Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Tình hình thế giới và sự lựa chọn của Việt Nam

Leave a Comment
Nhìn tổng thể bức tranh của thế giới trong năm qua hình như người ta có cảm giác tình hình chính trị ngày càng không ổn định. Ở châu Âu, Quan hệ Nga-NATO thêm những căng thẳng mới. Nội bộ Liên minh châu Âu có nhiều vấn đề sau khi người dân Anh quyết định rời khỏi mái nhà chung EU. Ở châu Á, quan hệ Mỹ-Trung có xu hướng đối đầu. Nhà nước khủng bố tự xưng IS hoành hành vượt khỏi Trung Đông đang ngập chìm trong bạo loạn, nội chiến. Bán đảo Triều tiên luôn dậy sóng bởi Bắc Triều tiên thử bom nguyên tử và các loại tên lửa. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản cùng với nhiều nước ASEAN vẫn căng thẳng bởi mâu thuẫn chủ quyền biển đảo và chính sách quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc. Và cuối cùng Tổng thống Donal Trump trúng cử Tổng thống Mỹ với những chính sách đối nội, đối ngoại hết sức khó lường, làm cho chính sự quốc tế càng thêm bất ổn.
Phải chăng tình hình thế giới không ổn định, thậm chí đang rối loạn và không có trật tự vì nó đang định hình một thế giới đa cực trên bình diện quốc tế và ở cả bình diện cấp khu vực? Xu hướng đa cực đang định hình và triển vọng trong tương lai có thể hình thành. Có khả năng thế giới còn phải tiếp tục phải trải qua một thời kỳ rối loạn và không có trật tự. Thời kỳ này kéo dài bao nhiêu lâu còn phải xem tình hình khách quan và nỗ lực chủ quan của cộng đồng quốc tế. Mặc dầu quy luật khách quan quyết định xu thế thời cuộc, nhưng suy cho cùng chính con người làm nên lịch sử.
Việt nam là một nước nhỏ nhưng có số dân vào loại khá lớn. Trong xu thế phát triển của thế giới, Việt nam phát triển như thế nào, phát triển cùng với ai trong thế giới toàn cầu hóa, trong thời đại phát triển công nghiệp 4.0, tất cả đều có liên quan đến tình hình chung của thế giới. Chỉ cần kiên trì giữ vững độc lập dân tộc, như Bác Hồ nói “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Việt Nam chúng ta sẽ tìm được bước đi đúng đắn thích hợp và có một vị trí xứng đáng trên bản đồ thế giới.
Một vài xu hướng phát triển của thế giới
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thế giới chia làm hai phe, có thể nói thế giới chia thành hai trận tuyến lớn Đông và Tây cùng với cuộc chiến tranh Lạnh gần nửa thế kỷ. Hoa kỳ và Liên Xô, hai siêu cường đối đầu đã tạo nên trật tự hai cực. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ, chiến tranh Lạnh kết thúc, Hoa Kỳ trở thành siêu cường còn lại duy nhất tác động tới trật tự thế giới. Nhưng vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 đã làm xáo trộn trật tự một siêu đa cường. Tình hình chính trị quốc tế ngày một diễn biến phức tạp. Mỹ không còn đủ sức một mình chi phối trật tự thế giới theo mong muốn. Tiếp theo, cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính năm 2008 đã giáng một đòn mạnh vào phương Tây mà đứng đầu là Mỹ, cho đến nay về tổng thể tình hình vẫn chưa hoàn toàn hồi phục.
Trật tự đa cực trên thế giới đang định hình, xu thế chung của thế giới vẫn là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục đẩy mạnh. Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế, chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ cùng với một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo trong khu vực và trên Biển Đông sẽ diễn ra gay gắt.
 Quyền lực đang dịch chuyển về châu Á-Thái Bình Dương
Sau hơn ba mươi năm mở cửa, Trung Quốc nhanh chóng trở thành một trong những nền kinh tế mới nổi. Đến năm 2013 tính theo GDP Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản. Theo xu hướng phát triển hiện nay, mặc dầu nền kinh tế Trung Quốc có giảm tốc, chỉ cần họ duy trì phát triển kinh tế với tốc độ bình quân 6% trong trạng thái bình thường, sau hơn một thập kỷ nữa chắc chắn họ sẽ trở thành nền kinh tế đứng đầu thế giới.
Sau Trung Quốc là Ấn Độ, một nước có dân số là 1,2 tỷ đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một vài năm trở lại đây, Ấn Độ là nước có tốc độ phát triển cao nhất thế giới. Năm 2016 Ấn Độ đạt tốc độ phát triển 7.4% . Theo OECD dự báo, Ấn Độ có thể đạt 7,9% trong năm 2017. Ấn Độ đã vượt qua Trung Quốc để giành vị trí là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới với tổng GDP 2300 tỷ USD, đứng thứ 10 thế giới và thứ 3 châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Điều quan trọng là Ấn Độ phát triển kinh tế chủ yếu nhờ nội lực, dựa vào khai thác thị trường trong nước, không dựa nhiều vào xuất khẩu nên ít bị ảnh hưởng bởi những biến động của kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng đang hết sức nỗ lực tranh thủ mọi nguồn lực của quốc tế như từ Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản… Chắc chắn trong những năm tới họ sẽ trở thành một nền kinh tế không thua kém Trung Quốc.
Cùng với sự phát triển kinh tế của châu Á, quyền lực đang dịch chuyển về châu Á. Ở châu Á, xét về thực lực kinh tế và quốc phòng, cùng với mục tiêu của Đảng Cộng sản Trung Quốc và giấc mộng Trung Hoa của Tập Cận Bình, Trung Quốc là nước có tham vọng trở thành một thế lực đứng đầu châu Á và toàn cầu. Một số học giả, giới chiến lược trên thế giới, kể cả ở Mỹ và Trung Quốc tin rằng Mỹ đang suy yếu, quyền lực đang dịch chuyển về Trung Quốc.
Quyền lực chuyển dịch đã từng xuất hiện vài lần trong lịch sử cận đại. Từ Italia đến Hà Lan, đến Anh và từ Anh sang Mỹ. Trong thời gian chuyển dịch xuất hiện nhiều cuộc chiến tranh, bao gồm hai cuộc thế chiến. Ngay cả khi quyền lực đã chuyển sang Mỹ, người Mỹ và phương Tây vẫn phải ngăn chặn Liên Xô bằng cuộc chiến tranh Lạnh dài hơn 40 mười năm để duy trì quyền bá chủ của mình. Với sự trỗi dậy ngày càng mang tính cơ bắp ở Hoa Đông và Biển Đông, một kiểu trỗi dậy đầy toan tính không phải hòa bình như Trung Quốc từng tuyên bố, người Mỹ lo lắng địa vị lãnh đạo toàn cầu của mình. Họ không phải cảnh giác với Nhật Bản hay Ấn Độ. Họ cảnh giác với Trung Quốc là điều hoàn toàn đúng đắn.
Nhìn vào sức mạnh tổng hợp quốc gia như kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quyền lực mềm, giữa Mỹ và Trung Quốc còn có một khoảng cách rất xa. Hiện tại bản thân Trung Quốc cũng không có ý đồ thay thế Mỹ, trừ khi Mỹ từ bỏ vai trò của mình. Tuy nhiên người Mỹ không muốn trở thành kẻ đã từng là bá chủ, bắt đầu từ những năm 2010, Mỹ  thực hiện chiến lược “Xoay trục trở lại châu Á-Thái Bình Dương” hay chiến lựợc “Tái cân bằng châu Á Thái Bình Dương”. Chiến lược này lấy châu Á làm trung tâm chứ không phải là Trung Đông với cuộc chiến chống khủng bố hay tiếp tục bố trí lực lượng quân sự nghiêng về châu Âu. Đương nhiên Mỹ sẽ không dùng phương thức tiến hành cuộc chiến tranh giống như ở Triều Tiên, Việt Nam hay các phương thức trong cuộc chiến tranh Lạnh.
Cuộc đọ sức Mỹ-Trung (Xin xem bài Mối quan hệ Mỹ-Trung sẽ đi về đâu cũng trong blog này)
Cuộc đọ sức Mỹ-Trung thực sự đã bắt đầu từ những năm 2010 khi lực lượng hải quân và không quân Trung-Mỹ va chạm trên Biển Đông. Mặc dù chủ quan Trung Quốc không muốn thách thức Mỹ, nhưng sự phát triển về kinh tế cùng với sự đầu tư về quân sự đã nuôi khát vọng cho tầng lớp lãnh đạo mới, Bắc Kinh muốn chia đôi Thái Bình Dương bằng đường lưỡi bò (Trung Quốc đã biến năm bãi nửa chìm nửa nổi mà họ xâm chiếm của Việt Nam năm 1988 thành những căn cứ quân sự trên Biển Đông). Bằng việc làm này, Trung quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, thách thức quyền tự do đi lại trên Biển Đông của Mỹ và các nước khác trên thế giới. Thái Bình Dương rộng lớn thật nhưng người Mỹ không muốn chia cho Trung Quốc, cũng như không muốn xây dựng mối quan hệ nước lớn kiểu mới với Trung-Mỹ.
Người Mỹ không đơn giản lặp lại cuộc chạy đua vũ trang, cân bằng răn đe hạt nhân với Trung Quốc như ở cuộc đối đầu Xô-Mỹ trong chiến tranh Lạnh. Họ thực hiện chiến lược hợp tác và cạnh tranh, tiếp xúc và kiềm chế. Cuộc đọ sức diễn ra trên tất cả các mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Cả hai bên đều đang ra sức phát huy sức mạnh và tập hợp lực lượng ở trong nước lẫn ngoài nước. Trung Quốc đang ra sức hiện đại hóa lực lượng quân sự. Mỹ đang cùng đồng minh và các đối tác hình thành một mặt trận bao vây đối thủ từ Hàn Quốc cho tới Australia.
Cuộc đọ sức này có dẫn tới đối kháng, có phát triển đến mức chiến tranh, điều đó phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo Nhà Trắng và Trung Nam Hải. Chiến tranh xảy ra chắc chắn không ai là kẻ chiến thắng. Khi đó, ngay cả ASEAN và Việt Nam cũng khó tránh khỏi ảnh hưởng nặng nề, như câu nói người xưa “Trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”. Tuy nhiên, kịch bản này khó có thể xảy ra. Chỉ có điều trong cuộc đọ sức, không chỉ có Mỹ-Trung tham gia trò chơi này, người chơi cũng không chỉ có hai nước, một nước đứng đầu thế giới phát triển, một nước đứng đầu thế giới đang phát triển.
Thế giới đa cực
Với sự phát triển như hiện nay, Trung Quốc đã trở thành một cực ở khu vực châu Á, khu vực đông dân cư nhất, tốc độ phát triển nhanh và mạnh nhất. Trung Quốc có sức chi phối mạnh ở khu vực. Song Trung Quốc lại có hai người láng giềng khổng lồ là Nhật Bản và Ấn Độ, một nước là đồng minh của Mỹ, một nước là đối tác chiến lược dân chủ của Mỹ. Nhật Bản án ngữ phía đông Trung Quốc, là nước có nền kinh tế phát triển vào hàng tiên tiến nhất thế giới. Ấn Độ án ngữ phía nam Trung Quốc, là một nước đang phát triển trỗi dậy mạnh mẽ nhất sau Trung Quốc. Cực Trung Quốc trên bước đường tiến tới có lẽ còn gặp nhiều thách thức. Đa số các nhà quan sát quốc tế cho rằng cục diện thế giới không có khả năng bị chi phối bởi cuộc đọ sức Mỹ-Trung như giai đoạn chiến tranh Lạnh Xô-Mỹ.
Liên minh châu Âu (EU) là một trong những lực lượng chủ yếu của văn hóa, chính trị, kinh tế thế giới. Tuy bị chê là lục địa già nhưng có thể nói EU là một trong những cực mạnh nhất về sức mạnh tổng hợp. Châu Âu đã từng sản sinh ra những đế quốc hùng mạnh, quê hương của cuộc cách mạng công nghiệp trong quá khứ và hiện tại. Mặc dù phát sinh hiện tượng Brexit nhưng châu Âu là nơi khởi nguồn cho nền văn minh hiện đại, nơi lực lượng sản xuất phát triển hàng đầu thế giới, nơi xây dựng ý tưởng nhất thể hóa khu vực sau hai cuộc chiến tranh thế giới.
Có một vấn đề tồn tại giữa EU và nước Nga, người kế thừa siêu cường Liên Xô, quốc gia có chiến lược phát triển và chính sách ngoại giao trong thời gian gần đây hết sức đáng chú ý. Và ngược lại, có một vấn đề còn tồn tại giữa nước Nga và EU. Liệu hai bên có thể tháo gỡ những mâu thuẫn kéo dài hàng thập kỷ về vấn đề mở rộng NATO, hệ thống phòng thủ tên lửa và những rắc rối hiện tại trong việc giải quyết vấn đề Ucraina? Trong thời gian tới, chiến lược của Nga theo hướng Đông hay hướng Tây hoặc cân bằng cả hai hướng khiến cục diện thế giới có những diễn biến khác đi.
Còn lại là Mỹ, một siêu cường đang cố gắng giữ lại vị trí bá chủ thế giới, trong tương lai có thể chỉ còn là một cực? Thực ra không phải là Mỹ suy yếu, mà chính là phần còn lại của thế giới đang phát triển đã phát triển lớn mạnh. Tuy nhiên đó một cực có nhiều ưu thế nhất, bởi nó thừa hưởng sức mạnh di sản khổng lồ của một siêu cường, một siêu cường cho đến giờ vẫn có sức mạnh tổng hợp quốc gia lớn nhất thế giới. Hơn nữa, khu vực Bắc Mỹ, Canada, Mehico và có thể tất cả các nước ở khu vực Mỹ Latinh hoàn toàn không phải là thách thức đối với Mỹ. Liệu với chính sách của Tổng thống Donal Trump có thể đưa nước Mỹ một lần nữa vĩ đại trở lại?
Theo cách nhìn nhận này, nếu nói thế giới hiện nay đã và sẽ vẫn tiếp tục thể hiện xu thế đa cực hóa, nhưng còn phải mất nhiều năm nữa để định hình. Trong cuộc tranh đấu này không chỉ có các cực tham gia mà còn có nhiều bên tham gia trong sự vận động chung của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nhiều khả năng khác vẫn có thể xảy ra. Quốc gia nào mạnh hơn, quốc gia nào yếu thế vẫn còn đang định hình. Hiện tại, quốc gia mạnh vẫn tồn tại những điểm yếu. Quốc gia yếu hơn cũng có những ưu thế nhất định. Tất cả đều đang ra sức tập hợp lực lượng để giành lấy vị trí tốt nhất. Trong xu hướng thế giới đa cực này, quốc gia mạnh hay yếu, đối tác tốt hay xấu đều tác động tới phần còn lại của thế giới.
Rối loạn và không có trật tự
Thế giới đang định hình, sự tương tác giữa các cực vẫn chưa đi vào ổn định nên trật tự thế giới vẫn chưa được cộng đồng quốc tế công nhận và tuân theo. Tình hình chính trị thế giới đang diễn ra rối loạn và không có trật tự. Chiến tranh xung đột dân tộc, tôn giáo, khủng bố, bạo loạn diễn ra ở nhiều nơi. Xung đột chủ quyền biển đảo diễn ra căng thẳng. Kể từ khi các nước châu Âu ký Hòa ước Westphalia năm 1648, đặt cơ sở cho mối quan hệ quốc tế đến nay, các trật tự thế giới đều phải trải qua các cuộc chiến tranh vô cùng đẫm máu để xác lập trật tự ổn định. Hiện tại rất rối loạn và không có trật tự.
 Sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, thế giới đón nhận một làn sóng toàn cầu hóa chưa từng có; vốn, công nghệ, trình độ quản lý từ các nước tư bản phát triển đã làm thay đổi bộ mặt hành tinh. Thế giới ngày càng tùy thuộc vào nhau. Nhưng những vấn đề toàn cầu như chiến tranh, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, khủng bố, đói nghèo, bệnh tật, biến đổi khí hậu… Tất cả các vấn đề trên vẫn thách thức và treo lơ lửng trên đầu nhân loại. Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế vẫn không có khả năng kiểm soát và khống chế. Mặc dù có nhiều cố gắng, cộng đồng quốc tế vẫn chưa xây dựng được một hệ thống trật tự thế giới có hiệu quả, được tất cả các nước công nhận. Cần phải bao nhiêu thời gian nữa? Phải bỏ ra cái giá như thế nào cho trật tự sắp tới ? Xảy ra chiến tranh như bao thề kỷ qua hay thỏa hiệp, đàm phán, đối thoại, hợp tác?
Lựa chọn nào cho Việt Nam
Trong bàn cờ thế giới, Trung Quốc ít nhất là một cực. Nhưng vấn đề là các chính sách của Trung Quốc từ 2010 trở lại đây đang chứng tỏ nước này đang cố gắng tìm mọi cách thay đổi trật tự địa chính trị thế giới vốn đã được định hình từ sau chiến tranh Lạnh. Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là lực lược hải quân, xây dựng chiến lực chống tiếp cận, cân bằng quyền lực tại khu vực, thực hiện các bước đi quyết đoán tại Hoa Đông và Biển Đông, phá vỡ nguyên trạng và bất chấp luật quốc tế. Nhiều nhà quan sát cho rằng Đông Á, trong đó có Đông Nam Á sẽ phải đối mặt với cường quốc bành trướng nguy hiểm này.
Hơn bất cứ nước nào, Việt Nam hiểu rất rõ Trung Quốc trong quá khứ và hiện tại. Không thể di chuyển được lãnh thổ, người Việt chỉ còn cách sống chung với lũ như hàng nghìn năm qua. Trung Quốc tồn tại và phát triển thì Việt Nam cũng tồn tại và phát triển được cùng với họ. Về truyền thống chống giặc ngoại xâm thì người Việt Nam không có gì đáng ngại, vấn đề là phát huy truyền thống đó với sức mạnh của thời đại như thế nào để thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới?
Giữ vững độc lập chủ quyền
Phải giữ vững được độc lập, chủ quyền. Đó là vấn đề sống còn. Muốn giữ được độ lập, chủ quyền thì phải có thực lực. Có thực mới vực được đạo. Suy cho cùng thì vẫn là vấn đề nội lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng xuất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản nền giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực… để không bị nền kinh tế Trung Quốc chi phối, không bị lệ thuộc về chính trị. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển
Chiến tranh là thảm họa cho dân tộc. Muốn không có chiến tranh phải sẵn sàng chuẩn bị cho chiến tranh, phải cố gắng hết sức để đảm bảo và tăng cường an ninh, quốc phòng quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. Phải thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Phải đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với các cường quốc, các nước, các tổ chức, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.
Tiếp tục đổi mới 
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam trải qua trên ba mươi năm. Đất nước đã đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt. Song Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nguy cơ lớn nhất là tụt hậu về kinh tế. Vì vậy, tiếp tục sự nghiệp đổi mới là công việc sống còn của Việt Nam. Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, văn hóa, giáo dục… để hội nhập quốc tế sâu hơn nữa, để đáp ứng với sự phát triển của đất nước, khu vực và quốc tế trong thời đại kinh tế số.
Dù tình hình thế giới có thay đổi thế nào đi chăng nữa, dù thế giới có đơn cực hay đa cực thì Việt Nam vẫn đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Giữ vững độc lập chủ quyền, vượt qua mọi thách thức, tận dụng mọi cơ hội để đảm bảo môi trường hòa bình và phát triển, đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Với bản lĩnh của Đảng và của dân tộc, chắc chắn dân tộc ta sẽ tồn tại và phát triển trong cái thế giới đầy biến động này.



  
  


Read More

Nước Mỹ đã chọn Donal Trump là Tổng thống

Leave a Comment
Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 diễn ra vào ngày 8/11. Người dân xứ cờ hoa đi bỏ phiếu để chọn ra người lãnh đạo quốc gia. Đó là cuộc đối đầu giữa hai ứng cử viên đại diện cho hai đảng Cộng hòa và Dân chủ: Donal Trump và Hillary Clinton. Để đi tới cuộc đấu song mã này, hai đấu thủ đã phải trải qua một cuộc chiến đầy cam go, quyết liệt trong nội bộ đảng của họ. Ít nhất trước ngày bầu cử cả hai người đều là những người chiến thắng.
Do quan điểm của mỗi ứng cử viên Tổng thống Mỹ có thể nói là trái ngược nhau trong rất nhiều vấn đề, từ chính trị, quân sự, an ninh, ngoại giao, đến kinh tế, môi trường… Nói không ngoa, cả thế giới đều quan tâm, chú ý đến sự kiện bầu cử Tổng thống Mỹ. Đặc biệt là các nước phương Tây, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Điều này thật dễ hiểu vì Mỹ là một siêu cường có sức chi phối mạnh mẽ trong quan hệ quốc tế, cho nên việc ai lên làm tổng thống không còn là vấn đề riêng của một quốc gia.
Tôi nghĩ Việt nam cũng nằm trong cái vòng xoáy tâm lý chung. Nhất là sau cái dư âm chuyến thăm của Tổng thống Mỹ đương nhiệm tới Việt Nam. Nhiều người Việt có thiện cảm với Chính quyền Tổng thống Barack Obama, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng bành trướng ở Biển Đông. Một nước Mỹ kiên quyết cứng rắn bảo vệ tự do hàng hải trên cơ sở luật pháp quốc tế sẽ có lợi hơn cho Việt Nam trong tương lai.
Chính quyền của Tổng thống Obama trong tám năm cầm quyền đã làm được khá nhiều điều cho châu Á-Thái Bình Dương. Về chính trị, Mỹ lên án mạnh mẽ hành động cơ bắp của Trung Quốc trong việc bồi đắp và tôn tạo các đảo ở Biển Đông thành các căn cứ quân sự. Về quân sự, Mỹ đã tiến hành chiến lược xoay trục, tái cân bằng các lực lượng quân đội sang châu Á để đối phó với tham vọng của Trung Quốc. Về kinh tế, Mỹ đã hoàn tất việc đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) tạo ra sân chơi của Mỹ trong khu vực lòng chảo Thái Bình Dương, có thể nói TPP là cái cốt vật chất chống lại sự bành trướng của Trung Quốc về kinh tế trong khu vực.
Bà Hillary Clinton nằm trong ê kíp chính quyền của Tổng thống Obama, bà là con người tôn trọng Việt Nam, là người trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Hà Nội tuyên bố Mỹ có lợi ích quốc gia ở Biển Đông, người đã khiến Ngoại trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì bỏ cuộc họp ra ngoài để phản đối. Bà còn là người đến Việt Nam rất nhiều lần, lần đầu tiên với tư cách là đệ nhất phu nhân theo Tổng thống  Bill Clinton tới Hà Nội ngày 17/1, 2000. Bà đã từng mặc áo dải Việt Nam, đội nón lá Việt Nam…
Tôi đã tin rằng bà Hallary Clinton sẽ trở thành Tổng tống Mỹ, vì bà từng học về khoa học chính trị, một thượng nghị sỹ, một ngoại trưởng, một nhà chính trị chuyên nghiệp. Tôi tin rằng bà có thể đưa quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm cao mới. Còn Donal Trump chỉ là một thương nhân, một nhà tài phiệt, chưa hề trải qua chính trường, không có kiến thức về chính trị, về quan hệ quốc tế, thậm chí đến nhiệm vụ và quyền hạn của một tổng thống ông ta cũng không nắm được; một con người như vậy chắc gì biết đến Việt Nam là ai, tôi không hy vọng ông ta có thể vun đắp cho mối quan hệ Mỹ-Việt trong những năm tháng ông ta cầm quyền.
Mấy tháng trước khi diễn ra cuộc bầu cử, tôi đã đến thăm ngôi nhà riêng của Bill Clinton trong thời gian ông dạy học ở Trường Đại học Arkasas, bây giờ trở thành Bảo tàng Clinton (Clinton House Museum). Ngôi nhà nằm trên một sườn đồi, cạnh Trường Đại học Arkansas. Đó là ngôi biệt thự một tầng xinh xắn có chín phòng theo phong cách kiến trúc Tudor của người Anh và một vườn hoa sau nhà.
Tôi đã dành cả một buổi sáng để thăm ngôi nhà-bảo tàng Clinton, thăm phòng khách nơi tổ chức lễ cưới của Bill và Hillary vào năm 1975, xem xét kỹ cái lò sười do chính tay Bill tự làm; thăm căn phòng “chiến tranh” (War Room), nơi ông bà cùng bạn bè thảo luận giúp ông bà khởi nghiệp; thăm phòng bếp có treo những bức tranh những người bạn, những người thầy có ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông bà như Thượng nghị sĩ j. William Fulbright, Robert Leflar; thăm phòng nghỉ ngơi giải trí (Rec Room); thăm phòng đọc nay là thư viện… Tôi thích nhất là Vườn hoa các đệ nhất phu nhân, nơi tập trung các loại hoa yêu thích của mỗi một đệ nhất phu nhân từ Martha Washington cho đến Michelle Obama.
Điều quan trọng là thăm ngôi nhà-bảo tàng tôi hiểu thêm về con người Bill và Hillary. Họ đều là những con người có quan điểm chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Họ là những người đầu tiên mở ra cánh cửa bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Riêng với Hillary Clinton, tôi còn biết thêm bà đã từng sáng lập ra Tổ chức Những người ủng hộ trẻ em và gia đình bang Arkasas và đặc biệt là bà đã lãnh đạo một lực lượng nhằm giúp đỡ cải cách các trường công của bang Arkansas. Tôi thực sự có tình cảm với cả hai con người này. Và thực sự tôi mong bà Hillary Clinton trúng cử.
Theo giới tinh hoa, ở Hillary Clinton người ta thấy có đầy đủ tố chất, năng lực, phẩm chất, bản lĩnh của một tổng thống Mỹ. Ngược lại với bà, Donal Trump không có cái gì để nói ngoài một tỉ phú bất động sản. Thế nhưng ông Trump đã trở thành Tổng thống Mỹ mặc dù bà Hillary hơn ông Trump hơn hai triệu phiếu phổ thông. Đó là sự lựa chọn ngoài sự mong đợi của số đông người Mỹ, của phần lớn các nước trên thế giới, kể cả các nước phương Tây, nhưng lại rất đúng với hiến pháp Mỹ, bầu tổng thống theo phiếu Đại Cử tri. Ông Trump được 276 phiếu đại cử tri, bà Clinton chỉ có 218 phiếu.
Một bầu không khí buồn thảm bao trùm khắp nước Mỹ trong đêm kiểm phiếu và kéo dài cho đến mấy ngày hôm sau, nhiều người dân Mỹ thẫn thờ, bàng hoàng. Không ít người thuộc giới chính trị thuộc Đảng Cộng hòa, trong  số đó có người từng là thượng nghị sĩ, từng là bộ trưởng đã thốt lên thật xấu hổ cho nước Mỹ. Ngay cả đến học sinh ở rất nhiều trường học phổ thông của Mỹ cũng khóc sướt mướt, nhất là các em học sinh da mầu, học sinh Mêhicô. Đặc biệt khoảng gần 1 triệu học sinh, sinh viên quốc tế đang theo học ở các trường của Mỹ đều hoang mang, Đến nỗi rất nhiều trường phải ra thông báo trấn an học sinh, sinh viên…
Tại sao nhiều người dân Mỹ lại chọn ông Trump làm tổng thống mà không phải là bà Hillary Clinton?
Tôi nghĩ có thể bà Clinton là dân trí thức thuộc Đảng Dân chủ, đảng nắm quyền trong tám năm qua dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Obama không làm cho kinh tế Mỹ bứt phá, đời  sống của người dân không đủ giàu, vẫn có từ 6 đến 7% người thất nghiệp không tìm kiếm được công ăn việc làm. Mặc dù ông Obama đã lấy tiền đóng thuế của nhà giàu chia cho dân nghèo, thúc đẩy cho chương trình bảo hiểm y tế toàn dân (Chương trình ObamaCare). Chừng ấy là chưa đủ đối với họ. Người dân Mỹ cần một sự thay đổi, một luồng gió mới, một đặc tính của người Mỹ. Có phải vì thế mà người dân Mỹ cần một người ngoại đạo, một tổng thống biết kinh doanh như tỉ phú Trump để dẫn dắt nền kinh tế Mỹ, một nền kinh tế đã chuyển hàng triệu việc làm ra bên ngoài nước Mỹ? Người dân Mỹ cần một nước Mỹ vĩ đại trở lại như khẩu hiệu tranh cử của Trump “Make America great again”, họ cần giàu có hơn và không có ai thất nghiệp, chứ không nhạt nhòa như thời của Tổng thống Obama.
Khi đã bình tâm lại, tôi nghĩ người dân Mỹ có lý do riêng của họ. Và như thế mới đúng với tính cách Mỹ. Donal Trump không phải là một trường hợp đặc biệt. Người dân Mỹ trước đây đã từng bầu cho Franklin Delano Roosevelt, một tổng thống ngồi trên xe lăn, trên thế giới không có một nước nào bầu cho một người tàng tật làm tổng thống, nước Mỹ đã làm như vậy. Roosevelt, Tổng thống Mỹ thứ 32 đã không phụ lòng nước Mỹ. Ông được biết đến như một huyền thoại trong lịch sử nước Mỹ. Ông lãnh đạo nước Mỹ vượt qua khủng hoảng kinh tế kinh hoàng nhất trong lịch sử, lãnh đạo nước Mỹ vượt qua những năm tháng tối tăm trong chiến tranh thế giới thứ hai để nước Mỹ xác lập vị trí siêu cường của nước Mỹ. Có lẽ người dân Mỹ hy vọng ở ông Trump có thể dẹp bỏ được nhà nước khủng bố tự xưng IS và một lần nữa đưa nước Mỹ đến một tầm cao mới như Roosevelt đã từng làm được.
Đã có những tổng kết nêu ra những lý do khiến Trump chiến thắng. Một trong những lý do đó là sự định hướng của các phương tiện truyền thông Mỹ hay nói đúng hơn là sự thiên vị cho bà Hillary Clinton, cùng với các cuộc thăm dò sai lầm tỉ lệ chiến thắng của Clinton có lúc lên tới 90 đã phản tác dụng. Đó là sự thất bại của giới truyền thông, giới quyền lực thứ tư trong đế chế truyền thông Mỹ thất bại trước người dân Mỹ độc lập mà tư tưởng dân chủ ăn sâu vào máu của họ. Thực sự người dân Mỹ không còn tin vào giới chính trị tinh hoa, không tin vào giới truyền thông.
Ngoài ra người ta còn nói đến thủ pháp khôn ngoan của Trump, trong đó có việc tạo ra các nhóm cử tri giấu mặt; biết khai thác những điểm yếu của Chính quyền Obama; đánh đúng vào tâm lý cần phải thay đổi nước Mỹ; rồi đến việc đặt nước Mỹ lên trên hết; cấm nhập cư; đem lại việc làm cho người dân Mỹ…
 Đặc biệt nhất là “những bất ngờ tháng 10”. Hàng loạt tiết lộ từ Wikileaks đã hủy hoại danh tiếng của bà Clinton, đẩy thêm sự nghi ngờ của cử tri về sự trung thực cũng như uy tín của bà qua những câu chuyện bê bối email cá nhân. Ngoài ra đòn giáng điều tra của FBI liên quan tới vụ email chỉ mười ngày trước bầu cử đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến lá phiếu. Phe Trump đã có thêm cơ hội, sinh khí trong cuộc đua vào phút chót.
Donal Trump trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ làm rung chuyển giới chính trị Washington và giới chính trị các nước trên thế giới. Cũng giống như kết quả của cuộc trưng cầu dân ý về Brexit, nhiều người Mỹ đã rùng mình khi nhận ra rằng mình đã bỏ phiếu cho một điều khủng khiếp như thế nào. Thị trường tài chính sụt giảm. Một loạt các nước đồng minh của Mỹ triệu tập các cơ quan an ninh và tài chính họp khẩn để đánh giá tác động của việc Trump lên làm tổng thống. Hội nghị APEC lo ngại vấn đề tự do thương mại và chủ nghĩa bảo hộ. EU họp tăng cường ngân sách quốc phòng và chuẩn bị thành lập quân đội riêng… Dường như một nửa dân số Mỹ và cả thế giới chưa biết sẽ ra sao dưới một tổng thống Mỹ rất khó lường.
Trong bài phát biểu mừng chiến thắng, Trump tuyên bố “Chúng ta sẽ sửa chữa bên trong các thành phố, xây dựng lại các đường cao tốc, cầu cống, đường hầm, sân bay, trường học, bệnh viện, đồng thời sẽ xây dựng lại cơ sở hạ tầng, sử dụng hàng triệu lao động cho những công việc xây dựng này.” Trước đó ông đã hứa sẽ chi tiêu mạnh tay vào các chương trình tạo ra rất nhiều công ăn việc làm trong ngành xây dựng, sản xuất thép, phục hồi, phát triển ngành chế tạo máy, đưa những nhà máy xí nghiệp ở nước ngoài về Mỹ… Tất cả những điều này được kỳ vọng sẽ thay đổi về chất nền kinh tế Mỹ hiện tại.
Ngoài những chi tiêu cho hạ tầng, theo truyền thống của Đảng Cộng hòa, chính sách kinh tế của Trump còn cắt giảm thuế doanh nghiệp từ 35% xuống còn 15%. Ông cũng cam kết bãi bỏ những quy định mà ông cho là gánh nặng của doanh nghiệp và kìm hãm tạo việc làm. Ông cũng tuyên bố bãi bỏ chương trình bảo hiểm y tế toàn dân. Ông khẳng định rằng nền kinh tế nước Mỹ sẽ tăng trưởng nhiều hơn sự thâm hụt so với hiện tại và không cần tăng thuế để chi trả cho các chi tiêu cơ sở hạ tầng. Nhiều nhà phân tích nhận định rằng Chính sách của Donal Trum có thể đem lại lợi ích cho nước Mỹ nhưng sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế thế giới.
Thắng lợi của ông Trump có thể làm trầm trọng hơn chủ nghĩa bảo hộ trong thương mại toàn cầu, làm cho quá trình toàn cầu hóa giảm tốc, thương mại tăng trưởng chậm lại. Các thỏa thuận thương mại tự do như TPP, NAFTA và nhiều hiệp định song phương sẽ bị hủy bỏ hoặc xem xét lại vì nó không có lợi cho nước Mỹ. Trump đích thực là con người theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy. Ông sẽ kiên quyết tăng ngân sách bằng việc đánh thuế nặng đối với các hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Các cuộc chiến thương mại tiềm ẩn sẽ có khả năng bùng phát. Kinh tế thế giới chắc chắn sẽ chao đảo.
Về chính trị và an ninh, trong chiến dịch tranh cử, Trump cho rằng nước Mỹ không nên tiếp tục bảo trợ an ninh không công cho các đồng minh chủ chốt như Hàn Quốc, Nhật Bản. Ông còn hứa hẹn sẽ giải tán khối NATO, thậm chí còn chỉ trích các đồng minh đang lợi dụng nước Mỹ. Với những tuyên bố như vậy tôi không thể hiểu hệ thống quan hệ quốc tế sẽ ra sao khi Trump làm như lời ông nói. Có thể chính sách của Trump ít đối đầu với một số cường quốc, một số nước đang có mâu thuẫn với Mỹ, mở ra cơ hội cho hòa bình và phát triển. Nhưng có một điều tôi không thể tưởng tượng được khi ông phát biểu đại ý nếu Bắc Triều Tiên có bom nguyên tử thì cứ để Hàn Quốc và Nhật Bản phát tiển bom nguyên tử.
Nhiều nhà quan sát quốc tế cho rằng khi còn là ứng cử viên ngoài cuộc, người ta tưởng rằng sẽ làm được rất nhiều điều theo ý muốn, nhưng khi đã ở cương vị tổng thống, nghĩa là vào cuộc họ sẽ sớm nhận ra rằng trật tự quốc tế và thị trường không cho phép họ làm theo ý muốn riêng. Đặc biệt với nền chính trị Mỹ, một thể chế tuyệt đối tôn trọng quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, nói theo ngôn từ chính trị là tam quyền phân lập. Chắc chắn Trump không thể làm điều gì ngoài quy định mà luật pháp Mỹ cho phép. Liệu Donal Trump có phải là một người ngoại lệ? Chỉ biết rằng hiện tại có nhiều người Nga ca ngợi chiến thắng của ông Trump, cho đó là bước đi tích cực với thế giới. Riêng với tôi, việc Trump lên làm tổng thống là điều đáng lo hơn là điều đáng mừng.

   
Read More

Khủng bố một góc nhìn lịch sử và văn hóa

Leave a Comment
Vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín, 2001 nhằm vào Trung tâm Thương mại Thế giới, New York, Mỹ đã khiến 2.726 chết và 7.000 người bị thương sau khi hai máy bay của bọn khủng bố đâm vào hai tòa tháp 110 tầng. Cả hai tòa tháp sụp đổ tạo nên một cảnh tượng khủng khiếp. Sự kiện bi thảm này thật sự đã thay đổi nước Mỹ và cũng thay đổi cả thế giới. Mười lăm năm sau ngày kinh hoàng này, vị trí của nước Mỹ đã khác trước thời điểm đó. Mặc dù Osama bin Laden, kẻ chủ mưu vụ tấn công đã bị Mỹ tiêu diệt, nhưng tổ chức khủng bố Al-Qaeda do hắn thành lập vẫn còn là bóng ma đe dọa nhân loại.
 Một liên minh quốc tế do Mỹ đứng đầu được thành lập để chống chủ nghĩa khủng bố, hai cuộc chiến chống khủng bố mang tầm cỡ quốc tế ở Afghanistan và Iraq trong hơn một thập kỷ qua, nhưng có thể nói chủ nghĩa khủng bố không bị tiêu diệt, nó vẫn dai dẳng, khó trị, ngày càng trở nên tàn độc, từ Trung Đông lan rộng ra châu Phi, Trung Á, Kavkaz, Nam Á đến Đông Nam Á. Đến nay, khủng bố bắt đầu bùng phát ở châu Âu.
Mười lăm năm đã trôi qua, ngoài tổ chức Al-Qaeda lại xuất hiện thêm hàng chục tổ chức Hồi giáo khủng bố, trong đó đáng chú ý nhất là tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS hình thành vào giữa năm 2014. Nguy cơ IS “nhuộm đen” cả Trung Đông là hiện hữu. Nếu như trước đây, Bin Laden và tổ chức của hắn chỉ đánh vào các địa điểm, vào các trung tâm siêu cường Mỹ ở các nơi và ở trên chính đất Mỹ thì giờ đây IS đánh vào tất cả mọi nơi của nhiều quốc gia, thách thức an ninh nghiêm trọng đối với toàn thể nhân loại và trật tự thế giới.
Trong những năm gần đây, nói đến chủ nghĩa khủng bố, chủ yếu người ta nói đến chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan bạo lực, những kẻ ở địa vị yếu thế. Khủng bố là hoạt động phá hoại, đe dọa bằng lời nói, hình ảnh hoặc video giết người nhằm gây tâm lý hoang mang khiếp sợ hoặc gây tổn thất cho xã hội và cộng đồng, nhằm mục đích chính trị và tôn giáo. Hành vi khủng bố có thể được thực hiện bởi các tổ chức tồn tại ở nhiều nơi hoặc bởi những cá nhân hay còn gọi là những con sói đơn độc. Nói đến xu hướng khủng bố thì Trung Đông, quê hương của đạo Hồi vẫn là một điểm nhức nối nhất, đặc biệt là ở Lybia, Iraq, Syria. Trong số các tổ chức khủng bố, hai mạng lưới khủng bố quốc tế nổi lên mạnh nhất là Al-Qaeda và IS, nhiều tổ chức và lực lượng khác đã liên kết với hai mạng lưới chính này.
Bắt đầu từ năm 2015, IS trở thành tâm điểm chú ý của thế giới, cũng là tổ chức Hồi giáo cực đoan, tổ chức khủng bố như hàng chục tổ chức khác, nhưng IS là một tổ chức khủng bố mới hoàn toàn về lượng cũng như về chất. IS chiếm đất, nắm dân, bám dân và đặc biệt chúng chú ý  xây dựng nhà nước, xây dựng quân đội, áp đặt hệ thống thuế, xây dựng cơ sở vật chất, sản xuất vũ khí, sử dụng công nghệ thông tin, truyền thông xã hội… Mục tiêu của chúng là xây dựng một Đế chế Hồi giáo trên bán đảo Arab và trên toàn bộ khu vực Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á đến  Đông Nam Á.
Tai sao trong lịch sử hiện đại lại xuất hiện nhiều tổ chức khủng bố, những tổ chức khủng bố đặc biệt quái thai như IS? Đánh vào người dân phương Tây, người dân Mỹ, các tổ chức khủng bố còn biện minh cho hành động trả thù nỗi nhục đạo Hồi trong quá khứ và hiện tại nhân danh thánh Allah, nhưng còn đánh vào hàng ngàn người dân theo đạo Hồi, hành quyết tập thể hàng trăm đàn ông khác giáo phái, biến hàng ngàn phụ nữ thành nô lệ tình dục, giết hại đồng loạt trẻ em cùng một lúc… Những hành động dã man, khủng khiếp, quái đản này nhằm khủng bố đối thủ và răn đe những người bất đồng tôn giáo đã khiến tất cả mọi người trên thế giới phẫn nộ. Vậy mà nó vẫn cứ đang tồn tại bất chấp thế giới văn minh ra sức ngăn chặn.
Sự ra đời của đạo Hồi và sự tác động của nó với xã hội Arab
Chúng ta không thể không tìm căn nguyên của chủ nghĩa khủng bố trong lịch sử, văn hóa Hồi giáo. Có rất nhiều học giả thường tìm nguyên nhân ra đời của chủ nghĩa khủng bố ở sự đói nghèo, thất học, bất bình đẳng, sự thống trị của phương Tây cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa trong suốt một thời gian dài, rồi sự gia tăng dân số đột biến trong các nước Hồi giáo, sự hình thành, trỗi dậy và tham gia của hàng trăm tổ chức Hồi giáo ở tất cả các nước Hồi giáo với một tỉ ba tín đồ… Tất cả những nguyên nhân trên xét ở một góc độ nào đó đều đúng. Nhưng tại sao không có các tổ chức khủng bố Phật giáo, Cơ đốc giáo và nhiều tôn giáo bản địa khác? Các nước ở Trung Đông đâu phải là những nước nghèo? Hãy nhìn vào những nước nghèo nhất thế giới không theo đạo Hồi, họ vẫn sống bình yên không hề có bóng dáng của chủ nghĩa khủng bố. Vì vậy yếu tố lịch sử, văn hóa nên được xem là một thành tố quan trọng tác động đến việc ra đời và hình thành chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo.
Do điều kiện tự nhiên, địa lý, khí hậu, Trung Đông thuộc nền văn hóa Du mục. Ngựa, cừu, dê là vật nuôi phổ biến ở cả Trung Đông và châu Âu. Tôn giáo và con người Trung Đông mang đậm nét lý trí, cứng rắn, thường giải quyết tranh chấp, xung đột bằng vũ lực. Vì thế ngay từ thời trung cổ trên mảnh đất này đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo, giữa Hồi giáo với các tôn giáo khác như Do Thái giáo, Cơ đốc giáo, và rất đáng chú ý là giữa các giáo phái trong Hồi giáo.
Nhìn lại lịch sử Trung Đông người ta thấy Hồi giáo ra đời, gắn liền với sự hình thành nhà nước Arab. Hồi giáo là trụ cột tinh thần và chính trị của nhà nước Arab. Từ thủa ban đầu, vào đầu những năm 610, người sáng lập ra Hồi giáo là Mohammed đã truyền giáo ở Mecca. Giống như việc truyền giáo của các tôn giáo khác, ông bị các thế lực đàn áp. Năm 622, ông chuyển địa bàn truyền giáo từ Mecca đến Mađina. Sau khi đững vững ở Mađina ông chuyển trọng tâm hoạt động truyền giáo sang giải quyết những vấn đề xã hội, phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, tôn giáo, chính thức đặt nền móng cho sự phát triển của đạo Hồi. Như vậy là từ lúc khởi nghiệp truyền giáo, người sáng lập ra đạo Hồi đã gắn liền tôn giáo với vấn đề chính trị, xã hội, quân sự, điều này hoàn toàn khác với các tôn giáo như Cơ đốc giáo, Phật giáo, Hindu giáo- những tôn giáo mang thuần nét tinh thần. Và đương nhiên từ đó ông đã đặt cơ sở cho Đạo vào Đời và Đời vào Đạo. Điều đó lý giải tại sao các tổ chức Hồi giáo tham gia vào đời sống chính trị xã hội mọc lên như nấm xuân ở các quốc gia Hồi giáo hiện nay.
Tại Maddina Mohammed đề xuất và thực hành chủ trương cải cách xã hội, xây dựng quy phạm luân lý đạo đức, dần dần hình thành một loạt hệ thống giáo lý đạo Hồi, dùng sức mạnh tinh thần của tôn giáo và sử dụng sức mạnh vũ lực của chính quyền để thúc đẩy chính quyền làm cho nó ngày càng vững mạnh. Mohammed tổ chức vũ trang cho tín đồ Hồi giáo ở Mađina dưới khẩu hiệu “Chiến đấu vì Đạo của Thánh Allah”, cổ vũ tử vì đạo- những người chết trận được bước vào thiên đàng, động viên tín đồ chiến đấu anh dũng, chủ trương tiêu diệt các môn đồ khác chính kiến và các bộ tộc dị giáo, trong đó có các bộ tộc do thái, xử tử toàn bộ đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị bắt làm nô lệ. Tư tưởng bạo lực tàn bạo đó qua hàng ngàn năm không ngừng thẩm thấu vào các tổ chức Hồi giáo cực đoan hiện nay.
Năm 630 Mohammed tổ chức hàng vạn quân tiến công vào Mecca, các thế lực ngoại đạo hoàn toàn tan rã. Ông ra lệnh phá hủy toàn bộ các pho tượng của đạo đa thần, chỉ để lại tảng đá đen làm thánh vật cho tín đồ đạo Hồi. Uy thế của đạo Hồi lừng lẫy, chính quyền mới ngày càng được củng cố. Mohammed không những là người sáng lập ra đạo Hồi, một chiến binh, một chỉ huy quân sự xuất sắc mà còn là quan tư pháp tối cao, người đứng đầu lập pháp, người đứng đầu chính quyền mới và là thống soái tối cao của đạo quân Hồi giáo. Dưới sự lãnh đạo của ông, đạo Hồi ra đời và phát triển song song với phong trào cải cách xã hội. Đạo Hồi hợp nhất với chính quyền đã tạo cơ sở cho sự thống nhất các bộ lạc trên bán đảo Arab, thực sự đã mở ra một chương mới trong lịch sử Trung Đông, đồng thời cũng khép cửa với thế giới còn lại.
Năm 632 Mohammed mất, không có con nối dõi, ông lại không để di chúc người kế nghiệp cho nên đã dẫn đến cuộc đấu tranh giành quyền kế vị. Phần lớn các tín đồ cho rằng người kế vị nên dành cho Abu Bakr, người là tín hữu thân thiết và là cha vợ của Mohammed mới xứng đáng là người lãnh đạo(caliph). Những tín đồ này sau đó trở thành người Hồi giáo dòng Sunni, giáo phái lớn nhất của đạo Hồi trong quá khứ và hiện tại. Nhưng một số tín đồ khác lại cho rằng, người anh em họ và là con rể của Mohammed, được Mohammed xức dầu thánh mới xứng đáng là caliph. Những người này sau này trở thành người Shia hay Shiite. Hai giáo phái này mâu thuẫn, xung đột, tàn sát đẫm máu để giành quyền bính, để đại diện cho thánh Allah suốt từ năm 632 cho đến tận ngày hôm nay. Sự mâu thuẫn, xung đột giữa hai giáo phái này, dẫn đến nhiều biến thể ở cả cấp độ giữa các quốc gia, giữa các giáo phái trong một quốc gia, giữa các tổ chức hồi giáo trong một quốc gia, giữa chính quyền với một bộ phận tín đồ khác giáo phái, giữa các tín đồ với tín đồ ở khắp Trung Đông, Bắc phi.
Từ thế kỷ thứ bảy, dưới ngọn cờ của đạo Hồi, các thế lực lãnh đạo đã nêu cao ý chí dân tộc và tôn giáo. Người Hồi giáo bị chi phối bởi sức mạnh tinh thần thánh chiến và sự thúc đẩy của lợi ích vật chất nên bắt đầu tiến hành các cuộc chinh phạt khắp khu vực. Trong một thời kỳ dài, nói chung người Arab là quân nhân, khi đi chinh chiến mang theo gia quyến ở trong doanh trại. Chiến tranh đối với họ là nghề nghiệp. Sống bằng cướp đoạt và chia chiến lợi phẩm. Với tinh thần chiến đấu tử vì đạo, chỉ trong một thời gian ngắn, đạo quân đạo Hồi đã đánh bại Đế quốc Byzantine và Đế quốc Ba Tư. Năm 640 đánh chiếm toàn bộ Xyri, Palestine… Biên giới của nhà nước Hồi giáo mở rộng phía đông tới Afganishtan, phía tây giáp Ai Cập, Libi. Và từ đó đạo Hồi gắn liền với sự hưng vong của Đế quốc Arab cho đến thời kỳ cận đại (xem lịch sử Đế quốc Arab từ cổ đại đến cận đại). Mặc dù Đế quốc Arab lúc hưng thịnh và suy vong, nhưng đạo Hồi vẫn phát triển không ngừng, từ tôn giáo dân tộc phát triển thành tôn giáo thế giới…
Nghiên cứu lịch sử của đạo Hồi, người ta nhận thấy ở một số khu vực, trong đó có khu vực Đông Nam Á, đạo hồi thật sự phát triển theo con đường hòa bình, tuy nhiên không thể không đi đến kết luận- quá tình hình thành và phát triển của Hồi giáo nhìn chung gắn liền với bạo lực, in đậm nét bạo lực ở những bước ngoặt. Không thể nói nó không ảnh hưởng tới tư tưởng và hành động của một bộ phận tín đồ Hồi giáo, nhất là các thế lực cầm quyền và các thế lực âm mưu nắm quyền.
Giáo lý Hồi giáo, nguyên tắc cơ bản của pháp lý, nguồn lập pháp nhà nước Hồi giáo
Không như các tôn giáo khác, giáo lý của đạo Hồi do ba bộ phận cấu thành: Tín ngưỡng (niềm tin) tôn giáo, nghĩa vụ tôn giáo và hành thiện. Ba điều trên chi phối toàn bộ cá nhân, gia đình, xã hội của xã hội đạo Hồi từ thời cổ đại đến nay. Trong tín ngưỡng tôn giáo đáng chú ý nhất là Kinh Coran và thánh huấn. Chúng là kinh điển thần thánh của đạo Hồi, là nguồn gốc của tín ngưỡng và tôn giáo Hồi giáo, là nguyên tắc cơ bản pháp lý và là nguồn lập pháp nhà nước Hồi giáo, là chuẩn mực tối cao để chỉ đạo mọi hành vi cá nhân và đời sống xã hội Hồi giáo và cũng là xuất phát điểm của các loại học thuyết và trào lưu tư tưởng cùng với các cơ sở lý luận của thế giới Hồi giáo. Nó có nhiều điểm tiến bộ và nhân văn, những cũng chứa đựng những tư tưởng bạo lực và những phong tục tập quán từ thời kỳ thị tộc, bộ lạc như tranh giành, cướp bóc, chiến tranh, tàn sát, trả thù cho những người cùng máu mủ và cao hơn hết là thánh chiến, tử vì đạo…
Trong giáo lý của Kinh Coran và Thánh huấn có chủ trương phát động chiến tranh để bảo vệ và phát triển tôn giáo. Thậm chí để khích lệ chiến tranh, người ta còn tuyên bố các tín đồ muốn được cứu vớt linh hồn thì phải hăng hái chiến đấu. Người tử trận linh hồn sẽ được lên thiên đàng, vợ con của họ sẽ được cứu giúp. Về mặt này Đạo Hồi khác hẳn với giáo lý đạo Phật và đạo Cơ đốc. Trong giáo lý của đạo Phật, đạo Cơ đốc không hề có tư tưởng bạo lực và chiến tranh. Nó loại bỏ tham, sân, si. Nó chủ trương sống an lành, yêu thương, bình đẳng. Có thể nói những hệ lụy của tín ngưỡng đạo Hồi từ hàng nghìn năm đã thấm đẫm vào các tín đồ trong xã hội hồi giáo.
Cùng với tín ngưỡng, luật Hồi giáo (Shari’ah) cũng do Mohammed tạo ra cả phần nhân văn lẫn mặt trái của nó trở thành hệ thống pháp luật của xã hội Hồi giáo, của các quốc gia lấy Hồi giáo là quốc đạo. Nghĩa là không có sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước, nó kiềm tỏa sự phát triển của con người, cản trở sự phát triển xã hội. Và với một nền văn hóa cứng rắn, không khoan nhượng, một bộ phận người Hồi giáo, bị tác động của hoàn cảnh, trở nên cực đoan trong xã hội hiện đại là điều có thể lý giải được. Những hành động hiện nay như cướp biển, bắt cóc, tống tiền, thủ tiêu đối thủ, tàn sát tập thể những người khác đạo, khác giáo phái, bắt phụ nữ làm nô lệ tình dục và cao nhất là khủng bố đều có căn nguyên của nó.
Sự thống trị của phương Tây và phản ứng của thế giới Arab
Trên thực tế, sự xung đột giữa người Hồi giáo với phương Tây đã có từ thời trung cổ với các cuộc thập tự chinh do giáo hội La Mã phát động chống lại đạo Hồi. Đương nhiên ngay từ đó người Hồi giáo dưới các hình thức đã phát động phong trào thánh chiến chống lại phương Tây. Phong trào này càng được củng cố vào thời cân đại, khi thực dân phương Tây xâm chiếm Trung Đông, biến vùng này thành thuộc địa và nô dịch người Hồi giáo. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, với chính sách chia để trị, thực dân Phương Tây đã chia Trung Đông, khi đó là Đế quốc Ottoman thành những quốc gia mới luôn luôn kiềm chế nhau, xung đột lẫn nhau. Sau khi thực dân Anh, Pháp rút đi Trung Đông là mảnh đất của sự xung đột, đặc biệt là xung đột giữa bốn quốc gia Thổ Nhĩ kỳ, Iran, Syria và Iraq.
Sự thống trị của thực dân phương Tây đối với Trung Đông đã hình thành nên sự phản kháng trong thế giới Hồi giáo. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, vì vị trí địa-chính trị, vì dầu mỏ, Mỹ đã can thiệp mạnh vào Trung Đông, lập nên nhà nước Do Thái chống lại các nước Arab. Vì vậy tư tưởng thù địch đối với phương Tây và Mỹ càng trở nên sâu đậm, thậm chí đã trở thành mối thù truyền kiếp, đòi phải trả nợ bằng máu theo luật của người Hồi giáo.
Đáng chú ý nhất là trong cuộc chiến tranh ở Afghanistan từ năm 1979 đến năm 1989, cuộc chiến tranh của Liên Xô ủng hộ chính quyền Đảng Dân chủ Nhân dân Afganistan Macxit chống lại lực lượng Mujahideen Afghanistan được sự ủng hộ của Mỹ, Pakistan và các quốc gia Hồi giáo trong bối cảnh của cuộc chiến tranh Lạnh. Cuộc xung đột này đã tạo ra một lực lượng khổng lồ chiến binh thánh chiến “chống chủ nghĩa vô thần” đến từ khắp Trung Đông và thế giới Hồi giáo (ước chừng 250.000 người). Cuối cùng sau gần 10 năm các lực lượng thánh chiến Hồi giáo, đội quân đạo Hồi với tiền của của cả thế giới Hồi giáo và công nghệ vũ khí của Mỹ, sự đào tạo của Mỹ đã đánh đuổi quân đội Xô Viết ra khỏi Afghanistan.
Hậu quả sau cuộc cuộc chiến tranh trên, các chiến binh trở về tất cả các nước ở Trung Đông và thế giới Hồi giáo. Họ thành lập các tổ chức Hồi giáo, là xương sống của các tổ chức Hồi giáo cực đoan bạo lực như nấm độc ở khắp các nước Trung Đông, Bắc phi và thế giới Hồi giáo. Với tâm lý người Hồi giáo đã hạ gục được một siêu cường thế giới mà ngay cả người Mỹ vào thời điểm đó cũng không làm được, sau khi Liên Xô sụp đổ (1991) mục tiêu của các tổ chức Hồi giáo cực đoan là siêu cường còn lại Mỹ, cộng với phương Tây.
Tiêu biểu cho các lực lượng Hồi giáo cực đoan sau chiến tranh Lạnh là lực lượng Taliban, một phong trào Hồi giáo chính thống dòng Sunni Pashtun dân tộc cực đoan. Sau khi đã kiểm soát được thủ đô Afghanistan, chúng lập nên Vương quốc Hồi giáo Afghanistan. Trong thời gian thống trị Afghanistan từ năm 1995-2001, chế độ Taliban đã thi hành Luật Hồi giáo Shari’ah hà khắc nhất thế giới Hồi giáo, vi phạm nghiêm trọng quyền con người, nhất là đàn áp đối với người ngoài đạo, người khác giáo phái, phụ nữ. Chế độ này còn ngang nhiên triệt hạ tất cả các di sản văn hóa của những nên văn hóa khác, chẳng hạn như di sản tượng Phật 1500 năm ở Bamian     
Rồi tiếp theo, trong những năm gần đây, việc Mỹ và phương Tây can thiệp quân sự trực tiếp vào các nước ở Trung Đông, bắt đầu từ cuộc Chiến tranh Iraq lần thứ nhất, rồi cuộc chiến ở Afganistan, Iraq lần thứ hai và việc xuất khẩu các cuộc cách mạng dân chủ bắt đầu từ Mùa Xuân Ai Cập, Lybia đến Syria theo giá trị của phương Tây. Cả Trung Đông và Bắc Phi đang phải trải qua một giai đoạn thay đổi với rất nhiều thách thức, thậm chí một số nước rơi vào hỗn loạn… Tất cả đã tạo ra một khoảng trống quyền lực cho các mâu thuẫn quyền lực giữa các giáo phái trong đạo Hồi, giữa đạo Hồi và phương Tây- một mớ hỗn loạn bạo lực chém giết-  và cơ sở để tạo ra hàng chục tổ chức Hồi giáo cực đoan, cộng thêm cả IS…
Trong khi chưa đạt được mục tiêu đế chế đạo Hồi hay quốc gia Hồi giáo kiểu Taliban, các tổ chức Hồi giáo cực đoan vẫn là những kẻ yếu thế. Phương thức hành đông của chúng vẫn là phương thức của những kẻ khủng bố. Chúng thường tấn công vào các cơ sở dân sự như bắt cóc, ám sát, phá hoại cơ sở vật chất, kinh tế, tấn công trường học, khách sạn, nhà hàng, sân vận động, sân khấu, rạp chiếu phim… Những cuộc tấn công này có thể được tiến hành theo tổ chức nhóm người chặt chẽ, cũng có thể dưới hình thức một vài cá nhân hoặc một cá nhân như đánh bom tự sát. Và cao nhất hiện nay khủng bố hành động dưới hình thức chiến tranh với lực lượng quân đội như nhà nước IS.
Cuộc chiến chống khủng bố chưa có hồi kết
Mọi cuộc chiến tranh từ xưa đến nay đều đi đến hồi kết, nhưng xung đột và chiến tranh ở khu vực Trung Đông kể từ năm 622 đến nay, hòa bình chỉ là thời gian ngưng chiến. Chưa bao giờ có sự đồng thuận, chưa bao giờ có sự thỏa hiêp giữa các phe phái, trong nội bộ các quốc gia, trong thế giới đạo Hồi. Không thỏa hiệp, nhượng bộ, hợp tác đó là những đặc điểm trong lịch sử, văn hóa người Arab, trong lịch sử, văn hóa thế giới Arab và thế giới hồi giáo. Câc lãnh tụ trong thế giới Hồi giáo càng không hề có sự thỏa hiệp, nhượng bộ, hợp tác chia sẻ quyền lực. Tiêu biểu là Bashar Al-Assad, ông ta và các phe phái ở Syria thà để đất nước thành đống tro tàn, hàng triệu người dân trong nước ly tán, chết chóc, chứ nhất quyết không chịu thỏa hiệp, nhượng bộ, và nhất quyết không từ bỏ quyền lực.
Các nhà phân tích nói đúng, muốn giúp khu vực Trung Đông giải quyết được mớ thắt nút và sự bế tắc hiện nay phải củng cố các thể chế quản lý của các quốc gia Trung Đông hiện nay để tất cả hội nhập sâu vào thế giới toàn cầu hóa. Phải đảm bảo tôn trọng hệ thống các quốc gia trong khu vực. Phải phát huy được sự nỗ lực mang tính phối hợp nhằm chấm dứt bạo lực ở mọi cấp độ trong khu vực Trung Đông. Bởi vì đổ máu, chia rẽ, xung đột, bạo lực và chiến tranh là miếng đất màu mỡ gieo rắc những mầm mống của chủ nghĩa cực đoan, của chủ nghĩa khủng bố ở Trung Đông nói riêng và trên thế giới nói chung.
Đúng như vậy, phải xây dựng được sự đồng thuận, sự thỏa hiệp, sự nhượng bộ và sự hợp tác giữa các xã hội Arab ở khu vực Trung Đông và Bắc phi. Ở bình diện quốc tế liệu có sự thỏa hiệp, nhượng bộ, hợp tác giữa Mỹ, phương Tây và Nga? Ở cấp độ khu vực, liệu giữa các nước ở Trung Đông, Bắc Phi, giữa các nước trong vùng vịnh, giữa Arab Xêut và Iran có sự thỏa hiệp, nhượng bộ và hợp tác? Ở cấp độ quốc gia liệu có sự thỏa hiệp, nhượng bộ và hợp tác giữa các phe phái, giữa các giáo phái… Tất cả có vượt qua được sự khác biệt, vượt qua được lợi ích chính trị và kinh tế? Và đối với thế giới Hồi giáo, họ có vượt qua được chính lịch sử, văn hóa của họ để thỏa hiệp, nhượng bộ và hợp tác? Chừng nào chưa làm được điều đó, chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan vẫn còn tồn tại và phát triển ở Trung Đông và ở trên thế giới. Vấn đề khủng bố sẽ ngày càng trở thành vấn đề nan giải toàn cầu và chắc chắn vẫn chưa có hồi kết.     




Read More

Mốiquan hệ Mỹ-Trung sẽ đi đến đâu

Leave a Comment
Trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, có thể nói quan hệ Mỹ-Trung có tầm quan trọng hết sức đặc biệt. Nhất là từ khi Trung Hoa Dân quốc mất ghế tại Liên Hợp Quốc năm 1971, thay thế vào đó là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nếu như ba, bốn thập niên trước đây, Trung Hoa chỉ là một nước đông dân cư nhất thế giới, một nước đói nghèo thuộc thế giới thứ 3, Mỹ vẫn lợi dụng được Trung Hoa trong ván bài làm sụp đổ Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (gọi tắt là Liên Xô) để tiếp tục duy trì vị thế siêu cường duy nhất còn lại, thì ngày nay Trung Hoa nổi lên thành một cường quốc và có thể là một cường quốc lớn nhất về kinh tế thì Mỹ càng phải cần đến Trung Hoa trên nhiều vấn đề mang tính toàn cầu như chính trị, kinh tế, biến đổi khí hậu, và vấn đề hạt nhân Triều Tiên… Liệu rằng Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ có chịu chia sẻ vị thế siêu cường và quyền lợi quốc gia với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa?
Quan hệ Mỹ-Trung từ năm 1949 đến năm 2010
Quan hệ Mỹ-Trung đã trải qua nhiều thăng trầm. Từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 đến năm 1972, hơn hai mươi năm Mỹ-Trung là kẻ thù không đội trời chung. Quan hệ hai nước trong bối cảnh chiến tranh lạnh, luôn bên bở vực chiến tranh, thậm chí Mỹ đã tính đến sử dụng lực lượng hạt nhân chiến thuật sau cuộc chiến tranh Triều Tiên. Nhưng bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỉ trước, do những khó khăn của cả hai nước, họ đến với nhau và cả hai đều điều chỉnh chính sách của mình. Mỹ phải hi sinh Đài Loan, nhượng bộ Trung Quốc ngồi vào ghế Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an. Về phía Trung Quốc, họ chuyển từ chính sách mang nặng ý thức hệ sang chính sách thực dụng, sát cánh với Mỹ để chống Liên Xô, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai siêu cường để tìm kiếm lợi ích quốc gia. Nhân tố Mỹ trong chính sách đối ngoại của Trung Hoa chuyển dần từ kẻ thù sang một dạng đồng minh đôi bên cùng có lợi.
Điều quan trọng là cải thiện quan hệ với Mỹ giúp Trung Hoa đặt nền móng và phát triển quan hệ với thế giới phương Tây. Từ chỗ bị cô lập, Trung Hoa có cơ hội vươn rộng ra với cộng đồng quốc tế. Điều này đặt nền móng cho công cuộc cải cách kinh tế thần kì mà Đặng Tiểu Bình khởi xướng ở giai đoạn sau. Mâu thuẫn lớn nhất giữa hai nước là về ý thức hệ tạm  thời được gác lại. Mỹ chính là đột phá khẩu cho chiến lược hướng ra bên ngoài của Trung Hoa. Với tư cách là một thị trường, Mỹ trở thành một đối tác cần thiết có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển về mọi mặt, cụ thể là Bốn hiện đại hóa (Four Modernization) trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng và khoa học công nghệ nhằm biến Trung Hoa thành một cường quốc hiện đại.
Đến những năm 1980 trở đi, quan hệ Mỹ-Trung vẫn là mối quan hệ lợi dụng lẫn nhau, tập hợp lực lượng để tạo thế so sánh trong quan hệ với Liên Xô. Sau khi quan hệ Mỹ-Xô đi vào thế hòa hoãn cuối những năm 80, đặc biệt là sau năm 1989, sau sự kiện Thiên An Môn, Bắc kinh dùng xe tăng nghiền chết hàng ngàn sinh viên biểu tình, vị trí của Trung Quốc trong chiến lược của Mỹ bị hạ thấp, và sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ ra sức thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình. Trung Hoa lẳng lặng phát triển kinh tế, ổn định nội bộ và đã khôn ngoan không thành lập mặt trận chống Mỹ như giai đoạn đầu. Mặc dù có nhiều sóng gió trong quan hệ hai nước, nhưng Trung Hoa đã thành công thực hiện chính sách “giấu mình chờ thời” của chiến lược gia Đặng Tiểu Bình.
Sự kiện 11 tháng Chín năm 2001, sự kiện khủng bố đánh vào tòa tháp đôi, biểu tượng kinh tế của nước Mỹ, giết hại gần ba nghìn người là cơ hội trời cho đối với Trung Hoa. Mỹ lao vào cuộc chiến chống khủng bố và sa lầy trong hai cuộc chiến ở Afganistan và Iraq, tiêu tốn hàng ngàn tỉ đô la cùng với rất nhiều nguồn lực con người trong mớ bùng nhùng Trung Đông. Lợi dụng tình hình đó, tận dụng xu thế toàn cầu hóa, Trung Hoa đã biến mình trở thành công xưởng của thế giới, có nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới và vươn lên trở thành một cường quốc ở châu Á, đồng thời bước lên sân khấu toàn cầu. Đáng chú ý hơn là dựa vào tiềm lực kinh tế ngày một lớn của mình, Trung hoa không ngừng đầu tư cho quốc phòng và hiện đại hóa quân đội. Mức độ chi tiêu cho quốc phòng liên tục tăng trong nhiều năm, chỉ đứng sau Mỹ.
Bước sang thiên kỉ mới sau mười lăm năm, mặc dầu bắt đầu bộc lộ nhiều mâu thuẫn, quan hệ Mỹ-Trung vẫn phụ thuộc vào nhau về chính trị, kinh tế, ngoại giao. Họ là đối thủ của nhau nhưng đồng thời cũng là đối tác của nhau. Điều này khác hẳn với quan hệ Mỹ-Xô trong thời gian chiến tranh lạnh. Hai siêu cường kéo theo hai phe đối lập nhau trên tất cả các mặt trận chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự. Quan hệ Mỹ-Trung bây giờ phức tạp hơn nhiều. Mỹ không còn là một siêu cường trong thời hoàng kim. Trung Hoa cũng không chỉ đơn thuần là một cường quốc Cộng sản độc đoán. Chính sách của họ cũng không chỉ là mèo đen hay là mèo trắng. Họ đang tối đa tầm ảnh hưởng ở khu vực Tây Thái Bình Dương; xây dựng các mối quan hệ kinh tế với các nước, phát huy lợi thế với các nước trong khu vực xung quanh, đồng thời tìm kiếm vai trò lớn hơn tại các thể chế đa phương hiện hữu; tìm mọi cách thống nhất hai bờ eo biển Đài Loan và khẳng định yêu sách chủ quyền một Trung Quốc với các nước còn quan hệ chính trị với Đài Loan; tăng cường sức mạnh quốc phòng và phạm vi hoạt động quân sự, đặc biệt là xây dựng phát triển sức mạnh biển; duy trì quan hệ tích cực và có lợi với Mỹ, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cạnh tranh đối đầu chiến lược Mỹ-Trung ở châu Á-Thái Bình Dương.
Mục tiêu chiến lược của Trung Hoa là hoàn thành việc xây dựng một xã hội thịnh vượng trên mọi lĩnh vực vào năm 2021 khi Đảng Cộng sản Trung Hoa kỉ niệm 100 năm ngày thành lập và xây dựng một đất nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, vững mạnh, dân chủ, nâng cao đời sống văn hóa và hài hòa vào năm 2049, khi nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa đánh dấu chặng đường 100 năm ngày thành lập. Nhiệm vụ nòng cốt để thực hiện mục tiêu họ đề ra là gia tăng sức mạnh quân sự để bảo vệ đất nước, mở rộng quyền lực ra phía đông Thái Bình  Dương, củng cố sức mạnh tiến vào Ấn Độ Dương và tạo ra “con đường tơ lụa mới” trên biển…
Nhìn lại quan hệ Mỹ-Trung từ 1949 đến 2010, các nhà quan sát quốc tế nhận thấy mối quan hệ này chứa đựng đầy đủ hai mặt hợp tác và cạnh tranh. Trong đó cạnh tranh là đặc điểm xuyên suốt qua mọi thời kì. Nhưng trong sự hợp tác lợi dụng, cả hai bên đều thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Trung Hoa luôn cảnh giác với chiến lược diễn biến hòa bình, can thiệp nội bộ, thay đổi chế độ của Mỹ. Và cũng vì sự khác biệt về hệ thống chính trị, Mỹ luôn tấn công Trung Hoa về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, ăn cắp bản quyền, gián điệp mạng, thao túng thị trường… còn Trung Hoa thì không hài lòng với trật tự thế giới do Mỹ và phương Tây lãnh đạo. Trung Hoa chắc chắn sẽ không từ bỏ cạnh tranh với Mỹ và Mỹ cũng là đối thủ mà Trung Hoa muốn vượt qua.
Quan hệ Mỹ-Trung từ năm 2010 đến nay
Từ khi Tập Cận Bình lên nắm chính quyền, Bắc Kinh bắt đầu sốt sắng đẩy mạnh “giấc mơ Trung Hoa”. Bắc kinh tự tin đến tự mãn, quyết đoán đến hung hãn, bất chấp mọi thủ đoạn để thực hiện được các mục tiêu. Chính sách của Bắc kinh dựa trên hai trụ cột chính là: Sức mạnh kinh tế và vị thế quốc tế; vứt bỏ chính sách giấu mình chờ thời, thực thi chính sách cứng rắn ở Hoa Đông, Biển Đông, gây áp lực với Nhật Bản, Việt Nam, Philippines; tăng cường ảnh hưởng ở Mianma, Lào, Campuchia; thiết lập quan hệ kiểu mới với các nước lớn… Mục đích của Bắc Kinh là phát triển kinh tế nhằm vượt Mỹ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới; hiện thực hóa để trở thành cường quốc biển; hiện đại hóa quân đội nòng cốt là hải quân, không quân và tác chiến điện tử, không gian mạng; vươn lên trở thành cường quốc toàn cầu, có vai trò chủ chốt trong quan hệ quốc tế.
Theo quy luật lịch sử giữa một cường quốc đứng đầu và một cường quốc chuẩn bị thay thế, nhiều nhà bình luận và quan sát quốc tế đã đặt ra vấn đề quan hệ Mỹ-Trung theo thời gian sẽ dẫn đến chiến tranh. Ngay ở cả Trung Hoa cũng có nhiều người đặt vấn đề chiến tranh Trung-Mỹ là không thể tránh khỏi. Đúng là Trung Hoa đang nổi lên và trở thành một cường quốc lớn sau nhiều thế kỉ bị ngoại bang xâm chiếm và chia cắt. Giới hoạch định chiến lược Trung Hoa đã chứng minh được cùng với sự phát triển kinh tế, sức mạnh quân sự của họ đang ngày cành gia tăng, Bắc Kinh đã và đang thách thức Mỹ và các cường quốc châu Á và các quốc gia láng giềng về năng lực phòng thủ cũng như tấn công của họ. Tuy nhiên xét kĩ, thực lực quân sự của Trung Hoa so với Mỹ còn một khoảng cách khá xa. Các chuyên gia cho rằng Trung Hoa phải cần hai mươi đến ba mươi năm nữa mới mới có thể lấp được khoảng cách đó.
Cũng có nhiều nhà hoạch định chiến lược Trung Quốc muốn đi theo con đường của Đặng Tiểu Bình, đưa Trung Hoa trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất, nhưng sẽ không tranh bá. Lịch sử các cường quốc trong quá khứ như Đế quốc La Mã, Đế quốc Nguyên Mông mà Trung Hoa là một phần, Đế quốc Anh và gần đây nhất là Liên Xô… Tất cả đã cho Bắc Kinh  quá nhiều bài học cay đắng về số phận của những anh cả, anh hai trên trường quốc tế. Những người theo quan điểm này muốn Bắc Kinh thực hiện một chiến lược lâu dài là hợp tác, canh tranh và tránh xung đột với Mỹ. Các nhà hoạch định chính sách trung dung thì khuyến cáo Bắc Kinh phải hết sức thận trọng, tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ cho đến khi tiềm lực kinh tế và quân sự của họ thay đổi về chất và ở trong tình trạng đã hoàn toàn sẵn sàng. Họ cho rằng trước mắt Bắc Kinh cần trỗi dậy một cách an toàn ở châu Á mà không gây ra bất kì xung đột nghiêm trọng nào ở khu vực này
Sự thay đổi chiến lược quân sự của Trung Hoa
 Có vẻ như Bắc kinh đang đi chênh vênh giữa hai chính sách diều hâu và ôn hòa. Trước mắt họ đang tìm cách gây áp lực với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản; tìm cách áp đặt ý chí và đưa Đông Nam Á vào vòng ảnh hưởng. Họ sử dụng các phương tiện phi đối xứng như bồi đắp tôn tạo các rạn đá ở Biển Đông, mở rộng khu vực hải quân và không phận bên cạnh việc tuyên bố chủ quyền lịch sử để khẳng định sức mạnh và lợi ích của mình. Họ có đòn bẩy  kinh tế, có khả năng quân sự. Họ đã phô diễn sức mạnh cơ bắp. Vấn đề là họ sẽ đi xa đến đâu và kết quả cuối cùng trong việc thay đổi cán cân quyền lực sẽ diễn ra như thế nào ở châu Á-Thái Bình Dương.
   Có nhiều dấu hiệu chắc chắn cho thấy Trung Quốc đã, đang và sẽ đi theo con đường phát triển truyền thống của các cường quốc trong lịch sử như Tây Ban Nha, Anh, Nga, Nhật, Mỹ- phát triển sức mạnh biển với lực lượng hải quân làm trung tâm theo tư tưởng của  Alfred Mahan, có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Trung Quốc. Họ không chỉ tập trung vào hải quân và thương mại như các cường quốc trước đây mà còn quyết tâm xây dựng một chiến lược biển toàn diện, phối hợp với nhiều lực lượng như hải cảnh, tuần duyên, lực lượng dân sự đánh cá hùng hậu mà họ có ý định phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân trên biển, tôn tạo xây dựng các đảo và bãi đá ngầm thành các căn cứ quân sự trên biển… Tất cả nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp giành lấy lợi thế chiến lược trước các cường quốc trong và ngoài khu vực, đẩy Mỹ và các cường quốc khác ra khỏi Biển Đông, đồng thời ép các nước nhỏ trong khu vực phụ thuộc vào ý chí của Trung Hoa.
Để chống lại một cuộc tấn công giả định của Mỹ và các đồng minh vào các khu vực trọng điểm kinh tế phía đông, Trung Hoa đã xây dựng chiến lược chống tiếp cận (Anti-Access/ Area Denial-A2/AD). Bài học về khủng hoảng eo biển Đài Loan, Mỹ đưa hạm đội tàu sân bay đến bảo vệ Đài Loan, buộc Trung Hoa phải xuống thang, cùng với những nghiên cứu kĩ về cuộc chiến của Mỹ ở Nam Tư, Afganistan, Iraq, Giới quân sự Trung Hoa cho rằng lực lượng không quân và hải quân là át chủ bài để Mỹ và các nước đồng minh tiến hành các cuộc chiến tranh “không tiếp xúc, không giới tuyến, không cân xứng”. Ba nội dung đó là đặc điểm của các cuộc chiến tranh khu vực trong điều kiện thông tin hóa, trong đó sức mạnh không quân, hải quân cùng với khái niệm không gian vũ trụ và không gian mạng là rất cần thiết để giành thắng lợi nếu chiến tranh xảy ra.
Bắc kinh yêu cầu quân đội đẩy mạnh nỗ lực phát triển khả năng A2/AD cả ở trên không,   trên biển nhằm ngăn chặn, đánh bại Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong một cuộc chiến trên không, trên biển nhằm vào bờ biển phía đông nước này. Để đạt được mục tiêu này, chiến lược A2/AD của Trung Hoa bao gồm quy mô chiến lược và chiến thuật. Ở quy mô chiến lược, Bắc Kinh triển khai cái gọi là ba cuộc chiến tranh: Pháp lí, dư luận công chúng và chiến tranh tâm lí. Mục đích của nó là phủ nhận tính hợp pháp của các lực lượng Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương, đẩy Mỹ ra khỏi khu vực để kiểm soát tất cả các nước ven biển Đông Á. Thực hiện chiến lược này, Trung Hoa không chỉ nhằm vào Mỹ mà còn nhằm vào các đồng minh của Mỹ và các đối thủ ở châu Á-Thái Bình Dương, thuyết phục các nước không cho các lực lượng của Mỹ tác chiến trong không phận và hải phận. Họ cũng đe dọa các nước cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự nhằm ngăn chặn và phá hủy các khả năng triển khai của các lực lượng Mỹ ở khu vực.
Ở quy mô chiến thuật, chiến lược A2/AD liên quan đến các hệ thống vũ khí nhằm tiêu diệt hoặc gây tổn thất cho các lực lượng Mỹ và đồng minh như các hệ thống tên lửa đạn đạo xuyên lục địa cố định (CSS4) có tầm vươn tới bất kì mục tiêu nào trên lãnh thổ Mỹ; tên lửa DF-31A có thể tấn công di động vào các mục tiêu trên Thái Bình Dương; các loại tên lửa chống hạm, chống tàu, hệ thống tàu ngầm các loại, hệ thống tàu tên lửa các loại, thậm chí cả vũ khí tấn công siêu thanh. Đặc biệt chương trình không gian mà Bắc kinh tiến hành không phải vì mục đích hòa bình như họ nói mà nhằm chống lại các đối thủ trong trường hợp xảy ra xung đột. Không quân Mỹ tiết lộ hơn 500 vệ tinh nước này bị đe dọa từ chương trình “công nghệ phản không”, chương trình phản kích trong không gian của Trung Hoa… Có thể nói  A2/AD về quy mô chiến thuật, Trung Hoa quá thành công và thật sự là một thách thức đối với giới quân sự Mỹ.
Chiến lược mới của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương
Trong thập niên đầu của thiên kỉ mới, Mỹ đã nhiều lần cảnh báo về chính sách kinh tế, quốc phòng của Trung Hoa. Nhưng thực tế Trung Hoa vẫn chưa tìm cách thay đổi trật tự thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ 2; không đem quân đi can thiệp ở bất cứ nơi nào; không dùng vũ lực giải quyết vấn đề Đài Loan; không giải quyết xung đột bằng vũ lực và đặc biệt là không thách thức vị thế toàn cầu của Mỹ. Chính vì thế chính sách của Mỹ đối với Trung Hoa nhìn chung vẫn là nhân nhượng, cạnh tranh và hợp tác trên bình diện toàn cầu. Tuy vậy, Mỹ luôn xem Trung Hoa là một đối thủ đe dọa vị thế kính tế, quân sự của Mỹ. Như trên đã nói, ngoài việc tấn công Trung Hoa về dân chủ, nhân quyền, tự do tư tưởng… Mỹ đã bắt đầu hành động vào cuối những năm 2000.
Thể hiện rõ nét nhất bắt đầu từ nhiệm kì đầu của Tổng thống Barack Obama. Phát súng đầu tiên bắt đầu nổ vào ngày 21 tháng 10, 2010 khi Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố “Chúng tôi đã trở lại châu Á”. Sau đó bà khẳng định Mỹ có “lợi ích quốc gia” tại Biển Đông và Mỹ ủng hộ Tuyên bố ứng xử về Biển Đông giữa ASEAN và Trung Hoa năm 2002 tại cuộc họp các nước ASEAN với các đối tác tại Hà Nội. Ngoại trưởng Trung Hoa Dương Khiết Trì khi đó đã bỏ cuộc họp để phản đối sự can thiệp của Mỹ vào Biển Đông. Tiếp theo tháng 10, 2011 Mỹ tuyên bố thực hiện chính sách xoay trục, chuyển 60% nguồn lực quốc phòng về khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoại trưởng Mỹ Clinton viết, nước Mỹ “chuyển hướng chiến lược sang khu vực này… nhằm đảm bảo và duy trì vai trò lãnh đạo thế giới của nước Mỹ”.
Trước tham vọng của Trung Hoa với các bên ở Hoa Đông và Biển Đông, Chính quyền Obama công bố bán gói vũ khí trị giá 6,4 tỉ đô la cho Đài Loan, thổi bùng tranh cãi Mỹ-Trung. Với chính quyền Obama, ngoài việc xử lí hậu quả của hai cuộc chiến ở Afganistan và Iraq, Washington phải xử lí mối quan hệ đầy thách thức với Trung Hoa. Nhưng như Ngoại trưởng Mỹ phát biểu “chúng ta không phải gửi đi một thông điệp vô cớ đến Trung Quốc mà để thể hiện sự chắc chắn trong quan điểm của chúng ta”. Nếu Trung Hoa đi quá xa, nước Mỹ sẽ hành động. Đáp trả việc Trung Hoa áp đặt vùng nhận diện phòng không chồng lấn lên các nước đồng minh (Air Defense Identification Zone- ADIZ) ở Hoa Đông tháng 11, 2013, Mỹ đã điều máy bay B52 bay vào ADIZ của Trung Hoa tuyên bố. Tiếp theo tháng 4, 2014 Tướng Tư lệnh Thủy quân Lục chiến John Wissler đóng tại Nhật đã tuyên bố nếu Trung Hoa chiếm Senkaku, Thủy quân Lục chiến sẽ vào cuộc. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel trong chuyến công du châu Á cũng tuyên bố việc bảo vệ Senkaku là điều hiển nhiên vì nó nằm trong Hiệp ước Quốc phòng Mỹ-Nhật. Thông điệp cảnh báo trên được tô đậm thêm bằng thông điệp tương tự của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel, Trung Hoa không nên làm theo “kiểu Crimea” tại châu Á . Đó là những thông điệp mạnh mẽ kể từ khi Mỹ thực hiện chính sách tái cân bằng.
Sự gia tăng căng thẳng với Việt Nam và Philippine của Trung Hoa nhằm độc chiếm Biển Đông khiến Mỹ và philippines kí Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng, mở đầu việc Mỹ sử dụng 8 căn cứ quân sự ở Philippines, trong đó có Căn cứ Hải quân Subic và Căn cứ Không quân Clark (xin xem bài Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực về Biển Đông, chiến thắng của công lí và thất bại của chủ nghĩa cường quyền cũng trong blog này); đồng thời khiến Mỹ xóa bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Và chưa đầy một tuần sau Phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế mà Trung Hoa bác bỏ, Hải quân Mỹ đã đưa chiến đấu cơ và các máy bay tác chiến điện tử tối tân và quân nhân đến Philippines. Đặc biệt gần đây nhất Đô đốc Cecil D. Haney, lãnh đạo Bộ chỉ huy Chến lược thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết Mỹ đã triển khai ba máy bay ném bom tàng hình có khả năng mang bom nguyên tử B-2 đến đảo Guam để thực hiện các nhiệm vụ tấn công “bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào có lệnh”.
Rõ ràng chúng ta thấy quan hệ Mỹ-Trung nóng lên từng năm cùng với sự gia tăng căng thẳng của Trung Hoa ở Hoa Đông và Biển Đông. Nếu như trong thập niên 90 của thế kỉ trước và trong những năm 2000, mâu thuẫn hai nước chủ yếu chỉ là vấn đề kinh tế, dân chủ, nhân quyền, tự do tư tưởng… thì từ năm 2010 trở đi hai bên đã hành động dẫn đến những  mâu thuẫn thêm về chính trị, quân sự, ngoại giao. Cả hai bên đều bắt đầu tập hợp lực lượng, phương tiện và động chạm đến những “lợi ích cốt lõi của nhau”. Chưa thấy có dấu hiệu nào tỏ ra có sự thỏa hiệp và hòa hoãn giữa hai bên.
Những bước đi chiến thuật gần đây của Trung Hoa
Về phía Trung Hoa họ vẫn tiếp tục gây căng thẳng ở Hoa Đông và Biển Đông. Đặc biệt là ở Biển Đông. Họ vẫn tiếp tục hoàn thiện, đưa vào sử dụng các căn cứ tôn tạo ở Biển Đông, đồng thời có dấu hiệu đang tiếp tục mở rộng thêm sau khi bác bỏ Phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế về Biển Đông. Bắc Kinh muốn tự đặt ra luật chơi. Dựa vào nguyên tắc đồng thuận chết người của ASEAN, Trung Hoa triệt để thực hiện chính sách chia để trị. Họ dùng đòn bẩy kinh tế để “mua” Campuchia ngăn ASEAN ra tuyên bố về Biển Đông và tuyên bố về Phán quyết của Tòa Trọng tài về Biển Đông. Kết quả của chính sách chia để trị đã làm vừa lòng Bắc Kinh khi các nước nhỏ có ý kiến “cần tránh xa ngọn lửa hung dữ từ miệng con rồng nên không thể ra tuyên bố chống lại họ. Trung Hoa không chỉ sử dụng đòn bẩy kinh tế, lực lượng tên lửa chiến lược, chiến thuật, lực lượng hải quân, không quân để ngăn chặn và ép buộc các quốc gia trong khu vực trong cuộc chiến tranh ba mặt trận như phần trên đã đề cập. Cuộc chiến tranh pháp lí, cuộc chiến tranh truyền thông dư luận, cuộc chiến tranh tâm lí cộng với hành động quân sự, bán quân sự, lực lương tầu đánh cá dân sự với mục đích làm đối phương phải nản lòng, hoặc thuyết phục các quốc gia láng giềng hiểu, nếu đi ngược ý chí của Trung Hoa thì cái giá phải trả sẽ không thể chịu đựng nổi. Liệu Trung Hoa có thắng được cuộc chiến với các nước xung quanh trước khi bước vào cuộc chiến quyết định với Mỹ trong tương lai?
Cuộc chiến của Trung Hoa áp đặt luật chơi của mình với các nước đồng minh của Mỹ ở Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Nhật Bản), kể cả Bắc Triểu Tiên và thống trị các nước Đông Nam Á, độc chiếm Biển Đông có lẽ là một ý tưởng ngông cuồng trong giấc mơ Trung Hoa. Liệu Bắc Kinh có thực hiện được trên con đường trỗi dậy an toàn ở châuÁ? Còn việc triển khai chiến lược và phát triển sức mạnh biển, Trung Quốc phải căng mỏng lực lượng trên rất nhiều hướng. Trong khi đó tốc độ phát triển kinh tế bắt đầu chững lại, tiềm lực công nghệ và năng lực viễn hải hạn chế, uy tín chính trị và tầm ảnh hưởng khu vực cũng như quốc tế thấp. Hơn nữa tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải cùng với việc củng cố các yêu sách, tuyên bố chủ quyền phi lí, Trung Hoa còn phải đương đầu với sự phản ứng của hầu hết các quốc gia có vùng biển liên quan tới Trung Hoa từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Việt Nam, Malaisia… Chỉ một Philippines với vụ kiện lên Tòa án Trọng tài Thường trực Liên Hợp Quốc cũng đã đủ làm khuynh đảo giới lãnh đạo Trung Hoa rồi.
Trước mắt Trung Hoa chưa đối đầu với Mỹ. Nhưng chắc chắn Bắc Kinh không bao giờ từ bỏ mục tiêu địa chính trị Đài Loan, Quần đảo Senkaku, gây áp lực với các đồng minh của Mỹ hoặc từ bỏ tuyên bố chủ quyền phi pháp (đã bị Tòa Trong tài Quốc tế bác bỏ) gần như chiếm trọn vùng biển, vùng trời ở Biển Đông. Với việc củng cố mở rộng các đảo tôn tạo thành các căn cứ quân sự, Bắc Kinh sẽ không bao giờ từ bỏ chiến lược pháo hạm của lực lượng hải quân với hệ thống tên lửa chống tàu các loại. Họ sẽ chia rẽ đến cùng mục tiêu chung của các ASEAN nếu đi ngược lại lợi ích của Trung Hoa, vì không có Biển Đông, không thâu tóm được các nước Đông Nam Á Trung Hoa rất khó khăn để có thể phát triển  sức mạnh hải quân, khó có thể trở thành cường quốc biển, và do vậy họ không thể đẩy Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương, không khống chế được một trong tuyến đường vận chuyển huyết mạch của thế giới và của chính họ.
Những bước đi chiến thuật gần đây của Mỹ
Không may cho Trung Hoa, cho đến nay Mỹ không có ý định từ bỏ vai trò lãnh đạo thế giới của mình và cũng không chấp nhận đề nghị của Tập Cận Bình xây dựng mối quan hệ nước lớn kiểu mới Mỹ-Trung. Có nghĩa là Wasinhton không chấp nhận cùng chiếu với Bắc Kinh. Mỹ đã phản ứng với Bắc Kinh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, phản ứng Bắc Kinh trong quan hệ song phương, ở các diễn đàn đa phương, các tổ chức quốc tế, kể cả ở G7, G 20 về vấn đề Biển Đông, yêu cầu Bắc Kinh phải chấp hành Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế về Biển Đông và quyền tự do hàng hải ở Biển Đông… Có nghĩa là Mỹ không cho phép Trung Hoa được đặt ra luật chơi, mà phải tuân theo luật quốc tế hiện hành.
Đối phó với sự thay đổi về chiến lược quân sự mới, với tình trạng vừa ổn định vừa bất ổn định do Bắc Kinh gây ra ở Hoa Đông và Biển Đông, đặc biệt là đối với A2/AD, giới quân sự Mỹ đã xây dựng Chiến lược Tác chiến trên Không trên Biển (Air Sea Battle Operational Concept- ASB). Chiến lược Tác chiến Không-Biển có mục tiêu: “phá hủy, tiêu diệt và đánh bại mọi lực lượng quân sự thù địch của đối phương trên toàn bộ chiều sâu chiến trường, thống trị bầu trời và mặt biển, phong tỏa lục địa của đối phương. Lực lượng quân sự thù địch bao gồm cả đối tượng tác chiến có tiềm lực quân sự hùng mạnh để phong tỏa toàn bộ khu vực Tây Thái Bình Dương”.
Nội dung chủ yếu của Chiến lược Tác chiến Không-Biển là sử dụng tất cả sức mạnh các lực lượng hải quân bao gồm tất cả các cụm tàu sân bay, chiến hạm tác chiến, tàu ngầm, không quân hải quân, lực lượng không quân và các lực lượng khác bao gồm bộ binh, lực lượng đặc nhiệm, lực lượng các nước đồng minh, tác chiến điện tử… với mục đích tấn công, tiêu diệt, bao vây và phong tỏa đất liền trên một không gian chiến trường rộng lớn, nhằm bóp nghẹt và phá hủy, tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa sức mạnh quân sự, vũ khí trang bị chiến tranh của đối phương trên toàn bộ chiều sâu chiến trường trong cuộc chiến tranh phi tiếp xúc, hỏa lực quy mô lớn, độ chính xác cao. Trọng tâm của nó là hệ thống tên lửa phòng thủ, tấn công chống các loại tên lửa, tên lửa đạn đạo, phá vỡ hệ thống chỉ huy và kiểm soát, hệ thống tình báo, giám sát, do thám làm mù, làm câm, làm điếc đối phương.
Xem ra mục tiêu qua lớn, còn phải xem lại nguồn lực của Mỹ để có thể thực hiện được chiến lược Tác chiến Không- Biển hay không. Khi mà Chính quyền Obama đang hướng tới việc cắt giảm 487 tỷ đô la ngân sách dành cho quốc phòng trong vòng một thập kỷ tới. Mỹ giảm nhiều chi phí dành bộ binh, rút khỏi các cuộc chiến tranh ở Afgamistan và Iraq, nhưng lại tăng cường sức mạnh hải quân, không quân và hướng tới châu Á. Mặc dầu ông Obama nói việc “cắt giảm chi tiêu ngân sách quốc phòng sẽ không ảnh hưởng gì đến chính sách của chúng tôi ở khu vực này”. Nói vậy, nhưng nước Mỹ ngoài việc phải tập trung đối phó với Trung Hoa, Mỹ còn phải đối phó với những thách thức ở châu Âu và Trung Đông. Liệu Mỹ có đủ nguồn lực dành cho quốc phòng trong khi phải cắt giảm ngân sách?
Cho đến thời điểm hiện tại, trên lĩnh vực chính trị, việc tập hợp lực lượng xung quanh khu vực châu Á-Thái Bình Dương rõ ràng Mỹ đã gặt hái được rất nhiều thành công. Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã củng cố liên minh Mỹ-Hàn, Mỹ-Nhật, Mỹ-Australia và Mỹ-Philippines chặt chẽ hơn bao giờ hết. Quan hệ Mỹ-ASEAN đã định hình được khuôn khổ chiến lược kinh tế, chính trị, an ninh tốt đẹp trong tương lai sau Hội nghị Sunderland giữa Mỹ với mười nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Hơn nữa quan hệ Mỹ-Ấn Độ cũng tốt đẹp hơn bao giờ hết, đặc biệt là quan hệ quốc phòng chia sẻ, sử dụng các căn cứ quân sự hậu cần giữa Mỹ và Ấn Độ.
Ngoài ra, trong Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á hay còn gọi là Hội nghị Shangri-la 15 (xin xem bài Đằng sau Shangri-la cũng trong blog này) ngày 14 tháng 6, 2016 tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ kêu gọi xây dựng một mạng lưới an ninh tập thể mới (collective security network), dựa trên những nguyên tắc và chuẩn mực chung. Đây là một xu thế mới mà bản chất là an ninh tập thể do Mỹ lãnh đạo nhằm đối phó với Trung Hoa. Chắc chắn điều này đang và sẽ được nhiều quốc gia ủng hộ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy nó đang và sẽ tạo ra một cục diện mới ở châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ làm được điều này không chỉ có nhờ vào khả năng của Mỹ mà còn là nhờ vào tham vọng bành trướng và biểu hiện sức mạnh cơ bắp của Trung Hoa, khiến các nước đều ngả về phía Mỹ để cân bằng trước một Trung Hoa trỗi dậy không phải là hòa bình như họ nói. Bắc Kinh đang coi mình, đang biến mình trở thành một Thiên triều như hàng ngàn năm lịch sử phong kiến trước đây.
Kết luận
Tựu chung lại, chính quyền hai nước Mỹ-Trung vẫn đang thực hiện những bước đi nằm trong tính toán chiến lược của họ. Hai năm qua, năm 2015-2016, cả hai nước đã đẩy xung đột lên đến cao độ. Trước mắt, trận tuyến ưu tiên hàng đầu của Trung Hoa là Hoa Đông và Biển Đông (theo người viết Biển Đông là mặt trận chính). Trung Hoa đã huy động sức mạnh tổng hợp quốc gia, đặc biệt là sức mạnh quân sự cho hướng đông và đông nam. Mỹ cũng bước vào giai đoan ba, giai đoạn hoàn thành việc cơ cấu lại lực lượng quân sự, chuyển 60 sức mạnh quân sự sang châu Á-Thái Bình Dương, tập hợp và củng lực lượng đồng minh cùng với các đối tác nhằm đối phó với Trung Hoa. Về mặt quân sự có thể nói Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng đang diễn ra một cuộc so găng quân sự lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cả hai phía đều thúc đẩy xung đột, hay nói đúng hơn tiến hành leo thang một cách có chủ ý. Chưa đến mức chiến tranh nhưng có thể nói là hoàn toàn không bình thường. Tình trạng này sẽ kéo dài trong bao nhiêu lâu còn tùy thuộc vào việc quản lý leo thang xung đột của cả hai bên. Nhưng chắc chắn cả hai bên đều không từ bỏ mục tiêu của mình.
Quan hệ Mỹ-Trung có thể nói từ nay trở đi sẽ là một giai đoạn đầy thách  thức khó khăn đối với cả hai bên. Họ vẫn là đối thủ hợp tác và cạnh tranh, nhưng họ là đối thủ nguy hiểm của nhau, việc canh tranh cũng ngày càng nguy hiểm hơn, nhất là việc cạnh tranh chạy đua về mặt quân sự. Với Trung Hoa, bài học về sự sụp đổ của Liên Xô vẫn còn mang tính thời sự. Với Mỹ, cuộc chiến tranh lạnh như thời kỳ 1950 đến 1991 vẫn còn để lại quá nhiều di chứng. Tuy nhiên, cuộc chiến thầm lặng giữa hai nước thực sự đã bắt đầu. Xét về mặt địa chính trị, Trung hoa chưa được gì ngoài mấy hòn đảo chơ vơ ở Biển Đông. Còn Mỹ thì đang hoàn thành giai đoạn cuối của chiến lược xoay trục (dự kiến đến năm 2020 thì hoàn thành). Thực tế họ có nhiều bài hơn so với Trung Hoa. Và hình như người Mỹ vẫn chưa có ý định đối đầu trực tiếp với Trung Hoa.
So với Mỹ, Trung Hoa ở thế bất lợi hơn.  Trung Hoa đang bị bao vây bởi các nước có quan hệ đồng minh, quan hệ đối tác với Mỹ. Từ Đông Bắc Á đến Đông Nam Á, từ Hàn Quốc, Đài Loan đến Nhật Bản, Phillipines, Úc, và Ấn Độ … Tất cả đang hình thành một thế trận làm phức tạp hơn rất nhiều cho những toan tính của Bắc Kinh. Tại sao Mỹ lại tập hợp được các nước đồng minh và các đối tác như vậy? Vì Mỹ đã đồng nhất được lợi ích của mình với lợi ích của các đồng minh và các nước đối tác- đó là tự do hàng hải phù hợp với luật quốc tế cũng như quyền, quyền chủ quyền và những lợi ích biển hợp pháp của các nước Đông Á.
Để trỗi dậy trở thành cường quốc đứng đầu châu Á như mục tiêu của Trung Hoa, trước khi đối đầu với Mỹ, họ phải khuất phục được Nhật Bản. Hai nước Nhật-Trung đã không thể chung sống hòa bình trong suốt hàng nghìn năm qua. Trong lịch sử cận đại, hiện đại, quan hệ giữa hai nước này có không ít thù hận. Trung Hoa đã từng bị Nhật Bản thống trị. Và giờ đây liệu một Trung Hoa đầy tham vọng muốn chi phối trật tự châu Á và một Nhật Bản hùng cường, với sự lãnh đạo của Chính quyền Shinzo Abe đã và đang thay đổi hiến pháp hòa bình có thể cùng tồn tại mà không xảy ra chiến tranh? Và đứng đằng sau Nhật Bản chắc chắn là Mỹ, liệu hai nước có thể đưa giấc mộng của người Trung Hoa thành giấc mộng hồ điệp?
Cũng như vậy với Ấn Độ, liệu có thể xảy ra một cuộc chiến tranh Trung-Ấn như năm 1962? Đến bây giờ Trung Hoa vẫn còn chiếm đến 20.000 km vuông của Ấn Độ, chắc người Ấn vẫn chưa quên chuyện cũ và hiện tại họ đã chuẩn bị rất kĩ càng cả về mặt lục quân, không quân và hải quân. Đầu tư cho quân sự của Ấn Độ ngày càng ấn tượng cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Nếu Trung Hoa là một con rồng thì Ấn Độ là một con voi. Sự thay đổi chính sách chính trị, kinh tế và quân sự của Thủ tướng Narenda Modi thực sự đang cản trở giấc mơ Trung Hoa. Chưa bao giờ quan hệ Mỹ-Ấn gần gụi nhau như ngày hôm nay. Họ cùng chia sẻ cơ sở vật chất quân sự, chia sẻ công nghệ sản xuất máy bay và một số loại vũ khí. Nếu chiến tranh xảy ra, một liên minh Ấn-Mỹ chắc rằng Trung Hoa sẽ không thể chịu đựng nổi.
Trung Hoa có một chính sách có thể chiếm trọn Biển Đông như mong muốn của Bắc Kinh, cách duy nhất sử dụng vũ khí kinh tế và quân sự- thực hiện phương thức xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ (cách thức này họ có gien rồi), cộng với cách thức của chủ nghĩa thực dân mới và chủ nghĩa phát xít (cách thức này họ đã và đang học), khống chế toàn bộ các nước ASEAN như ý định sinh thời của Mao Trạch Đông. Bởi vì có đến sáu quốc gia ven biển có vị trí chiến lược trên tuyến hàng hải quốc tế án ngữ Biển Đông, tất cả các nước đó lại có xu hướng kết bạn với Mỹ để cân bằng trước một con rồng đang hét ra lửa. Nhưng Mỹ cũng đang kéo họ vào một liên minh, tăng cường năng lực quân sự cho các nước. Lực lượng quân sự của Mỹ ở Guam, ở Philippines, ở Darwin… Và từ những địa điểm đáng tin cậy Mỹ sẵn sàng triển khai lực lượng hành động. E rằng con mồi ASEAN quá lớn, nếu Trung Hoa cố nuốt thì vỡ bụng mất.    
Ngay cả Bắc Triều Tiên và Việt Nam, hai nước cùng chung ý thức hệ với Trung Hoa, nhưng chắc chắn hai nước không chấp nhận làm vùng đệm cho Trung Hoa nếu có chiến tranh với Mỹ. Bắc Kinh không thể áp đặt ý chí của mình với Bắc Triều Tiên đang bị cộng đồng quốc tế cô lập, thì Bắc Kinh càng không thể áp đặt ý chí của mình đối với Việt Nam. Nếu Trung Hoa mở rộng sức mạnh biển bằng con đường bành trướng cường quyền thì họ không chỉ vấp phải chiến lược A2/AD ở tất cả các nước láng giềng áp dụng chống lại họ mà còn vấp phải chiến lược ASB gần như vô đối của Mỹ.
Trong các cuộc chiến tranh lớn ở bên ngoài, gần như người Mỹ không khai chiến từ ban đầu, họ thường để cho các đối thủ giao chiến đến một mức độ nào đó rồi mới tham gia. Phải chăng Mỹ đang áp dụng chiêu thức này trước một Trung Hoa đang khoe cơ bắp với các nước láng giềng. Theo Reuter chi tiêu quốc phòng Trung Hoa năm 2016 là 146,67 tỉ đô la, mức tăng liên tục trong hàng chục năm qua. Ngoài Trung Hoa, các nước Đông Á cũng có mức chi tiêu quốc phòng vào loại cao nhất thế giới. Chuyện gì sẽ xảy ra khi mà các bên đều tăng cường tiềm lực quốc phòng? Người Trung Hoa có truyền thống “quan sơn tọa hổ đấu” và đúng là họ đã đứng ngoài xem Mỹ-Liên Xô đấu nhau gần nửa thể kỉ trước, đứng ngoài xem Mỹ-Khủng bố đấu nhau từ năm 2001 đến nay để hưởng lợi. Bây giờ đã đến lúc họ đấu với Mỹ chưa? Cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Xô đã chấm dứt. Cuộc chiến chống Khủng bố của Mỹ vẫn đang tiếp diễn. Liệu một cuộc chiến Mỹ-Trung hay một cuộc chiến ở châu Á-Thái Bình Dương có xảy ra trong thời gian tới?



Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.