Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Liên minh châu Âu 60 năm qua

Leave a Comment
Cách đây 60 năm, ngày 25/3/1957, xuất phát từ ý tưởng hợp nhất châu Âu thành một liên minh hòa bình, tránh mọi nguy cơ xung đột, không còn cảnh chiến tranh tàn phá, sáu quốc gia châu Âu đã ký kết một hiệp định thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC)- tiền thân Liên minh châu Âu (EU) ngày nay. Sáu mươi năm đã trôi qua, cộng đồng này đã không ngừng gắn kết, mở rộng và phát triển thành một đại gia đình châu Âu với 28 nước thành viên trên cơ sở những giá trị chung: Dân chủ, tự do, công bằng xã hội và tôn trọng nhân quyền.
Quá trình hình thành và phát triển
Mục tiêu ban đầu của sự hợp tác là hòa cho châu Âu (1945-1959)
Hai cuộc chiến tranh thế giới đã làm cho người dân châu Âu vô cùng kinh hoàng. Họ không muốn trong tương lai có thêm bất kỳ một cuộc chiến tranh nào nữa. Nhưng trật tự quốc tế sau thế chiến thứ hai đã tạo nên một Tây Âu thân Mỹ, một Đông Âu chịu ảnh hưởng của Liên Xô với hai khối kinh tế đối lập nhau. Một số nước Tây Âu muốn tạo lập các nước  châu Âu thống nhất theo kiểu Liên bang châu Âu. Năm 1950 một liên minh ra đời với 6 thành viên tham gia là Đức, Pháp, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc xăm bua. Liên minh này lấy tên là Cộng đồng than thép châu Âu. Để tránh những ảnh hưởng tiêu cực của Chiến tranh Lạnh, sáu nước trên đã ký Hiệp ước ở Rôm thành lập một thị trường chung hay còn gọi là Cộng đồng Kinh tế châu Âu ngày 23/7/1957.
Thời kỳ tăng trưởng kinh tế (1960-1969)
Cộng đồng kinh tế châu Âu bước vào thập kỷ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục nhờ việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan trong trao đổi thương mại. Cảnh khó khăn đói nghèo đã bị xóa bỏ. Sáu nước thống nhất kiểm soát, hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản. Lần đầu tiên cả cộng đồng đã trở thành những nước xuất siêu về lương thực, thực phẩm.
Mở rộng lần thứ nhất (1970-1979)
Lần đầu tiên Cộng đồng Kinh tế châu Âu tiến hành mở rộng với việc kết nạp ba nước Anh, Ai len và Đan mạch. Tổng số nước thành viên trong khối lên 9 nước. Trong giai đoạn này, việc tăng trưởng không cao do ảnh hưởng khủng hoảng dầu mỏ vào đầu những năm 70. Cộng đồng châu Âu đã hướng tới các chính sách vùng, thúc đẩy kinh tế ở những vùng kém phát triển nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng thông qua việc hỗ trợ việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng. Bắt đầu từ năm 1979, Nghị viện châu Âu được bầu trực tiếp, vai trò của cơ quan này bắt đầu được tăng cường.
Sự biến động của châu Âu và sự mở rộng lần thứ hai (1980-1989)
Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, chính trường châu Âu trở nên phức tạp do sự sụp đổ của bức tường Bec-lin và sự sụp đổ của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Lần lượt Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha gia nhập cộng đồng. Năm 1986 Hiệp ước về châu Âu đơn nhất ra đời nhằm xóa bỏ những rào cản lưu thông tự do về hàng hóa trong khối, đồng thời cộng đồng thực thi sáng kiến biến châu Âu thành một thị trường chung.
Châu Âu nhất thể và mở rộng lần thứ ba (1990-1999)
Năm 1993 Thị trường chung châu Âu đã được hoàn tất với quyền tự do lưu thông hàng hóa, dich vụ vốn và lao động. Hiệp ước Maxtơrich được các nước ký kết năm 1993 và Hiệp ước Amxtecđam ký kết năm 1997 đã đánh dấu bước chuyển từ Cộng đồng Kinh tế sang liên minh chính trị với các giá trị chung châu Âu, hay còn gọi là Liên minh châu Âu (EU) và khẳng định nguyên tắc tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, quan tâm tới môi trường, an ninh. EU đã thông qua các hiệp ước quy định về quyền tự do đi lại của công dân châu Âu với cái tên đường biên Schengen. EU tiếp nhận thêm 3 thành viên mới là Thụy Điển, Phần Lan và Áo.
Mười bẩy năm phát triển mở rộng (2000-2017)
Thời gian này, phần lớn các nước thành viên trong EU thay thế đồng nội tệ bằng đồng tiền chung châu Âu, đồng Ơ-rô. Đồng thời với quá trình sử dụng đồng Ơ-rô là quá trình mở rộng các thành viên mới thuộc khối Đông Âu, bắt đầu từ Hung ga ri cho tới Ru ma ni, đưa các thành viên của EU lên 28 nước. Bắt đầu từ đây những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với thị trường tài chính bắt đầu bộc lộ. Đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và khủng khoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp lan ra nhiều nước, khiến EU phải đối mặt với nhiều thách thức.
Những thành tựu của EU
Nhìn lại chặng đường dài 60 mươi năm qua, rất nhiều người đánh giá EU đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. EU với khoảng 500 triệu người, trải rộng hơn 4 triệu kilômét vuông đã hội tụ được nhiều nền kinh tế phát triển, chiếm gần khoảng 1/3 tổng sản phẩm kinh tế toàn cầu. EU không chỉ giữ được nền hòa bình cho khu vực mà còn tạo ra được một thị trường chung, một đồng tiền chung.
Những giá trị chung của EU là tự do, dân chủ đã phát huy mạnh mẽ tại châu lục này. Những bản sắc văn hóa đa dạng của các nước thành viên đều được EU trân trọng đón nhận. Các đường biên giới nội khối ngày càng mở rộng. Một EU giàu bản sắc văn hóa, nơi khai sinh và nhanh chóng hội nhập các cuộc cách mạng công nghiệp là chìa khóa của sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và hòa hợp dân tộc. Phần lớn người dân EU được sống bình đẳng, được thụ hưởng các quyền tự do di chuyển, học tập, sinh sống lập nghiệp trong liên minh.
Sự thịnh vượng, phồn vinh đã đến với nhiều nước trong EU, nhất là các nước Tây Âu, Bắc Âu. Ở những nơi đó, người dân được hưởng mức sống, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống cao nhất thế giới. EU là niềm mơ ước của nhiều dân tộc, của rất nhiều người dân trên thế giới. EU đã thành công trong việc tạo dựng một hình mẫu xã hội công bằng và dân chủ.
EU có sức mạnh kinh tế, sức mạnh về khoa học công nghệ, có một uy tín và vị thế vững chắc trên trường quốc tế. Các nước thành viên đã từng sát cánh bên nhau trong cuộc chiến chống khủng bố, tội phạm, kêu gọi giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công trong khu vực. EU thực sự góp phần đẩy lùi đói nghèo, bệnh dịch, bảo vệ môi trường và đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động nhân đạo trên thế giới…
Những thách thức làm rạn nứt châu Âu
Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2010 đến nay, EU bắt đầu chao đảo bởi hậu quả khủng hoảng kinh tế, tài chính từ năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp. Trong khoảng bảy năm trở lại đây EU đã phải trả giá cho chính những tham vọng quá lớn của mình, tham vọng mở rộng theo số lượng, tham vọng mở rộng liên kết sang quá nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên nhiều nhà chính trị cho rằng EU không thể không kết nạp các nước thuộc khối Đông Âu. Nếu không tạo động cơ chính trị trở thành thành viên EU cho tầng lớp lãnh đạo và nhân dân ở các nước và số đông người dân ở các nước Đông Âu đang hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo, thì rất có khả năng một số nước quay trở lại chế độ cũ và kèm theo đó là sự mất ổn định ở một số quốc gia. Đó là lý do khiến EU và NATO phải chấp nhận tư cách thành viên của một số nước Đông Âu.
 Đồng thời trong thời gian qua, nhiều thách thức đến từ bên ngoài và xuất hiện trong chính nội bộ liên minh. EU bắt đầu bộc lộ nhiều khiếm khuyết trong cơ chế khi đứng trước những vấn đề khó khăn chung. Sự ủng hộ của người dân với  EU đã suy giảm. Các bất đồng giữa các nước bắt đầu nảy sinh, xu hướng ly khai đã xuất hiện với việc nước Anh kích hoạt Điều 50 Lisbon, bắt đầu đàm phán rời khỏi mái nhà chung EU.
Về kinh tế
Do sự phát triển không đồng đều giữa các thành viên, giữa các nước Tây Âu và Đông Âu. Từ đó phát sinh những mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ. Các nước lớn và Uỷ ban châu Âu đã không kịp thời điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh. Tiếp theo do sự hạn chế trong cơ chế phối hợp và điều hành ở khu vực Euzone trong vấn đề tiền tệ và tài khóa, sự không bền vững và mất cân đối trong các khoản vay nợ của các quốc gia, đặc biệt là khủng hoảng nợ công bắt đầu từ năm 2010… Kinh tế EU rơi vào suy thoái, kèm theo đó là tỉ lệ thất nghiệp cao, khiến mâu thuẫn giữa các nước phát triển và các nước mới gia nhập càng trở nên gay gắt.
Về chính trị
Tổ chức siêu nhà nước bao gồm Nghị viện châu Âu, Uỷ ban châu Âu với nhiều ban bệ cồng kềnh đã tỏ ra thiếu linh hoạt, kém hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề. Nổi lên gần đây nhất là vấn đề khủng bố và người tị nạn. Hàng loạt vụ tấn công khủng bố xảy ra tại Pháp, Đức, Bỉ, Anh dưới nhiều cấp độ, nó đặt châu Âu vào một cuộc chiến hết sức khó khăn. Các nhà lãnh đạo các quốc gia phải xem xét lại tính hiệu quả trong hợp tác an ninh, kiểm soát đường biên cùng với việc đi lại trong khối Schengen.
Những khó khăn về kinh tế, tỉ lệ thất nghiệp 11% trong EU gia tăng chưa từng thấy cùng với các cuộc khủng bố đang tạo áp lực lên EU khá nghiêm trọng. Bên cạnh đó một nước Nga cứng rắn dưới sự lãnh đạo của Vladimir Putin kiên quyết bảo vệ lợi ích dân tộc, chống lại việc mở rộng NATO, một nước Mỹ với Donald Trump không mặn mà với EU và NATO- tất cả khiến EU lâm vào thế yếu, dễ bị chia rẽ. Và đương nhiên nó kích thích thái độ kỳ thị, bài ngoại, bài Hồi giáo, đòi bảo vệ bản sắc, bảo vệ lợi ích dân tộc ở các quốc gia trong EU.
Brexit là sự phản ứng của người dân Anh trước một cơ chế EU khiến họ mất đi quyền độc lập tự chủ, nhưng lại phải đóng góp những nghĩa vụ và trách nhiệm của một nước trụ cột mà theo họ là quá nặng. Sự hoài nghi, cân nhắc thiệt hơn đã khiến nước Anh luôn giữ thái độ nước đôi với EU. Điều đó thể hiện ở việc nước Anh vẫn duy trì đồng Bảng của mình. Nước Anh vẫn thích một vị trí quốc đảo độc lập hơn là hội nhập với nhóm Schengen tại châu Âu lục địa. Và việc người dân Anh chọn ra đi là điều tất yếu.
Không chỉ có Brexit, tư tưởng ly khai có ở mọi thành viên EU. Chỉ chờ điều kiện sẽ trở thành hiện thực ở Hà Lan, Pháp, Đức. Nếu một cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính mới tác động tiêu cực tới đồng Ơ-rô hay một cuộc trưng cầu dân ý ở một quốc gia nào đó thì EU có nguy cơ tan đàn xẻ nghé. Trong bối cảnh hiện nay các nhà lãnh đạo EU buộc phải đổi mới. Nhưng đổi mới như thế nào là một vấn đề vô cùng phức tạp. Ngày 1/3, Chủ tịch ủy ban châu Âu Jean Junker đã công bố sách trắng về tương lai châu Âu. Ông đã dề ra 5 kịch bản cho việc đổi mới của EU. Một là tiếp tục phát triển theo hướng đã định. Hai là chỉ còn thị trường chung. Ba là hội nhập theo nhiều tốc độ. Bốn là thu hẹp lại sự hợp tác nhưng có hiệu quả. Năm là thiết lập theo mô hình liên bang.
Đa số các nhà chính khách và giới phân tích cho rằng EU với nhiều tốc độ là kịch bản phù hợp với tình hình hiện nay, do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các thành viên làm nảy sinh những mâu thuẫn khó giải quyết và gặp nhiều khó khăn khi đưa ra các quyết định chung. Châu Âu nhiều tốc độ cho phép những thành viên những thành viên muốn cùng nhau liên kết nhiều hơn trong các lĩnh vực cụ thể, hợp tác nhiều hơn nữa trong các lĩnh vực quốc phòng hay quản trị khu vực Eurozone sẽ không bị cản trở bởi những thành viên còn đang lưỡng lự.
Một châu Âu đa tốc độ sẽ là thực tế khi đưa ra các quy định cho mỗi cấp. Chẳng hạn các quốc gia ở vòng ngoài có thể không hoàn toàn ủng hộ quyền tự do đi lại của công dân, nhưng không vì thế mà ngăn cản họ gia nhập thị trường đơn nhất của EU. Đồng thời các quốc gia phát triển, nòng cốt không được coi các quốc gia khác là quốc gia hạng hai. Bên cạnh đó có nhiều con đường cho các quốc gia ở những tốp khác nhau tham gia vào việc hoạch định chính sách kinh tế. ngoại giao, quốc phòng… Như vậy mấu chốt để EU tồn tại và tiếp tục phát triển chính là sự linh hoạt.
Quyết tâm và tương lai của EU
Cuối cùng ngày 25/3, sau sáu mươi năm thành lập, các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu đã ký Tuyên bố Rome tại thủ đô Italia, nơi đã khai sinh ra EC, tiền thân của EU. Tuyên bố đã cam kết hướng tới một tương lai chung không có nước Anh. Tuyên bố Rome nhấn mạnh tới một liên minh độc đáo với các thể chế chung và các giá trị chung, một cộng đồng hòa bình, tự do, dân chủ, nhân quyền và thượng tôn pháp luật. Theo Tuyên bố Rome, các nhà lãnh đạo EU khẳng định quyết tâm làm cho liên minh trở nên mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn thông qua sự thống nhất, đoàn kết và tôn trọng các nguyên tắc chung với sự phát triển thịnh vượng, sức cạnh tranh bền vững và có trách nhiệm xã hội trong mười năm tới.
Như vậy là một châu Âu đa tốc độ đã được các nước chủ chốt, các nước phát triển trong EU xem là động lực mới để EU phát triển. Từ nay EU 27 sẽ chia thành các ngả khác nhau, với những quốc gia có nhu cầu hợp tác nhiều hơn, và phát triển như một liên minh mở, có nghĩa là EU sẽ linh hoạt hơn, thực tế hơn. Tuy nhiên nó lại mâu thuẫn với tinh thần cùng nhau phát triển và có thể dẫn tới chia rẽ nội khối. Chính vì thế một số nước Đông Âu e ngại mình sẽ trở thành công dân hạng hai của EU.
Trong mười năm tới việc dung hòa hòa lợi ích của tất cả 27 nước thành viên là một bài toán hết sức khó khăn với EU. Chính vì thế Tổng thống Pháp Francois Hollande đã giải thích “Thống nhất không phải là đồng nhất” và một số nước thành viên EU có thể đi nhanh hơn, tiến nhanh hơn nếu một châu Âu đa tốc độ được hình thành. Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donal Tusk cho rằng “Tại sao hiện giờ chúng ta lại mất niềm tin vào mục tiêu thống nhất”. Ông nói “Các bạn cần biết rằng đoàn kết và thống nhất là con đường duy nhất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của EU”.

Với những diễn biến gần đây, EU kỷ niệm 60 năm hình thành và phát triển trong bối cảnh một đám mây đen đang phủ bóng lên EU. Việc ra đi của nước Anh đang đặt ra cho EU một câu hỏi tồn tại hay không tồn tại. Mặc dù Tuyên bố Rome đã được các nhà lãnh đạo 27 quốc gia thông qua với quyết tâm mạnh mẽ nhưng người ta vẫn trông chờ một EU không chỉ đoàn kết và thống nhất mà còn biết hợp tác và chia sẻ, coi trọng yếu tố con người để tiếp tục tồn tại và phát triển, để xứng đáng với những gì mà EU đã đóng góp cho nhân loại trong suốt 60 năm qua.     
Read More

Tình hình thế giới và sự lựa chọn của Việt Nam

Leave a Comment
Nhìn tổng thể bức tranh của thế giới trong năm qua hình như người ta có cảm giác tình hình chính trị ngày càng không ổn định. Ở châu Âu, Quan hệ Nga-NATO thêm những căng thẳng mới. Nội bộ Liên minh châu Âu có nhiều vấn đề sau khi người dân Anh quyết định rời khỏi mái nhà chung EU. Ở châu Á, quan hệ Mỹ-Trung có xu hướng đối đầu. Nhà nước khủng bố tự xưng IS hoành hành vượt khỏi Trung Đông đang ngập chìm trong bạo loạn, nội chiến. Bán đảo Triều tiên luôn dậy sóng bởi Bắc Triều tiên thử bom nguyên tử và các loại tên lửa. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản cùng với nhiều nước ASEAN vẫn căng thẳng bởi mâu thuẫn chủ quyền biển đảo và chính sách quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc. Và cuối cùng Tổng thống Donal Trump trúng cử Tổng thống Mỹ với những chính sách đối nội, đối ngoại hết sức khó lường, làm cho chính sự quốc tế càng thêm bất ổn.
Phải chăng tình hình thế giới không ổn định, thậm chí đang rối loạn và không có trật tự vì nó đang định hình một thế giới đa cực trên bình diện quốc tế và ở cả bình diện cấp khu vực? Xu hướng đa cực đang định hình và triển vọng trong tương lai có thể hình thành. Có khả năng thế giới còn phải tiếp tục phải trải qua một thời kỳ rối loạn và không có trật tự. Thời kỳ này kéo dài bao nhiêu lâu còn phải xem tình hình khách quan và nỗ lực chủ quan của cộng đồng quốc tế. Mặc dầu quy luật khách quan quyết định xu thế thời cuộc, nhưng suy cho cùng chính con người làm nên lịch sử.
Việt nam là một nước nhỏ nhưng có số dân vào loại khá lớn. Trong xu thế phát triển của thế giới, Việt nam phát triển như thế nào, phát triển cùng với ai trong thế giới toàn cầu hóa, trong thời đại phát triển công nghiệp 4.0, tất cả đều có liên quan đến tình hình chung của thế giới. Chỉ cần kiên trì giữ vững độc lập dân tộc, như Bác Hồ nói “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Việt Nam chúng ta sẽ tìm được bước đi đúng đắn thích hợp và có một vị trí xứng đáng trên bản đồ thế giới.
Một vài xu hướng phát triển của thế giới
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thế giới chia làm hai phe, có thể nói thế giới chia thành hai trận tuyến lớn Đông và Tây cùng với cuộc chiến tranh Lạnh gần nửa thế kỷ. Hoa kỳ và Liên Xô, hai siêu cường đối đầu đã tạo nên trật tự hai cực. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ, chiến tranh Lạnh kết thúc, Hoa Kỳ trở thành siêu cường còn lại duy nhất tác động tới trật tự thế giới. Nhưng vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 đã làm xáo trộn trật tự một siêu đa cường. Tình hình chính trị quốc tế ngày một diễn biến phức tạp. Mỹ không còn đủ sức một mình chi phối trật tự thế giới theo mong muốn. Tiếp theo, cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính năm 2008 đã giáng một đòn mạnh vào phương Tây mà đứng đầu là Mỹ, cho đến nay về tổng thể tình hình vẫn chưa hoàn toàn hồi phục.
Trật tự đa cực trên thế giới đang định hình, xu thế chung của thế giới vẫn là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục đẩy mạnh. Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế, chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ cùng với một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo trong khu vực và trên Biển Đông sẽ diễn ra gay gắt.
 Quyền lực đang dịch chuyển về châu Á-Thái Bình Dương
Sau hơn ba mươi năm mở cửa, Trung Quốc nhanh chóng trở thành một trong những nền kinh tế mới nổi. Đến năm 2013 tính theo GDP Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản. Theo xu hướng phát triển hiện nay, mặc dầu nền kinh tế Trung Quốc có giảm tốc, chỉ cần họ duy trì phát triển kinh tế với tốc độ bình quân 6% trong trạng thái bình thường, sau hơn một thập kỷ nữa chắc chắn họ sẽ trở thành nền kinh tế đứng đầu thế giới.
Sau Trung Quốc là Ấn Độ, một nước có dân số là 1,2 tỷ đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một vài năm trở lại đây, Ấn Độ là nước có tốc độ phát triển cao nhất thế giới. Năm 2016 Ấn Độ đạt tốc độ phát triển 7.4% . Theo OECD dự báo, Ấn Độ có thể đạt 7,9% trong năm 2017. Ấn Độ đã vượt qua Trung Quốc để giành vị trí là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới với tổng GDP 2300 tỷ USD, đứng thứ 10 thế giới và thứ 3 châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Điều quan trọng là Ấn Độ phát triển kinh tế chủ yếu nhờ nội lực, dựa vào khai thác thị trường trong nước, không dựa nhiều vào xuất khẩu nên ít bị ảnh hưởng bởi những biến động của kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng đang hết sức nỗ lực tranh thủ mọi nguồn lực của quốc tế như từ Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản… Chắc chắn trong những năm tới họ sẽ trở thành một nền kinh tế không thua kém Trung Quốc.
Cùng với sự phát triển kinh tế của châu Á, quyền lực đang dịch chuyển về châu Á. Ở châu Á, xét về thực lực kinh tế và quốc phòng, cùng với mục tiêu của Đảng Cộng sản Trung Quốc và giấc mộng Trung Hoa của Tập Cận Bình, Trung Quốc là nước có tham vọng trở thành một thế lực đứng đầu châu Á và toàn cầu. Một số học giả, giới chiến lược trên thế giới, kể cả ở Mỹ và Trung Quốc tin rằng Mỹ đang suy yếu, quyền lực đang dịch chuyển về Trung Quốc.
Quyền lực chuyển dịch đã từng xuất hiện vài lần trong lịch sử cận đại. Từ Italia đến Hà Lan, đến Anh và từ Anh sang Mỹ. Trong thời gian chuyển dịch xuất hiện nhiều cuộc chiến tranh, bao gồm hai cuộc thế chiến. Ngay cả khi quyền lực đã chuyển sang Mỹ, người Mỹ và phương Tây vẫn phải ngăn chặn Liên Xô bằng cuộc chiến tranh Lạnh dài hơn 40 mười năm để duy trì quyền bá chủ của mình. Với sự trỗi dậy ngày càng mang tính cơ bắp ở Hoa Đông và Biển Đông, một kiểu trỗi dậy đầy toan tính không phải hòa bình như Trung Quốc từng tuyên bố, người Mỹ lo lắng địa vị lãnh đạo toàn cầu của mình. Họ không phải cảnh giác với Nhật Bản hay Ấn Độ. Họ cảnh giác với Trung Quốc là điều hoàn toàn đúng đắn.
Nhìn vào sức mạnh tổng hợp quốc gia như kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quyền lực mềm, giữa Mỹ và Trung Quốc còn có một khoảng cách rất xa. Hiện tại bản thân Trung Quốc cũng không có ý đồ thay thế Mỹ, trừ khi Mỹ từ bỏ vai trò của mình. Tuy nhiên người Mỹ không muốn trở thành kẻ đã từng là bá chủ, bắt đầu từ những năm 2010, Mỹ  thực hiện chiến lược “Xoay trục trở lại châu Á-Thái Bình Dương” hay chiến lựợc “Tái cân bằng châu Á Thái Bình Dương”. Chiến lược này lấy châu Á làm trung tâm chứ không phải là Trung Đông với cuộc chiến chống khủng bố hay tiếp tục bố trí lực lượng quân sự nghiêng về châu Âu. Đương nhiên Mỹ sẽ không dùng phương thức tiến hành cuộc chiến tranh giống như ở Triều Tiên, Việt Nam hay các phương thức trong cuộc chiến tranh Lạnh.
Cuộc đọ sức Mỹ-Trung (Xin xem bài Mối quan hệ Mỹ-Trung sẽ đi về đâu cũng trong blog này)
Cuộc đọ sức Mỹ-Trung thực sự đã bắt đầu từ những năm 2010 khi lực lượng hải quân và không quân Trung-Mỹ va chạm trên Biển Đông. Mặc dù chủ quan Trung Quốc không muốn thách thức Mỹ, nhưng sự phát triển về kinh tế cùng với sự đầu tư về quân sự đã nuôi khát vọng cho tầng lớp lãnh đạo mới, Bắc Kinh muốn chia đôi Thái Bình Dương bằng đường lưỡi bò (Trung Quốc đã biến năm bãi nửa chìm nửa nổi mà họ xâm chiếm của Việt Nam năm 1988 thành những căn cứ quân sự trên Biển Đông). Bằng việc làm này, Trung quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, thách thức quyền tự do đi lại trên Biển Đông của Mỹ và các nước khác trên thế giới. Thái Bình Dương rộng lớn thật nhưng người Mỹ không muốn chia cho Trung Quốc, cũng như không muốn xây dựng mối quan hệ nước lớn kiểu mới với Trung-Mỹ.
Người Mỹ không đơn giản lặp lại cuộc chạy đua vũ trang, cân bằng răn đe hạt nhân với Trung Quốc như ở cuộc đối đầu Xô-Mỹ trong chiến tranh Lạnh. Họ thực hiện chiến lược hợp tác và cạnh tranh, tiếp xúc và kiềm chế. Cuộc đọ sức diễn ra trên tất cả các mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Cả hai bên đều đang ra sức phát huy sức mạnh và tập hợp lực lượng ở trong nước lẫn ngoài nước. Trung Quốc đang ra sức hiện đại hóa lực lượng quân sự. Mỹ đang cùng đồng minh và các đối tác hình thành một mặt trận bao vây đối thủ từ Hàn Quốc cho tới Australia.
Cuộc đọ sức này có dẫn tới đối kháng, có phát triển đến mức chiến tranh, điều đó phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo Nhà Trắng và Trung Nam Hải. Chiến tranh xảy ra chắc chắn không ai là kẻ chiến thắng. Khi đó, ngay cả ASEAN và Việt Nam cũng khó tránh khỏi ảnh hưởng nặng nề, như câu nói người xưa “Trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”. Tuy nhiên, kịch bản này khó có thể xảy ra. Chỉ có điều trong cuộc đọ sức, không chỉ có Mỹ-Trung tham gia trò chơi này, người chơi cũng không chỉ có hai nước, một nước đứng đầu thế giới phát triển, một nước đứng đầu thế giới đang phát triển.
Thế giới đa cực
Với sự phát triển như hiện nay, Trung Quốc đã trở thành một cực ở khu vực châu Á, khu vực đông dân cư nhất, tốc độ phát triển nhanh và mạnh nhất. Trung Quốc có sức chi phối mạnh ở khu vực. Song Trung Quốc lại có hai người láng giềng khổng lồ là Nhật Bản và Ấn Độ, một nước là đồng minh của Mỹ, một nước là đối tác chiến lược dân chủ của Mỹ. Nhật Bản án ngữ phía đông Trung Quốc, là nước có nền kinh tế phát triển vào hàng tiên tiến nhất thế giới. Ấn Độ án ngữ phía nam Trung Quốc, là một nước đang phát triển trỗi dậy mạnh mẽ nhất sau Trung Quốc. Cực Trung Quốc trên bước đường tiến tới có lẽ còn gặp nhiều thách thức. Đa số các nhà quan sát quốc tế cho rằng cục diện thế giới không có khả năng bị chi phối bởi cuộc đọ sức Mỹ-Trung như giai đoạn chiến tranh Lạnh Xô-Mỹ.
Liên minh châu Âu (EU) là một trong những lực lượng chủ yếu của văn hóa, chính trị, kinh tế thế giới. Tuy bị chê là lục địa già nhưng có thể nói EU là một trong những cực mạnh nhất về sức mạnh tổng hợp. Châu Âu đã từng sản sinh ra những đế quốc hùng mạnh, quê hương của cuộc cách mạng công nghiệp trong quá khứ và hiện tại. Mặc dù phát sinh hiện tượng Brexit nhưng châu Âu là nơi khởi nguồn cho nền văn minh hiện đại, nơi lực lượng sản xuất phát triển hàng đầu thế giới, nơi xây dựng ý tưởng nhất thể hóa khu vực sau hai cuộc chiến tranh thế giới.
Có một vấn đề tồn tại giữa EU và nước Nga, người kế thừa siêu cường Liên Xô, quốc gia có chiến lược phát triển và chính sách ngoại giao trong thời gian gần đây hết sức đáng chú ý. Và ngược lại, có một vấn đề còn tồn tại giữa nước Nga và EU. Liệu hai bên có thể tháo gỡ những mâu thuẫn kéo dài hàng thập kỷ về vấn đề mở rộng NATO, hệ thống phòng thủ tên lửa và những rắc rối hiện tại trong việc giải quyết vấn đề Ucraina? Trong thời gian tới, chiến lược của Nga theo hướng Đông hay hướng Tây hoặc cân bằng cả hai hướng khiến cục diện thế giới có những diễn biến khác đi.
Còn lại là Mỹ, một siêu cường đang cố gắng giữ lại vị trí bá chủ thế giới, trong tương lai có thể chỉ còn là một cực? Thực ra không phải là Mỹ suy yếu, mà chính là phần còn lại của thế giới đang phát triển đã phát triển lớn mạnh. Tuy nhiên đó một cực có nhiều ưu thế nhất, bởi nó thừa hưởng sức mạnh di sản khổng lồ của một siêu cường, một siêu cường cho đến giờ vẫn có sức mạnh tổng hợp quốc gia lớn nhất thế giới. Hơn nữa, khu vực Bắc Mỹ, Canada, Mehico và có thể tất cả các nước ở khu vực Mỹ Latinh hoàn toàn không phải là thách thức đối với Mỹ. Liệu với chính sách của Tổng thống Donal Trump có thể đưa nước Mỹ một lần nữa vĩ đại trở lại?
Theo cách nhìn nhận này, nếu nói thế giới hiện nay đã và sẽ vẫn tiếp tục thể hiện xu thế đa cực hóa, nhưng còn phải mất nhiều năm nữa để định hình. Trong cuộc tranh đấu này không chỉ có các cực tham gia mà còn có nhiều bên tham gia trong sự vận động chung của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nhiều khả năng khác vẫn có thể xảy ra. Quốc gia nào mạnh hơn, quốc gia nào yếu thế vẫn còn đang định hình. Hiện tại, quốc gia mạnh vẫn tồn tại những điểm yếu. Quốc gia yếu hơn cũng có những ưu thế nhất định. Tất cả đều đang ra sức tập hợp lực lượng để giành lấy vị trí tốt nhất. Trong xu hướng thế giới đa cực này, quốc gia mạnh hay yếu, đối tác tốt hay xấu đều tác động tới phần còn lại của thế giới.
Rối loạn và không có trật tự
Thế giới đang định hình, sự tương tác giữa các cực vẫn chưa đi vào ổn định nên trật tự thế giới vẫn chưa được cộng đồng quốc tế công nhận và tuân theo. Tình hình chính trị thế giới đang diễn ra rối loạn và không có trật tự. Chiến tranh xung đột dân tộc, tôn giáo, khủng bố, bạo loạn diễn ra ở nhiều nơi. Xung đột chủ quyền biển đảo diễn ra căng thẳng. Kể từ khi các nước châu Âu ký Hòa ước Westphalia năm 1648, đặt cơ sở cho mối quan hệ quốc tế đến nay, các trật tự thế giới đều phải trải qua các cuộc chiến tranh vô cùng đẫm máu để xác lập trật tự ổn định. Hiện tại rất rối loạn và không có trật tự.
 Sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, thế giới đón nhận một làn sóng toàn cầu hóa chưa từng có; vốn, công nghệ, trình độ quản lý từ các nước tư bản phát triển đã làm thay đổi bộ mặt hành tinh. Thế giới ngày càng tùy thuộc vào nhau. Nhưng những vấn đề toàn cầu như chiến tranh, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, khủng bố, đói nghèo, bệnh tật, biến đổi khí hậu… Tất cả các vấn đề trên vẫn thách thức và treo lơ lửng trên đầu nhân loại. Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế vẫn không có khả năng kiểm soát và khống chế. Mặc dù có nhiều cố gắng, cộng đồng quốc tế vẫn chưa xây dựng được một hệ thống trật tự thế giới có hiệu quả, được tất cả các nước công nhận. Cần phải bao nhiêu thời gian nữa? Phải bỏ ra cái giá như thế nào cho trật tự sắp tới ? Xảy ra chiến tranh như bao thề kỷ qua hay thỏa hiệp, đàm phán, đối thoại, hợp tác?
Lựa chọn nào cho Việt Nam
Trong bàn cờ thế giới, Trung Quốc ít nhất là một cực. Nhưng vấn đề là các chính sách của Trung Quốc từ 2010 trở lại đây đang chứng tỏ nước này đang cố gắng tìm mọi cách thay đổi trật tự địa chính trị thế giới vốn đã được định hình từ sau chiến tranh Lạnh. Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là lực lược hải quân, xây dựng chiến lực chống tiếp cận, cân bằng quyền lực tại khu vực, thực hiện các bước đi quyết đoán tại Hoa Đông và Biển Đông, phá vỡ nguyên trạng và bất chấp luật quốc tế. Nhiều nhà quan sát cho rằng Đông Á, trong đó có Đông Nam Á sẽ phải đối mặt với cường quốc bành trướng nguy hiểm này.
Hơn bất cứ nước nào, Việt Nam hiểu rất rõ Trung Quốc trong quá khứ và hiện tại. Không thể di chuyển được lãnh thổ, người Việt chỉ còn cách sống chung với lũ như hàng nghìn năm qua. Trung Quốc tồn tại và phát triển thì Việt Nam cũng tồn tại và phát triển được cùng với họ. Về truyền thống chống giặc ngoại xâm thì người Việt Nam không có gì đáng ngại, vấn đề là phát huy truyền thống đó với sức mạnh của thời đại như thế nào để thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới?
Giữ vững độc lập chủ quyền
Phải giữ vững được độc lập, chủ quyền. Đó là vấn đề sống còn. Muốn giữ được độ lập, chủ quyền thì phải có thực lực. Có thực mới vực được đạo. Suy cho cùng thì vẫn là vấn đề nội lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng xuất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản nền giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực… để không bị nền kinh tế Trung Quốc chi phối, không bị lệ thuộc về chính trị. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển
Chiến tranh là thảm họa cho dân tộc. Muốn không có chiến tranh phải sẵn sàng chuẩn bị cho chiến tranh, phải cố gắng hết sức để đảm bảo và tăng cường an ninh, quốc phòng quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. Phải thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Phải đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với các cường quốc, các nước, các tổ chức, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.
Tiếp tục đổi mới 
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam trải qua trên ba mươi năm. Đất nước đã đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt. Song Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nguy cơ lớn nhất là tụt hậu về kinh tế. Vì vậy, tiếp tục sự nghiệp đổi mới là công việc sống còn của Việt Nam. Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, văn hóa, giáo dục… để hội nhập quốc tế sâu hơn nữa, để đáp ứng với sự phát triển của đất nước, khu vực và quốc tế trong thời đại kinh tế số.
Dù tình hình thế giới có thay đổi thế nào đi chăng nữa, dù thế giới có đơn cực hay đa cực thì Việt Nam vẫn đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Giữ vững độc lập chủ quyền, vượt qua mọi thách thức, tận dụng mọi cơ hội để đảm bảo môi trường hòa bình và phát triển, đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Với bản lĩnh của Đảng và của dân tộc, chắc chắn dân tộc ta sẽ tồn tại và phát triển trong cái thế giới đầy biến động này.



  
  


Read More

Nước Mỹ đã chọn Donal Trump là Tổng thống

Leave a Comment
Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 diễn ra vào ngày 8/11. Người dân xứ cờ hoa đi bỏ phiếu để chọn ra người lãnh đạo quốc gia. Đó là cuộc đối đầu giữa hai ứng cử viên đại diện cho hai đảng Cộng hòa và Dân chủ: Donal Trump và Hillary Clinton. Để đi tới cuộc đấu song mã này, hai đấu thủ đã phải trải qua một cuộc chiến đầy cam go, quyết liệt trong nội bộ đảng của họ. Ít nhất trước ngày bầu cử cả hai người đều là những người chiến thắng.
Do quan điểm của mỗi ứng cử viên Tổng thống Mỹ có thể nói là trái ngược nhau trong rất nhiều vấn đề, từ chính trị, quân sự, an ninh, ngoại giao, đến kinh tế, môi trường… Nói không ngoa, cả thế giới đều quan tâm, chú ý đến sự kiện bầu cử Tổng thống Mỹ. Đặc biệt là các nước phương Tây, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Điều này thật dễ hiểu vì Mỹ là một siêu cường có sức chi phối mạnh mẽ trong quan hệ quốc tế, cho nên việc ai lên làm tổng thống không còn là vấn đề riêng của một quốc gia.
Tôi nghĩ Việt nam cũng nằm trong cái vòng xoáy tâm lý chung. Nhất là sau cái dư âm chuyến thăm của Tổng thống Mỹ đương nhiệm tới Việt Nam. Nhiều người Việt có thiện cảm với Chính quyền Tổng thống Barack Obama, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng bành trướng ở Biển Đông. Một nước Mỹ kiên quyết cứng rắn bảo vệ tự do hàng hải trên cơ sở luật pháp quốc tế sẽ có lợi hơn cho Việt Nam trong tương lai.
Chính quyền của Tổng thống Obama trong tám năm cầm quyền đã làm được khá nhiều điều cho châu Á-Thái Bình Dương. Về chính trị, Mỹ lên án mạnh mẽ hành động cơ bắp của Trung Quốc trong việc bồi đắp và tôn tạo các đảo ở Biển Đông thành các căn cứ quân sự. Về quân sự, Mỹ đã tiến hành chiến lược xoay trục, tái cân bằng các lực lượng quân đội sang châu Á để đối phó với tham vọng của Trung Quốc. Về kinh tế, Mỹ đã hoàn tất việc đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) tạo ra sân chơi của Mỹ trong khu vực lòng chảo Thái Bình Dương, có thể nói TPP là cái cốt vật chất chống lại sự bành trướng của Trung Quốc về kinh tế trong khu vực.
Bà Hillary Clinton nằm trong ê kíp chính quyền của Tổng thống Obama, bà là con người tôn trọng Việt Nam, là người trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Hà Nội tuyên bố Mỹ có lợi ích quốc gia ở Biển Đông, người đã khiến Ngoại trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì bỏ cuộc họp ra ngoài để phản đối. Bà còn là người đến Việt Nam rất nhiều lần, lần đầu tiên với tư cách là đệ nhất phu nhân theo Tổng thống  Bill Clinton tới Hà Nội ngày 17/1, 2000. Bà đã từng mặc áo dải Việt Nam, đội nón lá Việt Nam…
Tôi đã tin rằng bà Hallary Clinton sẽ trở thành Tổng tống Mỹ, vì bà từng học về khoa học chính trị, một thượng nghị sỹ, một ngoại trưởng, một nhà chính trị chuyên nghiệp. Tôi tin rằng bà có thể đưa quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm cao mới. Còn Donal Trump chỉ là một thương nhân, một nhà tài phiệt, chưa hề trải qua chính trường, không có kiến thức về chính trị, về quan hệ quốc tế, thậm chí đến nhiệm vụ và quyền hạn của một tổng thống ông ta cũng không nắm được; một con người như vậy chắc gì biết đến Việt Nam là ai, tôi không hy vọng ông ta có thể vun đắp cho mối quan hệ Mỹ-Việt trong những năm tháng ông ta cầm quyền.
Mấy tháng trước khi diễn ra cuộc bầu cử, tôi đã đến thăm ngôi nhà riêng của Bill Clinton trong thời gian ông dạy học ở Trường Đại học Arkasas, bây giờ trở thành Bảo tàng Clinton (Clinton House Museum). Ngôi nhà nằm trên một sườn đồi, cạnh Trường Đại học Arkansas. Đó là ngôi biệt thự một tầng xinh xắn có chín phòng theo phong cách kiến trúc Tudor của người Anh và một vườn hoa sau nhà.
Tôi đã dành cả một buổi sáng để thăm ngôi nhà-bảo tàng Clinton, thăm phòng khách nơi tổ chức lễ cưới của Bill và Hillary vào năm 1975, xem xét kỹ cái lò sười do chính tay Bill tự làm; thăm căn phòng “chiến tranh” (War Room), nơi ông bà cùng bạn bè thảo luận giúp ông bà khởi nghiệp; thăm phòng bếp có treo những bức tranh những người bạn, những người thầy có ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông bà như Thượng nghị sĩ j. William Fulbright, Robert Leflar; thăm phòng nghỉ ngơi giải trí (Rec Room); thăm phòng đọc nay là thư viện… Tôi thích nhất là Vườn hoa các đệ nhất phu nhân, nơi tập trung các loại hoa yêu thích của mỗi một đệ nhất phu nhân từ Martha Washington cho đến Michelle Obama.
Điều quan trọng là thăm ngôi nhà-bảo tàng tôi hiểu thêm về con người Bill và Hillary. Họ đều là những con người có quan điểm chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Họ là những người đầu tiên mở ra cánh cửa bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Riêng với Hillary Clinton, tôi còn biết thêm bà đã từng sáng lập ra Tổ chức Những người ủng hộ trẻ em và gia đình bang Arkasas và đặc biệt là bà đã lãnh đạo một lực lượng nhằm giúp đỡ cải cách các trường công của bang Arkansas. Tôi thực sự có tình cảm với cả hai con người này. Và thực sự tôi mong bà Hillary Clinton trúng cử.
Theo giới tinh hoa, ở Hillary Clinton người ta thấy có đầy đủ tố chất, năng lực, phẩm chất, bản lĩnh của một tổng thống Mỹ. Ngược lại với bà, Donal Trump không có cái gì để nói ngoài một tỉ phú bất động sản. Thế nhưng ông Trump đã trở thành Tổng thống Mỹ mặc dù bà Hillary hơn ông Trump hơn hai triệu phiếu phổ thông. Đó là sự lựa chọn ngoài sự mong đợi của số đông người Mỹ, của phần lớn các nước trên thế giới, kể cả các nước phương Tây, nhưng lại rất đúng với hiến pháp Mỹ, bầu tổng thống theo phiếu Đại Cử tri. Ông Trump được 276 phiếu đại cử tri, bà Clinton chỉ có 218 phiếu.
Một bầu không khí buồn thảm bao trùm khắp nước Mỹ trong đêm kiểm phiếu và kéo dài cho đến mấy ngày hôm sau, nhiều người dân Mỹ thẫn thờ, bàng hoàng. Không ít người thuộc giới chính trị thuộc Đảng Cộng hòa, trong  số đó có người từng là thượng nghị sĩ, từng là bộ trưởng đã thốt lên thật xấu hổ cho nước Mỹ. Ngay cả đến học sinh ở rất nhiều trường học phổ thông của Mỹ cũng khóc sướt mướt, nhất là các em học sinh da mầu, học sinh Mêhicô. Đặc biệt khoảng gần 1 triệu học sinh, sinh viên quốc tế đang theo học ở các trường của Mỹ đều hoang mang, Đến nỗi rất nhiều trường phải ra thông báo trấn an học sinh, sinh viên…
Tại sao nhiều người dân Mỹ lại chọn ông Trump làm tổng thống mà không phải là bà Hillary Clinton?
Tôi nghĩ có thể bà Clinton là dân trí thức thuộc Đảng Dân chủ, đảng nắm quyền trong tám năm qua dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Obama không làm cho kinh tế Mỹ bứt phá, đời  sống của người dân không đủ giàu, vẫn có từ 6 đến 7% người thất nghiệp không tìm kiếm được công ăn việc làm. Mặc dù ông Obama đã lấy tiền đóng thuế của nhà giàu chia cho dân nghèo, thúc đẩy cho chương trình bảo hiểm y tế toàn dân (Chương trình ObamaCare). Chừng ấy là chưa đủ đối với họ. Người dân Mỹ cần một sự thay đổi, một luồng gió mới, một đặc tính của người Mỹ. Có phải vì thế mà người dân Mỹ cần một người ngoại đạo, một tổng thống biết kinh doanh như tỉ phú Trump để dẫn dắt nền kinh tế Mỹ, một nền kinh tế đã chuyển hàng triệu việc làm ra bên ngoài nước Mỹ? Người dân Mỹ cần một nước Mỹ vĩ đại trở lại như khẩu hiệu tranh cử của Trump “Make America great again”, họ cần giàu có hơn và không có ai thất nghiệp, chứ không nhạt nhòa như thời của Tổng thống Obama.
Khi đã bình tâm lại, tôi nghĩ người dân Mỹ có lý do riêng của họ. Và như thế mới đúng với tính cách Mỹ. Donal Trump không phải là một trường hợp đặc biệt. Người dân Mỹ trước đây đã từng bầu cho Franklin Delano Roosevelt, một tổng thống ngồi trên xe lăn, trên thế giới không có một nước nào bầu cho một người tàng tật làm tổng thống, nước Mỹ đã làm như vậy. Roosevelt, Tổng thống Mỹ thứ 32 đã không phụ lòng nước Mỹ. Ông được biết đến như một huyền thoại trong lịch sử nước Mỹ. Ông lãnh đạo nước Mỹ vượt qua khủng hoảng kinh tế kinh hoàng nhất trong lịch sử, lãnh đạo nước Mỹ vượt qua những năm tháng tối tăm trong chiến tranh thế giới thứ hai để nước Mỹ xác lập vị trí siêu cường của nước Mỹ. Có lẽ người dân Mỹ hy vọng ở ông Trump có thể dẹp bỏ được nhà nước khủng bố tự xưng IS và một lần nữa đưa nước Mỹ đến một tầm cao mới như Roosevelt đã từng làm được.
Đã có những tổng kết nêu ra những lý do khiến Trump chiến thắng. Một trong những lý do đó là sự định hướng của các phương tiện truyền thông Mỹ hay nói đúng hơn là sự thiên vị cho bà Hillary Clinton, cùng với các cuộc thăm dò sai lầm tỉ lệ chiến thắng của Clinton có lúc lên tới 90 đã phản tác dụng. Đó là sự thất bại của giới truyền thông, giới quyền lực thứ tư trong đế chế truyền thông Mỹ thất bại trước người dân Mỹ độc lập mà tư tưởng dân chủ ăn sâu vào máu của họ. Thực sự người dân Mỹ không còn tin vào giới chính trị tinh hoa, không tin vào giới truyền thông.
Ngoài ra người ta còn nói đến thủ pháp khôn ngoan của Trump, trong đó có việc tạo ra các nhóm cử tri giấu mặt; biết khai thác những điểm yếu của Chính quyền Obama; đánh đúng vào tâm lý cần phải thay đổi nước Mỹ; rồi đến việc đặt nước Mỹ lên trên hết; cấm nhập cư; đem lại việc làm cho người dân Mỹ…
 Đặc biệt nhất là “những bất ngờ tháng 10”. Hàng loạt tiết lộ từ Wikileaks đã hủy hoại danh tiếng của bà Clinton, đẩy thêm sự nghi ngờ của cử tri về sự trung thực cũng như uy tín của bà qua những câu chuyện bê bối email cá nhân. Ngoài ra đòn giáng điều tra của FBI liên quan tới vụ email chỉ mười ngày trước bầu cử đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến lá phiếu. Phe Trump đã có thêm cơ hội, sinh khí trong cuộc đua vào phút chót.
Donal Trump trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ làm rung chuyển giới chính trị Washington và giới chính trị các nước trên thế giới. Cũng giống như kết quả của cuộc trưng cầu dân ý về Brexit, nhiều người Mỹ đã rùng mình khi nhận ra rằng mình đã bỏ phiếu cho một điều khủng khiếp như thế nào. Thị trường tài chính sụt giảm. Một loạt các nước đồng minh của Mỹ triệu tập các cơ quan an ninh và tài chính họp khẩn để đánh giá tác động của việc Trump lên làm tổng thống. Hội nghị APEC lo ngại vấn đề tự do thương mại và chủ nghĩa bảo hộ. EU họp tăng cường ngân sách quốc phòng và chuẩn bị thành lập quân đội riêng… Dường như một nửa dân số Mỹ và cả thế giới chưa biết sẽ ra sao dưới một tổng thống Mỹ rất khó lường.
Trong bài phát biểu mừng chiến thắng, Trump tuyên bố “Chúng ta sẽ sửa chữa bên trong các thành phố, xây dựng lại các đường cao tốc, cầu cống, đường hầm, sân bay, trường học, bệnh viện, đồng thời sẽ xây dựng lại cơ sở hạ tầng, sử dụng hàng triệu lao động cho những công việc xây dựng này.” Trước đó ông đã hứa sẽ chi tiêu mạnh tay vào các chương trình tạo ra rất nhiều công ăn việc làm trong ngành xây dựng, sản xuất thép, phục hồi, phát triển ngành chế tạo máy, đưa những nhà máy xí nghiệp ở nước ngoài về Mỹ… Tất cả những điều này được kỳ vọng sẽ thay đổi về chất nền kinh tế Mỹ hiện tại.
Ngoài những chi tiêu cho hạ tầng, theo truyền thống của Đảng Cộng hòa, chính sách kinh tế của Trump còn cắt giảm thuế doanh nghiệp từ 35% xuống còn 15%. Ông cũng cam kết bãi bỏ những quy định mà ông cho là gánh nặng của doanh nghiệp và kìm hãm tạo việc làm. Ông cũng tuyên bố bãi bỏ chương trình bảo hiểm y tế toàn dân. Ông khẳng định rằng nền kinh tế nước Mỹ sẽ tăng trưởng nhiều hơn sự thâm hụt so với hiện tại và không cần tăng thuế để chi trả cho các chi tiêu cơ sở hạ tầng. Nhiều nhà phân tích nhận định rằng Chính sách của Donal Trum có thể đem lại lợi ích cho nước Mỹ nhưng sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế thế giới.
Thắng lợi của ông Trump có thể làm trầm trọng hơn chủ nghĩa bảo hộ trong thương mại toàn cầu, làm cho quá trình toàn cầu hóa giảm tốc, thương mại tăng trưởng chậm lại. Các thỏa thuận thương mại tự do như TPP, NAFTA và nhiều hiệp định song phương sẽ bị hủy bỏ hoặc xem xét lại vì nó không có lợi cho nước Mỹ. Trump đích thực là con người theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy. Ông sẽ kiên quyết tăng ngân sách bằng việc đánh thuế nặng đối với các hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Các cuộc chiến thương mại tiềm ẩn sẽ có khả năng bùng phát. Kinh tế thế giới chắc chắn sẽ chao đảo.
Về chính trị và an ninh, trong chiến dịch tranh cử, Trump cho rằng nước Mỹ không nên tiếp tục bảo trợ an ninh không công cho các đồng minh chủ chốt như Hàn Quốc, Nhật Bản. Ông còn hứa hẹn sẽ giải tán khối NATO, thậm chí còn chỉ trích các đồng minh đang lợi dụng nước Mỹ. Với những tuyên bố như vậy tôi không thể hiểu hệ thống quan hệ quốc tế sẽ ra sao khi Trump làm như lời ông nói. Có thể chính sách của Trump ít đối đầu với một số cường quốc, một số nước đang có mâu thuẫn với Mỹ, mở ra cơ hội cho hòa bình và phát triển. Nhưng có một điều tôi không thể tưởng tượng được khi ông phát biểu đại ý nếu Bắc Triều Tiên có bom nguyên tử thì cứ để Hàn Quốc và Nhật Bản phát tiển bom nguyên tử.
Nhiều nhà quan sát quốc tế cho rằng khi còn là ứng cử viên ngoài cuộc, người ta tưởng rằng sẽ làm được rất nhiều điều theo ý muốn, nhưng khi đã ở cương vị tổng thống, nghĩa là vào cuộc họ sẽ sớm nhận ra rằng trật tự quốc tế và thị trường không cho phép họ làm theo ý muốn riêng. Đặc biệt với nền chính trị Mỹ, một thể chế tuyệt đối tôn trọng quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, nói theo ngôn từ chính trị là tam quyền phân lập. Chắc chắn Trump không thể làm điều gì ngoài quy định mà luật pháp Mỹ cho phép. Liệu Donal Trump có phải là một người ngoại lệ? Chỉ biết rằng hiện tại có nhiều người Nga ca ngợi chiến thắng của ông Trump, cho đó là bước đi tích cực với thế giới. Riêng với tôi, việc Trump lên làm tổng thống là điều đáng lo hơn là điều đáng mừng.

   
Read More

Khủng bố một góc nhìn lịch sử và văn hóa

Leave a Comment
Vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín, 2001 nhằm vào Trung tâm Thương mại Thế giới, New York, Mỹ đã khiến 2.726 chết và 7.000 người bị thương sau khi hai máy bay của bọn khủng bố đâm vào hai tòa tháp 110 tầng. Cả hai tòa tháp sụp đổ tạo nên một cảnh tượng khủng khiếp. Sự kiện bi thảm này thật sự đã thay đổi nước Mỹ và cũng thay đổi cả thế giới. Mười lăm năm sau ngày kinh hoàng này, vị trí của nước Mỹ đã khác trước thời điểm đó. Mặc dù Osama bin Laden, kẻ chủ mưu vụ tấn công đã bị Mỹ tiêu diệt, nhưng tổ chức khủng bố Al-Qaeda do hắn thành lập vẫn còn là bóng ma đe dọa nhân loại.
 Một liên minh quốc tế do Mỹ đứng đầu được thành lập để chống chủ nghĩa khủng bố, hai cuộc chiến chống khủng bố mang tầm cỡ quốc tế ở Afghanistan và Iraq trong hơn một thập kỷ qua, nhưng có thể nói chủ nghĩa khủng bố không bị tiêu diệt, nó vẫn dai dẳng, khó trị, ngày càng trở nên tàn độc, từ Trung Đông lan rộng ra châu Phi, Trung Á, Kavkaz, Nam Á đến Đông Nam Á. Đến nay, khủng bố bắt đầu bùng phát ở châu Âu.
Mười lăm năm đã trôi qua, ngoài tổ chức Al-Qaeda lại xuất hiện thêm hàng chục tổ chức Hồi giáo khủng bố, trong đó đáng chú ý nhất là tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS hình thành vào giữa năm 2014. Nguy cơ IS “nhuộm đen” cả Trung Đông là hiện hữu. Nếu như trước đây, Bin Laden và tổ chức của hắn chỉ đánh vào các địa điểm, vào các trung tâm siêu cường Mỹ ở các nơi và ở trên chính đất Mỹ thì giờ đây IS đánh vào tất cả mọi nơi của nhiều quốc gia, thách thức an ninh nghiêm trọng đối với toàn thể nhân loại và trật tự thế giới.
Trong những năm gần đây, nói đến chủ nghĩa khủng bố, chủ yếu người ta nói đến chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan bạo lực, những kẻ ở địa vị yếu thế. Khủng bố là hoạt động phá hoại, đe dọa bằng lời nói, hình ảnh hoặc video giết người nhằm gây tâm lý hoang mang khiếp sợ hoặc gây tổn thất cho xã hội và cộng đồng, nhằm mục đích chính trị và tôn giáo. Hành vi khủng bố có thể được thực hiện bởi các tổ chức tồn tại ở nhiều nơi hoặc bởi những cá nhân hay còn gọi là những con sói đơn độc. Nói đến xu hướng khủng bố thì Trung Đông, quê hương của đạo Hồi vẫn là một điểm nhức nối nhất, đặc biệt là ở Lybia, Iraq, Syria. Trong số các tổ chức khủng bố, hai mạng lưới khủng bố quốc tế nổi lên mạnh nhất là Al-Qaeda và IS, nhiều tổ chức và lực lượng khác đã liên kết với hai mạng lưới chính này.
Bắt đầu từ năm 2015, IS trở thành tâm điểm chú ý của thế giới, cũng là tổ chức Hồi giáo cực đoan, tổ chức khủng bố như hàng chục tổ chức khác, nhưng IS là một tổ chức khủng bố mới hoàn toàn về lượng cũng như về chất. IS chiếm đất, nắm dân, bám dân và đặc biệt chúng chú ý  xây dựng nhà nước, xây dựng quân đội, áp đặt hệ thống thuế, xây dựng cơ sở vật chất, sản xuất vũ khí, sử dụng công nghệ thông tin, truyền thông xã hội… Mục tiêu của chúng là xây dựng một Đế chế Hồi giáo trên bán đảo Arab và trên toàn bộ khu vực Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á đến  Đông Nam Á.
Tai sao trong lịch sử hiện đại lại xuất hiện nhiều tổ chức khủng bố, những tổ chức khủng bố đặc biệt quái thai như IS? Đánh vào người dân phương Tây, người dân Mỹ, các tổ chức khủng bố còn biện minh cho hành động trả thù nỗi nhục đạo Hồi trong quá khứ và hiện tại nhân danh thánh Allah, nhưng còn đánh vào hàng ngàn người dân theo đạo Hồi, hành quyết tập thể hàng trăm đàn ông khác giáo phái, biến hàng ngàn phụ nữ thành nô lệ tình dục, giết hại đồng loạt trẻ em cùng một lúc… Những hành động dã man, khủng khiếp, quái đản này nhằm khủng bố đối thủ và răn đe những người bất đồng tôn giáo đã khiến tất cả mọi người trên thế giới phẫn nộ. Vậy mà nó vẫn cứ đang tồn tại bất chấp thế giới văn minh ra sức ngăn chặn.
Sự ra đời của đạo Hồi và sự tác động của nó với xã hội Arab
Chúng ta không thể không tìm căn nguyên của chủ nghĩa khủng bố trong lịch sử, văn hóa Hồi giáo. Có rất nhiều học giả thường tìm nguyên nhân ra đời của chủ nghĩa khủng bố ở sự đói nghèo, thất học, bất bình đẳng, sự thống trị của phương Tây cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa trong suốt một thời gian dài, rồi sự gia tăng dân số đột biến trong các nước Hồi giáo, sự hình thành, trỗi dậy và tham gia của hàng trăm tổ chức Hồi giáo ở tất cả các nước Hồi giáo với một tỉ ba tín đồ… Tất cả những nguyên nhân trên xét ở một góc độ nào đó đều đúng. Nhưng tại sao không có các tổ chức khủng bố Phật giáo, Cơ đốc giáo và nhiều tôn giáo bản địa khác? Các nước ở Trung Đông đâu phải là những nước nghèo? Hãy nhìn vào những nước nghèo nhất thế giới không theo đạo Hồi, họ vẫn sống bình yên không hề có bóng dáng của chủ nghĩa khủng bố. Vì vậy yếu tố lịch sử, văn hóa nên được xem là một thành tố quan trọng tác động đến việc ra đời và hình thành chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo.
Do điều kiện tự nhiên, địa lý, khí hậu, Trung Đông thuộc nền văn hóa Du mục. Ngựa, cừu, dê là vật nuôi phổ biến ở cả Trung Đông và châu Âu. Tôn giáo và con người Trung Đông mang đậm nét lý trí, cứng rắn, thường giải quyết tranh chấp, xung đột bằng vũ lực. Vì thế ngay từ thời trung cổ trên mảnh đất này đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo, giữa Hồi giáo với các tôn giáo khác như Do Thái giáo, Cơ đốc giáo, và rất đáng chú ý là giữa các giáo phái trong Hồi giáo.
Nhìn lại lịch sử Trung Đông người ta thấy Hồi giáo ra đời, gắn liền với sự hình thành nhà nước Arab. Hồi giáo là trụ cột tinh thần và chính trị của nhà nước Arab. Từ thủa ban đầu, vào đầu những năm 610, người sáng lập ra Hồi giáo là Mohammed đã truyền giáo ở Mecca. Giống như việc truyền giáo của các tôn giáo khác, ông bị các thế lực đàn áp. Năm 622, ông chuyển địa bàn truyền giáo từ Mecca đến Mađina. Sau khi đững vững ở Mađina ông chuyển trọng tâm hoạt động truyền giáo sang giải quyết những vấn đề xã hội, phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, tôn giáo, chính thức đặt nền móng cho sự phát triển của đạo Hồi. Như vậy là từ lúc khởi nghiệp truyền giáo, người sáng lập ra đạo Hồi đã gắn liền tôn giáo với vấn đề chính trị, xã hội, quân sự, điều này hoàn toàn khác với các tôn giáo như Cơ đốc giáo, Phật giáo, Hindu giáo- những tôn giáo mang thuần nét tinh thần. Và đương nhiên từ đó ông đã đặt cơ sở cho Đạo vào Đời và Đời vào Đạo. Điều đó lý giải tại sao các tổ chức Hồi giáo tham gia vào đời sống chính trị xã hội mọc lên như nấm xuân ở các quốc gia Hồi giáo hiện nay.
Tại Maddina Mohammed đề xuất và thực hành chủ trương cải cách xã hội, xây dựng quy phạm luân lý đạo đức, dần dần hình thành một loạt hệ thống giáo lý đạo Hồi, dùng sức mạnh tinh thần của tôn giáo và sử dụng sức mạnh vũ lực của chính quyền để thúc đẩy chính quyền làm cho nó ngày càng vững mạnh. Mohammed tổ chức vũ trang cho tín đồ Hồi giáo ở Mađina dưới khẩu hiệu “Chiến đấu vì Đạo của Thánh Allah”, cổ vũ tử vì đạo- những người chết trận được bước vào thiên đàng, động viên tín đồ chiến đấu anh dũng, chủ trương tiêu diệt các môn đồ khác chính kiến và các bộ tộc dị giáo, trong đó có các bộ tộc do thái, xử tử toàn bộ đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị bắt làm nô lệ. Tư tưởng bạo lực tàn bạo đó qua hàng ngàn năm không ngừng thẩm thấu vào các tổ chức Hồi giáo cực đoan hiện nay.
Năm 630 Mohammed tổ chức hàng vạn quân tiến công vào Mecca, các thế lực ngoại đạo hoàn toàn tan rã. Ông ra lệnh phá hủy toàn bộ các pho tượng của đạo đa thần, chỉ để lại tảng đá đen làm thánh vật cho tín đồ đạo Hồi. Uy thế của đạo Hồi lừng lẫy, chính quyền mới ngày càng được củng cố. Mohammed không những là người sáng lập ra đạo Hồi, một chiến binh, một chỉ huy quân sự xuất sắc mà còn là quan tư pháp tối cao, người đứng đầu lập pháp, người đứng đầu chính quyền mới và là thống soái tối cao của đạo quân Hồi giáo. Dưới sự lãnh đạo của ông, đạo Hồi ra đời và phát triển song song với phong trào cải cách xã hội. Đạo Hồi hợp nhất với chính quyền đã tạo cơ sở cho sự thống nhất các bộ lạc trên bán đảo Arab, thực sự đã mở ra một chương mới trong lịch sử Trung Đông, đồng thời cũng khép cửa với thế giới còn lại.
Năm 632 Mohammed mất, không có con nối dõi, ông lại không để di chúc người kế nghiệp cho nên đã dẫn đến cuộc đấu tranh giành quyền kế vị. Phần lớn các tín đồ cho rằng người kế vị nên dành cho Abu Bakr, người là tín hữu thân thiết và là cha vợ của Mohammed mới xứng đáng là người lãnh đạo(caliph). Những tín đồ này sau đó trở thành người Hồi giáo dòng Sunni, giáo phái lớn nhất của đạo Hồi trong quá khứ và hiện tại. Nhưng một số tín đồ khác lại cho rằng, người anh em họ và là con rể của Mohammed, được Mohammed xức dầu thánh mới xứng đáng là caliph. Những người này sau này trở thành người Shia hay Shiite. Hai giáo phái này mâu thuẫn, xung đột, tàn sát đẫm máu để giành quyền bính, để đại diện cho thánh Allah suốt từ năm 632 cho đến tận ngày hôm nay. Sự mâu thuẫn, xung đột giữa hai giáo phái này, dẫn đến nhiều biến thể ở cả cấp độ giữa các quốc gia, giữa các giáo phái trong một quốc gia, giữa các tổ chức hồi giáo trong một quốc gia, giữa chính quyền với một bộ phận tín đồ khác giáo phái, giữa các tín đồ với tín đồ ở khắp Trung Đông, Bắc phi.
Từ thế kỷ thứ bảy, dưới ngọn cờ của đạo Hồi, các thế lực lãnh đạo đã nêu cao ý chí dân tộc và tôn giáo. Người Hồi giáo bị chi phối bởi sức mạnh tinh thần thánh chiến và sự thúc đẩy của lợi ích vật chất nên bắt đầu tiến hành các cuộc chinh phạt khắp khu vực. Trong một thời kỳ dài, nói chung người Arab là quân nhân, khi đi chinh chiến mang theo gia quyến ở trong doanh trại. Chiến tranh đối với họ là nghề nghiệp. Sống bằng cướp đoạt và chia chiến lợi phẩm. Với tinh thần chiến đấu tử vì đạo, chỉ trong một thời gian ngắn, đạo quân đạo Hồi đã đánh bại Đế quốc Byzantine và Đế quốc Ba Tư. Năm 640 đánh chiếm toàn bộ Xyri, Palestine… Biên giới của nhà nước Hồi giáo mở rộng phía đông tới Afganishtan, phía tây giáp Ai Cập, Libi. Và từ đó đạo Hồi gắn liền với sự hưng vong của Đế quốc Arab cho đến thời kỳ cận đại (xem lịch sử Đế quốc Arab từ cổ đại đến cận đại). Mặc dù Đế quốc Arab lúc hưng thịnh và suy vong, nhưng đạo Hồi vẫn phát triển không ngừng, từ tôn giáo dân tộc phát triển thành tôn giáo thế giới…
Nghiên cứu lịch sử của đạo Hồi, người ta nhận thấy ở một số khu vực, trong đó có khu vực Đông Nam Á, đạo hồi thật sự phát triển theo con đường hòa bình, tuy nhiên không thể không đi đến kết luận- quá tình hình thành và phát triển của Hồi giáo nhìn chung gắn liền với bạo lực, in đậm nét bạo lực ở những bước ngoặt. Không thể nói nó không ảnh hưởng tới tư tưởng và hành động của một bộ phận tín đồ Hồi giáo, nhất là các thế lực cầm quyền và các thế lực âm mưu nắm quyền.
Giáo lý Hồi giáo, nguyên tắc cơ bản của pháp lý, nguồn lập pháp nhà nước Hồi giáo
Không như các tôn giáo khác, giáo lý của đạo Hồi do ba bộ phận cấu thành: Tín ngưỡng (niềm tin) tôn giáo, nghĩa vụ tôn giáo và hành thiện. Ba điều trên chi phối toàn bộ cá nhân, gia đình, xã hội của xã hội đạo Hồi từ thời cổ đại đến nay. Trong tín ngưỡng tôn giáo đáng chú ý nhất là Kinh Coran và thánh huấn. Chúng là kinh điển thần thánh của đạo Hồi, là nguồn gốc của tín ngưỡng và tôn giáo Hồi giáo, là nguyên tắc cơ bản pháp lý và là nguồn lập pháp nhà nước Hồi giáo, là chuẩn mực tối cao để chỉ đạo mọi hành vi cá nhân và đời sống xã hội Hồi giáo và cũng là xuất phát điểm của các loại học thuyết và trào lưu tư tưởng cùng với các cơ sở lý luận của thế giới Hồi giáo. Nó có nhiều điểm tiến bộ và nhân văn, những cũng chứa đựng những tư tưởng bạo lực và những phong tục tập quán từ thời kỳ thị tộc, bộ lạc như tranh giành, cướp bóc, chiến tranh, tàn sát, trả thù cho những người cùng máu mủ và cao hơn hết là thánh chiến, tử vì đạo…
Trong giáo lý của Kinh Coran và Thánh huấn có chủ trương phát động chiến tranh để bảo vệ và phát triển tôn giáo. Thậm chí để khích lệ chiến tranh, người ta còn tuyên bố các tín đồ muốn được cứu vớt linh hồn thì phải hăng hái chiến đấu. Người tử trận linh hồn sẽ được lên thiên đàng, vợ con của họ sẽ được cứu giúp. Về mặt này Đạo Hồi khác hẳn với giáo lý đạo Phật và đạo Cơ đốc. Trong giáo lý của đạo Phật, đạo Cơ đốc không hề có tư tưởng bạo lực và chiến tranh. Nó loại bỏ tham, sân, si. Nó chủ trương sống an lành, yêu thương, bình đẳng. Có thể nói những hệ lụy của tín ngưỡng đạo Hồi từ hàng nghìn năm đã thấm đẫm vào các tín đồ trong xã hội hồi giáo.
Cùng với tín ngưỡng, luật Hồi giáo (Shari’ah) cũng do Mohammed tạo ra cả phần nhân văn lẫn mặt trái của nó trở thành hệ thống pháp luật của xã hội Hồi giáo, của các quốc gia lấy Hồi giáo là quốc đạo. Nghĩa là không có sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước, nó kiềm tỏa sự phát triển của con người, cản trở sự phát triển xã hội. Và với một nền văn hóa cứng rắn, không khoan nhượng, một bộ phận người Hồi giáo, bị tác động của hoàn cảnh, trở nên cực đoan trong xã hội hiện đại là điều có thể lý giải được. Những hành động hiện nay như cướp biển, bắt cóc, tống tiền, thủ tiêu đối thủ, tàn sát tập thể những người khác đạo, khác giáo phái, bắt phụ nữ làm nô lệ tình dục và cao nhất là khủng bố đều có căn nguyên của nó.
Sự thống trị của phương Tây và phản ứng của thế giới Arab
Trên thực tế, sự xung đột giữa người Hồi giáo với phương Tây đã có từ thời trung cổ với các cuộc thập tự chinh do giáo hội La Mã phát động chống lại đạo Hồi. Đương nhiên ngay từ đó người Hồi giáo dưới các hình thức đã phát động phong trào thánh chiến chống lại phương Tây. Phong trào này càng được củng cố vào thời cân đại, khi thực dân phương Tây xâm chiếm Trung Đông, biến vùng này thành thuộc địa và nô dịch người Hồi giáo. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, với chính sách chia để trị, thực dân Phương Tây đã chia Trung Đông, khi đó là Đế quốc Ottoman thành những quốc gia mới luôn luôn kiềm chế nhau, xung đột lẫn nhau. Sau khi thực dân Anh, Pháp rút đi Trung Đông là mảnh đất của sự xung đột, đặc biệt là xung đột giữa bốn quốc gia Thổ Nhĩ kỳ, Iran, Syria và Iraq.
Sự thống trị của thực dân phương Tây đối với Trung Đông đã hình thành nên sự phản kháng trong thế giới Hồi giáo. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, vì vị trí địa-chính trị, vì dầu mỏ, Mỹ đã can thiệp mạnh vào Trung Đông, lập nên nhà nước Do Thái chống lại các nước Arab. Vì vậy tư tưởng thù địch đối với phương Tây và Mỹ càng trở nên sâu đậm, thậm chí đã trở thành mối thù truyền kiếp, đòi phải trả nợ bằng máu theo luật của người Hồi giáo.
Đáng chú ý nhất là trong cuộc chiến tranh ở Afghanistan từ năm 1979 đến năm 1989, cuộc chiến tranh của Liên Xô ủng hộ chính quyền Đảng Dân chủ Nhân dân Afganistan Macxit chống lại lực lượng Mujahideen Afghanistan được sự ủng hộ của Mỹ, Pakistan và các quốc gia Hồi giáo trong bối cảnh của cuộc chiến tranh Lạnh. Cuộc xung đột này đã tạo ra một lực lượng khổng lồ chiến binh thánh chiến “chống chủ nghĩa vô thần” đến từ khắp Trung Đông và thế giới Hồi giáo (ước chừng 250.000 người). Cuối cùng sau gần 10 năm các lực lượng thánh chiến Hồi giáo, đội quân đạo Hồi với tiền của của cả thế giới Hồi giáo và công nghệ vũ khí của Mỹ, sự đào tạo của Mỹ đã đánh đuổi quân đội Xô Viết ra khỏi Afghanistan.
Hậu quả sau cuộc cuộc chiến tranh trên, các chiến binh trở về tất cả các nước ở Trung Đông và thế giới Hồi giáo. Họ thành lập các tổ chức Hồi giáo, là xương sống của các tổ chức Hồi giáo cực đoan bạo lực như nấm độc ở khắp các nước Trung Đông, Bắc phi và thế giới Hồi giáo. Với tâm lý người Hồi giáo đã hạ gục được một siêu cường thế giới mà ngay cả người Mỹ vào thời điểm đó cũng không làm được, sau khi Liên Xô sụp đổ (1991) mục tiêu của các tổ chức Hồi giáo cực đoan là siêu cường còn lại Mỹ, cộng với phương Tây.
Tiêu biểu cho các lực lượng Hồi giáo cực đoan sau chiến tranh Lạnh là lực lượng Taliban, một phong trào Hồi giáo chính thống dòng Sunni Pashtun dân tộc cực đoan. Sau khi đã kiểm soát được thủ đô Afghanistan, chúng lập nên Vương quốc Hồi giáo Afghanistan. Trong thời gian thống trị Afghanistan từ năm 1995-2001, chế độ Taliban đã thi hành Luật Hồi giáo Shari’ah hà khắc nhất thế giới Hồi giáo, vi phạm nghiêm trọng quyền con người, nhất là đàn áp đối với người ngoài đạo, người khác giáo phái, phụ nữ. Chế độ này còn ngang nhiên triệt hạ tất cả các di sản văn hóa của những nên văn hóa khác, chẳng hạn như di sản tượng Phật 1500 năm ở Bamian     
Rồi tiếp theo, trong những năm gần đây, việc Mỹ và phương Tây can thiệp quân sự trực tiếp vào các nước ở Trung Đông, bắt đầu từ cuộc Chiến tranh Iraq lần thứ nhất, rồi cuộc chiến ở Afganistan, Iraq lần thứ hai và việc xuất khẩu các cuộc cách mạng dân chủ bắt đầu từ Mùa Xuân Ai Cập, Lybia đến Syria theo giá trị của phương Tây. Cả Trung Đông và Bắc Phi đang phải trải qua một giai đoạn thay đổi với rất nhiều thách thức, thậm chí một số nước rơi vào hỗn loạn… Tất cả đã tạo ra một khoảng trống quyền lực cho các mâu thuẫn quyền lực giữa các giáo phái trong đạo Hồi, giữa đạo Hồi và phương Tây- một mớ hỗn loạn bạo lực chém giết-  và cơ sở để tạo ra hàng chục tổ chức Hồi giáo cực đoan, cộng thêm cả IS…
Trong khi chưa đạt được mục tiêu đế chế đạo Hồi hay quốc gia Hồi giáo kiểu Taliban, các tổ chức Hồi giáo cực đoan vẫn là những kẻ yếu thế. Phương thức hành đông của chúng vẫn là phương thức của những kẻ khủng bố. Chúng thường tấn công vào các cơ sở dân sự như bắt cóc, ám sát, phá hoại cơ sở vật chất, kinh tế, tấn công trường học, khách sạn, nhà hàng, sân vận động, sân khấu, rạp chiếu phim… Những cuộc tấn công này có thể được tiến hành theo tổ chức nhóm người chặt chẽ, cũng có thể dưới hình thức một vài cá nhân hoặc một cá nhân như đánh bom tự sát. Và cao nhất hiện nay khủng bố hành động dưới hình thức chiến tranh với lực lượng quân đội như nhà nước IS.
Cuộc chiến chống khủng bố chưa có hồi kết
Mọi cuộc chiến tranh từ xưa đến nay đều đi đến hồi kết, nhưng xung đột và chiến tranh ở khu vực Trung Đông kể từ năm 622 đến nay, hòa bình chỉ là thời gian ngưng chiến. Chưa bao giờ có sự đồng thuận, chưa bao giờ có sự thỏa hiêp giữa các phe phái, trong nội bộ các quốc gia, trong thế giới đạo Hồi. Không thỏa hiệp, nhượng bộ, hợp tác đó là những đặc điểm trong lịch sử, văn hóa người Arab, trong lịch sử, văn hóa thế giới Arab và thế giới hồi giáo. Câc lãnh tụ trong thế giới Hồi giáo càng không hề có sự thỏa hiệp, nhượng bộ, hợp tác chia sẻ quyền lực. Tiêu biểu là Bashar Al-Assad, ông ta và các phe phái ở Syria thà để đất nước thành đống tro tàn, hàng triệu người dân trong nước ly tán, chết chóc, chứ nhất quyết không chịu thỏa hiệp, nhượng bộ, và nhất quyết không từ bỏ quyền lực.
Các nhà phân tích nói đúng, muốn giúp khu vực Trung Đông giải quyết được mớ thắt nút và sự bế tắc hiện nay phải củng cố các thể chế quản lý của các quốc gia Trung Đông hiện nay để tất cả hội nhập sâu vào thế giới toàn cầu hóa. Phải đảm bảo tôn trọng hệ thống các quốc gia trong khu vực. Phải phát huy được sự nỗ lực mang tính phối hợp nhằm chấm dứt bạo lực ở mọi cấp độ trong khu vực Trung Đông. Bởi vì đổ máu, chia rẽ, xung đột, bạo lực và chiến tranh là miếng đất màu mỡ gieo rắc những mầm mống của chủ nghĩa cực đoan, của chủ nghĩa khủng bố ở Trung Đông nói riêng và trên thế giới nói chung.
Đúng như vậy, phải xây dựng được sự đồng thuận, sự thỏa hiệp, sự nhượng bộ và sự hợp tác giữa các xã hội Arab ở khu vực Trung Đông và Bắc phi. Ở bình diện quốc tế liệu có sự thỏa hiệp, nhượng bộ, hợp tác giữa Mỹ, phương Tây và Nga? Ở cấp độ khu vực, liệu giữa các nước ở Trung Đông, Bắc Phi, giữa các nước trong vùng vịnh, giữa Arab Xêut và Iran có sự thỏa hiệp, nhượng bộ và hợp tác? Ở cấp độ quốc gia liệu có sự thỏa hiệp, nhượng bộ và hợp tác giữa các phe phái, giữa các giáo phái… Tất cả có vượt qua được sự khác biệt, vượt qua được lợi ích chính trị và kinh tế? Và đối với thế giới Hồi giáo, họ có vượt qua được chính lịch sử, văn hóa của họ để thỏa hiệp, nhượng bộ và hợp tác? Chừng nào chưa làm được điều đó, chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan vẫn còn tồn tại và phát triển ở Trung Đông và ở trên thế giới. Vấn đề khủng bố sẽ ngày càng trở thành vấn đề nan giải toàn cầu và chắc chắn vẫn chưa có hồi kết.     




Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.