAN và Trung Hoa năm 2002 tại cuộc họp các nước ASEAN với các đối tác tại Hà Nội. Ngoại trưởng Trung Hoa Dương Khiết Trì khi đó đã bỏ cuộc họp để phản đối sự can thiệp của Mỹ vào Biển Đông. Tiếp theo tháng 10, 2011 Mỹ tuyên bố thực hiện chính sách xoay trục, chuyển 60% nguồn lực quốc phòng về khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoại trưởng Mỹ Clinton viết, nước Mỹ “chuyển hướng chiến lược sang khu vực này… nhằm đảm bảo và duy trì vai trò lãnh đạo thế giới của nước Mỹ”.
Trước tham vọng của Trung Hoa với các bên ở Hoa Đông và Biển Đông, Chính quyền Obama công bố bán gói vũ khí trị giá 6,4 tỉ đô la cho Đài Loan, thổi bùng tranh cãi Mỹ-Trung. Với chính quyền Obama, ngoài việc xử lí hậu quả của hai cuộc chiến ở Afganistan và Iraq, Washington phải xử lí mối quan hệ đầy thách thức với Trung Hoa. Nhưng như Ngoại trưởng Mỹ phát biểu “chúng ta không phải gửi đi một thông điệp vô cớ đến Trung Quốc mà để thể hiện sự chắc chắn trong quan điểm của chúng ta”. Nếu Trung Hoa đi quá xa, nước Mỹ sẽ hành động. Đáp trả việc Trung Hoa áp đặt vùng nhận diện phòng không chồng lấn lên các nước đồng minh (Air Defense Identification Zone- ADIZ) ở Hoa Đông tháng 11, 2013, Mỹ đã điều máy bay B52 bay vào ADIZ của Trung Hoa tuyên bố. Tiếp theo tháng 4, 2014 Tướng Tư lệnh Thủy quân Lục chiến John Wissler đóng tại Nhật đã tuyên bố nếu Trung Hoa chiếm Senkaku, Thủy quân Lục chiến sẽ vào cuộc. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel trong chuyến công du châu Á cũng tuyên bố việc bảo vệ Senkaku là điều hiển nhiên vì nó nằm trong Hiệp ước Quốc phòng Mỹ-Nhật. Thông điệp cảnh báo trên được tô đậm thêm bằng thông điệp tương tự của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel, Trung Hoa không nên làm theo “kiểu Crimea” tại châu Á . Đó là những thông điệp mạnh mẽ kể từ khi Mỹ thực hiện chính sách tái cân bằng.
Sự gia tăng căng thẳng với Việt Nam và Philippine của Trung Hoa nhằm độc chiếm Biển Đông khiến Mỹ và philippines kí Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng, mở đầu việc Mỹ sử dụng 8 căn cứ quân sự ở Philippines, trong đó có Căn cứ Hải quân Subic và Căn cứ Không quân Clark (xin xem bài Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực về Biển Đông, chiến thắng của công lí và thất bại của chủ nghĩa cường quyền cũng trong blog này); đồng thời khiến Mỹ xóa bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Và chưa đầy một tuần sau Phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế mà Trung Hoa bác bỏ, Hải quân Mỹ đã đưa chiến đấu cơ và các máy bay tác chiến điện tử tối tân và quân nhân đến Philippines. Đặc biệt gần đây nhất Đô đốc Cecil D. Haney, lãnh đạo Bộ chỉ huy Chến lược thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết Mỹ đã triển khai ba máy bay ném bom tàng hình có khả năng mang bom nguyên tử B-2 đến đảo Guam để thực hiện các nhiệm vụ tấn công “bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào có lệnh”.
Rõ ràng chúng ta thấy quan hệ Mỹ-Trung nóng lên từng năm cùng với sự gia tăng căng thẳng của Trung Hoa ở Hoa Đông và Biển Đông. Nếu như trong thập niên 90 của thế kỉ trước và trong những năm 2000, mâu thuẫn hai nước chủ yếu chỉ là vấn đề kinh tế, dân chủ, nhân quyền, tự do tư tưởng… thì từ năm 2010 trở đi hai bên đã hành động dẫn đến những  mâu thuẫn thêm về chính trị, quân sự, ngoại giao. Cả hai bên đều bắt đầu tập hợp lực lượng, phương tiện và động chạm đến những “lợi ích cốt lõi của nhau”. Chưa thấy có dấu hiệu nào tỏ ra có sự thỏa hiệp và hòa hoãn giữa hai bên.
Những bước đi chiến thuật gần đây của Trung Hoa
Về phía Trung Hoa họ vẫn tiếp tục gây căng thẳng ở Hoa Đông và Biển Đông. Đặc biệt là ở Biển Đông. Họ vẫn tiếp tục hoàn thiện, đưa vào sử dụng các căn cứ tôn tạo ở Biển Đông, đồng thời có dấu hiệu đang tiếp tục mở rộng thêm sau khi bác bỏ Phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế về Biển Đông. Bắc Kinh muốn tự đặt ra luật chơi. Dựa vào nguyên tắc đồng thuận chết người của ASEAN, Trung Hoa triệt để thực hiện chính sách chia để trị. Họ dùng đòn bẩy kinh tế để “mua” Campuchia ngăn ASEAN ra tuyên bố về Biển Đông và tuyên bố về Phán quyết của Tòa Trọng tài về Biển Đông. Kết quả của chính sách chia để trị đã làm vừa lòng Bắc Kinh khi các nước nhỏ có ý kiến “cần tránh xa ngọn lửa hung dữ từ miệng con rồng nên không thể ra tuyên bố chống lại họ. Trung Hoa không chỉ sử dụng đòn bẩy kinh tế, lực lượng tên lửa chiến lược, chiến thuật, lực lượng hải quân, không quân để ngăn chặn và ép buộc các quốc gia trong khu vực trong cuộc chiến tranh ba mặt trận như phần trên đã đề cập. Cuộc chiến tranh pháp lí, cuộc chiến tranh truyền thông dư luận, cuộc chiến tranh tâm lí cộng với hành động quân sự, bán quân sự, lực lương tầu đánh cá dân sự với mục đích làm đối phương phải nản lòng, hoặc thuyết phục các quốc gia láng giềng hiểu, nếu đi ngược ý chí của Trung Hoa thì cái giá phải trả sẽ không thể chịu đựng nổi. Liệu Trung Hoa có thắng được cuộc chiến với các nước xung quanh trước khi bước vào cuộc chiến quyết định với Mỹ trong tương lai?
Cuộc chiến của Trung Hoa áp đặt luật chơi của mình với các nước đồng minh của Mỹ ở Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Nhật Bản), kể cả Bắc Triểu Tiên và thống trị các nước Đông Nam Á, độc chiếm Biển Đông có lẽ là một ý tưởng ngông cuồng trong giấc mơ Trung Hoa. Liệu Bắc Kinh có thực hiện được trên con đường trỗi dậy an toàn ở châuÁ? Còn việc triển khai chiến lược và phát triển sức mạnh biển, Trung Quốc phải căng mỏng lực lượng trên rất nhiều hướng. Trong khi đó tốc độ phát triển kinh tế bắt đầu chững lại, tiềm lực công nghệ và năng lực viễn hải hạn chế, uy tín chính trị và tầm ảnh hưởng khu vực cũng như quốc tế thấp. Hơn nữa tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải cùng với việc củng cố các yêu sách, tuyên bố chủ quyền phi lí, Trung Hoa còn phải đương đầu với sự phản ứng của hầu hết các quốc gia có vùng biển liên quan tới Trung Hoa từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Việt Nam, Malaisia… Chỉ một Philippines với vụ kiện lên Tòa án Trọng tài Thường trực Liên Hợp Quốc cũng đã đủ làm khuynh đảo giới lãnh đạo Trung Hoa rồi.
Trước mắt Trung Hoa chưa đối đầu với Mỹ. Nhưng chắc chắn Bắc Kinh không bao giờ từ bỏ mục tiêu địa chính trị Đài Loan, Quần đảo Senkaku, gây áp lực với các đồng minh của Mỹ hoặc từ bỏ tuyên bố chủ quyền phi pháp (đã bị Tòa Trong tài Quốc tế bác bỏ) gần như chiếm trọn vùng biển, vùng trời ở Biển Đông. Với việc củng cố mở rộng các đảo tôn tạo thành các căn cứ quân sự, Bắc Kinh sẽ không bao giờ từ bỏ chiến lược pháo hạm của lực lượng hải quân với hệ thống tên lửa chống tàu các loại. Họ sẽ chia rẽ đến cùng mục tiêu chung của các ASEAN nếu đi ngược lại lợi ích của Trung Hoa, vì không có Biển Đông, không thâu tóm được các nước Đông Nam Á Trung Hoa rất khó khăn để có thể phát triển  sức mạnh hải quân, khó có thể trở thành cường quốc biển, và do vậy họ không thể đẩy Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương, không khống chế được một trong tuyến đường vận chuyển huyết mạch của thế giới và của chính họ.
Những bước đi chiến thuật gần đây của Mỹ
Không may cho Trung Hoa, cho đến nay Mỹ không có ý định từ bỏ vai trò lãnh đạo thế giới của mình và cũng không chấp nhận đề nghị của Tập Cận Bình xây dựng mối quan hệ nước lớn kiểu mới Mỹ-Trung. Có nghĩa là Wasinhton không chấp nhận cùng chiếu với Bắc Kinh. Mỹ đã phản ứng với Bắc Kinh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, phản ứng Bắc Kinh trong quan hệ song phương, ở các diễn đàn đa phương, các tổ chức quốc tế, kể cả ở G7, G 20 về vấn đề Biển Đông, yêu cầu Bắc Kinh phải chấp hành Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế về Biển Đông và quyền tự do hàng hải ở Biển Đông… Có nghĩa là Mỹ không cho phép Trung Hoa được đặt ra luật chơi, mà phải tuân theo luật quốc tế hiện hành.
Đối phó với sự thay đổi về chiến lược quân sự mới, với tình trạng vừa ổn định vừa bất ổn định do Bắc Kinh gây ra ở Hoa Đông và Biển Đông, đặc biệt là đối với A2/AD, giới quân sự Mỹ đã xây dựng Chiến lược Tác chiến trên Không trên Biển (Air Sea Battle Operational Concept- ASB). Chiến lược Tác chiến Không-Biển có mục tiêu: “phá hủy, tiêu diệt và đánh bại mọi lực lượng quân sự thù địch của đối phương trên toàn bộ chiều sâu chiến trường, thống trị bầu trời và mặt biển, phong tỏa lục địa của đối phương. Lực lượng quân sự thù địch bao gồm cả đối tượng tác chiến có tiềm lực quân sự hùng mạnh để phong tỏa toàn bộ khu vực Tây Thái Bình Dương”.
Nội dung chủ yếu của Chiến lược Tác chiến Không-Biển là sử dụng tất cả sức mạnh các lực lượng hải quân bao gồm tất cả các cụm tàu sân bay, chiến hạm tác chiến, tàu ngầm, không quân hải quân, lực lượng không quân và các lực lượng khác bao gồm bộ binh, lực lượng đặc nhiệm, lực lượng các nước đồng minh, tác chiến điện tử… với mục đích tấn công, tiêu diệt, bao vây và phong tỏa đất liền trên một không gian chiến trường rộng lớn, nhằm bóp nghẹt và phá hủy, tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa sức mạnh quân sự, vũ khí trang bị chiến tranh của đối phương trên toàn bộ chiều sâu chiến trường trong cuộc chiến tranh phi tiếp xúc, hỏa lực quy mô lớn, độ chính xác cao. Trọng tâm của nó là hệ thống tên lửa phòng thủ, tấn công chống các loại tên lửa, tên lửa đạn đạo, phá vỡ hệ thống chỉ huy và kiểm soát, hệ thống tình báo, giám sát, do thám làm mù, làm câm, làm điếc đối phương.
Xem ra mục tiêu qua lớn, còn phải xem lại nguồn lực của Mỹ để có thể thực hiện được chiến lược Tác chiến Không- Biển hay không. Khi mà Chính quyền Obama đang hướng tới việc cắt giảm 487 tỷ đô la ngân sách dành cho quốc phòng trong vòng một thập kỷ tới. Mỹ giảm nhiều chi phí dành bộ binh, rút khỏi các cuộc chiến tranh ở Afgamistan và Iraq, nhưng lại tăng cường sức mạnh hải quân, không quân và hướng tới châu Á. Mặc dầu ông Obama nói việc “cắt giảm chi tiêu ngân sách quốc phòng sẽ không ảnh hưởng gì đến chính sách của chúng tôi ở khu vực này”. Nói vậy, nhưng nước Mỹ ngoài việc phải tập trung đối phó với Trung Hoa, Mỹ còn phải đối phó với những thách thức ở châu Âu và Trung Đông. Liệu Mỹ có đủ nguồn lực dành cho quốc phòng trong khi phải cắt giảm ngân sách?
Cho đến thời điểm hiện tại, trên lĩnh vực chính trị, việc tập hợp lực lượng xung quanh khu vực châu Á-Thái Bình Dương rõ ràng Mỹ đã gặt hái được rất nhiều thành công. Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã củng cố liên minh Mỹ-Hàn, Mỹ-Nhật, Mỹ-Australia và Mỹ-Philippines chặt chẽ hơn bao giờ hết. Quan hệ Mỹ-ASEAN đã định hình được khuôn khổ chiến lược kinh tế, chính trị, an ninh tốt đẹp trong tương lai sau Hội nghị Sunderland giữa Mỹ với mười nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Hơn nữa quan hệ Mỹ-Ấn Độ cũng tốt đẹp hơn bao giờ hết, đặc biệt là quan hệ quốc phòng chia sẻ, sử dụng các căn cứ quân sự hậu cần giữa Mỹ và Ấn Độ.
Ngoài ra, trong Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á hay còn gọi là Hội nghị Shangri-la 15 (xin xem bài Đằng sau Shangri-la cũng trong blog này) ngày 14 tháng 6, 2016 tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ kêu gọi xây dựng một mạng lưới an ninh tập thể mới (collective security network), dựa trên những nguyên tắc và chuẩn mực chung. Đây là một xu thế mới mà bản chất là an ninh tập thể do Mỹ lãnh đạo nhằm đối phó với Trung Hoa. Chắc chắn điều này đang và sẽ được nhiều quốc gia ủng hộ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy nó đang và sẽ tạo ra một cục diện mới ở châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ làm được điều này không chỉ có nhờ vào khả năng của Mỹ mà còn là nhờ vào tham vọng bành trướng và biểu hiện sức mạnh cơ bắp của Trung Hoa, khiến các nước đều ngả về phía Mỹ để cân bằng trước một Trung Hoa trỗi dậy không phải là hòa bình như họ nói. Bắc Kinh đang coi mình, đang biến mình trở thành một Thiên triều như hàng ngàn năm lịch sử phong kiến trước đây.
Kết luận
Tựu chung lại, chính quyền hai nước Mỹ-Trung vẫn đang thực hiện những bước đi nằm trong tính toán chiến lược của họ. Hai năm qua, năm 2015-2016, cả hai nước đã đẩy xung đột lên đến cao độ. Trước mắt, trận tuyến ưu tiên hàng đầu của Trung Hoa là Hoa Đông và Biển Đông (theo người viết Biển Đông là mặt trận chính). Trung Hoa đã huy động sức mạnh tổng hợp quốc gia, đặc biệt là sức mạnh quân sự cho hướng đông và đông nam. Mỹ cũng bước vào giai đoan ba, giai đoạn hoàn thành việc cơ cấu lại lực lượng quân sự, chuyển 60 sức mạnh quân sự sang châu Á-Thái Bình Dương, tập hợp và củng lực lượng đồng minh cùng với các đối tác nhằm đối phó với Trung Hoa. Về mặt quân sự có thể nói Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng đang diễn ra một cuộc so găng quân sự lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cả hai phía đều thúc đẩy xung đột, hay nói đúng hơn tiến hành leo thang một cách có chủ ý. Chưa đến mức chiến tranh nhưng có thể nói là hoàn toàn không bình thường. Tình trạng này sẽ kéo dài trong bao nhiêu lâu còn tùy thuộc vào việc quản lý leo thang xung đột của cả hai bên. Nhưng chắc chắn cả hai bên đều không từ bỏ mục tiêu của mình.
Quan hệ Mỹ-Trung có thể nói từ nay trở đi sẽ là một giai đoạn đầy thách  thức khó khăn đối với cả hai bên. Họ vẫn là đối thủ hợp tác và cạnh tranh, nhưng họ là đối thủ nguy hiểm của nhau, việc canh tranh cũng ngày càng nguy hiểm hơn, nhất là việc cạnh tranh chạy đua về mặt quân sự. Với Trung Hoa, bài học về sự sụp đổ của Liên Xô vẫn còn mang tính thời sự. Với Mỹ, cuộc chiến tranh lạnh như thời kỳ 1950 đến 1991 vẫn còn để lại quá nhiều di chứng. Tuy nhiên, cuộc chiến thầm lặng giữa hai nước thực sự đã bắt đầu. Xét về mặt địa chính trị, Trung hoa chưa được gì ngoài mấy hòn đảo chơ vơ ở Biển Đông. Còn Mỹ thì đang hoàn thành giai đoạn cuối của chiến lược xoay trục (dự kiến đến năm 2020 thì hoàn thành). Thực tế họ có nhiều bài hơn so với Trung Hoa. Và hình như người Mỹ vẫn chưa có ý định đối đầu trực tiếp với Trung Hoa.
So với Mỹ, Trung Hoa ở thế bất lợi hơn.  Trung Hoa đang bị bao vây bởi các nước có quan hệ đồng minh, quan hệ đối tác với Mỹ. Từ Đông Bắc Á đến Đông Nam Á, từ Hàn Quốc, Đài Loan đến Nhật Bản, Phillipines, Úc, và Ấn Độ … Tất cả đang hình thành một thế trận làm phức tạp hơn rất nhiều cho những toan tính của Bắc Kinh. Tại sao Mỹ lại tập hợp được các nước đồng minh và các đối tác như vậy? Vì Mỹ đã đồng nhất được lợi ích của mình với lợi ích của các đồng minh và các nước đối tác- đó là tự do hàng hải phù hợp với luật quốc tế cũng như quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích biển hợp pháp của các nước Đông Á.
Để trỗi dậy trở thành cường quốc đứng đầu châu Á như mục tiêu của Trung Hoa, trước khi đối đầu với Mỹ, họ phải khuất phục được Nhật Bản. Hai nước Nhật-Trung đã không thể chung sống hòa bình trong suốt hàng nghìn năm qua. Trong lịch sử cận đại, hiện đại, quan hệ giữa hai nước này có không ít thù hận. Trung Hoa đã từng bị Nhật Bản thống trị. Và giờ đây liệu một Trung Hoa đầy tham vọng muốn chi phối trật tự châu Á và một Nhật Bản hùng cường, với sự lãnh đạo của Chính quyền Shinzo Abe đã và đang thay đổi hiến pháp hòa bình có thể cùng tồn tại mà không xảy ra chiến tranh? Và đứng đằng sau Nhật Bản chắc chắn là Mỹ, liệu hai nước có thể đưa giấc mộng của người Trung Hoa thành giấc mộng hồ điệp?
Cũng như vậy với Ấn Độ, liệu có thể xảy ra một cuộc chiến tranh Trung-Ấn như năm 1962? Đến bây giờ Trung Hoa vẫn còn chiếm đến 20.000 km vuông của Ấn Độ, chắc người Ấn vẫn chưa quên chuyện cũ và hiện tại họ đã chuẩn bị rất kĩ càng cả về mặt lục quân, không quân và hải quân. Đầu tư cho quân sự của Ấn Độ ngày càng ấn tượng cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Nếu Trung Hoa là một con rồng thì Ấn Độ là một con voi. Sự thay đổi chính sách chính trị, kinh tế và quân sự của Thủ tướng Narenda Modi thực sự đang cản trở giấc mơ Trung Hoa. Chưa bao giờ quan hệ Mỹ-Ấn gần gụi nhau như ngày hôm nay. Họ cùng chia sẻ cơ sở vật chất quân sự, chia sẻ công nghệ sản xuất máy bay và một số loại vũ khí. Nếu chiến tranh xảy ra, một liên minh Ấn-Mỹ chắc rằng Trung Hoa sẽ không thể chịu đựng nổi.
Trung Hoa có một chính sách có thể chiếm trọn Biển Đông như mong muốn của Bắc Kinh, cách duy nhất sử dụng vũ khí kinh tế và quân sự- thực hiện phương thức xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ (cách thức này họ có gien rồi), cộng với cách thức của chủ nghĩa thực dân mới và chủ nghĩa phát xít (cách thức này họ đã và đang học), khống chế toàn bộ các nước ASEAN như ý định sinh thời của Mao Trạch Đông. Bởi vì có đến sáu quốc gia ven biển có vị trí chiến lược trên tuyến hàng hải quốc tế án ngữ Biển Đông, tất cả các nước đó lại có xu hướng kết bạn với Mỹ để cân bằng trước một con rồng đang hét ra lửa. Nhưng Mỹ cũng đang kéo họ vào một liên minh, tăng cường năng lực quân sự cho các nước. Lực lượng quân sự của Mỹ ở Guam, ở Philippines, ở Darwin… Và từ những địa điểm đáng tin cậy Mỹ sẵn sàng triển khai lực lượng hành động. E rằng con mồi ASEAN quá lớn, nếu Trung Hoa cố nuốt thì vỡ bụng mất.    
Ngay cả Bắc Triều Tiên và Việt Nam, hai nước cùng chung ý thức hệ với Trung Hoa, nhưng chắc chắn hai nước không chấp nhận làm vùng đệm cho Trung Hoa nếu có chiến tranh với Mỹ. Bắc Kinh không thể áp đặt ý chí của mình với Bắc Triều Tiên đang bị cộng đồng quốc tế cô lập, thì Bắc Kinh càng không thể áp đặt ý chí của mình đối với Việt Nam. Nếu Trung Hoa mở rộng sức mạnh biển bằng con đường bành trướng cường quyền thì họ không chỉ vấp phải chiến lược A2/AD ở tất cả các nước láng giềng áp dụng chống lại họ mà còn vấp phải chiến lược ASB gần như vô đối của Mỹ.
Trong các cuộc chiến tranh lớn ở bên ngoài, gần như người Mỹ không khai chiến từ ban đầu, họ thường để cho các đối thủ giao chiến đến một mức độ nào đó rồi mới tham gia. Phải chăng Mỹ đang áp dụng chiêu thức này trước một Trung Hoa đang khoe cơ bắp với các nước láng giềng. Theo Reuter chi tiêu quốc phòng Trung Hoa năm 2016 là 146,67 tỉ đô la, mức tăng liên tục trong hàng chục năm qua. Ngoài Trung Hoa, các nước Đông Á cũng có mức chi tiêu quốc phòng vào loại cao nhất thế giới. Chuyện gì sẽ xảy ra khi mà các bên đều tăng cường tiềm lực quốc phòng? Người Trung Hoa có truyền thống “quan sơn tọa hổ đấu” và đúng là họ đã đứng ngoài xem Mỹ-Liên Xô đấu nhau gần nửa thể kỉ trước, đứng ngoài xem Mỹ-Khủng bố đấu nhau từ năm 2001 đến nay để hưởng lợi. Bây giờ đã đến lúc họ đấu với Mỹ chưa? Cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Xô đã chấm dứt. Cuộc chiến chống Khủng bố của Mỹ vẫn đang tiếp diễn. Liệu một cuộc chiến Mỹ-Trung hay một cuộc chiến ở châu Á-Thái Bình Dương có xảy ra trong thời gian tới?



Read More

Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực về Biển Đông, chiến thắng của công lí và thất bại của chủ nghĩa cường quyền

Leave a Comment

Ngày 12 tháng 7 năm 2016 Tòa Trọng tài Thường trực tại La Hay Hà Lan (Permanent Court of Arbitration-PCA) đã ra phán quyết về Đường chín đoạn và yêu sách Quyền lịch sử của Trung Quốc trên các vùng biển thuộc Biển Đông (a), Tòa kết luận không có căn cứ pháp lí nào để Trung Quốc yêu sách các quyền lịch sử đối với tài nguyên, bên ngoài những quyền quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), tại các vùng biển nằm bên trong đường chín đoạn. Về Qui chế của các cấu trúc tại Biển Đông (b), Tòa  kết luận rằng Công ước không quy định việc một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa có các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất và Trung Quốc vi phạm quyền chủ quyền của Philippines đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines. Về các hành vi của Trung Quốc tại Biển Đông (c), Tòa kết luận Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ theo Công ước liên quan đến an toàn hàng hải. Và cuối cùng (d), Tòa kết luận Trung quốc đã làm trầm trọng thêm tranh chấp giữa các bên bằng các hoạt động cải tạo đất qui mô lớn và xây dựng các đảo nhân tạo tại 7 cấu trúc tại Trường sa, phá hủy môi trường và hệ sinh thái của vùng biển...
Có thể nói Phán quyết bác bỏ Đường chín đoạn (Đường lưỡi bò) của Tòa là chiến thắng vang dội của Philippines trước một Trung Quốc bành trướng đầy tham vọng. Đó cũng là chiến thắng của công lí và thất bại của chủ nghĩa cường quyền. Nó giáng một đòn chí mạng vào yêu sách biển, các quyền đối với vùng biển và thẩm quyền trong việc tiến hành các hoạt động ở vùng biển này. Mặc dầu Trung Quốc ra sức lôi kéo một số các quốc gia ủng hộ lập trường của mình, ra sức phản đối phán quyết của Tòa, nhưng phán quyết chung thẩm của Tòa mang tính chất ràng buộc với một thành viên tham gia kí kết Công ước như Trung Quốc, nó có ảnh hưởng sâu sắc tới tình hình khu vực Đông Nam Á và cục diện trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Lần lại hồ sơ các cường quốc chống lại các phán quyết của tòa, gần đây nhất, thế giới có hai vụ kiện mà chính phủ hai nước không tham gia và chống đối phán quyết của tòa án quốc tế. Đó là vụ Chính phủ Nicaragua kiện Mỹ tài trợ cho một tổ chức chống Nicaragua và vụ Chính phủ Hà Lan kiện Nga bắt và phạt tù 30 thành viên Greenpeace phản đối Nga khai thác dầu tại Bắc Cực. Cuối cùng dưới sức ép của công luận, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Nga đều phải tuân theo phán quyết của tòa. không lẽ Trung Quốc muốn trở thành một quốc gia duy nhất chà đạp lên luật pháp quốc tế? Nếu làm vậy các nước trên thế giới sẽ bất mãn, cảnh giác và xa lánh, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN sẽ thúc đẩy việc tăng cường sức mạnh quân sự, liên kết với Mỹ, Nhật Bản, Ấn độ thành một mặt trận để đối trọng với Bắc kinh.
Thế giới hiện nay rất cần đến luật pháp, dù là luật pháp quốc tế hay là luật pháp trong nước. Các cường quốc càng cần đến luật pháp để tồn tại trong hòa bình, trật tự. Bắc kinh không thể nằm ngoài vòng pháp luật. Thật nguy hiểm cho Bắc Kinh, nếu họ không tuân thủ luật pháp thì người dân của họ cũng sẵn sàng dẫm lên luật do chính họ ban hành. Hậu quả về đối nội đối ngoại sẽ không thể nào lường hết được.
Với tư cách cá nhân, tôi vô cùng cảm ơn người Philippines. Họ đã làm được một điều phi thường mà các nước có tranh chấp với Trung Quốc chưa làm được. Cảm ơn Tổng thống Philippines Benigno Aquino, người quyết định kiện Trung Quốc lên một tòa án quốc tế vì những yêu sách tham lam, phi lí của Trung Quốc trên Biển Đông. Có thể nói, việc đưa gã khổng lồ hung hăng cơ bắp ra tòa án quốc tế là một việc làm hết sức can đảm và khôn ngoan. Trong mười lăm điểm, Tòa chọn xét bảy điểm và phán xét của Tòa hoàn toàn ủng hộ lập trường của Philippines. Người Philippines có quyền tự hào vì những gì mình đã làm trong suốt ba năm qua.
Chiến thắng trong vụ kiện vượt ngoài mong đợi của tất cả những người yêu chuộng hòa bình. Trước hết nó làm sáng tỏ nhiều điều khoản của UNCLOS mà một số quốc gia còn mơ hồ và ngay ở cả Việt Nam, không ít người còn bán tín bán nghi về cái quyền của Trung Quốc ở trên Biển Đông. Tòa đã kết luận trên cơ sở pháp lí khách quan, khoa học, chính xác, chặt chẽ về việc Trung Quốc áp dụng sai, giải thích sai UNCLOS, bác bỏ đòi hỏi chủ quyền lịch sử và đường chín đoạn chiếm gần hết Biển Đông của Trung Quốc; chỉ ra những hành vi xâm phạm chủ quyền, làm căng thẳng thêm xung đột và phá hủy môi trường sinh vật biển của Trung Quốc.
Tôi cho rằng mưu đồ và hành động sai trái của Bắc Kinh trong suốt bao nhiêu năm qua là nguyên nhân của những căng thẳng, gây xung đột trên biển đông không chỉ giữa Trung Quốc với Philippines mà còn gây căng thẳng và xung đột với Việt Nam, Malaisia, Brunei và Inđônêsia. Phán quyết của Tòa Trong tài Quốc tế như câu thành ngữ người viêt thường nói: “Cháy nhà ra mặt chuột”. Dù họ có trăm phương ngàn kế biện hộ, phủ nhận, lôi kéo các nước ủng hộ, đe dọa các nước có liên quan, cả vú lấp miệng em trong các hội nghị quốc tế thì mặt chuột vẫn là mặt chuột.
Đối với khu vực ASEAN, với phán quyết của Tòa về điểm a, cùng với phán quyết về điểm b, xác định các thực thể (Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp) không có qui chế lãnh hải quá 12 hải lí, thậm chí có thực thể không quá 500m, phán quyết đó đã thu hẹp phạm vi tranh chấp giữa các bên liên quan với Trung Quốc rất nhiều, có thể nói gần như không còn cái gọi là vùng chồng lấn mà Trung Quốc cố tình tạo ra để vơ về mình, để đòi thương lượng chia chác tài nguyên với các nước trong phạm vi 200 hải lí vùng đặc quyền kinh tế của họ. Nó tạo ra cơ sở pháp lí vững chắc để Philippines và các nước tiếp tục đấu tranh hòa bình với Trung Quốc để bào vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp.
 Vì Phán quyết có thể áp dụng tương ứng cho các yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của các nước có tranh chấp nên nó sẽ thu hút được sự ủng hộ của tất cả các nước có tranh chấp, thống nhất được lập trường, đoàn kết phản đối bất cứ hành động nào dựa trên quyền lịch sử đường chín đoạn đối với các nguồn tài nguyên của họ. Nó khiến một số nước trong khối ASEAN không thể vì đồng tiền viện trợ của Trung Quốc mà xa rời mục tiêu đấu tranh vì hòa bình và vì vai trò vị thế của ASEAN trong cấu trúc của khu vực.
Đối với thế giới, phán quyết của Tòa không chỉ thay đổi cuộc chơi của các bên tranh chấp ở Biển Đông mà còn khẳng định, quyền tự do hàng hải trên tuyến Biển Đông không thể bị Trung Quốc vin vào đòi hỏi quyền lịch sử và đường chín đoạn tự vẽ ra để cản trở, kể cả việc đi qua bảy thực thể Trung quốc đã và đang tiến hành cải tạo thành các căn cứ quân sự. Phán quyết chỉ ra và đảm bảo rằng các vùng nước bên trong Biển Đông, nằm ngoài 12 hải lí từ các thực thể là khu vực biển mở cho tất cả các quốc gia thực hiện tự do hàng hải, hàng không và các hoạt đông quân sự. Nó được Mỹ và các nước phương Tây ủng hộ. Nó khẳng định cơ sở pháp lí cho việc Mỹ tiếp tục đưa tàu hải quân và máy bay đi qua vùng biển. Nó cũng khuyến khích Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Pháp cùng với các thành viên Liên minh châu Âu tuần tra qua vùng biển mà luật pháp quốc tế cho phép để bảo vệ quyền tự do hàng hải.
Phán quyết của Tòa cũng giúp Mỹ duy trì và mở rộng sáng kiến an ninh tập thể đã được Bộ Trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đưa ra tại Đối thoại Shangri-la trước đó ít ngày. Mỹ sẽ là người kiến tạo, dẫn dắt một khối an ninh tập thể mới (tôi đã có bài viết riêng cũng trong blog này- Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Châu Á năm 2016) dựa trên những nguyên tắc và chuẩn mực chung, tạo điều kiện cho những hành động tập thể nhằm tiết chế thái độ quyết đoán của Trung Quốc, tăng cường nhận thức lĩnh vực biển trong khu vực và hướng tới một  hoạt động chung của các nước ở Biển Đông. Phán quyết càng thúc đẩy Mỹ làm việc với các quốc gia ĐNA, đặc biệt là các nước có tranh chấp với Trung Quốc nhằm cải thiện khả năng của họ trong việc hiểu biết, phát hiện, ứng phó và chia sẻ thông tin về hoạt động trên không, trên biển ở khu vực Biển Đông.
Tôi tự hỏi mình vì sao người Philippines lại làm được cho đất nước và cho cả khu vực cũng như quốc tế một điều kì diệu và có ý nghĩa lớn lao đến như vậy.
Sau những năm 1970, Mỹ dần rút khỏi các lực lượng quân sự ra khỏi Việt Nam và ĐNA, Mỹ đã để lại một khoảng trống quyền lực và Trung Quốc đã tận dụng cơ hội nhanh chóng lấp dần cái khoảng trống đó, bắt đầu từng bước mở rộng bành trướng lãnh thổ trên biển, từng bước thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông và tăng cường quyền lực của mình ở Đông Nam Á (ĐNA).
Năm 1974 Trung Quốc chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa từ Chính quyền Sài Gòn thuộc Việt Nam mở đầu cho âm mưu bành trướng trên Biển Đông. Năm 1979 Trung Quốc phát đông cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam. Năm 1988 Trung Quốc lợi dụng Việt Nam đang trong cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng đánh chiếm 5 đảo trong Quần đảo Hoàng sa của Việt Nam. Và từ đó đến nay Trung Quốc không ngừng tiến hành những hành động xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam. Các cuộc đàm phán giữa hai bên đều rơi vào bế tắc vì những đòi hỏi phi lí về chủ quyền của Trung Quốc.
Với Philippine Trung quốc cũng có những hành động bành trướng như đối với Việt Nam. Lợi dụng Mỹ rút khỏi căn cứ hải quân Subic năm 1992, chấm dứt sự hiện diện của hải quân Mỹ từ khi Mỹ giành được Philippines từ Tây Ban Nha năm 1898, Trung Quốc bắt đầu thực hiện chiến lược lát cắt salami, xâm chiếm các đảo tranh chấp với Philippines. Tháng 2 năm 1995 Trung Quốc chiếm rạn san hô đá Vành khăn, sau đó vây ép bãi Cỏ Rong. Năm 2012 Trung Quốc tiếp tục gây hấn ở Bãi cạn Scarborough. Sau mấy tháng trời dùng mọi thủ đoạn, Trung Quốc đã chiếm Bãi cạn, cấm người Philippine đánh cá tại các ngư trường truyền thống xung quanh Bãi cạn Scarborough, nằm trong thềm lục địa Philippines.
Các cuộc đàm phán thương lượng từ năm 1995 đến năm 2013 giữa Trung Quốc và Philippines cũng đều rơi vào ngõ cụt, lí do cũng tương tự như đối với Việt Nam- độc chiếm Biển Đông. Trong bối cảnh Trung Quốc xé bỏ Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông mà Trung Quốc đã kí với ASEAN NĂM 2002, ngạo mạn thông báo với Liên hợp quốc chủ quyền không tranh cãi của họ với các đảo trên Biển Đông; rồi ngông cuồng áp đặt vùng nhận diện phòng không (ADIZ) tại Biển Hoa Đông chồng lấn lên ADIZ của Hàn Quốc và Nhật Bản, Tổng thống Benigno Aquino biết ông cần ai và ai cần đến Philippines; ông buộc phải lựa chọn hoặc tiếp tục đi với Trung Quốc hoặc làm sống lại mối quan hệ quân sự với Mỹ vì quyền lợi của dân tộc. Ông đã không do dự kí Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường với Mỹ (Enhenced Defense Cooperation  Agreement) ngày 28 tháng 4 năm 2014. Ông Aquino hiểu rất rõ đi trên dây với Trung Quốc sẽ còn mất đất, mất chủ quyền và ông bắt đầu cuộc chiến pháp lí với Trung Quốc, đồng thời xây dựng một mối quan hệ chiến lược mới với Mỹ, đất nước ông tin sẽ không bao giờ cướp đất và đoạt chủ quyền của Philippines.
Ông Aquino đã nhận nhiều tầu tra, các tàu chiến của Mỹ-Nhật, tham gia mạng lưới an ninh cùng với Mỹ-Nhật. Tháng 4 năm 2015, Mỹ đã yêu cầu Philippines được tiếp cận và sử dụng 8 căn cứ quân sự, trong đó có căn cứ hải quân Subic và căn cứ không quân Clark, một lưỡi kéo nhằm cắt đứt đường lưỡi bò. Tháng tư năm 2016, Mỹ và Philippines tổ chức diễn tập quân sự 10 ngày. Sau thời gian diễn tập, nhiều chiến đấu cơ và trực thăng cùng với 200 lính Mỹ đã lưu trú tại căn cứ Clark. Và khi Tòa trọng tài Thường trực Liên hợp quốc ra phán quyết, hải quân Mỹ đưa tàu chiến, tàu sân bay đến Biển Đông, đưa thêm chiến đấu cơ và máy bay tác chiến điện tử tối tân E/A-18 G Growler và 120 nhân viên quân sự để trinh sát Biển Đông và giúp đỡ Philippines huấn luyện quân đội.
Không biết việc làm của cựu Tổng thống Philippines Aquino sẽ còn giúp Philippines trong tương lai đi đến đâu trong mối quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền, nhưng chắc chắn việc ông đưa Trung Quốc ra tòa và xây dựng mối liên minh mới với Mỹ-Nhật sẽ còn có tác động đến đất nước ông, đến ĐNA và đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và với những việc mà Philippines đã làm, Trung Quốc sẽ được gì và mất gì mang tính chất chiến lược. Về vấn đề này tôi sẽ đề cấp đến trong một bài viết khác.
Riêng đối với Việt Nam, Phán quyết của Tòa hoàn toàn có lợi trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc để đảm bảo chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp mà bao nhiêu năm qua Trung Quốc đã xâm phạm. Nó làm cho các nước trên thế giới hiểu hơn về Việt Nam. Người Việt Nam sẽ vững tin hơn vào công lí và vào UNCLOS, tiếp tục kiên trì các hình thức đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình, trong đó có hình thức đấu tranh bằng pháp lí, đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế khi cần.
Có một điều cần lưu ý vì Tòa không phán quyết về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với các thực thể trên Biển Đông, vì điều đó nằm ngoài phạm vi của UNCLOS nên chắc chắn Bắc Kinh còn trơ trẽn đòi hỏi “chủ quyền không thể tranh cãi” đối các thực thể ở Trường Sa. Việt Nam sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn trước âm mưu cường quyền của chủ nghĩa Đại Hán.
Mặc dầu vậy, Việt nam có thể nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ kiện của Philippines, áp dụng kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài Thường trực Liên hợp Quốc hoặc một tòa án quốc tế nào đó thích hợp để giành lại chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp tại Quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm trái phép từ năm 1956 và năm 1974. Bởi vì những đòi hỏi về quyền lịch sử và cái đường chín đoạn đã bị Tòa ra phán quyết bác bỏ, Trung Quốc không có căn cứ pháp lí nào để biện hộ cho hành động xâm lược của họ trong qua khứ. Tất nhiên sau phán quyết của Tòa, chúng ta cũng phải rà soát điều chỉnh một số tiểu tiết về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về mặt pháp lí sao cho phù hợp với UNCLOS. Phải xác định rõ phạm vi các thực thể, các bãi nổi bãi chìm, xác định quyền và lợi ích của chúng ta một cách cụ thể, rõ ràng.
Tôi biết rằng việc kiện Trung Quốc ra một tòa án quốc tế như thế nào và khi nào còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng chúng ta không thể không chuẩn bị kĩ càng cho một cuộc chiến pháp lí, vì chúng ta không thể giành lại Quần đảo Hoàng Sa bằng sức mạnh chính trị và quân sự. Trong khi đó nguy cơ bị chèn ép, bị xâm hại chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp đã, đang và sẽ còn diễn ra trong thời gian sắp tới. Đó là điều ai cũng có thể dự đoán trước.
Sẽ có người đặt câu hỏi tại sao philippines làm được mà chúng ta lại không làm được? Phải chăng chúng ta không có đủ cơ sở pháp lí, không có đủ trí tuệ và bản lĩnh hay chưa có thời cơ? Phải chăng chúng ta sợ chọc giận Trung Quốc thì họ sẽ xâm lược trên quy mô lớn hoặc bao vây cấm vận làm suy sụp kinh tế đất nước? Phải chăng vì Việt Nam cùng chế độ chính trị với Trung Quốc và vì cái 4 tốt và 16 chữ vàng đầu lưỡi? Và còn những lí do không thể nói thẳng ra được nữa... Tôi biết việc kiện Trung Quốc như thế nào và khi nào là rất khó, và sẽ có người cho rằng kể cả kiện thắng như Philippines thì có chắc giải quyết được vấn đề hay không? Cứ chờ xem philippines được cái gì sau khi thắng kiện…
Quyền lịch sử và đường chín đoạn tưởng tương giống như cái phép thắng lợi tinh thần của  người Trung Quốc mà Lỗ Tấn viết trong AQ chính truyện. Tòa Trọng tài đã bác bỏ cơ sở pháp lí hoang tưởng của nó. Người Trung Quốc sẽ phản ứng quyết liệt, thậm chí sẽ làm càn, bất chấp thể diện của một nước thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, một cường quốc đang “trỗi dậy hòa bình”. Các nước đang cảnh giác giữa lời nói và việc làm của Bắc Kinh.
Nhưng dù sao đi nữa cá nhân tôi vẫn tin vào công lí, tin vào UNCLOS, tin vào lãnh đạo và người dân Trung Quốc chính trực. Tôi  tin rằng Đảng và Nhà nước ta đã, đang chuẩn bị những phương án cần thiết để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích hợp pháp của dân tộc như tổ tiên chúng ta từ hàng nghìn năm nay vẫn giữ vững được chủ quyền đất nước. Và tôi cũng tin rằng bài học về vụ kiện của Philippines sẽ được các cơ quan chức năng Nhà nước nghiên cứu tường tận. Bài học này có thể góp phần về mặt thực tiễn giúp cho công cuộc đấu tranh trên mặt trận pháp lí của Việt Nam trong thời gian sắp tới. 

Read More

tại sao Mỹ là siêu cường và sẽ vẫn là một siêu cường

2 comments
Sau một chuyến đi dài hơn một tháng qua bốn bang của Mỹ tôi lại quay trở về Longmont, bang Colorado vào lúc 9h00. Mặc dầu thấm mệt, tôi vẫn dừng lại cùng dòng người xem màn bắn pháo hoa của thành phố. Thực ra đêm hôm trước, tại bữa tiệc chiêu đãi chứa chan tình cảm của chị Thúy, người phụ nữ Quảng Ninh lấy chồng Mỹ ở thành phố Columbia, Missouri, chúng tôi đã được xem một màn pháo hoa hai mươi phút của riêng những nhà giàu có trong khu phố, tổ chức bắn chào mừng quốc khánh Mỹ tại một bờ hồ rộng rãi. Sau khi thưởng thức màn pháo hoa đó, tôi còn chứng kiến rất nhiều nhà xung quanh khu vực bắn hàng chục quả pháo lên bầu trời, cả một vùng sáng bừng pháo hoa lộng lẫy bao sắc mầu huyền ảo. Đúng là phong cách của người Mỹ.
Sáu năm trở lại đây, năm nào tôi cũng có dịp sang Mỹ từ hai cho đến ba tháng. Tôi đi khá nhiều bang, đọc và biết về thực tế nước Mỹ cũng tàm tạm, nhưng chưa bao giờ tôi đặt ra cho mình câu hỏi tại sao nước Mỹ lại trở thành một siêu cường trong suốt gần thế kỉ thứ 20 và có lẽ đến giữa thế kỉ thứ 21 cũng chưa có quốc gia nào, hay một thực thể nào giành được cái địa vị đó của người Mỹ. Có lẽ vì đã được học về Hoa Kỳ ở nhà trường với những giáo sư đầu ngành về quan hệ quốc tế nên tôi hiểu phần nào về lịch sử nước Mỹ. Và trong đầu tôi, Mỹ mặc nhiên là một siêu cường duy nhất sau khi Liên Xô sụp đổ.
Chỉ khi xem xong màn pháo hoa tại Longmont, trên đường trở về nhà, lại chứng kiến cảnh nhiều gia đình người Mỹ bắn pháo hoa, cộng với những gì đã thấy từ đêm hôm trước, tôi mới đặt ra câu hỏi tại sao người dân Mỹ lại giầu có như vậy và trên hết tại sao nước Mỹ lại vượt lên các cường quốc châu Âu như Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức và trở thành một siêu cường duy nhất hiện nay.
Trong lịch sử nhân loại, đã xuất hiện những cường quốc hùng mạnh, tiêu biểu như Đế quốc La Mã, Đế quốc Mông Cổ, Đế quốc Anh và đối với người Việt các đế quốc phong kiến Trung Quốc cường thịnh như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã từng xâm lược Việt Nam, tất cả cuối cùng đều bị sụp đổ. Theo các sử gia, Đế chế La Mã sụp đổ  không phải do các mối đe dọa từ bên ngoài. Nguyên nhân nằm ở các cuộc nội chiến kéo dài, tàn phá nền kinh tế và phụ thuộc vào binh lính đánh thuê. Đế quốc Mông cổ tan rã do tranh giành quyền lực giữa các thế lực trong nội bộ, phân thành bốn vương quốc, lần lượt sụp đổ và bị các thế lực khác chinh phục. Đế quốc Anh trải rộng khắp các châu lục trên thế giới, thống trị nhiều nền văn hóa và trực tiếp cai trị thuộc địa thông qua các chính quyền sở tại và cuối cùng sụp đổ vì chính cái đế chế khổng lồ của nó. Các đế chế Trung Quốc lần lượt ra đi cũng nằm trong các nguyên nhân chung trên.
Với Đế quốc Mỹ, quân đội của họ có khả năng đánh bại mọi kẻ thù mạnh như Đế quốc Mông cổ, sau khi Liên Xô tự sụp đổ trong cuộc chạy đua với Mỹ, giống như Đế quốc La Mã, Mỹ không có đối thủ về mặt quân sự. Họ thống trị vùng trời, vùng biển và chiếm ưu thế tuyệt đối trên đất liền. Điều quan trọng nhất, tương tự như Đế quốc Anh, Mỹ xây dựng quyền lực dựa trên nền thương mại toàn cầu và lực lượng không hải quân hùng mạnh có thể tiếp cận mọi tuyến đường biển lớn của thế giới. Tuy nhiên, theo quy luật, dù chiếm ưu thế đến đâu về mặt kinh tế và quân sự, sự phát triển của các cường quốc đều có giới hạn của nó. Nước Mỹ cũng vậy, họ sẽ giữ được ngôi vị của mình bao nhiêu lâu nữa. Ba mươi năm, năm mươi năm hay một thế kỉ?
Nhìn trên bản đồ và tìm hiểu về địa lí kinh tế, địa chính trị người ta thấy nước Mỹ được thiên nhiên rất ưu đãi. Nước Mỹ có điều kiện cần và đủ để vươn lên để trở thành một cường quốc có tầm cỡ toàn cầu từ thế kỉ 19. Hầu như mọi người đặt chân đến đất nước cờ hoa đều choáng ngợp trước điều kiện tự nhiên của nước này. Nước Mỹ được che chở giữa hai đại dương lớn của thế giới, lãnh thổ rộng trên 9,3 triệu cây số vuông, có những con sông dài dọc ngang đất nước, những hồ nước lớn phân bổ khắp mọi nơi, những cánh rừng um tùm nhìn hút tầm mắt, những cánh đồng bát ngát phì nhiêu, những cánh đồng cỏ bao la đến tận chân trời; tài nguyên khoáng sản phong phú, dồi dào vào bậc nhất thế giới và tài nguyên biển giàu có, tiềm tàng ẩn giấu giữa hai đại dương rất đa dạng. Có thể nói nước Mỹ có điều kiện địa kinh tế, địa chính trị lí tưởng nhất so với các đế quốc từ trước đến nay.
Trong lịch sử thế giới, không có một đế quốc nào bắt đầu từ khi ra đời (4-7-1776) lại phải bỏ ra một chi phí thấp cho công việc bảo vệ an ninh quốc gia và trong một thời gian rất dài không phải lo ngại các thế lực bên ngoài xâm phạm bờ cõi như nước Mỹ. Kể từ năm 1865, sau khi kết thúc nội chiến Nam-Bắc, nước Mỹ không xảy ra một cuộc chiến tranh quy mô lớn nào. Trong hơn 120 năm, kể từ khi tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại, giành được độc lập từ Đế quốc Anh tới khi Phát xít Nhật đánh vào Trân Châu Cảng (7-12-1941), chủ quyền lãnh thổ Mỹ chưa bị đe dọa lần nào. Chỉ khi Liên Xô phóng vệ tinh lên quỹ đạo vào năm 1960, có thể đưa đầu đạn hạt nhân tới Mỹ thì miền đất hứa an toàn này mới mất đi cái ưu thế tuyệt đối của nó.
Sự vươn lên hay sự trỗi dậy của người Mỹ diễn ra trong một thời gian ngắn với chi phí thấp không chỉ nhờ vào điều kiện địa kinh tế, địa chính trị mà còn nhờ vào tầng lớp tinh hoa chính trị cùng với một thể chế chính trị dân chủ vào bậc nhất thế giới, bắt đầu từ vị Tổng thống Liên bang đầu tiên George Washington cùng với Bản Hiến pháp hoa kỳ có hiệu lực năm 1789. Với tầm nhìn và chính sách đối nội và đối ngoại sáng suốt, tầng lớp chính trị Mỹ đã dẫn dắt nước Mỹ nhanh chóng trỗi dậy. Sự trỗi dậy của Mỹ là một sự trỗi dậy đầy khôn ngoan, “nghệ thuật”, “trí tuệ”, tất nhiên cũng rất thủ đoạn.
Trong quá trình trỗi dậy, nước Mỹ cũng như các đế quốc trước đó phải vượt qua sự kiềm chế của một đế quốc nào đó, với Mỹ đó là Đế quốc Anh. Đầu tiên Anh không thể ngăn cản được sự độc lập của Mỹ. Sau đó không thể đánh chiếm được Mỹ trong cuộc Chiến tranh năm 1812. Tiếp đó Anh lại không thể làm suy yếu nền kinh tế Mỹ sau chiến tranh. Nước Mỹ đã vượt qua được sự kiềm chế của nước Anh trên phương diện quốc gia và quốc tế với cái giá thấp nhất. Cuộc chiến giành giật ngôi bá quyền và bảo vệ ngôi bá quyền cũng với giá thấp nhất.
Xét ở một phương diện, hai cuộc chiến tranh thế giới, Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (1939-1945), là hai cuộc chiến tranh của hai thế lực đế quốc già và trẻ mà tiêu biểu là nước Anh và nước Đức. Thắng lợi của phe đế quốc đứng đầu là Anh là thắng lợi của người Anh, nhưng thực chất kết quả sau hai cuộc thế chiến Mỹ mới gặt hái được thành công nhất. Đã có sự thay đổi vị trí bá quyền giữa Đế quốc Mỹ và Đế quốc Anh. Thế chiến một gần như Mỹ không tham gia chỉ đứng ngoài hưởng lợi. Thế chiến hai, Mỹ đã tính toán bỏ ra không nhiều nguồn lực so với một số nước ở châu Âu mà lại thu được nhiều lợi ích.
Lợi ích lớn nhất là vị thế của Mỹ ở trên trường quốc tế. Có thể nói Mỹ đã thể hiện nghệ thuật trỗi dậy cao siêu. Trong thời gian 1898, thời gian nổ ra cuộc chiến Mỹ-Tây Ban Nha, Mỹ tiếp tục thực hiện học thuyết Monroe “Châu Mỹ của người Châu Mỹ” cho đến năm 1920,  Mỹ chẳng những giành được quyền kiểm soát châu Mỹ mà còn thực hiện được sự hòa giải với Đế quốc Anh. Để rồi cuối cùng quốc gia bá quyền kết đồng minh với quốc gia bá quyền thay thế trong tương lai. Bước tiếp theo, người Mỹ chỉ trong một thời gian ngắn đã thực hiện được cuộc chuyển giao ngôi vị quán quân một cách ngoạn mục.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Mỹ bắt đầu thực hiện cuộc Chiến tranh Lạnh nhằm  ngăn chặn Liên Xô, siêu cường đứng đầu phe Xã hội chủ nghĩa thách thức vị trí số một của Mỹ. Cả hai nước đều tránh đối đầu trực diện. Cả hai đều thông qua hàng chục cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” ở các nước thuộc thế giới thứ Ba để tiêu hao nguồn lực của nhau. Mỹ không từ một thủ đoạn từ kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao trong cuộc chạy đua đường dài gần nửa thế kỉ để hạ gục đối thủ. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất cho đến ngày hôm nay.
Sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, nước Mỹ vẫn không rút ra được bài học về cuộc Chiến tranh ở Việt Nam, họ lại tiếp tục tổ chức và đứng đầu Liên minh chống khủng bố Quốc tế, lao vào hai cuộc chiến tranh ở Trung Đông: Afganistan và Irăc. Hai cuộc chiến tranh này đã tiêu tốn hàng nghìn tỉ USD, nhưng cho đến nay tình hình Trung Đông thực sự vẫn chưa có hồi kết, để lại cho nước Mỹ món nợ hàng ngàn tỉ USD cộng với nhiều rắc rối ở khu vực. Tiếp theo, nước Mỹ lại phải hứng chịu cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 2008, cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế năm 1929-1933 cũng bắt nguồn từ chính nước Mỹ.
Nhiều nhà nghiên cứu và quan sát quốc tế tin rằng chính vì đi theo vết xe đổ gây chiến tranh của các đế chế đã suy tàn cho nên nguồn lực của nước Mỹ đã bị tiêu hao nhiều. Thời kì hoàng kim của nước Mỹ đã bắt đầu qua đi. Nhiều cường quốc mới nổi lên, trong đó có cả hai đối thủ cũ của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai là Đức và Nhật Bản- kẻ chiến thắng là Liên Xô thì đã sụp đổ, còn Mỹ thì trên mình mang đầy thương tích. Đặc biệt trong số những cường quốc mới nổi nhất hiện nay, đáng chú ý nhất là Trung Quốc, nước có khả năng cạnh tranh ngôi vị của Mỹ. Lợi dụng thời cơ Mỹ tập trung sự chú ý ở Trung Đông, được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa, Trung Quốc đã phát triển thần kì với mức tăng trưởng hai con số liên tục trong hơn ba mươi năm và trở thành đối thủ tiềm năng lớn nhất đe dọa vị thế của Mỹ.
Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai, không ngừng tăng cường sức mạnh không quân và hải quân với giấc mộng phục hưng Đế chế Trung Hoa thủa nào. Họ bắt đầu gây hấn ở Biển Đông, quân sự hóa Biển Đông nhằm đẩy người Mỹ ra khỏi khu vực, muốn  chia đôi Thái Bình Dương với siêu cường số 1 trong chiến lược lâu dài của họ. Về vấn đề tranh giành ngôi vị bá chủ Trung-Mỹ, tôi đã có bài viết riêng cũng trong blog này nên không nhắc lại. Tôi chỉ xin được đưa ra một số nhận xét của ông Lý Quang Diệu, cố Thủ tướng Singapore, một chính khánh lỗi lạc ở Đông Nam Á trong bài viết “Tại sao Hoa kỳ là Siêu cường thế giới” viết năm 2013, trước khi ông mất.
Sở dĩ tôi muốm đưa ra nhận xét của Lý Quang Diệu vì ông là một người gốc Hoa. Có lẽ trong các chính khách ít người hiểu về Trung Quốc như ông. Hơn nữa, Đặng Tiểu Bình cùng các quan chức Trung Quốc vào thập niên 70 của thế kỉ trước, trước khi bắt đầu sự nghiệp cải cách mở cửa đã đến học hỏi ông con đường đi cho Trung Quốc và lãnh đạo Trung Quốc đã coi ông như một vị cố vấn của quốc gia. Ông Lý Quang Diệu cho rằng Hoa kì sẽ gặp nhiều trở ngại với Trung Quốc, nhưng Mỹ vẫn giữ vị trí số 1 và chỉ có kẻ ngu mới đi chống lại Hoa kỳ hiện nay. Lập luận của ông dựa trên sự so sánh về thể chế chính trị và kinh tế, sức mạnh quân sự, công nghệ Trung- Mỹ, sự linh hoạt và sáng tạo của người Mỹ, văn hóa và ngôn ngữ Mỹ… Tất cả ưu thế đều nghiêng về Mỹ hiện tại cũng như tương lai gần.
Tôi đã đọc một số tác phẩm của những nhà nghiên cứu thuộc các nước phương Tây, một số tác phẩm của các chính khách, nhà báo Mỹ nói về tốc độ phát triển thần kì của Trung Quốc và phân tích về những khiếm khuyết từ kinh tế đến giáo dục của nước Mỹ, họ cho rằng kẻ thay thế nước Mỹ sắp tới sẽ là Trung Quốc. Họ phán đoán rằng Trung Quốc sẽ sớm đưa Mỹ trở thành một quốc gia “đã từng là bá chủ”. Tuy nhiên cá nhân tôi vẫn tin rằng cho đến giữa thế kỷ này và thậm chí hơn nữa vẫn chưa có quốc gia nào có thể thách thức được vị trí số 1 của nước Mỹ.
Mặc dù nước Mỹ còn có những khuyết tật, thậm chí là bệnh hoạn, nhưng tôi vẫn có niềm tin vào nước Mỹ. Niềm tin của tôi bắt nguồn từ những trải nghiệm trong thực tế sáu năm, mỗi năm rong ruổi trên đất Mỹ vài tháng, một đất nước mà người dân gần như có chất lượng sống cao nhất thế giới, một đất nước có nền giáo dục đại học tốt nhất thế giới, một đất nước thu hút hầu hết nhân tài của thế giới đến sinh sống và làm việc, một đất nước có chế độ dân sự cực kì phát triển, một đất nước có cơ chế tuyển dụng người làm việc trong bộ máy chính quyền công từ cơ sở đến tổng thống có chất lượng. Trên hết, nước Mỹ đã nhiều lần vượt qua chính mình, kiềm chế và ngăn chặn thành công tất cả những thách thức trên bước đường duy trì ngôi bá chủ. Và quan trọng nhất hiện nay người Mỹ đã nhận ra những trở ngại đối với nước Mỹ là cái gì.
Nước Mỹ vẫn là một siêu cường trong một thời gian dài dựa trên nền tảng vững chắc về kinh tế, ảnh hưởng to lớn về chính trị, sức mạnh quân sự và khoa học công nghệ cũng như văn hóa, những thành tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của một quốc gia.
Về kinh tế, theo số liệu của Qũi tiền tệ Quốc tế GDP bình quân đầu người của Mỹ là 53.042 USD, Trung Quốc là 6.807 USD năm 2013. Một con số quá chênh lệch để so sánh một nước phát triển hàng đầu với một nước đang phát triển mới thoát nghèo. Điều quan trọng là kinh tế Mỹ vẫn là nền tảng của hệ thống tài chính toàn cầu. Hơn 80% các giao dịch tài chính, hơn 87% các giao dịch trên thị trường ngoại tệ trên thế giới được tiến hành bằng đồng đô la. Trong khi đó, đồng tiền của Trung Quốc mặc dầu được xếp vào giỏ tiền tệ quốc tế nhưng chỉ có khoảng 5% giao dịch tài chính và giao dịch trên thị trường ngoại tệ là bằng đồng Nhân dân tệ (Yuan). Điều đó thể hiện niềm tin vào sự ổn định của nền kinh tế Mỹ.
Về chính trị, Mỹ có ảnh hưởng rất lớn và có khả năng tập hợp được quanh mình nhiều tổ chức quốc tế, nhiều cường quốc và các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển thành một khối đồng minh vững chắc; còn Trung Quốc thì có khả năng kết giao với những nước nào là đồng minh? Mỹ là nước viện trợ nước ngoài lớn nhất để củng cố sức mạnh chính trị trên toàn cầu. Năm 2014 viện trợ của Mỹ là 32,7 tỉ USD, bỏ xa nước đứng thứ hai, nước Anh là 19 tỉ USD. Điều quan trong nhất là nước Mỹ rất ổn định về chính trị. Hệ thống pháp luật hoàn thiện, dân chủ hàng đầu thế giới.
Về quân sự, ưu thế quân sự của Mỹ hiện tại vẫn không có đối thủ. Chi phí cho quân sự của Mỹ chiếm 37% chi tiêu quân sự toàn cầu, gần gấp 4 lần Trung Quốc. Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối, thống trị trên đất liền, trên biển, trên không và trên vũ trụ. Hơn nữa Mỹ đã thay đổi, đang thay đổi quân đội cùng với hệ thống vũ khí để đối mặt với mọi thách thức của thế kỉ 21một cách hữu hiệu nhất.
Về khoa học công nghệ, Mỹ là quốc gia có nền khoa học công nghệ đứng đầu thế giới về nhiều mặt. Mỹ cũng là quốc gia năng động, sáng tạo nhất thế giới. Trong số 9 công ty công nghệ lớn nhất thế giới thì 8 công ty là ở Mỹ. Đặc biệt là về năng lượng, mạch máu của nền kinh tế, trước đây Mỹ phụ thuộc vào bên ngoài, nhưng bắt đầu từ năm 2015, Mỹ trở thành nhà sản xuất dầu, khí tự nhiên số 1 thế giới nhờ vào cuộc cách mạng công nghệ đứt vỡ thủy lực đá phiến. Ngoài ra Mỹ còn chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển lớn nhất thế giới cho phép tập trung vào những công nghệ mũi nhọn và những kĩ năng mà họ cần nhất.
Về văn hóa, có thể nói nước Mỹ là một quốc gia cởi mở nhất. Có lẽ trên thế giới có bao nhiêu quốc gia thì ở Mỹ gần như có ngần ấy người của quốc gia đó đến sinh sống và lập nghiệp. Riêng người Việt ở Mỹ ước tính có tới gần 2 triệu người. Nước Mỹ vẫn còn là một miền đất hứa. Nó cho phép mọi người trên khắp thế giới nhập cư nếu có đủ điều kiện. Những người nhập cư không chỉ mang theo tiền bạc cho nước Mỹ mà còn đem theo cả kĩ năng lao động, tri thức khoa học, công nghệ, khả năng quản lí và kinh doanh từ đất nước mình cho nước Mỹ. Điều quan trọng hơn là người Mỹ đứng đầu thế giới về việc giúp đỡ người nhập cư đến đất nước mình sinh sống là làm giàu.
Nhìn tổng thể về nước Mỹ người ta thấy có những lí do thực tế trên để khẳng định nước Mỹ vẫn là một siêu cường. Nhưng nói gì thì nói, nếu nước Mỹ không giữ được vị trí đầu máy để kéo các toa tầu kinh tế thế giới thì sớm muộn người Mỹ cũng để tuột mất ngôi vị bá chủ, vì nếu không có thật nhiều tiền thì Mỹ sẽ lấy đâu ra củ cà rốt chứ chưa nói đến cái gậy để duy trì địa vị của mình. Nghĩa là phải có tiềm lực kinh tế và khả năng quân sự đứng ở vị trí thứ nhất trong hệ thống quốc tế và khả năng gây ảnh hưởng tất cả các mặt trên phạm vi toàn cầu. Xem xét một cách sâu hơn về khả năng kinh tế và quân sự của Mỹ hiện tại và trong những năm tới, tôi tin rằng Mỹ vẫn là một siêu cường có thể kiềm chế và ngăn chặn bất kì thực thể chính trị và quốc gia nào định chiếm đoạt ngôi vị bá chủ của họ, ít nhất cho đến giữa thế kỉ này.
Hiện tại kinh tế Mỹ đang phục hồi nhanh chóng sau khủng hoảng và Mỹ vẫn là một nền kinh tế lớn nhất thế giới, có năng xuất suất cao nhất thế giới. Theo US Trust, dân số Mỹ khoảng 314 triệu người, chiếm 4,5% dân số thế giới nhưng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ chiếm hơn một phần năm tổng sản phẩm của toàn cầu.
Mỹ đứng đầu thế giới về lương hàng hóa sản xuất. Chỉ tính khi nước Mỹ mới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng năm 2012 thì lượng sản xuất hàng hóa của Mỹ có tổng giá trị 1.900 tỉ USD, tăng 27% so với năm 2009. Số lượng nhân công trong lĩnh vực sản xuất tăng nửa triệu người kể từ năm 2010.
Mỹ là một trong những nước xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ lớn nhất thế giới. Kim ngạch xuất khẩu đạt giá trị trên 2.200 tỉ USD. Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng đổ xô đầu tư vào Mỹ. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Mỹ trong những năm gần đây đạt mức 736 tỉ USD, tương đương 15% tổng lượng vốn toàn cầu.
Cũng theo US Trust, ngoài việc dẫn đầu thế giới về khoa học công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển toàn diện, Mỹ còn là quê hương của các trang mạng xã hội hàng đầu thế giới, tiền theo đó cứ chảy vào nước Mỹ ngày càng gia tăng cùng với những thương hiệu hàng đầu. Mười thương hiệu có giá trị lớn nhất đều nằm trong tay người Mỹ.
Mỹ có những trường đại học nghiên cứu xuất sắc nhất thế giới. Theo đánh giá của Công ty chuyên về giáo dục và du học Quacquarelli Symond, trong danh sách một trăm trường đại học đứng đầu thế giới Mỹ chiếm gần 70%, có 6 trường ở vị trí số 1 đến số 6, có trường đã qui tụ và đào tạo được tới 98 người được giải thưởng Nobel của thế giới từ năm 1945 trở lại đây.
Đồng Đô la của Mỹ vẫn là đồng tiền vua của quốc tế. Tất cả các nước đều giao dịch và dự trữ chủ yếu bằng đồng USD. Trong tương lai chưa có đồng tiền nào có thể sẵn sàng thay thế, kể cả đồng EURO của Liên minh châu Âu, nhất là trong tình trạng tổ chức này đang ngập trong nợ công và hậu Brexit chao đảo.
Mỹ có lượng dự trữ và sản xuất dầu khổng lồ, vàng đen trong mach máu kinh tế thế giới. Mỹ đã vượt qua Ả Rập Saudi trở thành nhà sản xuất dầu lửa lớn nhất thế giới và chắc chắn với công nghệ đột phá đá phiến trong năm tới, Mỹ sẽ trở thành nhà sản xuất dầu, khí đốt tự nhiên nhiều và rẻ nhất thế giới.
Đó là những số liệu và phân tích của những tổ chức có uy tín hàng đầu thế giới như IMF mà tôi chỉ là người cóp nhặt lại. Tôi chỉ nói riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, vì tôi đã tìm hiểu khá sâu tình hình nông nghiệp ở bốn bang, lĩnh vực có tỉ trọng khoảng 3% trong nền kinh tế Mỹ, lao động của họ chỉ chiếm 1% trong tổng số dân với 2.109.363 trang trại, trung bình mỗi trang trại 174 ha. Vậy mà tính đến năm 2014, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp là trên 400 tỉ USD. Xuất nhập khẩu đứng đầu thế giới, chiếm 18% thị phần thương mại nông sản toàn cầu, tăng 33% so với năm 2007. Thu nhập bình quân của một công nhân nông nghiệp khá cao, khoảng  61.000 USD/năm.
Người ta phải nói chuyện với những người nông dân Mỹ có trình độ đại học, tận mắt xem họ điều khiển các loại máy móc cày bừa, gieo trồng, tưới tiêu, vắt sữa, chế biến; phải tận mắt đến các trang trại, nhìn thấy trang trại của một gia đình nông dân rộng như cả một hợp tác trong thời hợp tác hóa của xóm làng Việt Nam ngày trước, người ta mới thấy hết thế nào là sản xuất lớn, thế nào là công nghiệp hóa nông nghiệp, thế nào là kinh tế trang trại, thế nào công nghệ sinh học-nông nghiệp. Những cánh đồng cỏ bát ngát, những trang trại hoa quả hàng chục ngàn cây, hàng trăm ngàn cây; những cánh đồng ngô, đậu tương, bí, các loại rau quả phải đi mỏi rời chân; những trang trại bò, cừu, dê, lợn hàng trăm, hàng nghìn con và những quĩ đất còn bảo tồn hàng chục cây số… tất cả mới thấy người ta đã nói đúng là một nông dân Mỹ có thể cung cấp đủ lương thực, thực phẩm nuôi 100 người Mỹ và 32 người đang sinh sống tại các nước trên thế giới.
Không kể đến việc nước Mỹ khởi nguồn một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức từ những năm 70 của thế kỉ trước, nền kinh tế tương lai của nhân loại, nền kinh tế tạo ra nguồn tài nguyên vô tận và đáp ứng mọi nhu cầu của nhân loại và dẫn dắt toàn bộ thế giới đi theo nền kinh tế mới này (về điểm này toàn bộ nhân loại phải mang ơn nước Mỹ), chỉ tính riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, tôi có cảm nhận rằng, nước Mỹ không thể bị đánh bại trong cuộc cạnh tranh về kinh tế với những phần còn lại của thế giới.
Nước Mỹ vẫn sẽ là một siêu cường trong tương lai còn bởỉ vì, trong lịch sử Mỹ rất coi trọng sự phát triển quân sự, đầu tư rất lớn vào quân sự và hiện tại cũng vậy. Sau nội chiến, Mỹ xây dựng một đội quân mạnh theo truyền thống chung. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Mỹ có một đội quân hùng mạnh nổi trội so với các cường quốc. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai họ trở thành một đội quân hùng mạnh hiện đại bá chủ, thống trị toàn cầu với những phương tiện và vũ khí tiên tiến nhất. Tuy vậy, sau chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, nước Mỹ không còn là một quân đội tiến hành chiến tranh theo kiểu truyền thống. Quân đội Mỹ tiến hành các cuộc chiến tranh với vũ khí công nghệ cao, một kiểu chiến tranh hoàn toàn mới, một cuộc chiến tranh từ xa với sự tham gia của các phương tiện và vũ khí, khí tài hiện đại, chính xác, thông minh, giảm thiểu tới mức tối đa những thiệt hại cho binh lính. Các cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũ, ở Afganistan, Irắc mới đây là minh chứng rõ ràng. Và hiện tại quân đội Mỹ vẫn đang trong quá trình thay đổi và phát triển hàng loạt chương trình nghiên cứu những phương tiện, vũ khí mới.
Theo Businessinsider nhiều chương trình đã bước vào giai đoạn thử nghiệm và ứng dụng. Có chương trình còn đang nghiên cứu nhưng những mục tiêu của chúng là vô cùng tham vọng và vượt trước thời đại rất xa. Đó là những phương tiện và vũ khí tạo ra cuộc cách mạng tác chiến trong chiến tranh cho cả bộ binh lẫn không quân và hải quân. Đó là những phương tiện tàu không gian trinh sát tối mật, thiết bị giúp binh lính leo trèo như tắc kè, hệ thống hỗ trợ trên không ngay tức thời, súng tự tính toán khoảng cách, rô bốt tự vận chuyển, rô bốt tấn công mọi địa hình, xe tăng không người lái, vũ khí lazer từ bắn tỉa của bộ binh đến vô hiệu hóa tên lửa phòng không dùng trên mặt đất, trên biển, trên không, pháo ray điện từ bắn đạn liên thanh hay pháo lazer năng lượng cao… Đó là chưa kể đến những phương tiện, vũ khí bí mật chưa được Mỹ được công bố.
Hải quân Mỹ được đánh giá là lực lượng tác chiến hàng đầu thế giới. Để duy trì lợi thế trước các đối thủ như Nga và Trung Quốc, nhiều phương tiện và vũ khí làm thay đổi tác chiến hải quân vốn đã tiên tiến nhất thế giới, Mỹ đã đưa vào sử dụng tàu sân bay thế hệ mới USS Gerrald R. Ford. Kế hoạch trong thời gian tới Mỹ đóng 10 chiếc. Trị giá mỗi chiếc là 13 tỉ USD. Tàu sân bay này mạnh hơn cả tiềm lực quốc phòng của một quốc gia. Nó có tới gần một trăm máy bay phản lực tàng hình và các máy bay do thám không người lái. Tàu có hệ thống tác chiến điện tử vô đối, pháo lazer, pháo ray điện từ cùng với các loại vũ khí của tương lai để chống tên lửa chống hạm, tên lửa hành trình như kiểu của Nga và Trung quốc đã có và đang thử nghiệm. Nó có thể diệt các mục tiêu như máy bay, tầu chiến trong phạm vi vài km đến vài trăm km.
Trong các loại kể trên, đáng chú ý nhất là pháo ray điện từ đã hoàn tất giai đoạn thử nghiệm và bắt đầu đưa vào sử dụng. Pháo có thể bắn xa như tên lửa, tốc độ gấp 7 lần âm thanh (8.575km/h). Loại pháo này bắn đạn không đầu nổ, một khối kim loại chỉ nặng vài kg có thể phá hủy mọi mục tiêu, giá thành rất thấp so với các loại tên lửa hiện tại. Loại pháo này có tầm bắn 160 km với tốc độ siêu thanh cực kì lợi hại trong tấn công và phòng thủ…
Đêm đã về khuya, tôi đi bộ dọc theo đường phố Lonmont vô cùng bình yên trong dòng người, một thành phố nhỏ không được người ta chú ý đến thuộc bang Colorado, thành phố cao hơn mặt nước biển 1000 m. Trời se lạnh, nhưng trong ánh đèn điện, những căn biệt thự xinh đẹp, lộng lẫy hai, ba tầng cùng với những thảm cỏ xanh mướt, những hàng cây cổ thụ, những vườn hoa nở rực rỡ khiến tôi không thể rời mắt và không muốn trở về nhà ngủ. Thỉnh thoảng những quả pháo của các gia đình lại bắn nổ, tung ánh sáng lung linh lên bầu trời… Một quốc gia đa sắc tộc nhưng người dân lại rất có ý thức về ngày quốc khánh của đất nước mình. Tôi bắt đầu hiểu, cho đến tận ngày hôm nay, rất, rất nhiều người, có thể nói là số đông  trong số một triêu sinh viên của tất cả các nước trên thế giới đều muốn sau khi tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở lại Mỹ làm việc và cống hiến cho nước Mỹ. Có rất nhiều lí do giữ chân họ ở lại, tôi không trách họ về điều đó. Gạt những quan điểm về chính trị sang một bên, tôi tin rằng với những gì nước Mỹ đã có trong quá khứ, hiện tại, tương lai họ vẫn sẽ là một siêu cường không có đối thủ cạnh tranh trong rất nhiều năm nữa.
    
      



Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.