Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

50 năm cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

Leave a Comment
Thực ra tôi không muốn viết về sự kiện trọng đại Tết Mậu Thân năm 1968. Đã có một cuộc hội thảo của Bộ Quốc phòng tại thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có sự tham gia của rất nhiều nhà chiến lược quân sự, các học viện, các trường đại học, các học giả, những nhà nghiên cứu lịch sử, các tướng lĩnh trực tiếp tham gia chỉ huy những trận đánh trong cả 3 đợt của chiến dịch. Thời gian đã lùi xa nửa thế kỷ. Chúng ta đều có đủ điều kiện khách quan để đưa ra những đánh giá tổng kết chân thực, đa chiều, đúng với tầm vóc chiến lược và giá trị của cột mốc chói lọi này.
Đọc một số bài viết, nhất là những bài viết của các học giả và tướng lĩnh bên kia chiến tuyến, cũng như tiếp xúc với một số cựu binh Việt Nam Cộng hòa ở Mỹ về sự kiện Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968 tôi thấy cần phải làm sáng tỏ một vài khía cạnh. Trước hết, dường như họ không những không thấy được bản chất của vấn đề, không thừa nhận sự thất bại mà còn đổ lỗi cho chính giới Mỹ, người dân Mỹ, truyền thông Mỹ và thậm chí còn quy tội lỗi cho “cái ý chí sắt đá của Cộng sản”. Sau đó họ tự ngộ nhận là “những người nắm ưu thế, những người chiến thắng về quân sự nhưng lại là nạn nhân của sự thất bại về chính trị”.
Theo số liệu thống kê, trong năm 1968 quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 630.000 quân Mỹ, quân Ngụy quyền Sài Gòn và quân các nước Australia, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan cùng với một số lượng khổng lồ vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh. Theo thống kê của người Mỹ thì chúng ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 310.000 quân đồng minh. Còn tổn hại của phía Việt cộng là 113.000 quân, tức là tổn hại về quân số của quân đồng minh gần gấp ba lần Việt Cộng. Người Mỹ cũng thừa nhận hoàn toàn bất ngờ trước cuộc Tổng tấn công, lung túng bị động đối phó ở tất cả các chiến trường. Vậy thì cái ưu thế và thắng lợi về quân sự của Chính quyền Sài Gòn nằm ở chỗ nào?
Tuy nhiên trong chiến tranh, số lượng binh lính mất mát trong một chiến dịch không phải là tất cả. Cái ý nghĩa quan trọng nhất của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân và dân ta là đánh vào 45 thành phố, thị xã trên khắp miền Nam, trong đó có Sài Gòn, đầu não chính trị, quân sự, kinh tế của Mỹ- Ngụy. Nó thể hiện sức mạnh, thế chủ động của đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta. Quân và dân ta đã làm nên một cơn địa chấn làm rung chuyển nước Mỹ, đập tan ý chí xâm lược của chính quyền Mỹ, buộc chính quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, ngồi xuống bàn đàm phán ở Pari. 
Với thắng lợi này, quân và dân ta đã tạo ra một bước ngoặt quyết định, làm cho quốc hội và người dân Mỹ hoàn toàn mất niềm tin vào chính quyền Mỹ, buộc chúng phải rút quân khỏi cuộc chiến, đúng như tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Và những kết luận trên không chỉ rút ra từ phía chúng ta mà còn rút ra từ khối tài liệu khổng lồ của nước Mỹ, trong đó có hồi ký và tự thuật của Tổng thống Lyndon B. Johnson (người phải từ bỏ cuộc đua vào Nhà Trắng nhiệm kỳ 2 năm 1968 vì cuộc chiến ở Việt Nam), Tổng thống Richard Nixon (người trúng cử tổng thống Mỹ cuối năm 1968 với lời hứa rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam trong danh dự), Henry Kissinger (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ đương thời), Robert Mc Namara (Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ đương thời). 
Tôi biết rõ sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy, chúng ta gặp nhiều khó khăn như vùng kiểm soát của chúng ta bị thu hẹp, lực lượng nằm vùng bị đánh bật ra khỏi các nội đô, lực lượng quân chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích nhiều nơi bị suy yếu, các tổ chức chính trị, hoạt động ngầm ở tất cả các địa phương bị lộ… Chính vì vậy một số người, kể cả một số sỹ quan và chiến sỹ của chúng ta cho rằng, chúng ta thắng lợi về chiến lược nhưng thất bại về chiến thuật. 
Tôi không đồng ý với quan điểm này. Chiến lược quân sự là phương thức để giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh. Có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động đề ra để đạt được mục tiêu, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, cách thức, con đường để thực hiện các mục tiêu. Còn chiến thuật thường đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khi chiến lược đề cập đến việc liên kết các trận đánh với nhau. Nghĩa là cần phối hợp các trận đánh để đi đến mục tiêu quân sự cuối cùng. Thắng lợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đạt được thắng lợi cả về mặt chính trị, lẫn quân sự, cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Nó được thể hiện rõ nét nhất ở số liệu người Mỹ đưa ra: 310.000 binh lính bị loại khỏi vòng chiến đấu, 13.000 xe cơ giới, 1000 tàu chiến, 700 kho đạn, 15.000 đồn bốt, hàng trăm máy bay… Nghĩa là một phần tư quân lực Mỹ- Nguy bị loại khỏi vòng chiến đấu, nhiều tỷ đô la vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh. Tại sao lại nói chúng ta thất bại về chiến thuật. Hơn nữa nếu chúng ta thất bại về mặt chiến thuật thì làm gì có thắng lợi về mặt chiến lược.
Chúng ta phải đặt cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trong bối cảnh lịch sử chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ ở vào giai đoạn quyết liệt nhất sau hai cuộc phản công tìm diệt mùa khô 1965-1966 và 1966-1967. Chẳng lẽ vào thời điểm đó chúng ta không gặp khó khăn? Lực lượng của chúng ta không bị tiêu hao, suy yếu? Nếu không có cuộc Tổng tấn công và nổi dậy thì chắc sẽ có một cuộc phản công tìm diệt mùa khô vô cùng tàn khốc vào năm 1967-1968 cộng với gọng kìm bình định vô cùng thâm độc, liệu tình hình chúng ta lúc đó sẽ như thế nào? Nếu không có cuộc tổng tấn công và nổi dậy, cuộc bầu cử tổng thống Mỹ suôn sẻ, Johnson hay Nixson trúng cử tổng thống mà không có việc cam kết rút quân khỏi miền nam thì tình hình sẽ ra sao? Hơn nữa lúc đó phe xã hội chủ nghĩa đã có vấn đề. Trung Quốc có dấu hiệu bắt tay với Mỹ chống Liên Xô. Họ sẵn sàng hy sinh chúng ta, cắt tất cả viện trợ để đổi lại việc người Mỹ cho họ ngồi vào chiếc ghế thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và công nhận một nước Trung Quốc. Nếu không có một đòn quyết định, tình thế đối với chúng ta sẽ thật nguy hiểm. Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài hơn nữa. Thậm chí có khả năng đất nước chúng ta sẽ đi theo cái kịch bản Đông Đức- Tây Đức hay Nam-Bắc Triều Tiên như bây giờ.
Đúng là sau Tổng tấn công và nổi dậy chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong suốt năm 1969, 1970. Chúng ta phải nhìn nhận lại những khiếm khuyến trong kế hoạch và chỉ đạo chiến dich Tết Mậu Thân. Tuy nhiên, lịch sử đã khẳng định rằng, thời gian sẽ giúp chúng ta phục hồi và vươn lên mạnh mẽ hơn. Thực tế chúng ta đã phục hồi và lớn mạnh hơn vào đầu năm 1971. Nhưng thời gian sẽ không bao giờ lặp lại thời cơ. Nếu Đảng ta và Quân ủy Trung ương bỏ lỡ thời cơ đầu năm 1968, không mở cuộc Tổng tấn công thì đất nước ta sẽ khó mà có khúc ca khải hoàn vào ngày 30/4/1975. 
Nếu chúng ta đánh giá tình hình sát hơn, linh hoạt hơn, thu hẹp một số mục tiêu, chuẩn bị tốt hơn công tác hậu cần, có phương án chủ động rút lui bảo toàn lực lượng sau các cuộc tấn công, lường trước được lịch Nam, Bắc chênh nhau một ngày thì sẽ giảm bớt được xương máu của cán bộ chiến sỹ. Chúng ta sẽ không gặp khó khăn trong hai năm sau đó. Và cuộc đấu tranh trên bàn hội nghị ngoại giao cũng sẽ không kéo dài đến như vậy. Đúng là sự hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân là tổn thất vô cùng to lớn của dân tộc Việt Nam, của Quân đội nhân dân Việt Nam, là mất mát không gì có thể bù đắp được đối với những anh hùng liệt sỹ và thân nhân của họ, nhưng sự hy sinh to lớn ấy cũng giống như sự hy sinh của quân và dân ta trong trận Như Nguyệt, trận Bạch Đằng, trận Chi Lăng, trận Đống Đa, Trận Điện Biên Phủ thủa nào để non sông đất nước ta mãi mãi trường tồn cùng năm tháng.
Read More

Những tín hiệu mới trên bán đảo Triều Tiên trong viễn cảnh còn mù mịt

Leave a Comment
Bất ngờ Triều Tiên đề nghị đàm phán với Hàn Quốc sau hơn hai năm đóng băng các cuộc tiếp xúc. Cả hai miền đều nhất trí đàm phán về quân sự để giảm mức độ căng thẳng trong tình hình hiện tại. Phía Triều Tiên nhất trí cử đoàn thể thao, đoàn cổ vũ và đội văn nghệ tham dự Thế vận hội mùa Đông ở Seoul. Họ cũng thể hiện mong muốn hòa bình, hợp tác tiến tới thống nhất đất nước. Phía Hàn Quốc ngay lập tức phản hồi tích cực, cho biết sẽ cân nhắc tạm dỡ bỏ một số lệnh trừng phạt đơn phương. Các động thái trên đã nhận được sự hoan nghênh của cộng đồng quốc tế, trong đó có Nga và Trung Quốc. Tuy nhiên nhiều chuyên gia về Triều Tiên nghi ngờ về tính hiệu quả thực sự của cuộc đàm phán sắp tới.
Tại sao Triều Tiên lại đề nghị Hàn Quốc đàm phán vào thời điểm này? Sau một vài lần lên tiếng nhưng không được các đối thủ phản hồi, Triều Tiên nhận thấy thời cơ Hàn Quốc muốn tổ chức thành công Thế vận hội mùa Đông ở Seoul trong hòa bình cho nên họ đã thực hiện động thái chiến thuật với Hàn Quốc để làm giảm áp lực cấm vận của cộng đồng quốc tế, để tránh khả năng một cuộc tấn công phủ đầu từ Mỹ cũng như sự trừng phạt tiếp theo của Mỹ. Hơn nữa Hiệp ước Tương trợ và hợp tác Trung-Triều sắp mãn hạn. Trong điều 2 của Hiệp ước có quy định Trung-triều sẽ cùng áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn hành động xâm lược chống lại bất cứ bên nào, bởi bất kỳ quốc gia nào. Mặc dàu vậy, thời gian gần đây, Tiều Tiên nhận thấy Trung Quốc, chỗ dựa bao nhiêu năm nay có biểu hiện không tuân thủ quy định chung trong trường hợp họ bị tấn công và họ cũng nhận thấy Trung Quốc không có ý định gia hạn thêm Hiệp ước vào năm 2021. Thời gian với họ không còn nhiều, nhân cơ hội này Triều Tiên muốn tạo ra một khoảng cách giữa Mỹ và Hàn Quốc, đồng thời phát đi một thông điệp với Trung Quốc là công việc của hai miền Triều Tiên có thể sẽ do hai miền Triều Tiên tự giải quyết không cần đến người láng giềng khổng lồ theo đuôi Mỹ trừng phạt họ.
Liệu Bình Nhưỡng chấp nhận xuống thang đàm phán có thể đạt được những mục tiêu nói trên trong bước khởi động “chín chắn” lần này sau khi đã thử hạt nhân và tên lửa đến giới hạn chịu đựng của cộng đồng quốc tế? Và liệu Seoul chấp nhận đàm phán có giảm được căng thẳng, tiến tới phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên trong khi phái đoàn Triều Tiên không bàn đến vấn đề tên lửa và hạt nhân (Bình Nhưỡng lập luận với Hàn Quốc tên lửa và hạt nhân là để đối phó với Mỹ, chứ không phải để đối phó với người anh em). Các chuyên gia quốc tế nghi ngờ về kết quả các cuộc hội đàm sắp tới là có cơ sở. Mặc dù mọi người đều biết chắc chắn cả hai bên sẽ tìm kiếm thêm các cách thức để giảm nhiệt như tổ chức các cuộc gặp xuyên biên giới giữa các thành viên ly tán sau cuộc chiến năm 1950, nối lại các hoạt động ở khu du lịch và kinh tế, tiến hành việc hỗ trợ nhân đạo, giảm các cuộc tập trận với Mỹ ở một mức độ nào đó…
Người Triều Tiên và người Hàn Quốc một lần nữa lại hy vọng về chính sách Ánh dương vào những năm 2000. Chính sách này dựa trên ba nguyên tắc: 1, Triều Tiên và Hàn Quốc không khiêu khích quân sự; 2, Hàn Quốc sẽ không tìm cách thu hút, hấp dẫn hay thôn tính Triều Tiên bằng bất cứ cách nào; 3, Hàn Quốc chủ động tìm kiếm sự hợp tác. Mục tiêu của chính sách Ánh dương là cùng chung sống hòa bình, thúc đẩy hợp tác đối thoại tiến tới hòa giải và thống nhất hai miền Triều Tiên. Lộ trình con đường tươi đẹp này sẽ qua ba giai đoạn: 1, Hai miền thành lập một nhà nước liên bang; 2, Nhà nước liên bang bao gồm chính quyền tự trị của hai miền; 3, Hai miền có thể chọn hai phương thức thành lập chính quyền trung ương và chính quyền tự trị.
Tôi còn nhớ một câu nói trong cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều giữa Chủ tịch nước, Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên Kim Jong-il với Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung năm 2007. Đại loại là nếu Bắc Triều Tiên có được bom nguyên tử thì đó là tài sản vô giá chung của cả dân tộc Triều Tiên. Ước mơ của ông đã được con của ông biến thành hiện thực và còn vượt lên trên cả mong ước của ông sau 10 năm. Liệu rằng lần này, Chủ tịch nước, Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in có thể đặt viên gạch đầu tiên trên con đường đầy chông gai để thống nhất hai miền Triều Tiên?
Liệu Triều Tiên và Hàn Quốc có thể xây dựng được lòng tin sau các cuộc đàm phán lần này? Liệu họ có thể đối thoại để vượt qua được những vấn đề vô cùng nan giải, những vấn đề không chỉ phụ thuộc vào ý chí của mỗi bên mà còn phụ thuộc vào các cường quốc bên ngoài. Nghĩa là người Triều Tiên giờ đây rất khó có thể quyết định được vận mệnh của dân tộc mình cho dù họ có muốn đi chung một con đường (xin xem 6 bài viết của tôi về Triều Tiên và Hàn Quốc trong blogchiasett.com). Xây dựng lòng tin giữa hai miền là điều cần thiết và rất tốt. Đối thoại giữa hai miền cũng là điều cần thiết và rất tốt. Nguyên tắc là phải có đi có lại, nhượng bộ lẫn nhau. Cho dù hai miền có làm được điều đó thì vẫn không ổn nếu Triều Tiên cứ tự do hoặc hợp pháp hóa chương trình tên lửa và hạt nhân. Cả Mỹ, cả Nga, Trung Quốc và Nhật Bản đều thống nhất mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. Và đằng sau các cường quốc là cả cộng đồng quốc tế. Triều Tiên chỉ còn có con đường dừng thử nghiệm hạt nhân và tên lửa, tái cam kết giải giáp hạt nhân theo các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và các thỏa thuận đa phương đã đạt được trước đây.
Tôi rất mong muốn hy vọng Triều Tiên được các cường quốc công nhận nằm trong danh sách các quốc gia sở hữu hạt nhân vì điều đó sẽ làm thay đổi hoàn toàn cục diện ở Đông Bắc Á. Nếu điều đó xảy ra nó sẽ chấm dứt cái cảnh cá lớn nuốt cá bé trong quan hệ quốc tế. Nhưng hy vọng của tôi giống như việc mò kim đáy biển. Tôi cho rằng ông Kim Jong-il, Kim Jong-un và chính quyền của hai ông đã nhầm tưởng. Chúng ta hãy nghe cựu ngoại trưởng Mỹ Collin Powell phát biểu trong cuộc gặp gỡ báo chí của đài NBC ngày 6 tháng 9, 2015: “Tôi đã nói với người Triều Tiên cũng như Iran trong nhiều dịp tiếp xúc rằng: Các anh biết rõ bất kì khi nào các anh sử dụng chúng (vũ khí hạt nhân), các anh sẽ tự sát bởi đất nước và xã hội các anh sẽ sụp đổ vào ngày hôm sau”. Ông Powell nói tiếp: “Các anh có thể giết chết hàng chục ngàn người, phá hủy một phần của một thành phố và ngày hôm sau các anh sẽ thấy hậu quả về những gì mình đã làm”. Ông Powell cho rằng việc cố gắng phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt “sẽ là một sự lãng phí tiền của, thời gian. Thay thế vào đó, tôi nghĩ những gì cần làm là nên hợp tác toàn diện”.
Tôi tin phát biểu của Collin Powell sẽ là hành động đáp trả của Mỹ đối với Triều Tiên nếu họ cứ liều lĩnh. Hai quả bom nguyên tử ném xuống Nhật Bản tháng Tám năm 1945 là một minh chứng. Các cuộc chiến của Mỹ tiến hành trong Chiến tranh Lạnh là một minh chứng nữa. Tiếp theo, cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO phát động tấn công Cộng hòa Liên bang Nam Tư, cuộc chiến tranh nhân danh liên minh chống khủng bố vào các nước như Afgasnistan, Irac, Libia, hiện tại Syria là một minh chứng thuyết phục nữa. Và gần đây nhất, Bộ tưởng Ngoại giao Mỹ John Kery thay mặt cho nước Mỹ đến dự Lễ kỉ niệm về thảm họa bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hirosima và Nagaraki, mặc dù người Nhật đã nhắc khéo về cái chết của hàng trăm nghìn người dân vô tội Nhật, nhưng ông Kery cũng như các tổng thống Mỹ từ Tổng thống Rooservelt đến Tổng thống Obama không hề cậy răng xin lỗi hay lấy làm tiếc về hành động trong quá khứ của nước Mỹ. Tại sao? Vì có thể là ngày mai hay ngày kia đầu đạn hạt nhân của Mỹ có thể sẽ phóng đến một nước nào đó, chẳng hạn như là Triều Tiên.
Read More

Quan hệ Mỹ-Nga-Trung năm 2018 (phần 2)

Leave a Comment
Tôi đã viết trong phần trước, cái trục tam giác quan hệ Mỹ-Nga-Trung từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay không ngừng vận động, dịch chuyển. Trong những năm tới chắc nó vẫn tiếp tục vận động, dịch chuyển nhanh hơn. Bởi vì sức mạnh tổng hợp, lợi ích và vị thế quốc gia của ba nước biến chuyển khác nhau trên bàn cờ chính trị quốc tế, nên họ toan tính, hành động khác nhau trong mỗi vấn đề đề cốt lõi của thế giới. Và sự khác biệt giữa họ càng lớn thì mâu thuẫn giữa họ càng lớn.
Trong suốt năm 2017, người ta đã chứng kiến thế đối đầu gay gắt giữa Nga-Mỹ cùng với phương Tây. Suy cho cùng là mâu thuẫn về hệ thống lá chắn tên lửa của Mỹ ở châu Âu và việc NATO kết nạp các thành viên, đông tiến tới sát biên giới Nga, dẫn đến việc Nga tiến hành các biện pháp quân sự ở Gruzia, sau đó là thu hồi bán đảo Crimea để bảo vệ lợi ích. Hậu quả là những biện pháp trừng phạt ăn miếng trả miếng áp dụng với nhau thực sự đã đẩy quan hệ hai nước vào một vòng xoáy đối đầu chưa có điểm dừng.
Đỉnh điểm của căng thẳng là việc Quốc hội Mỹ thông qua luật siết chặt các biện pháp trừng phạt Nga kèm theo các điều khoản đặt Tổng thống Trump vào tình thế buộc phải ký luật ban hành. Nga coi đây là hành động khiêu chiến nên đã quyết định trục xuất 755 nhà ngoại giao Mỹ, đồng thời không cho Đại sứ quán Mỹ ở Nga sử dụng một số cơ sở ở thủ đô Moscow. Đáp lại Mỹ yêu cầu Nga đóng cửa Tổng lãnh sự quán tại thành phố Francisco cùng với hai thương vụ ở New York và Washington. Leo thang căng thẳng lan rộng sang lĩnh vực kinh tế, quân sự đẩy tình hình quan hệ hai nước trở nên tồi tệ nhất kể từ sau chiến tranh lạnh.
Điểm sáng duy nhất trong quan hệ Mỹ-Nga có lẽ là việc hai nước hợp tác chống khủng bố và giải quyết khủng hoảng ở Syria. Cả hai đều coi việc tiêu diệt nhà nước IS là ưu tiên trong chính sách đối ngoại. Khi sắp kết thúc năm cũ, một số tín hiệu từ Nhà Trắng và Điên Kremlin cho thấy cả hai nước đều không muốn đối đầu giữa hai nước thành cuộc đối đầu một mất một còn. Phía Mỹ thông báo cho Nga ngăn chặn một vụ khủng bố lớn và tuyên bố nỗ lực xây dựng lòng tin đối với Nga; trong khi Nga chân thành cám ơn và khẳng định chưa bao giờ đóng của với Mỹ.
Mặc dù hai tổng thống Mỹ, Nga trong thông điệp đầu năm đều tỏ ra lạc quan về triển vọng hợp tác trong những lĩnh vực hai bên cùng có chung lợi ích, nhưng tôi tin trong năm 2018 quan hệ giữa hai nước vẫn bị phủ bóng vì những biến động trong mối quan hệ rất phức tạp và đầy sóng gió giữa hai cường quốc này trong những năm qua và đặc biệt là trong năm 2017.
Nhằm giảm áp lực của Mỹ và phương Tây, Nga không còn con đường nào khác là tăng cường quan hệ với Trung Quốc. Nga hy vọng Trung Quốc sẽ khỏa lấp những thiệt hại từ việc trừng phạt của Mỹ và Phương Tây. Có lẽ quan hệ Mỹ, Nga căng thẳng quốc gia được hưởng nhiều lợi ích nhất là Trung Quốc. Một mặt nó giảm áp lực của Mỹ đối với một loạt vấn đề đối với Trung Quốc, một mặt nó đẩy quan hệ giữa Nga, Trung vào một thế liên kết chính trị rất có lợi cho Trung Quốc, cả về mặt chính trị, kinh tế lẫn quan hệ quân sự, quốc phòng. Quan hệ Nga-Trung trong năm qua có thể nói là “đang ở vào thời điểm tốt nhất trong lịch sử”.
Trong cuộc gặp gỡ gần đây nhất, Tổng thống Putin và Chủ tich Tập Cận bình đã nhất trí thúc đẩy hợp tác song phương, tăng cường trao đổi chính sách, phối hợp hành động trong những vấn đề quan trọng của khu vực và toàn cầu, nhằm đối phó với các thách thức (từ Mỹ và phương Tây) góp phần ổn định hòa bình và thịnh vượng chung. Ông Putin còn cho rằng hai nước cần tăng cường ủng hộ lẫn nhau; đẩy mạnh việc phối hợp, xử lý các vấn đề lớn trên thế giới. Còn ông Tập Cân Bình thì nhấn mạnh đến việc tăng cường liên lạc, tăng cường phối hợp hành động để đối phó với những nguy cơ và thách thức (từ Mỹ và phương Tây).
Quan hệ Nga-Trung hiện nay gần giống như quan hệ Liên Xô và Trung Quốc trong những năm 50 đến giữa những năm 60 của thể kỷ trước. Thời gian đó quan hệ của họ là quan hệ đồng minh cùng chung một chiến hào chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. Còn bây giờ quan hệ của họ là quan hệ đối tác chiến lược. Bắc kinh tìm kiếm quan hệ đối tác chiến lược với Nga để chống lại cái thế của liên minh Mỹ, Nhật. Trong khi Nga tìm kiếm quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc chủ yếu tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây (tất nhiên có cả việc chống lại áp lực quân sự của Mỹ và NATO). Tuy nhiên cả Nga và Trung Quốc đều không mong muốn đối tác của mình, nghĩa là hoặc Nga hoặc Trung trở thành siêu cường duy nhất thay thế Mỹ trong một tương lai xa. Tôi tin rằng nếu kịch bản này xảy ra thì một trong hai nước sẽ lại bắt tay với Mỹ để hạ gục đối thủ.
Tôi cũng không tin Nga và TQ có ý định xây dựng liên minh quân sự chống lại siêu cường Mỹ. Tình thế chưa đến mức buộc họ phải làm điều đó. Nga chắc không quên được bài học Mỹ và TQ bắt tay nhau từ cuối thập niên 60 đến cuối thập niên 80 để bao vây và chống Liên Xô, cho đến khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991. Nga và TQ đều có quan điểm là trở thành một cực trong thế giới đa cực đang định hình. Họ muốn chứng tỏ rằng, trật tự thế giới hiện nay không phản ánh những lợi ích của họ và họ sẽ nỗ lực cải biến hệ thống này, chí ít với TQ là về mặt kinh tế, với Nga là về mặt an ninh, quân sự. Họ chỉ đi với nhau khi cả hai nước là một cực trong thế giới đa cực mà thôi.
Trong lịch sử, quan hệ Mỹ-Trung cũng rất phức tạp và đầy sóng gió. Đầu những năm 50 và trong thập niên 60 của thế kỷ trước họ là kẻ thù không đội trời chung. Nhưng bước sang thập niên 70 họ đã bắt tay nhau cùng chống lại Liên Xô cho đến khi LX sụp đổ. Trong thời gian đó, TQ đã lợi dụng vốn, công nghệ, thị trường Mỹ và phương Tây để trỗi dậy. Sau 30 năm, sản lượng kinh tế của TQ đã tăng gấp 20 lần. TQ từ một nước trong thập niên 60 của thế kỷ trước chết đói hàng chục triệu người đã trở thành một quốc gia có khối lượng thương mại lớn nhất thế giới và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Ảnh hưởng về chính trị của TQ ngày càng lan rộng và mạnh mẽ. Nước này không ngừng tăng cường hiện đại hóa quân đội, tăng cường đầu tư tiềm lực quốc phòng. TQ cho rằng họ xứng đáng có một vai trò lớn hơn trong khu vực và toàn cầu.
Tuần trăng mật giữa Mỹ-TQ bắt đầu tan biến từ giữa thập niên đầu của thiên kỷ mới. Họ trở thành đối thủ cạnh tranh sau những hành động bành trướng của TQ trên Biển Đông, Hoa Đông và sau sự thâm hụt thương mại khổng lồ giữa hai nước. TQ đã tạo ra thách thức đối với Nhật Bản trên quần đảo Senkaku do Nhật kiểm soát, tiến hành các hoạt động bồi đắp các đảo xâm chiếm của Việt Nam, biến nó thành các căn cứ quân sự. Hành động của Bắc kinh đã khiến Wasington cho rằng TQ đang biến Biển Đông thành cái ao nhà để từ đó thiết lập việc quản lý trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vì vậy Mỹ đã tăng cường hiện diện quân sự ở khu vực này để bảo vệ lợi ích an ninh của Mỹ và đồng minh. Đương nhiên cuộc chiến không tiếng súng giữa hai nước bắt đầu ngày một căng thẳng (xin xem chuyên luận Quan hệ Trung-Mỹ sẽ đi về đâu của tôi trong blogchiasett).
Trong năm 2017 Mỹ thể hiện thái độ cứng rắn trên một số vấn đề với TQ. Vào tháng 6 Washington đã cáo buộc Bắc Kinh vi phạm nhân quyền và tự do báo chí tại Hồng Kông vào đúng lễ kỷ niệm 20 năm vùng lãnh thổ này trở về với TQ. Cũng vào thời điểm này, Mỹ đã bán cho Đài Loan lô vũ khí trị giá 1,4 tỷ USD. TQ đã chỉ trích hành động của Mỹ là "vô trách nhiệm". Tiếp đến là cuộc chiến thương mại bùng phát khi Wasington cáo buộc Bắc Kinh đối xử không công bằng với các công ty Mỹ, thực hiện chính sách bảo hộ khiến thâm hụt thương mại về phía Mỹ lên tới 347 tỷ USD. Bên cạnh đó, Mỹ cũng khởi động điều tra Điều 301, Đạo luật thương mại Mỹ vì TQ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Mỹ còn cáo buộc TQ giao dịch bất hợp pháp với Triều Tiên. Và cách đây mấy ngày, Mỹ công bố Chiến lược an ninh quốc gia mới, khẳng định TQ và Nga là những đối thủ “đang cố gắng làm suy yếu sự thịnh vượng và an ninh Mỹ”. Động thái này khiến Nga, TQ lên tiếng phản đối giận dữ.
Những tín hiệu mang tính đối đầu giữa Mỹ-TQ nhiều khả năng sẽ đẩy chính quyền hai nước thận trọng hơn trong mối quan hệ song phương, tìm cách kiềm chế nhau mạnh mẽ hơn nữa. Theo đó, trong năm 2018, cuộc cạnh tranh quyền lực Mỹ-Trung diễn ra gay gắt và có thể tạo ra điểm khởi đầu bất ổn trong quan hệ giữa hai nước. Các nhà phân tích đã chỉ ra 4 ngòi nổ căng thẳng. Đó là: i, sự va chạm chủ ý và không chủ ý trong việc thực thi quyền tự do hàng hải ở Biển Đông: ii, vấn đề nguyên tắc một TQ và bán vũ khí cho Đài Loan: iii, vấn đề hạt nhân của Triều Tiên; iiii, vấn đề thương mại mất cân bằng. Mặc dầu vậy, có ít khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hoặc xung đột quân sự, vì cả hai nước quá phụ thuộc nhau về mặt kinh tế.
Trong lịch sử, cái trục tam giác quan hệ Mỹ-Nga-Trung không ngừng vận động, dịch chuyển. Tôi có linh cảm năm 2017 đã bắt đầu xuất hiện một số yếu tố thúc đẩy cái trục tam giác này vận động, dịch chuyển nhanh hơn. Năm 2018 và một vài năm tiếp theo có thể xuất hiện thêm những yếu tố bất ổn thúc đẩy nó. Đặc biệt qua chiến lược an ninh của Mỹ, tôi nhận thấy Mỹ bắt đầu bước sang một giai đoạn mới trong việc tiếp cận với các vấn đề quốc tế. Chính quyền Mỹ nhận thức được cán cân sức mạnh toàn cầu đang dịch chuyển theo hướng không có lợi cho họ. “Kỳ nghỉ mấy thập kỷ” sau Chiến tranh Lạnh giữa các cường quốc có thể đã chấm dứt. Mối quan hệ giữa Mỹ-Nga-Trung từ năm 2018 sẽ cạnh tranh hơn là hợp tác. Nước Mỹ bắt đầu thay đổi, kéo theo trục quan hệ Mỹ-Nga-Trung cũng sẽ thay đổi. Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng Mỹ vẫn là tác nhân chủ yếu tạo ra sự thay đổi trong trục tam giác quan hệ Mỹ-Nga-Trung. Tùy theo sức mạnh tổng hợp của Mỹ, tùy theo lợi ích và vị thế Mỹ, bàn cờ chính trị quốc tế sẽ có những biến chuyển mới trong những năm tới.
Read More

Ba ông lớn trước ngưỡng của năm mới (phần 1)

Leave a Comment
Năm 2017 sắp kết thúc. Báo chí trong, ngoài nước bắt đầu nhìn lại 10 sự kiện nổi bất nhất, đồng thời dự báo những xu hướng theo từng chuyên ngành trong năm 2018. Ở lĩnh vực chính trị quốc tế, về cơ bản tôi đồng ý với những sự kiện mà các báo chí bắt đầu đưa ra bình luận. Trong đó, Mỹ, Trung Quốc, Nga là ba quốc gia được nhắc đến nhiều nhất. Tương ứng với ba ông lớn trên là ba cái tên nổi bật, đặc biệt đáng chú ý trong số hàng chục ngôi sao trên chính trường quốc tế: Tổng thống Mỹ Donald Trump, Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Nói theo ngôn ngữ quan hệ quốc tế thì Mỹ, Nga, Trung Quốc là những nước chủ yếu đã chi phối đời sống chính trị quốc tế trong năm qua (tất nhiên là cả trong thời gian trước), từ những vấn đề về Trung Đông cho tới Biển Đông, từ những vấn đề Triều Tiên cho tới Iran. Nói theo lập trường quan điểm của một số quốc gia yếu thế thì ba quốc gia đã và đang can thiệp, lũng đoạn những khu vực, đất nước để đảm bảo và đem lại lợi ích tối đa cho quốc gia họ. Cái tam giác quan hệ Mỹ, Nga, Trung từ sau Chiến tranh thế giới đến nay không ngừng dịch chuyển, vận động. Trong những năm tới tôi chắc nó vẫn tiếp tục như vậy. Bởi vì lợi ích quốc gia của ba nước khác nhau nên họ toan tính, phát ngộn và hành động theo từng thời điểm khác nhau.
Ba người đàn ông, theo đúng nghĩa của nó, định hướng, dẫn dắt, chèo lái ba cường quốc. Một là siêu cường vẫn đang ngự trị thế giới có vẻ đang đi xuống và hai cường quốc còn lại thì đã từng là siêu cường trong quá khứ. Nhưng trong những năm gần đây, họ cùng với quốc gia của họ nổi lên với khát vọng trở thành một cực trong thế giới đa cực đang định hình. Họ có hoàn cảnh, tuổi tác, xuất thân hoàn toàn khác nhau, nhưng đều giống nhau ở một điểm là theo đuổi lợi ích dân tộc, quyết tâm đưa vị thế của quốc gia mình lên đến đỉnh cao như có thể. 
Tổng thống Trump xuất thân từ một gia đình doanh nhân. Bản thân ông cũng là một doanh nhân dày dạn, một tỷ phú bất động sản, một nhà hoạt động, sản xuất, quản lý, kinh doanh truyền hình. Gần như tất cả các nhà phân tích và giới tinh hoa chính trị Mỹ và ở các nước trên thế giới đều coi ông là “dân ngoại đạo”, tức không phải là dân chính trị chuyên nghiệp. Việc ông bước vào nhà Trắng đương nhiên sẽ có nhiều biến động trên vũ trường chính trị cả trong lẫn ngoài nước. Và nước Mỹ là một quốc gia đặc biệt. Họ đã từng bầu một người bị liệt ngồi trên xe lăn làm tổng thống của Hiệp chủng quốc tới 4 nhiệm kỳ (Tổng thống Franklin Roosevelt), thì việc họ bầu ông Trump làm Tổng thống thứ 45 không có gì là lạ. Người dân Mỹ không còn tin vào giới chính trị nên bầu cho Trump.
Liệu ông Trump có thể làm cho nước Mỹ “vĩ đại trở lại” khi mà nền kinh tế Mỹ vốn dĩ đứng đầu thế giới với GDP 18.600 tỷ đô la (vượt xa quy mô nước đứng thứ 2 hơn 6000 tỷ) bắt đầu tăng trưởng trở lại? Liệu ông có đem “công ăn việc làm trở lại cho người dân Mỹ” khi mà tỷ lệ thất nghiệp hơn 4% vốn đã thấp nhất thế giới? Liệu ông có làm cho quân đội Mỹ hiện vẫn đứng đầu thế giới (chi tiêu quân sự của Mỹ năm 2017 khoảng 620 tỷ đô la, bẳng tổng chi phí quân sự của 9 quốc gia lớn nhất đứng sau Mỹ cộng lại: Trung Quốc, Nga, Saudi Arabia, Anh, Pháp, Đức, Ấn Độ…) còn hùng mạnh lên chưa từng có trong lịch sử nước này (xin xem chuyên luận Mỹ là siêu cường và vẫn sẽ là một siêu cường của tôi trong blogchiasett)?
Ông Putin xuất thân trong một gia đình công nhân. Ông học luật nhưng lại làm việc trong cơ quan tình báo Liên Xô. Sau khi Liên xô tan rã, Putin trở lại xã hội dân sự, được bổ nhiệm làm lãnh đạo bộ phận ở một trường đại học rồi đến lãnh đạo cấp thành phố, văn phòng bộ về vấn đề quan hệ quốc tế. Bước đường chính trị của ông thăng tiến khi được Tổng thống Nga Boris Eltsin tín nhiệm. Ông từng giữ cương vị thủ tướng, tổng thống nhiều khóa, đưa nước Nga thoát ra khỏi khủng hoảng vô vọng đầu những năm 2000. Dưới sự lãnh đạo của ông, trong hai nhiệm kỳ đầu làm tổng thống, GDP của Nga tăng lên gấp 6 lần. Ông đã giúp cho nước Nga từng bước phục hồi, đẩy lùi chủ nghĩa khủng bố, tăng cường sức mạnh quân đội, đảm bảo an ninh quốc gia, lấy lại niềm tin cho nhân dân Nga. Không phải ngẫu nhiên trong 4 năm liên tiếp Tổng thống Putin đứng đầu danh sách những người có tầm ảnh hưởng nhất thế giới do Tạp chí Time và Tạp chí Forbes (Mỹ) bình chọn. Trong nhiệm kỳ Tổng thống năm 2012 đến năm 2018, Tổng thống Putin đưa bán đảo crimea về với Nga, đưa quân đội vào Syria tiêu diệt thành công nhà nước IS, tạo ra một cục diện mới ở Trung Đông, thực sự đưa nước Nga trở lại vị thế của một cường quốc, một cực trong thế giới đa cực đang định hình (xin xem chuyên luận Nước Nga đang trở lại vị thế cường quốc của tôi trong blogchiasett). 
Nhiệm kỳ của ông Putin sắp hết. Ông tuyên bố tiếp tục ra ứng cử vào tháng 3/2018. Có khả năng ông sẽ trúng cử bởi 80% người dân Nga ủng hộ ông. Nhưng liệu ông Putin có thể chuyển dịch thành công nền kinh tế vốn phụ thuộc vào dầu mỏ lên ngang tầm với vị thế của một cường quốc về kinh tế nếu ông được cầm quyền? Liệu ông có thể cải thiện được quan hệ với Mỹ, với EU qua việc mặc cả với Hoa Kỳ và EU về Trung Đông, về Ucraina trong năm 2018? Liệu ông có đủ sức giữ được ngôi vị siêu cường về quân sự, thuyết phục các cường quốc để đưa Nga trở thành nhà trung gian hòa giải những vấn đề gai góc của quốc tế như Trung Đông, Triều Tiên để khẳng định vị thế như một siêu cường toàn cầu?
Ông Tập Cân Bình xuất thân trong một gia đình quan chức, bố ông từng giữ cương vị phó thủ tướng. Nhưng bước đường chính trị của ông không hề bằng phẳng. Ông tự khẳng định mình từ cán bộ đảng lãnh đạo ở một đội sản xuất nông nghiệp, rồi trở thành cán bộ lãnh đạo đảng cấp huyện, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18 vào tháng 11 năm 2012 đã đưa Tập Cận Bình vào cương vị lãnh đạo cao nhất sau đó một thời gian. Giới quan sát đã nhận xét ông là một chính trị gia trầm tĩnh, kín đáo, ẩn chứa bên trong một sức mạnh tiềm tàng. 
Trong 5 năm qua, ông Tập đã củng cố và xác định được vị trí, vai trò của mình. Sau Đại hội ĐCSTQ khóa 19 vào tháng 10 năm 2017, ông trở thành lãnh đạo hạt nhân mà tư tưởng được ghi vào trong Điều lệ của ĐCSTQ, là một trong những nhà lãnh đạo có quyền lực nhất thế giới. Ông không cần “giấu mình chờ thời” mà công khai tuyên bố đưa TQ bước vào một thời kỳ mới, biến TQ thành một siêu cường. Liệu ông Tập có thành công trong việc đoàn kết toàn đảng, toàn dân tiếp tục chống tham nhũng, cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thành kế hoạch “Vành đai, Con đường”, xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh hàng đầu thế giới để phục hưng “giấc mộng “Trung Hoa vĩ đại”, chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ, tiến tới chi phối và quản trị toàn cầu?
Bộ máy chính quyền ba quốc gia Mỹ, Nga, Trung và ba người đàn ông Donald Trump, Vladimir Putin, Tập Cận Bình, những người đứng đầu ba cường quốc trước ngưỡng cửa năm 2018 có thể đem lại hòa bình hoặc đưa đến chiến tranh cho nhân loại? Câu hỏi vẫn chưa có lời giải đáp. Nó tùy thuộc vào lợi ích và vị thế của họ trong những năm tới. Chỉ biết rằng chính quyền Mỹ, Nga, Trung và ba nhân vật đứng đầu đều theo đuổi lợi ích dân tộc của họ, tăng cường tối đa cho tiềm lực quốc phòng. Số tiền chính quyền họ chi cho quốc phòng đủ để nuôi sống cả nhân loại, nhưng họ vẫn chỉ biết theo đuổi lợi ích dân tộc của họ, mà lợi ích dân tộc của họ nhiều khi lại không song hành với lợi ích của các dân tộc nhược tiểu.
Read More

Trung Đông bao giờ hết bạo lực?

Leave a Comment
Tuần vừa qua Trung Đông (TĐ) nhận một tin vui và một tin buồn. Tin vui là nhà nước tự xưng IS đã hoàn toàn bị tiêu diệt ở Iraq, Syria. Tin buồn là Tổng thống Donald Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Nhiều nhà quan sát cho rằng khu vực TĐ bất ổn này không những không có thời gian để ăn mừng mà còn có khả năng rơi vào một vòng xoáy bạo lực mới.
TĐ là nơi khởi nguồn, là trung tâm của ba tôn giáo: Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Từ hàng nghìn năm nay, nơi đây đã trải qua nhiều giai đoạn bạo lực đẫm máu, gắn liền với sự hình thành và xác lập đạo Hồi của nhà tiên tri Mohamed. Tiếp đến là một cuộc chiến tranh tôn giáo kéo dài gần nửa thiên kỷ mà sử sách vẫn gọi là cuộc Thập Tự Chinh diễn ra từ năm 1095 đến năm 1291 và còn kéo dài cho đến thế kỷ 15. Mục đích chính của cuộc Thập Tự Chinh là phục hồi sự kiểm soát của Kitô giáo ở vùng đất thánh Jerusalem.
Trong thế kỷ 20, TĐ nằm trong khu vực trung tâm của các sự kiện quốc tế về chiến lược kinh tế, chính trị và tôn giáo. Nó còn là cái rốn dầu lửa của thế giới, hội tụ nhiều lợi ích cũng như mâu thuẫn của các cường quốc trong và ngoài khu vực, vì vậy nhiều cuộc chiến tranh trong khu vực đã xảy ra. Ví dụ Chiến tranh A Rập-Israel (1948), Chiến tranh Suez (1956), Chiến tranh sáu ngày (1967), Chiến tranh tiêu hao (1970), Chiến tranh Iran-Iraq (1980), Chiến tranh giữa liên quân do Mỹ đứng đầu và Iraq(2003)…
Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, TĐ vẫn không một ngày được bình yên. Do nhiều nguyên nhân, mảnh đất này là nơi phát sinh và nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa quái thai, chủ nghĩa khủng bố (xin xem bài Khủng bố một góc nhìn lịch sử và văn hóa của tôi trong blogchiasett). Và từ đầu những năm 2000 cho đến nay, không ngày nào TĐ im tiếng bom đạn cuộc chiến chống khủng bố cùng với sự hỗn loạn của phong trào Mùa xuân A Rập.
Cũng từ khu vực TĐ, ngày 29/6/2014, nhà nước Hồi giáo tự xưng IS tuyên bố thành lập với đường biên bao trùm nhiều quốc gia TĐ. Hàng triệu người dân TĐ phải chịu khổ đau, tang tóc trong cảnh màn trời chiếu đất. Hàng triệu người lũ lượt rời bỏ đất nước vượt biển di tản… Sau hơn ba năm nỗ lực, Chính quyền Iraq và Syria cùng với sự nỗ lực của Mỹ, Nga và liên minh chống khủng bố của hơn 60 nước mới lật đổ được nhà nước IS. Khói lửa cuộc chiến chống nhà nước IS chưa kịp tan, TĐ lại rung chuyển bởi tuyên bố của Chính quyền Trump về số phận “đất thánh Jerusalem”.
Hành động của chính quyền Trump đã gây phản ứng dữ dội trên toàn thế giới. Nhiều nước coi bước đi của Mỹ là nguy hiểm. Liên đoàn A Rập đã yêu cầu Washington hủy bỏ tuyên bố về Jerusalem vì nó có nguy cơ hủy hoại hoàn toàn tiến trình hòa bình TĐ vốn đã mong manh. Nó có thể dập tắt hy vọng của người Palestine về một nhà nước độc lập với Đông Jerusalem là thủ đô tương lại của họ. Trong khi đó, Thủ tướng Israel hân hoan với việc Mỹ ủng hộ quốc gia của mình và đang công du châu Âu, vận động EU công nhận quyết định của Mỹ.
Tương lai TĐ sẽ ra sao? Số phận người Palestine sẽ ra sao? Ánh sáng vẫn chưa thấy le lói trong con đường hầm bạo lực này.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.