Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Chuyện ở Hạ Long

Leave a Comment

 Chuyện ở Hạ Long

Tôi đã đến thăm Hạ Long nhiều lần và không nhớ chính xác mình đã đến đây bao nhiêu lần nữa. Hạ Long để lại trong tôi nhiều ấn tượng, nhất là lần đầu tiên, lần này và có thể là những lần sau nữa. Tôi chắc như vậy, bởi nơi đây cho đến chuyến đi này tôi mới biết thêm về những đồng đội đã vào sinh ra tử với Trung đoàn 3, với Sư đoàn 324 gắn bó của chúng tôi.
7h anh em chúng tôi ra cảng tàu quốc tế. Buổi sáng Hạ Long thật đẹp. Biển xanh lục mênh mông gợn sóng, hiền hòa. Lãng đãng từng đám mây trắng gắn với nền trời xanh thẳm. Những làn gió cuối thu se lạnh trở về. Con tàu chầm chậm trôi đi. Chúng tôi ngồi sát bên nhau trên bong ngắm nhìn biển trời, non nước.
Với một số đồng đội, đây là lần đầu tiên được đi du thuyền trên vịnh. Nghe các anh giãi bày tôi chạnh lòng thương cảm. Có anh ít cũng ba bốn năm ở chiến trường. Có anh dăm sáu năm. Có anh mươi mười lăm năm như anh Hiếu, anh Dũng, anh Tầng. Có anh đến gần 20 năm như anh Phúc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Anh hùng… Bao năm anh em ở chiến trường Việt Nam và Lào đầy gian khổ, hiểm nguy. Rời quân ngũ lại phải lăn lộn với cuộc sống mưu sinh trong những năm tháng kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng, khó khăn. Gần như người nào cũng mang trên mình mảnh đạn, mảnh bom. Khi trái nắng trở trời, sương muối, giá rét, từ đầu đến chân người thương, bệnh binh ê ẩm, nhức buốt. Vì vậy không ít đồng đội đã sớm từ dã cõi nhân thế về với cát bụi. Tiểu đội mười hai người thời huấn luyện còn lại tôi và anh Thắng. Hôm nay anh bận không đi được với đoàn.
Chiều hôm trước tất cả anh em đều hăm hở xuống biển tắm. Lội đến đầu gối, nhiều anh em run lẩy bẩy, phải vội lên bờ. Ngắm nhìn những cặp dò gầy guộc, teo tóp đi trên bờ cát, mọi người phá lên cười, cười đến chảy nước mắt. Đến tắm biển cũng không xong. Vậy mà anh em còn tán nhau “tạm ứng” bán cặp dò cho địa phủ nấu cao. Tôi nghĩ nếu có nơi ấy, chắc chẳng quỷ sứ nào muốn mua những cặp dò khẳng khiu đầy những vết sẹo chinh chiến này.
Con tàu đưa đoàn chúng tôi đến Hang Sửng Sốt, một trong những hang động nổi tiếng nhất nằm trong khu vực lõi vịnh Hạ Long, được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hang động này nằm trên Đảo Bồ Hòn, cùng với hang Luồn và hang Trinh Nữ. Hang Sửng Sốt được biết đến vào năm 1901 khi người Pháp phát hiện ra hang động và đặt biệt danh “La Grotte des Surprises” (Hang động đáng kinh ngạc) vì sự kỳ vĩ của nó. Một số tổ chức du lịch đã bình chọn hang Sửng sốt là một trong những hang động đẹp nhất Việt Nam, được tạp chí CNN Travel đưa vào danh sách 7 hang động tuyệt mỹ trên dải đất hình chữ S.
Đến hang Sửng sốt phải bước lên hàng trăm bậc đá cao. Hang có diện tích khoảng 10.000m2. Mái vòm hang cao khoảng 30m và có lối đi dài đến nửa cây số. Bên trong hang chia làm 3 khu. Khu thứ nhất có diện tích 300m2. Nơi này nền động thấp. Mọi người phải qua những bậc thang đi xuống. Có một hồ nước nhỏ tựa như một chiếc gương trong suốt, được hình thành bởi nước chảy từ trần động len qua các khe nứt đá vôi.
Đoàn chúng tôi men theo bậc đá vào bên trong khu thứ hai. Diện tích rộng gấp đôi khu thứ nhất. Trần thạch nhũ ở khu này bị phong hóa khá nhiều do có nhiều vòm cao khoảng 40m so với nền động. Không khí trong hang khá thông thoáng với nhiều nhũ đá hình thù kỳ vĩ.
Khu thứ Ba là khu tạo nên cái cảm giác “sửng sốt”. Vào đến đây, chúng tôi dường như vỡ òa trước không gian rộng lớn với những nhũ đá lung linh, huyền ảo đến mức dù đã xem ảnh trước trên smart phone, mọi người vẫn phải “ồ” lên sửng sốt. Khu này có nhiều ngóc ngách, du khách tha hồ khám phá, tưởng tượng những khối đá thành đủ hình thù kỳ lạ ở trên đời.
Trong đoàn chỉ một mình “anh cả”, anh Hiếu ngồi lại trên tàu, không lên theo cùng anh em. Năm nay anh 81 tuổi, nhiều tuổi nhất trong đoàn. Mặc dù phải chống gậy nhưng anh vẫn cố gắng tham gia. Anh nói với tôi “còn sức còn đi với các chú. Bao giờ không đi được, thỉnh thoảng các chú tổ chức lên Bắc Giang chơi với anh!”.
Tôi tả và cho anh xem ảnh bên trong động. Anh xuýt xoa tiếc mình không thể đi theo đoàn. Tôi dìu anh xuống tàu tìm chỗ đẹp để chụp ảnh cùng với chị, người vợ tần tảo mấy năm nay đi theo để chăm sóc anh. Anh yêu cầu tôi chuyển những tấm ảnh chụp trong động sang máy anh để lúc về “rỗi rãi giở ra xem”.
Cao tuổi như vậy mà mấy năm trước anh vẫn tự cho mình có “bổn phận” phải dẫn thân nhân liệt sĩ đi tìm hài cốt đồng đội tại Hướng hóa, Phong Điền, A Lưới, những huyện miền núi giáp biên giới Lào của Trị Thiên. Trí nhớ của anh thật tuyệt vời. Nhiều năm đã trôi qua, có thể nói là “vật đổi sao dời”, vậy mà anh vẫn xác định được chỗ yên nghỉ của những đồng đội. Anh kể cho tôi nghe lần gần đây nhất anh cùng anh Thắng, anh Ích đi tìm mộ anh Đặng Văn Chiến, quê Thái Bình.
Vào một ngày đầu tháng 5 năm 1971, Anh Hiếu cùng đồng đội đi trinh sát thực địa chuẩn bị cho chiến dịch. Nhóm của anh đi theo đường mòn trong rừng. Với trực giác của người lính cũ, anh cố rướn lên để nói với đồng đội không đi theo lối mòn, phải cắt rừng tìm đường đi. Mới bước lên được một đoạn, định vỗ vai anh Chiến ra hiệu thì tất cả trời đất đã tối sầm lại. Một quả mìn phát nổ. Anh Chiến vừa trúng mìn vừa trúng đạn thẳng hy sinh ngay tại chỗ. Anh Hiếu thì bị thương ngất đi.
Sau cuộc giao tranh ngắn ngủi, bọn thám báo luồn lủi vào rừng sâu. Anh em đơn vị kịp thời đến ứng cứu. Anh Hiếu tỉnh dậy, dự lễ an táng đồng đội trên quả đồi, bên dưới là con suối Hoa. Sau gần năm mươi năm, chỉ sau hai ngày đến Huế, anh Hiếu dẫn người nhà anh Chiến và bộ phận chính sách của tỉnh đội Thừa Thiên tìm đến đúng vị trí ngôi mộ năm xưa. Đúng như anh Cảnh, người cùng đơn vị dự đoán từ trước khi đi, “ngôi mộ có thể đã bị chuyển đi”. Quả vậy, đoàn không tìm thấy ngôi mộ. Điều tra qua dân quanh khu vực được biết chính quyền đã đưa ngôi mộ vào nghĩa trang liệt sĩ của xã cách đó vài km.
Thật may mắn! Ngôi mộ có tên tuổi anh Chiến nằm trong nghĩa trang của xã. Khi bốc mộ vẫn còn chiếc bình tông của anh Chiến khắc tên ngày tháng năm sinh, quê quán. Anh Hiếu tâm sự “Đấy là lần anh cảm thấy mãn nguyện nhất trong số những lần đi tìm đồng đội. Chứng kiến việc Tỉnh đội Thừa Thiên cùng nhân dân trong xã làm lễ tiễn đưa liệt sĩ và cho xe đưa đón, cử đại diện về dự lễ an táng anh Chiến tại quê nhà, anh không cầm được nước mắt”.
Anh Hiếu bỗng lặng im. Trên khuôn mặt anh chằng chịt những nếp nhăn, dãi dầu. Người lính già tưởng chừng như đã khô nước mắt vì những trải nghiệm sinh tử, nhưng tôi vẫn thấy một dòng nước mắt chảy xuống những tấm huân chương chiến công đeo trên ngực . Tôi không dám hỏi chuyện anh tiếp. Một lúc sau anh nghẹn ngào “Anh Chiến đã hứng trọn quả mìn để anh sống đến bây giờ…”
Đến đảo Ti Tốp, gần hang Đầu Gỗ, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 7 km về phía đông nam. Đảo có bãi cát hình vành trăng lưỡi liềm. Cát ở đây được thủy triều rửa sạch trắng tinh. Nước biển trong veo. Đúng là một bãi tắm lý tưởng. Nơi đây, vào đầu những năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhà du hành vũ trụ người Liên Xô Giéc Man Ti Tốp lên thăm đảo. Để ghi dấu kỷ niệm chuyến đi đó, Một bức tượng về ông đã được tạc đứng sừng sững dưới chân đảo như một biểu tượng bất diệt về tình hữu nghị Việt Xô.
Ngày nay đảo Ti Tốp là một điểm dừng chân ưa thích, thu hút rất nhiều du khách đến tắm biển. Người ta leo lên núi dốc đứng chinh phục đỉnh núi cao và chiêm ngưỡng toàn cảnh Vịnh Hạ Long. Phải leo lên gần 500 bậc đá mới tới nơi. Cả đoàn hơn 40 người, chỉ có mấy anh em chúng tôi lên được tới nhà Bát giác để thu biển trời vào trong tầm mắt. Thật sảng khoái. Gió lồng lộng, mát rượi, xua tan nỗi mệt nhọc. Trong số anh em lên tới tận cùng, ngoài chị Lý, chị Tống Lương là thân nhân liệt sĩ, có anh Liễu dũng sỹ diệt Mỹ, cho đến nay vẫn là người nhanh nhẹn nhất. Có anh Dũng, người anh hùng của đường 12 trong suốt những năm dài chống Mỹ. Có anh Tầng, người anh hùng trên điểm cao 1062 nổi tiếng trong chiến dịch Nông Sơn, Thượng Đức.
12h kết thúc chuyến đi du thuyền ngắm cảnh Vịnh Hạ Long. Đoàn chúng tôi trở về hội trường giao lưu ở khách sạn Tiên Sơn. Bước vào hội trường, tôi thấy một màn hinh rực rỡ với hình ảnh dòng chữ ở chính giữa “Cựu chiến binh Trung đoàn 3 Sư 324 khu vực Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Quảng Ninh”. Bên trên màn hình thỉnh thoảng xuất hiện một số hình ảnh các trận chiến đấu của Trung đoàn 3. Toàn bộ phông nền là hình ảnh biển trời di sản Vịnh Hạ Long.
Sau nghi lễ của Ban liên lạc, anh Trung lên chia sẻ câu chuyện xảy ra vào ngày thành lập Trung đoàn 3 năm trước, cũng tại hội trường khách sạn này. Đoàn cựu chiến binh khu vực bắc miền Trung bao gồm các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình về thăm Quảng Ninh. Trong buổi gặp gỡ, giao lưu anh em thấy thiếu mất một người. Anh Trung kể, “Tôi đặt cốc bia xuống bàn ăn, lên sân khấu khẳng định, không thiếu một ai. Anh Đạo người Quảng Bình rảo bước lên sân khấu. Anh nói với mọi người, thiếu anh Đoàn. Tôi vội thanh minh, anh ấy mất mấy năm nay rồi.”
Anh em còn nhớ, vào sáng ngày 16 tháng 5 năm 1969, sau thông lệ hàng giờ máy bay và phi pháo Mỹ dội bom đạn xuống trận địa, tiểu đoàn Dù Mỹ bắt đầu chia thành nhiều mũi tấn công lên hệ thống hầm chốt của Đại đội 6, Tiểu đoàn 8 trên Động A Bia. Mũi của anh Đoàn chờ cho bọn Mỹ đến gần đỉnh núi mới phát lệnh tấn công. AK, trung liên, lựu đạn, mìn ĐK10 kết hợp với B40 của ta đồng loạt nổ, băm nát trung đội Mỹ và đẩy một số tên sống sót chạy xuống đồi yên ngựa. Bọn Mỹ gọi máy bay ném bom, trực thăng vũ trang, phi pháo lồng lộn bắn trùm lên trận địa mãi tới gần trưa. Nhiều hầm hào bị sập, sụt lở. Một số đồng chí đã hy sinh. Anh Đạo chui xuống hầm moi tránh hỏa lực bị vùi lấp trong căn hầm đổ nát. Chính anh Đoàn đã dẫn đồng đội đến kịp thời giải cứu. Sau đó anh chỉ huy ba người còn lại trong tiểu đội, sử dụng nhiều loại vũ khí. Kể cả vũ khí thu được của Mỹ, kiên cường quần nhau với một trung đội Mỹ bổ sung, giữ vững trận địa cho tới khi trời tối…
Anh Trung cho biết anh Đoàn bị ung thư mất cách đây ba năm. Sau buổi giao lưu anh Trung đã đưa anh Đạo đến nhà anh Đoàn. Đến nhà, chưa kịp giới thiệu, anh Đạo đã nói: “Chắc hẳn đây là con ba Đoàn, giống hệt ba Đoàn ngày xưa. Năm 1968, mẹ cháu vào thăm ba cháu ở Quảng Bình. Lúc đó chú và ba cháu ở cùng một tiểu đội. Ba cháu đã cứu sống chú trong trận A Bia gần một năm sau đó. Vậy mà chú chưa một lần tới thăm. Hãy dẫn chú đến mộ ba cháu để chú được tạ lỗi!”
Ngồi ở bàn tiệc cạnh tôi có anh Vũ Thành. Anh và tôi được ban tổ chức xếp vào cùng một phòng nghỉ trong chuyến đi. Tháng trước tôi đến thăm nhà anh Thành ở phường Mai Dịch. Trong câu chuyện tâm tình, anh kể tôi nghe về những vết thương của mình. Ngày 4/6 năm 1969, Đại đội C11 của anh đang chốt bảo vệ một địa điểm trên khu vực A Bia thì nhận được tin lính Dù Mỹ đi vào vị trí của đơn vị. Ban chỉ huy đại đội yêu cầu anh Nghị điều tiểu đội đi truy kích đánh địch. Các anh lần đường lên núi. Đi khoảng 40 phút thì bất ngờ bị một loạt đạn đại liên của địch bắn xối xả. Anh Đồng quê ở Nam Sách, Hải Dương bị trúng đạn hy sinh. Theo lệnh anh Nghị, tiểu đội dàn hàng ngang trườn lên tiếp cận kẻ địch.
Hỏa lực bộ binh Mỹ bắn rất rát. Trực thăng vũ trang của chúng là sát ngọn cây vừa bắn vừa thả ựu đạn xuống. Anh Thành bị trúng nhiều mảnh đạn, máu ra rất nhiều. Anh Cam nằm phục bên trái anh Thành cũng bị thương nặng ở đầu. Anh Lê Văn Lân y tá trườn tới tiêm cầm máu và trợ lực. Sau đó Lân anh cắt đường rừng để các anh bò theo sau. Bò đi được một đoạn thì được anh em đồng đội đến chi viện, cáng về bênh xá trung đoàn. Kể từ ngày đó anh Thành không biết tin gì về anh Lân nữa. Không biết anh Lân còn hay đã mất. Anh Thành đã nhiều năm lặn lội đi tìm đồng đội. Hỏi han qua bao đồng chí các cấp thuộc trung đoàn. Anh đã nhiều lần đăng tin trên bản tin của Hội cựu chiến binh nhưng vẫn không có hồi âm…
Tình cờ đầu tháng 9 năm 2020, qua Facebook anh Thành liên lạc được với anh Nguyễn Tiến Tuấn, nguyên y tá đại đội 11. Anh Tuấn đã tìm được anh Lân đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh Thành xin được số điện thoại, điện cho anh Lân. Anh Lân đã bay ra Hà Nội dự cuộc gặp mặt cựu chiến binh Đại đội C11 vào ngày 14/9. Thế là sau 51 năm 3 tháng 10 ngày, các anh đã được gặp nhau trong niềm vui khôn xiết. Và họ hẹn với nhau vào ngày 14/9 sang năm sẽ cố gắng liên lạc để có mặt đầy đủ các anh em C11 trong những năm tháng chống Mỹ.
Anh Thành đã may mắn hơn anh Đạo. Anh đã gặp được ân nhân của mình. Trong buổi giao lưu anh cũng đứng lên chia sẻ, nhưng anh chia sẻ một câu chuyện khác, câu chuyện về con của các liệt sỹ, các cựu chiến binh. Câu chuyện và bài hát về tình đồng đội của anh khiến tôi vô cùng xúc động.
Tôi bỗng nhớ đến anh Triệu Giám, chuyến đi này anh bận không tham gia được. Rời quân ngũ, trở về đời thường, phải lăn lộn với cuộc sống, nhưng anh luôn lạc quan với tâm hồn của người nghệ sỹ. Anh đích thực là nhà thơ của tình đồng đội. Chính anh là người đầu tiên thiết kế cho anh em cựu chiến binh Trung đoàn 3 Quận Hai Bà và sau đó là anh em ở một số quận nội, ngoại thành trở về chiến trường xưa thắp hương cho đồng đội tại các chiến trường.
Trong chiến dich Nông Sơn-Thượng Đức, Trung đoàn 3 được giao nhiệm vụ chia cắt chiến dịch, tiêu diệt viện binh, kiềm chế các trận địa pháo cố định và cơ động từ Hà Sống đến núi Lở; tiêu diệt kẻ địch ở Ba Khe, gò Cấm và sẵn sàng đánh đich đổ bộ lên điểm cao 1062. Anh Giám đã tham gia các trận đánh ở Lâm Phụng, gò Ôm, Hà Sống, Hà Nha, Bàn Tân và trong trận đánh gần sông Vu Gia anh trúng mảnh đạn ngất đi. Anh Nhang người Phú Thọ đã xốc nách trườn lê đồng đội qua hàng trăm mét dưới làn đạn pháo rồi cõng anh về hậu cứ. Anh Giám cũng bặt tin anh Nhang đến 40 năm.
Bao năm anh Giám đã lặn lội đi tìm đồng đội cứu sống mình. Anh đã hỏi thăm tất cả những người anh quen biết ở Trung đoàn 3 mà anh biết. Anh đã đến tận tỉnh đội Phú Thọ, đến thành phố, thị xã và 11 huyện để tìm kiếm thông tin. Và rồi lần cuối anh mời tôi cùng một số anh em đến một huyện miền núi Tam Nông bằng xe máy. Tôi còn nhớ anh em vừa đi vừa hỏi thăm, từ sáng sớm đến gần trưa, qua một cánh đồng, dưới chân một ngọn đồi bao phủ rừng vầu, có một căn nhà tranh, anh Nhang sống ở đó. Họ đã gặp nhau và ôm lấy nhau trong niềm vui dâng trào của đồng đội…
Buổi giao lưu chia sẻ, hát hò kéo dài từ 12h đến hơn 3 giờ. Công bằng mà nói, anh em Quảng Ninh hát rất hay. Anh Thắng, anh Hồng ở Hà Nội hát đã gây ấn tượng nhưng so với đồng đội ở Quảng Ninh vẫn phải nhường vài phân. Kết thúc chương trình chị Đức, vợ anh Phúc (Chị thường xuyên đi với đoàn chăm sóc anh. Chúng tôi rất quý trọng chị. Có lần trước sân khấu, nói về những gian nan vất và tâm trạng ngày tháng mòn mỏi chờ chồng trước cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 3 đang tại ngũ, chị đã khiến bao người lính phải rơi lệ) cùng với anh Bình ở Quảng Ninh hát bài Lòng mẹ. Chưa bao giờ nghe hát tôi thấy xúc động đến vậy. Những người mẹ thân yêu của chúng tôi thủa nào lại hiện về! Tất cả mọi người đều đứng dậy vỗ tay...
Giờ phút chia tay đã trễ theo lịch trình. Chúng tôi lưu luyến bắt tay nhau, tạm biệt và hẹn gặp lại nhau. Người lên xe, người ở lại nhắc nhở nhau cố gắng tập luyện, giữ gìn sức khỏe để còn gặp lại nhau. Anh lái xe hiểu được nỗi lòng của đoàn, cho xe vòng xuống con đường bao biển, dừng lại ít phút trước khi lên đường cao tốc về Hà Nội. Xa xa Vịnh Hạ Long mờ tím trong sương chiều.
Thành Vũ, Nguyễn Thị Điệp và 100 người khác
45 bình luận
4 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Trở lại Hạ Long

1 comment

 Trở lại Hạ Long

Nhân kỷ niệm Ngày giải phóng Thủ đô (10/10), anh em cựu chiến binh Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 khu vực Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội tổ chức chuyến đi thăm Hạ Long và thực hiện buổi giao lưu với các cựu chiến binh trung đoàn tại Quảng Ninh.
Hơn 8h xe đưa chúng tôi đến nghĩa trang thành phố Hạ Long, điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến đi ba ngày. Tại đây chúng tôi làm lễ dâng hương, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong đó có các anh hùng liệt sĩ Trung đoàn 3 Sư 324 yêu quý của chúng tôi.
Anh Trung cùng một số anh em cựu chiến binh khu vực Quảng Ninh đã chờ đón đoàn tại nghĩa trang. Anh em chúng tôi tay bắt mặt mừng, cùng nhau nhận đại đội, nhận tiểu đoàn những ngày còn ở chiến trường. Như một thông lệ, chúng tôi ôn lại những kỷ niệm về đồng đội, nói về những người còn mất. Chúng tôi sẽ không bao giờ còn được gặp lại một số đồng đội thân thương nữa. Không nói ra, người nào người nấy lòng nhủ lòng phải dành thời gian cho nhau nhiều hơn. Thời gian đã không còn ủng hộ chúng tôi… Rất tiếc Ban chỉ huy Trung đoàn 3 Sư 324 hiện tại đột xuất phải đi trợ giúp nhân dân Thừa Thiên-Huế chống lũ lụt, nên kế hoạch đến thăm một, hai gia đình liệt sĩ phải hoãn đến lần sau.
Sau khi viếng nghĩa trang, anh Trung thay mặt anh em Quảng Ninh dẫn chúng tôi đi thăm Bảo tàng- Thư viện Quảng Ninh. Bảo tàng- Thư viện nằm bên đường khu vực phía đông thành phố. Khối kiến trúc này là một công trình văn hóa đẹp và là điểm nhấn của khu vực kỳ quan thiên nhiên nổi tiếng: Vịnh Hạ Long, một điểm đến hấp dẫn thu hút đông đảo người dân trong nước và du khách quốc tế.
Phần bên ngoài bảo tàng là một màu đen nhung trên nền biển, trời xanh thẳm của thành phố biển. Cạnh cổng ra vào có một khối than nguyên khối lớn kỷ lục 28 tấn nằm sừng sững cùng với không gian trưng bày các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật đặc sắc khác tạo nên ấn tượng ban đầu thật khó quên với chúng tôi.
Bảo tàng gồm 3 tầng, phác họa những nét cơ bản và đặc trưng nhất về vùng đất Quảng Ninh theo không gian và thời gian, từ thời tiền sử đến nay, từ miền rừng núi tới đồng bằng, ven biển biển, một hình ảnh một Việt Nam thu nhỏ với nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa. Trái với màu đen bên ngoài, màu trắng là gam màu chủ đạo cho không gian bên trong nhằm làm nổi bật các hiện vật trưng bày trong bảo tàng.
Tầng 1 là không gian của biển cả và thiên nhiên của Hạ Long. Chính giữa trưng bày một con thuyền. Phía trên là bộ khung xương cá voi. Điểm độc đáo của tầng 1 là 4 cột trưng bày dạng ống núi được bao phủ bằng lớp vải mang hình ảnh núi đá vịnh Hạ Long, kết hợp hình ảnh trình chiếu 3 D tạo hiệu ứng nước biển khiến ta có cảm giác như đang đi trong lòng vịnh diễm lệ. Mỗi ống núi là một không gian riêng biểu hiện quá trình kiến tạo địa chất và hệ sinh thái biển, động thực vật đặc hữu của Quảng Ninh.
Tầng 2 có nhiều khu trưng bày các hiện vật, các giá trị văn hóa, lịch sử, đặc biệt là nền văn hóa Hạ Long nổi tiếng. Với thiết kế mô phỏng lòng thuyền, gian đầu là nơi trưng bày các hiện vật khảo cổ các thời kỳ tiền sử, sơ sử cho tới hiện tại. Các gian tiếp theo mô tả đời sống, sinh hoạt của các dân tộc Dao, Tày, Sán Dìu…
Khu vực trưng bày Quảng Ninh thời chống Pháp được thiết kế với rừng cây bao phủ tượng trưng cho Chiến khu Đông Triều anh hùng. Khu vực trưng bày Quảng Ninh thời kỳ chống Mỹ được đặt trong không gian tựa như khoang máy bay, gợi nhớ về chiến công của lực lượng phòng không, không quân từ ngày 5/8/1964…
Không gian văn hóa tâm linh gắn với Yên Tử và thiền phái Trúc Lâm được bố trí ở một khu vực riêng. Tại đây có mô hình chùa Đồng và nhiều hiện vật cổ quý báu. Bên cạnh đó là không gian của các hiện vật di sản nhà Trần ở Đông Triều, mô hình bãi cọc thị xã Quảng Yên, Đầm Nhử… Tất cả gợi lên một Quảng Ninh anh hùng giàu truyền thống.
Không gian cuối cùng là nơi trưng bày hình ảnh Bác Hồ với miền đất Quảng Ninh, nơi Bác về thăm 7 lần. Năm 1946, Bác đã nói: “Vùng mỏ của đất nước ta thật là đẹp và giàu. Thợ mỏ của ta thật vô cùng anh dũng”. Cùng với những tư liệu lịch sử khác, đây là nơi giáo dục truyền thống quý báu cho các thế hệ người dân hôm nay.
Tầng 3 là tầng mô phỏng hệ thống hầm lò khai thác than với thiết kế, kích thước như thật. Du khách được trải nghiệm lịch sử khai thác than từ những ngày Thực dân Pháp khai thác thủ công đến kỹ thuật khai thác than hiện đại ngày nay…
Đúng như anh Trung nói với chúng tôi, Bảo tàng Quảng Ninh là một công trình văn hóa, một sản phẩm du lịch đặc sắc không thể bỏ qua. Với tư cách là cán bộ khối văn phòng trực thuộc thành phố đã nghỉ hưu, anh Trung đã kết nối chúng tôi với người hướng dẫn thuyết minh và trực tiếp thuyết minh cho chúng tôi về quê hương mình với lòng hiếu khách vừa nhiệt tình vừa xúc động, tự hào.
Tiếp theo anh Trung dẫn chúng tôi tới thăm Cung quy hoạch, hội chợ và triển lãm tỉnh Quảng Ninh. Cung quy hoạch, hội chợ và triển lãm Quảng Ninh xây dựng bên trục đường Trần Quốc Nghiễn, nằm trong quần thể kiến trúc chung của thành phố Hạ Long. Công trình này có diện tích đất sử dụng trên 3ha. Đây là một công trình độc đáo.
Công trình có tổng diện tích xây dựng 20.700m2. Nó mô phỏng hình con cá heo vờn con sò biển. Giới chuyên môn đánh giá công trình có thiết kế phá cách, tạo nét kiến trúc rất lạ. Công trình này cùng 9 với công trình xây dựng trên thế giới đã được đăng quang nhận giải thưởng Kiến trúc quốc tế năm 2019.
Đến đây, chúng tôi được anh Trung và hướng dẫn viên giới thiệu chiêm ngưỡng toàn cảnh địa lý, giao thông, hạ tầng, khu kinh tế du lịch của tỉnh Quảng Ninh thông qua hàng chục màn hình trình chiếu và các mô hình, bản vẽ thực tiễn từ những năm 2000 đến năm 2050.
Công trình có 2 khối, được liên kết với nhau bằng hệ thống thang máy, thang cuốn và thang bộ. Khối thứ nhất hình con ngọc trai có 2 tầng sàn dùng để tổ chức các sự kiện, hội chợ, triển lãm và trưng bày quy hoạch vùng. Khối thứ hai có hình một con cá heo khổng lồ với chiều dài 320m, chiều rộng có chỗ tới 45m dùng để trưng bày các đồ án quy hoạch, những công trình kiến trúc, tâm linh tiêu biểu.
Công trình còn là nơi giao lưu văn hóa, tổ chức hội chợ, xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế; gắn với các công trình quảng trường 30/10, bảo tàng, thư viện, cung văn hóa thiếu nhi và công viên Lán Bè thành một quần thể du lịch góp phần thu hút du khách ở với Hạ Long nhiều ngày.
Lâu lắm rồi chúng tôi mới được xả hơi thỏa thích, một kiểu vui chơi của tuổi trẻ. Chúng tôi vào phòng chiếu 360 độ để thưởng thức thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hàng đầu của Việt Nam. Tôi nghĩ nó không thua kém là bao so với công nghệ vui chơi, giải trí ở một số bảo tàng của Mỹ tôi đã tới thăm.
Tôi cùng anh chị em cuốn hút vào nhiều trò chơi điện tử hấp dẫn như ở chốn thiên thai. Đặc biệt là trò chơi ở thủy cung. Chúng tôi tô màu vào các sinh vật biển, ký tên mình trên tờ giấy và đưa vào chiếc máy điện tử. Trên màn hình gắn lên bức tường, hiện ra những sinh vật của chúng tôi vừa tô màu đang bơi lượn dưới biển khơi. Chúng tôi chạy đuổi theo với bao cảm xúc. Tiếp đó chúng tôi vào cung nghỉ ngơi bốn mùa… Một địa điểm thật lý thú. Hy vọng hè sang năm, Covid-19 được khống chế hoàn toàn, tôi sẽ đưa các cháu tôi đến đây cùng vui chơi!
Điểm cuối cùng trong ngày anh Trung dẫn chúng tôi đi thăm là con đường bao biển Trần Quốc Nghiễn, đoạn từ cầu Bài Thơ đến điểm nối đường bao biển Hạ Long - Cẩm Phả có tổng mức đầu tư 1.300 tỉ đồng, dài 4,7 km. Mặt đường được nâng cấp từ 4 lên 6 làn xe. Đặc biệt, vỉa hè bên trong rộng 5 m, phía ngoài kết hợp với khuôn viên cảnh quan ngắm vịnh Hạ Long mở rộng 28 m, được thiết kế độc đáo với các hạng mục giải trí ấn tượng. Mọi người phải thừa nhận ở Việt Nam ít có tuyến đường bao biển nào đẹp như con đường Trần Quốc Nghiễn.
Xe đi chầm chậm. Anh Trung giới thiệu cho chúng tôi nghe lịch sử hình thành và xây dựng con đường này. Nơi đây mỗi mùa du lịch sẽ thu hút hàng trăm nghìn lượt người và du khách tới chụp ảnh, vui chơi và đi dạo ngắm vịnh Hạ Long. Bên cạnh đó là những căn biệt thự xinh xắn đẹp đến mê hồn. Những căn nhà và các bãi biển ở Cali tôi được đến thăm cũng không hơn gì nơi đây. Chẳng trách cô bạn cùng trường tôi công tác đã bỏ chốn “phồn hoa thứ nhất Long thành” để tới đây sinh sống. Con đường không chỉ đơn thuần phục vụ về giao thông mà còn là sản phẩm của cái đẹp, sản phẩm du lịch độc đáo của Quảng Ninh…
Kết thúc một ngày đầy ý nghĩa và cảm xúc, tôi thật sự muốn nói lời cảm ơn tới ban tổ chức chuyến đi. Chân thành cảm ơn đồng đội Trung và các đồng đội Trung đoàn 3 khu vực Quảng Ninh. Các anh đã giúp chúng tôi thêm tin yêu vào tình đồng đội, giúp chúng tôi thêm tin vào sự phát triển của Quảng Ninh và của đất nước. Dưới đây là một số ảnh mạng và ảnh của đồng đội:
Read More

Bao giờ nền giáo dục Việt Nam hội nhập với nền giáo dục tiên tiến của thế giới

Leave a Comment

  Tổng thống Mỹ Barack Obama trong thời gian tại nhiệm có phát biểu trước Đại Hội đồng Liên hợp quốc: “Chương trình chống đói nghèo tốt nhất chính là một nền giáo dục đẳng cấp thế giới” (The best anti-poverty program is a world-class education). Có lẽ ông nói đúng. Những nước phát triển hàng đầu (G7), những nước phát triển mới nổi (G20) đương nhiên họ có một nền giáo dục ưu việt. Nhưng còn hơn một trăm quốc gia đang phát triển, những nước thuộc thế giới thứ 3, trong đó có Việt Nam, những nước còn nghèo nàn, lạc hậu thì lấy đâu ra một nền giáo dục ở đẳng cấp thế giới. Mà đói nghèo thì lại là vấn đề của các nước thuộc thế giới thứ 3.

Liệu Việt Nam trong thời gian tới có thể vươn lên sánh vai cùng với các cường quốc năm châu như Bác Hồ từng mong muốn sau cải cách giáo dục lần này?
Tôi không nói đến vấn đề vĩ mô. Không nói đến mục tiêu giáo dục, chương trình giáo dục, nội dung sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy. Chỉ mong học sinh trên dải đất hình chữ S này sắp tới sẽ được hưởng những gì tốt đẹp nhất mà chế độ dành cho các em, và ngành giáo dục không để trẻ em nào bị tụt lại phía sau (cụm từ xuất hiện từ khi Chính quyền Tổng thống George W. Bush ký Dự luật No Child Left behind, tạm dịch là không trẻ em nào bị tụt lại phía sau vào năm 2001) do chính những khiếm khuyết của nền giáo dục chúng ta để lại.
Tôi xin chia sẻ ngắn gọn một số câu chuyện vui buồn mình trực tiếp trải nghiệm để các bạn đồng nghiệp, anh em bạn bè cùng suy ngẫm về kết quả của hai trình độ giáo dục phương Tây và Việt Nam với chính học sinh Việt Nam. Trong các câu chuyện tôi không nêu tên thật của các nhân vật. Và nếu có bạn đọc nào nhận thấy bóng dáng con em mình trong câu chuyện thì xin được lượng thứ, vì đây không chỉ là chuyện cá nhân. Chuyện giáo dục là chuyện của đất nước, chuyện của nhân loại.
Câu chuyện thứ nhất.
Cách đây khoảng 10 năm tôi thường có những chuyến đi dài ngày sang thăm các bang của Mỹ. Nơi đầu tiên tôi đến là khu ký túc xá dành cho các sinh viên nước ngoài theo học thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ của Trường Đại học Missouri thuộc bang Missouri. Ở khu ký túc xá đó có hơn một chục gia đình sinh viên Việt Nam trong tổng số 70 sinh viên theo học tại trường này.
Các gia đình mang theo con cái sang xứ cờ hoa phải xin cho con học ở các trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Columbia. Chỉ sau một hai năm, tất cả các cháu hội nhập với giáo dục nước sở tại. Tôi được biết phần lớn các cháu đều học giỏi. Trong số đó có cháu Nguyễn Vân Anh, cháu đạt giải Nhì trong cuộc thi toán toàn bang.
Sang nhà chúc mừng bố mẹ và đặc biệt là chúc mừng cháu Vân Anh, tôi đinh ninh ở Việt Nam Vân Anh được xếp loại học lực giỏi và chắc cũng đã được đi thi học sinh giỏi ở trong nước. Cháu cười nói “ Ai cũng nghĩ như thế, nhưng ở Việt Nam cháu chỉ được xếp loại trung bình môn toán thôi. Từ lớp 1 đến lớp 5, cháu chưa bao giờ được đi thi học sinh giỏi. Cháu mới học tiếng Anh năm lớp 6 ở Việt Nam. Tổng kết môn tiếng Anh của cháu 5,3”.
Tôi rất ngạc nhiên. Học tiếng Anh ở Việt Nam một năm thì chưa chắc học sinh đã thuộc và phát âm đúng bảng chữ cái. Vậy mà sang Mỹ chỉ có sau hơn một năm, làm thế nào cháu theo học được, chứ chưa nói đến là đi thi và còn đi thi được giải nữa. Quan trọng hơn cái danh hiệu học sinh giỏi cấp bang là tư thế, phong thái và cách cháu Vân Anh nói chuyện với mọi người. Đó là sự tự tin, hoạt bát, mạnh dạn và tế nhị trong ứng xử, cái mà học sinh của ta cực yếu.
Sau buổi hôm đó Vân Anh dẫn tôi đi thăm trường lớp, gặp gỡ các thầy cô giáo nơi cháu đang theo học, dự giờ tiếng Anh dành cho các học sinh mới đến Mỹ… Một trải nghiệm giáo dục hết sức thú vị.
Về nước, hàng ngày tiếp xúc với học sinh của mình, đôi lúc tôi thầm nghĩ, nếu cháu Vân Anh học ở Việt Nam và nếu gặp tôi không biết cháu Vân Anh sẽ nói chuyện với tôi như thế nào? Liệu sau này cháu có vào được đại học không? Và nếu được vào đại học thì học ở trường nào? Nhiều sinh viên học xong ở Mỹ không muốn về vì họ sợ con không theo được “trình độ” ở trong nước. Chỉ biết học trường phổ thông Mỹ hiện cháu Vân Anh được học bổng toàn phần và đang theo học năm cuối của một trong những trường đại học danh giá nhất của Hoa Kỳ.
Câu chuyện thứ hai.
Vợ tôi có một người bạn tên Triệu Thị Lan, người bạn nối khố từ thủa ấu thơ, đi sang Đức theo chương trình hợp tác lao động. Lan định cư không về nước. Sau khi nhập quốc tịch, vì nhiều lý do cá nhân Lan đã li dị với chồng ở Việt Nam và lấy chồng người Việt ở bên Đức.
Cách đây khoảng mười lăm năm, Lan bảo lãnh cho con, cháu Hải sang bên Đức. Cháu học ở Việt Nam chỉ được xếp loại trung bình. Lan có nhờ tôi lo hộ quyển học bạ của con cho “sáng giá hơn một chút”. Có nghĩa là nhờ anh bạn hiệu trưởng tôi quen biết đánh bóng học bạ của cháu từ trung bình lên tiên tiến.
Bẵng đi một thời gian dài, Lan đưa cháu Hải trở về thăm quê, thăm vợ chồng tôi. Lan cho biết cháu đã tốt nghiệp ở Trường Đại học Hambug, trường đứng ở top đầu của thế giới. Mấy năm học ở trung học phổ thông cháu đều có thành tích xuất sắc và ở đại học cháu còn được nhận học bổng của nhà trường. Nói chuyện với cháu tôi chợt nhận ra nhiều kỹ năng mà học sinh của mình còn quá thiếu.
Tôi rất mừng cho Lan vì nếu cháu cứ tiếp tục theo học ở cái trường làng mà tôi biết, với cái sức học trung bình thì chưa chắc cháu đã thi đỗ vào trung học phổ thông, chứ chưa nói đến vào đại học, lại còn nhận được học bổng nữa. Lúc đó tôi phân vân suy nghĩ có lẽ cũng giống như trường hợp cháu Vân Anh đó chỉ là trường hợp cá biệt.
Câu chuyện thứ ba.
Tôi có một đồng nghiệp tên là Nguyễn Thị Hoa. Cô là giáo viên dạy giỏi, có giọng hát hay và từng đoạt giải hoa hậu ngành giáo dục địa phương. Thế nhưng cuộc sống gia đình riêng của Hoa rất lận đận. Hai vợ chồng Hoa sớm chia tay nhau sau hơn một chục năm chung sống.
Một thân một mình nuôi con. Bao nhiêu tình cảm dồn cả vào con. Nhưng bất hạnh cho Hoa là cháu Thịnh học hành rất chểnh mảng. Không tháng nào là tháng Hoa không phải lên văn phòng gặp giáo viên chủ nhiệm và ban giám hiệu. Có lần nước mắt lưng tròng Hoa nói với tôi: “Thầy bảo em phải làm gì cho con em bây giờ?”
Thật ái ngại, nhưng tôi chỉ biết động viên Hoa hãy cố gắng hiểu con hơn nữa, chịu khó dành thời gian cho con hơn nữa. Năm đó cháu không thi được vào trung học phổ thông. Hoa phải xin cho vào học tại một Trung tâm Giáo dục Thường xuyên. Mọi người đều ái ngại cho Hoa. Con vào học ở một “trường bổ túc” thì phía trước là một tương lai xám xịt.
Thật may mắn, Hoa quen một giáo sư Mỹ sang Việt Nam dạy ở Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Họ tìm hiểu nhau và tổ chức lễ cưới ở Hà Nội. Sau đó hai người về Mỹ đem cả cháu Thịnh đi cùng.
Năm đó Hoa xin tôi nâng học bạ môn toán và một số môn học khác từ tổng kết 4,5 lên 7. Tôi cứ nghĩ rằng cháu Thịnh khó có thể theo học được ở bên Mỹ. Chỗ đồng nghiệp và tình nghĩa thầy trò nên tôi đã nâng điểm để cháu dễ dàng được theo học ở bên kia bán cầu. Trong thâm tâm tôi vẫn áy náy. Làm sao có thể qua mặt người ta. Họ sẽ nghĩ gì về nền giáo dục của mình. Vậy mà không ngờ cháu Thịnh theo học hết phổ thông trung học ở bang Texas. Không những theo học, cháu Thịnh còn được nhận vào học Trường Đại học Texas, một trường đại học danh tiếng của Mỹ.
Điều tôi ngỡ ngàng là khi về Việt Nam, cháu Thịnh gặp lại tôi và các thầy cô thì không còn là một cậu bé chỉ biết cúi đầu trơ lì, im lặng. Đó là một thanh niên cao lớn đầy sức sống, một thanh niên hoạt bát, tự tin. Cháu kể lại quá trình học tập của mình bên Mỹ như thế nào, quá trình hòa nhập với trường lớp, các bạn ra sao… Đặc biệt cháu còn trình bày dự định của mình sau khi tốt nghiệp đại học, sẽ trở về Việt Nam thành lập một doanh nghiệp. Lần về nước này, cháu bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu thị trường để năm sau có thể bắt tay ngay vào công việc.
Tôi không thể tin nếu không một vài lần được đến thăm mô hình trường công, trường tư ở Texas. Chia vui và chúc mừng Hoa, chúc mừng cháu Thịnh, nhưng tôi cảm thấy mình đã có lỗi với cháu. Sau bốn năm dưới mái trường trung học cơ sở, tôi và tập thể giáo viên đã thất bại. Điều gì đã làm thay đổi một học sinh tưởng như không còn hy vọng trở thành một con người mà bất cứ một người mẹ, một nhà trường nào cũng lấy làm tự hào. Chẳng lẽ đây cũng lại là một trường hợp cá biệt?
Câu chuyện thứ tư.
Tôi có một người bạn, hiện gia đình anh định cư ở một nước Bắc Âu. Năm nào anh cũng trở về Việt Nam thăm người thân và dự hội lớp đầu xuân. Lý do anh định cư ở Bắc Âu không phải vì cuộc sống túng bấn. Có lần anh tâm sự với tôi: “Anh là nhà giáo nên dễ thông cảm với vấn đề của tôi. Con đầu tôi không đỗ đại học. Con thứ hai không thi được vào trung học phổ thông. Con thứ ba đi họp phụ huynh cuối năm, cô giáo cho biết thuộc nhóm đội sổ. Thật buồn! Bao ngày đêm trăn trở. Tương lai của gia đình tôi sẽ ra sao đây? Con cháu tôi rồi sẽ ra sao đây? Tôi buộc phải ra đi anh ạ…”
Tôi biết hai cháu đầu của anh đã tốt nghiệp đại học, đều là kĩ sư đi làm ổn định với mức lương trên bảy ngàn Euro. Cháu thứ ba đang theo học sau đại học. Với tư cách là một nhà quản lý giáo dục, tôi không biết phải lý giải trường hợp này thế nào. Chẳng lẽ đây cũng lại là một trường hợp cá biệt nữa?
Câu chuyện thứ năm.
Ở làng tôi, làng Triều khúc, nhiều người đều biết hai anh em nhà ông Phạm Xuân Lưỡng. Hai ông “chạy” để con cái sang hết Canada trong tình trạng cháu thì không vào được đại học, cháu thì không vào được phổ thông trung học. Ông chú tôi là bạn của hai người có lần đã nói với tôi “Không hiểu chúng nó sang bên ấy sẽ làm cái gì”?
Tôi được biết các cháu sang Canada nương nhờ vào một người bạn của hai ông. Nhưng các cháu vừa học, vừa phải đi làm, làm đủ các công việc kể cả đi đào giun ở cái xứ xa lạ, không có cha mẹ chăm sóc. Thấm thoắt hơn chục năm sau bốn cháu đều đã tốt nghiệp đại học, trở thành kỹ sư, kiến trúc sư, bác sĩ. Các cháu vừa bảo lãnh cho mấy đứa em họ không thi được vào trường PTTH sang Canada. Các cụ nhà ta thường nói đầu xuôi đuôi lọt, tôi tin trong tương lai các cháu đó sẽ đều vào đại học.
Tôi không biết giải thích trường hợp này như thế nào theo tư duy của giáo dục Việt Nam. Chắc chắn đây không phải là một hiện tượng đơn lẻ nữa.
Câu chuyện thứ sáu
Mùa hè năm trước tôi có sang bang California hơn một tháng. Tôi có dịp thăm một số tập đoàn lớn tại thung lũng silicon (Xin xem bài Thăm Thung lũng silicon trong trang Facebook này cách đây hơn một năm). Tình cờ tôi gặp vợ chồng cô bạn sang thăm con. Tôi biết cháu Chí từ thời còn học phổ thông trung học. Chí là người có cá tính, thông minh, nhưng các trường đại học ở Việt Nam không chấp nhận cháu. Cháu quyết tâm theo học tiếng Anh và xin sang học ở một trường đại học Mỹ. Cháu theo học khoa học máy tính. Tốt nghiệp đại học Chí tiếp tục xin học tiến sĩ khoa học máy tính. Nhà trường không cho học bổng theo học đúng chuyên ngành, nhưng khuyến khích cho học bổng theo học công nghệ sinh học. Sau 5 năm Chí đã xuất sắc hoàn thành luận án tiến sĩ. Hiện cháu đang làm cho một trong những tập đoàn danh giá nhất ở Thung lũng Silicon.
Cũng ở Thung lũng Silicon, tôi có dịp gặp một số thanh niên Việt đang làm việc ở tập đoàn Facebook, Google, Yahoo… Hàng nghìn sinh viên Việt đang làm việc tại thung lũng này. Họ đều là những kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ vừa tốt nghiệp các trường đại học Mỹ. Tôi được biết không ít người trong số họ không đủ điểm để vào học đại học ở Việt Nam. Thậm chí một số cháu còn phải sang bên Mỹ học tiếng Anh trước khi xin vào học các trường đại học Mỹ. Nhưng tại sao những học sinh thất bại ở Việt Nam lại thành công ở xứ người. Họ trở thành những con người xuất sắc làm việc ở “ bộ não khoa học kỹ thuật” của nước Mỹ và của cả nhân loại?
Câu chuyện thứ bẩy.
Tôi có người bạn đồng ngũ. Anh xây dựng gia đình muộn hơn bạn bè. Bù lại con đường công danh sự nghiệp của anh khá suôn sẻ. Anh được nhà nước cử sang làm đại sứ quán ở một nước phương Tây. Theo tiêu chuẩn anh được phép mang gia đình đi theo. Trong nhiệm kỳ công tác, hai cháu theo anh sang học ở một nước có nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới.
Hết nhiệm kỳ cháu lớn ở lại nước ngoài học đại học. Cháu thứ hai trở về nước. Một hôm anh đến nhà tôi, chưa kịp ngồi xuống anh đã thốt lên: “Tôi chết dở rồi anh ạ. Đứa thứ hai nhà tôi không thể học được ở Việt Nam. Toàn bị điểm kém. Xin chuyển trường mấy lần rồi vẫn không ổn. Nó cứ nằng nặc đòi sang bên kia học. Không khéo tôi phải bán nhà lấy tiền cho nó sang học bên kia mất”. Tôi trả lời anh: “Làm gì đến nỗi ấy. Cứ bình tĩnh. Tôi biết cháu được điểm A tất cả các môn học ở trường Tây mà”.
Hết năm học đó anh gọi điện báo cho tôi biết đã bán ngôi nhà trong nội thành để mua một ngôi nhà ở ngoại thành. Và con anh đã được gửi sang bên kia học. Tôi bắt đầu tin vào tác giả cuốn sách “Cú sốc tương lai” của Mỹ nói về hậu quả giáo dục con em những gia đình phải di chuyển khỏi nơi cư trú.
Câu chuyện thứ tám (bởi bài viết đã quá dài tôi xin gộp bốn năm câu chuyện trong một câu chuyện cuối này).
Ba mươi năm làm cán bộ quản lý ở trường công tôi thấy đã quá đủ. Tôi xin về hưu sớm để làm cán bộ quản lý cho một, hai trường tư thục bán quốc tế. Trải nghiệm đau lòng và cay đắng nhất trong thời gian đó là tôi phải chia tay với một số học sinh Việt Nam theo học ở những nước tiên tiến chuyển về trường tôi. Các em phải bỏ học vì bị sốc “văn hóa học đường” và vì không chịu nổi các loại áp lực của trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông ở Việt Nam, mặc dù các em là học sinh giỏi của các nước tiên tiến hàng đầu thế giới.
Tiêu biểu trong số những em học sinh đó là em Đinh Thị Thảo My. Em là một học sinh gái thông minh, có khả năng về toán học, hội họa và thích viết văn. Điều tôi trân trọng nhất ở em là khả năng tự học qua các sách giáo khoa toán học, khoa học của Anh, Singaporo bằng tiếng Anh. Đặc biệt là khả năng tự học qua các trang mạng nổi tiếng như Khan Academy. Com. Ở trường tôi, các bài kiểm tra môn khoa học tự nhiên em thường được điểm 8, 9. Bố mẹ em đều là những trí thức dạy ở những trường đại học của Anh, Singapore và Việt Nam.
Em Thảo My học ở nước ngoài cho đến hết lớp 6. Về nước, mới đầu em học ở trường công, trường công thứ nhất, trường công thứ hai, rồi trường công thứ ba. Với cả ba trường công ở một quận, em đều không thể tạo ra được mối quan hệ với trường lớp mới, thầy cô mới, bạn bè mới. Mỗi ngày đi học em đều cảm thấy rất nặng nề. Giờ học nào, ngày nào cũng phải nghe thầy cô giảng giải và ghi chép đến rụng rời tay, rồi lại còn phải làm một đống bài tập.
Em luôn cảm thấy căng thẳng, căng thẳng đến không thể chịu đựng được. Có lần em hét lên trong lớp. Em còn có cảm giác bị bỏ rơi. Em chỉ mong chóng được về nhà, đóng cửa đi nằm, sống với thế giới riêng của mình. Dần dần em xin nghỉ học một buổi trong tuần, rồi hai buổi, rồi nghỉ học hẳn. Em muốn bố mẹ dạy em ở nhà, cắt đứt mối quan hệ với ngôi trường công thứ nhất, ngôi trường thứ hai, rồi đến ngôi trường thứ ba.
Em nói với bố mẹ, thầy cô ở các trường đó đều không thân thiện, không công bằng như ở nước ngoài. Thậm chí dạy tiếng Anh còn dở òm. Bố mẹ em rất lo lắng, xin cho Thảo My vào học ở trường tôi đang công tác, ngôi trường tiệm cận quốc tế song ngữ với hi vọng môi trường tư thục mới sẽ khiến em thích đến trường. Nhưng học ở trường tôi, em cũng chỉ chịu được ba tháng.
Em không chịu đeo khăn quàng đỏ. Em không chịu kí vào tờ cam kết thực hiện an toàn giao thông. Em không chịu kí vào tờ cam kết không sử dụng và tàng trữ ma túy. Em không tham gia vào bất kì cuộc thi nào do ngành giáo dục phát động. Em nói với cô chủ nhiệm em không thích, nên không phải kí hay tham gia những điều em không thích. Em còn xin không học một số môn học mà em không phải học ở nước ngoài... Nói tóm lại là, em không thích ứng được với môi trường giáo dục Việt Nam.
Dù là trường áp dụng chương trình tiệm cận quốc tế, nhưng trường tôi vẫn là trường của Việt Nam. Chúng tôi vẫn phải tuân thủ theo chương trình, nội dung giáo dục của Việt Nam. Tôi khuyên bố mẹ Thảo My, bố mẹ mấy em học sinh học ở Anh, ở Đức và ở Singapore nên cho các em trở lại ngôi trường cũ ở nước ngoài, hoặc xin vào học ở một trường quốc tế hoàn toàn theo khung chương trình quốc tế. Nhưng phần lớn các bậc phụ huynh đều lắc đầu, không có điều kiện kinh tế để theo hướng đó. Tôi không biết bây giờ các em ra sao nữa.
Qua những trải nghiệm như trên tôi không biết kết luận giáo dục của người ta đi đúng hướng hay giáo dục của mình đi đúng hướng. Vấn đề không phải hoàn toàn vì chúng ta nghèo nên cánh cửa vào PTTH chỉ tiếp nhận khoảng 70% học sinh THCS, còn cánh cửa đại học, cao đẳng chỉ tiếp nhận được khoảng 30-40 % thí sinh thi có điểm cao mà thôi. Ba môn thi bình quân mỗi môn 8 điểm vẫn trượt đại học…
Vấn đề là con em chúng ta học ở các trường nước ngoài đều ổn. Nhưng con em người nước ngoài không học được trường của Việt Nam. Con em các nước phương Tây sống ở Việt Nam đều học tại trường của Liên hợp quốc (ở phố Liễu Giai, Hà Nội). Người Nhật sang Việt nam con em họ học ở trường Việt-Nhật (học sinh Việt Nam cũng xin theo học ở trường này). Người Hàn sang Việt Nam con em họ học ở trường Hàn Quốc (người Việt cũng xin theo học ở trường Hàn Quốc)… Không một học sinh nước ngoài nào học ở trường phổ thông của Việt Nam.
Vấn đề là giáo dục của chúng ta không phát huy được phẩm chất, năng lực của học sinh. Những sản phẩm giáo dục “không có chất lượng cao”, thậm chí những sản phẩm bị lỗi, bị loại ở Việt Nam tại sao lại tỏa sáng ở xứ người? Và những sản phẩm có chất lượng ở các nước tiên tiến lại tàn lụi trong nền giáo dục của chúng ta? Vậy hệ thống đánh giá giáo dục thuần dựa trên thi cử, thuần dựa trên điểm số của ta là đúng hay không ổn? Liệu nền giáo dục còn lạc hậu của chúng ta có đánh mất một nguồn lực trí tuệ của hàng vạn, hàng triệu học sinh Việt Nam trong mấy chục năm qua?
Tôi không dám nói là nền giáo dục của chúng ta đã đi chệch hướng như một số giáo sư đã nhận định. Nhưng tôi chắc chắn rằng ông Obama đã đúng. Chương trình chống đói nghèo tốt nhất chính là một nền giáo dục đẳng cấp thế giới. Giáo dục không chỉ xóa đói giảm nghèo mà còn thay đổi số phận của con người, thay đổi số phận của một dân tộc. Hy vọng rằng lần cải cách giáo dục này chúng ta sẽ không lỡ nhịp với dòng chảy giáo dục tiên tiến của thời đại.
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.