Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Thăm Berkeley

Leave a Comment

 Thăm Berkeley

Bang California (Cali) là bang đông dân nhất (trên 39,5 triệu người), có GDP lớn nhất (3,4 nghìn tỉ USD) trong số 50 bang của Hoa Kỳ. Nếu xếp riêng Cali như một quốc gia thì bang này đứng vào hàng thứ 6 trong số các quốc gia có GDP tính theo đầu người giàu có nhất thế giới. Với người Mỹ, Cali gắn liền với biểu tượng văn hóa, kinh đô điện ảnh Hollywood và tổ hợp vui chơi giải trí nổi tiếng nhất thế giới Walt Disney ở thành phố Los Angeles. Nói đến Cali người Mỹ cũng thường nói tới Thung lũng Silicon, nơi hội tụ hàng trăm công ty và tập đoàn công nghệ cao, được ví như bộ não của nhân loại, nơi đề ra những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật mang tính toàn cầu (xin xem bài viết “Đôi điều về Thung lũng Silicon” ở trong trang Facebook này). Nói đến Cali người ta cũng thường nói tới một bang có trên 300 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 4 trường đại học được xếp trong top 10 trường đại học danh tiếng nhất thế giới và hai hệ thống đại học: Hệ thống đại học California (UC) và Hệ thống Đại học bang California (USC), hai hệ thống đại học với 43 cơ sở trải khắp bang được xếp hạng tốt nhất thế giới (xin xem bài viết “Thăm Trường Đại học Stanford” cũng trong trang Facebook này).
Trong bài viết này tôi xin giới thiệu với các bạn, anh em đồng nghiệp về Trường Đại học Berkeley, một trường đại học danh giá nằm trong hệ thống đại học California. Tôi đã đến thăm ngôi trường đại học này cách đây ba năm và tiếp tục đến thăm trong chuyến đi này.
Trường Đại học California, Berkeley (University of California, Berkeley) là trường đại học công lập có uy tín, tọa lạc tại khu vực phía đông vịnh San Francisco thuộc thành phố Berkeley, bang California, một trong những thành phố tự do nhất của Hoa Kỳ. Berkeley được thành lập năm 1868, có khuôn viên lâu đời nhất trong hệ thống Đại học California, thường được gọi tắt là UC Berkeley hay Berkeley.
Theo cá nhân tôi, Trường Đại học Berkeley là một trong những trường đại học đẹp nhất của Mỹ. Nếu khách thăm theo tour, từ trên những ngọn đồi với những building, những phòng thí nghiệm ở độ cao nhất của Đại học Berkeley nhìn xuống, chiều rộng khoảng gần 2km với 453 tòa nhà nhấp nhô mang rất nhiều phong cách kiến trúc, như ẩn hiện trong cánh rừng trải dài gần 3km xuống bờ biển Thái Bình Dương xanh ngắt. Đúng là một công trình kiến trúc hoàn mỹ.
Theo Wikipedia, Berkeley có gần 2000 cán bộ, giáo viên và nhân viên, xấp xỉ 31.000 sinh viên đại học, hơn 11.500 sinh viên sau đại học. Trường được các tổ chức xếp hạng có uy tín của Mỹ và thế giới nhiều năm xếp hạng đứng thứ 5 trong số 6 trường đại học danh giá nhất thế giới trong bảng xếp hạng toàn cầu. Một minh chứng làm nên danh tiếng của nhà trường, từ khi thành lập đến nay, các giảng viên, cựu sinh viên và nghiên cứu sinh của nhà trường đã giành được 107 giải thưởng Nobel, 14 giải thưởng Field, 19 giải Pulitzer và rất nhiều các loại giải thưởng danh giá khác.
Trong quá trình phát triển, Berkeley đã có rất nhiều đóng góp trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học. Chẳng hạn như phát hiện về bản chất tia laser, khám phá ra mối liên quan giữa sự giãn nở của vũ trụ và vật chất tối, phát hiện ra 17 nguyên tố hóa học (trong số đó có Plutonium), giải thích nguyên lý quang hợp, xây dựng công nghệ chỉnh sửa gien, điều trị ung thư… Đặc biệt nhà trường đã xây dựng một số phòng thí nghiệm vật lý nổi tiếng từ những năm 40 của thế kỷ trước, đi tiên phong trong vật lý hạt nhân, tham gia nhóm khoa học phát triển dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử và bom khinh khí của Mỹ trong và sau chiến tranh thế giới thứ 2. Và hiện nay nhà trường đang nghiên cứu về những giải pháp khoa học, công nghệ đột phá trong nhiều lĩnh vực. Berkerley trong mấy thập niên gần đây còn tự hào là nơi khai sinh ra những tập đoàn công nghệ khổng lồ nghìn tỷ đô như Apple, Intel, Tesla…
Berkerley không chỉ đạt được nhiều thành tựu trong khoa học mà còn là cái nôi của nhiều giải thưởng văn học, âm nhạc, nhất là về thể thao. Các sinh viên của nhà trường đã đạt nhiều danh hiệu quốc gia trong các môn thể thao như bóng bầu dục, bóng rổ nam, bóng chày, bóng nước… Sinh viên của trường đã giành được 207 huy chương vàng, bạc, đồng trong các kỳ thế vận hội Olympic diễn ra gần đây.
Chúng tôi ở lại trong trường trọn một ngày. Thăm, khám phá các phòng truyền thống, những phòng thí nghiệm, giảng đường, thư viện, con đường với dãy tượng của các giáo sư, các nhà khoa học, cựu sinh viên của trường đạt các giải thưởng lớn. Đặc biệt con đường này còn để một khoảng trống dài hàng trăm m để chờ đợi các giáo sư, nhà khoa học, sinh viên được nhận các giải danh giá trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội và con người sẽ tiếp tục vinh danh trong tương lai vào một ngày nào đó.
Thăm Trường Đại học Berkerley và những trường đại học hàng đầu của Mỹ, tận mắt thấy những điều mà người ta không thể nghĩ đến và tưởng tượng nổi. Một trường mà có tới 107 giải thưởng Nobel, 14 giải Field… Ấy vậy mà trường Berkerley cũng không thể so sánh được với Trường Đại học Stanford, ngôi trường luôn đứng thứ nhất thứ nhì trong bảng xếp loại toàn cầu cách đó không xa. Chính hai trường đại học này, cùng với hệ thống đại học Canifornia và hệ thống đại học bang California đã đóng góp một lực lượng lao động hùng hậu cho sự phát triển của Thung lũng Silicon, đóng góp một nguồn ngân sách khổng lồ vào GDP 3,4 nghìn tỷ của bang.
Trên đường ra về tôi đưa ra câu hỏi với các con vì sao Berkeley lại đạt được nhiều thành tựu đến như vậy. Cô con gái đầu cho tôi biết, một trong những nguyên nhân để Berkeley cũng như các trường đại học nghiên cứu của Hoa Kỳ đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu là nhờ vào sự nỗ lực của bản thân cá nhân những nhà khoa học, các giáo sư xuất sắc trong các trường đại học. Đặc biệt là nhờ vào nguồn ngân sách dồi dào nuôi dưỡng cho nghiên cứu khoa học. Nguồn ngân sách này phụ thuộc vào nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài nhà trương. Ở mỗi giai đoạn phát triển, mỗi nhân tố đóng một vai trò quan trọng riêng. Đi sâu nghiên cứu thì có rất nhiều điều đáng phải bàn. Chỉ biết rằng ngân sách nghiên cứu ở các trường đại học rất lớn, từ nhiều nguồn trong xã hội mang tính đặc thù của Hoa Kỳ: Nguồn thứ nhất là sự ủng hộ hào phóng của các nhà hảo tâm và các quỹ tài trợ nghiên cứu cho nghiên cứu khoa học (năm cao nhất lên đến 2,6 tỷ đô la). Thứ hai là nguồn tài chính của ngành công nghiệp phát triển dành cho nghiên cứu ở trường đại học với tư cách là đối tác và hợp tác cùng nghiên cứu, cũng như ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ (năm cao nhất lên đến hàng chục tỷ đô). Thứ ba là nguồn ngân sách to lớn của nhà nước liên bang dành cho nghiên cứu khoa học ở đại học Mỹ (năm cao nhất lên tới 36 tỷ đô la). Cuối cùng là ngân sách kinh phí của bang và chính quyền địa phương dành cho nghiên cứu ở đại học. Từ các nguồn ngân sách trên, có thể nói không một quốc gia nào trên thế giới có được ưu thế như các trưởng đại học nghiên cứu của Hoa Kỳ. Cộng thêm vào đó là chính sách thu hút ưu đãi đội ngũ trí thức khiến Hoa Kỳ như một thỏi nam châm thu hút nhân tài. Đó cũng chính là lý do giải thích vì sao hầu hết những phát minh quan trọng, những phát minh đột phá về khoa học, công nghệ, kỹ thuật đều bắt nguồn từ Hoa Kỳ. Và Berkeley chỉ là một trong những ví dụ điển hình về giá trị hàng đầu của các trường đại học ở xứ cờ hoa này.
Read More

Cảm nghĩ về một chuyến bay

Leave a Comment

 Cảm nghĩ về một chuyến bay

Trước hôm xuất cảnh sang Mỹ phải xét nghiệm vi-rút COVID-19. Đây là điều bắt buộc đối với tất cả hành khách từ hai tuổi trở lên nếu đi bằng phương tiện đường hàng không. Hành khách phải kiểm tra chuỗi phân tử phản ứng polymerase (PCR) sau 6 đến 8 tiếng mới có kết quả. Theo quy định, giấy chứng nhận song ngữ chỉ có giá trị trong 24 giờ. Thật quá gấp gáp khi 3 giờ chiều tôi phải lên máy bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Thế là 10 giờ đêm trước ngày bay phải đi đến bệnh viện cách xa nhà gần chục km xét nghiệm.
Sáng sớm hôm khởi hành dậy sớm đến bệnh viện lấy kết quả xét nghiệm. Thật sốc vì bộ phận văn phòng bệnh viện không in được kết quả do lỗi phần mềm. Chờ đợi hơn một tiếng bộ phận IT của bệnh viện vẫn không xử lý được. Khách ùn ùn tập trung ở phòng lấy kết quả. Không chỉ có người Việt, còn có cả người Hàn, người Nhật, người Trung Quốc… Tất cả đều bức xúc, ngao ngán. Một số người to tiếng vì đã đến giờ họ phải ra sân bay.
Ba nhân viên của bệnh viện nháo nhào, ra sức thanh minh. Và cuối cùng phải dừng việc xét nghiệm. Nếu người nào đó muốn xét nghiệm, bệnh viện không đảm bảo có kết quả nếu vẫn lỗi hệ thống phần mềm. Một số người phải bỏ đi đến bệnh viện khác. Riêng tôi thì chịu chết. Không thể nhờ ai giúp đỡ được. Vì nếu có đến bệnh viện nào đó thì cũng quá giờ bay mới có kết quả. Vé máy bay thì không thể thay đổi được nữa. Chắc bệnh viện họ cũng không chịu trách nhiệm hoàn trả vì lý do bất khả kháng. Nhưng điều quan trọng hơn là nếu lui lại, tôi không thể đi thăm các cháu trong năm nay.
Mọi người đã ra về hết. Chỉ còn lại một mình tôi chờ đợi trong tâm trạng tuyệt vọng. Buồn hơn, cũng trong buổi sáng nay, anh em cựu chiến binh Trung đoàn 3 của tôi cũng khởi hành chuyến đi thăm lại chiến trường xưa. Anh em đồng đội trước đó vẫn mong muốn tôi tham dự và tôi cũng rất muốn đi cùng. Việc không có giấy xác nhận của bệnh viện khiến tôi lâm vào tình cảnh “xôi hỏng, bỏng không”.
May đến 8 giờ máy in bệnh viện chạy. Tôi là người đầu tiên lấy được giấy xét nghiệm. Vội vã trở về nhà, chuẩn bị thêm một só thứ cần thiết, ăn cơm và ra sân bay. Không chỉ giấy xét nghiệm mà còn phải có giấy xác nhận đã tiêm ít nhất đủ hai mũi COVID. Thật may tôi đã tiêm 3 mũi, lại xin được giấy xác nhận của cơ sở y tế. Nếu không thì cũng không chắc qua được cửa sân bay.
Các cháu nhà tôi đã mua vé bay thẳng từ thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố San Francisco, không quá cảnh qua Hàn, Nhật hay ở Trung Quốc như những lần trước mặc dù giá vé quá cảnh qua những nước đó rẻ gần một nửa; các cháu sợ rằng quá cảnh ở 3 nước trên vài tiếng nếu dính dịch thì quá nguy hiểm.
Đúng là là một ngày không may mắn. Máy bay xuống sân bay Tân Sơn Nhất chậm gần một tiếng vì thời tiết xấu không hạ cánh được do mưa dông có sét. Tôi phải vừa đi vừa chạy từ cảng nội địa đến cảng quốc tế. Vội vã làm xong bao thủ tục phiền phức từ hộ chiếu, vé đến cởi giày, thắt lưng, khám xét… Vậy mà qua cửa máy vẫn phát ra tiếng kêu. Cán bộ hải quan gắt lên với tôi. Thì ra còn chiếc bút máy cài trên túi áo ngực chưa bỏ ra…
Chưa hết, qua cảng hàng không quốc tế, hành khách chúng tôi phải đứng ở dưới mái tôn nóng hầm hập đến hơn 10 phút mới có ô tô đến đón ra máy bay. Mồ hôi thấm đẫm áo trong áo ngoài. Tôi nhiều lần bay ra nước ngoài trong hơn chục năm qua, nhưng chưa bao giờ tôi thấy cập rập, vất vả và ức chế như lần này. Thật thất vọng về chuyến bay thẳng mà tôi đã từng mong mỏi trong bao nhiêu năm nay.
Ngồi trên máy bay, bao nỗi bực dọc chợt tan biến khi tôi lướt qua dòng thời sự quốc tế về chiến tranh Nga-Ucraina và dịch bệnh COVID ở Trung Quốc, Triều Tiên trên màn hình ipad. Những điều khó chịu trong ngày của tôi chẳng có nghĩa lý gì, chẳng thấm tháp gì so với nỗi đau khổ, mất mát và tuyệt vọng mà hàng chục triệu con người trên thế giới đang phải chịu. Quả thật cái tâm chấp trước của cá nhân còn quá lớn.
Tôi nhớ sau năm 1991, khi học một chuyên đề với các giáo sư quan hệ quốc tế trong ngoài nước về hệ thống quan hệ quốc tế đơn cực, một thế giới bước vào thời kỳ toàn cầu hóa mới. Các thầy đều cho rằng hòa bình là dòng chảy chính của thời đại. Vậy mà đã xảy ra gần 40 cuộc chiến tranh kể từ đó đến nay. Và trong những ngày này một cuộc chiến trên quy mô toàn cầu vẫn đang treo lơ lửng ở cái khu vực văn minh đã từng diễn ra hai cuộc thế chiến cướp đi cuộc sống của hàng trăm triệu con người, khi mà dịch COVID-19 vẫn chưa kết thúc. 6,27 triệu người đã chết vì vi-rút. Đúng là một thế giới đầy biến động, không ai có thể biết ngày mai còn xảy ra cái gì nữa. Và cá nhân mỗi người chỉ là một hạt bụi trong cõi trần gian. Phải biết chấp nhận tất cả.
Read More

Lễ hội Chử Đòng Tử-Tiên Dung, huyền thoại về một tình yêu bất tử

Leave a Comment

 Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, huyền thoại về một tình yêu bất tử

Cách đây hai mươi năm, tôi cùng với một người bạn lần đầu đến dự lễ hội ở xã Đa Hòa thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Lễ hội này là một trong 16 lễ hội lớn nhất cả nước, gắn liền với câu chuyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một tình yêu đầy lãng mạn giữa chàng trai nghèo họ Chử và cô con gái Vua Hùng thứ 18. Ngoài việc theo thú đam mê “hội hè đình đám” cùng với hy vọng mong manh gặp lại cố nhân, tôi còn muốn tìm hiểu về điệu múa bồng ở nơi này, cũng như tôi đã đi tìm hiểu điệu múa bồng ở lễ hội Cầu Đơ (cặp múa là một nam một nữ), múa bồng ở lễ hội Nhật Tân (cặp múa là hai nữ), múa bồng ở Hào Nam (cặp múa là đôi nam)…
Tôi được biết trong gần 100 ngôi đình, đền, miếu thờ Chử Đồng Tử- Tiên Dung ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, đa số người dân các địa phương thường ngưỡng vọng, tôn Đức Thánh Chử là thành hoàng làng, một vị thần bảo hộ tâm linh cho cả cộng đồng. Một số nơi suy tôn Đức Thánh như một vị tổ nghề trồng lúa, chăn tằm, vị tổ nghề thuốc nam, vị tổ nghề chài lưới, thậm chí là tổ nghề buôn bán. Nhưng thẳm sâu trong tâm thức dân gian, thiên tình sử giữa chàng trai nơi sông nước xứ Đông và cô công chúa vùng trung du đất Tổ đã thể hiện niềm mong ước ngàn đời của dân gian và được sùng tín hơn cả.
Chử Đồng Tử và Tiên Dung là mẫu hình để cho nam nữ vượt qua cách trở giàu nghèo, địa vị xã hội, để xây dựng cuộc hạnh phúc ấm no. Đó cũng là niềm tin cho biết bao đôi nam nữ dám bước qua những rào cản quan niệm xã hội để đến với nhau. Mạch nguồn xúc cảm từ bao đời ấy cứ âm thầm chảy mãi trong huyết quản người dân châu thổ, thỉnh thoảng lại ánh lên qua những câu chuyện về những chàng trai nghèo với những cô con gái nhà quyền quý, khá giả. Dù cuộc sống thường nhật biết bao ngang trái, nhưng họ không cam lòng ngậm ngùi đau buồn như chàng Trương Chi với cô gái Mỵ Nương …
Theo Lĩnh Nam chích/trích quái, vào thời Hùng Vương đời thứ 18 ở làng Chử Xá, cạnh sông Cái có người đàn ông tên là Chử Cù Vân sinh hạ được Chử Đồng Tử. Nhà nghèo, hai cha con chỉ có một chiếc khố che thân nên phải thay nhau mặc đi làm ăn. Khi người cha già sắp mất, ông căn dặn con: “Cha chết, con táng trần cho bố, còn cái khố giữ lấy để dùng”. Không nỡ để cha chết trần, Chử Đồng Tử lấy khố đóng cho cha rồi mới chôn. Từ đấy chàng sống ở các bụi lau dọc bờ sông, xa nơi có cư dân để câu cá kiếm sống qua ngày.
Vua Hùng có người con gái tên là Tiên Dung xinh đẹp. Dù đã đến tuổi cập kê nhưng nàng vẫn thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của công chúa đi qua vùng đó. Nghe tiếng trống, đàn sáo, và thấy người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi thấy cảnh đẹp với bãi sông rộng lớn bèn sai người quây màn tắm, đúng ngay chỗ Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử trên cát. Tiên Dung e ngại hỏi han sự tình. Thấy duyên trời đã định nên nàng xin được kết duyên vợ chồng. Họ đã ở lại nơi đó cùng những người dân nghèo khai hoang, mở mang làng xóm đồng ruộng, mở bến chợ bán buôn.
Một hôm Chử Đồng Tử đi làm xa gặp Tiên ông, học đạo phật và các phép tiên, được ban chiếc gậy thần và chiếc nón lá. Chàng về quê truyền lại phép thuật cho vợ. Cả hai vợ chồng cùng đắc đạo. Họ cùng nhau đi khắp vùng, dùng gậy thần để giúp đỡ dân lành chữa bệnh... Một hôm trời tối khuya mà không có chỗ nghỉ, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy, úp nón lên trên cùng nằm nghỉ. Bỗng nửa đêm chỗ đó biến thành cung điện, nhà cửa san sát với đầy đủ người hầu kẻ hạ.
Nghe tin Chử Đồng Tử và Tiên Dung có cung điện, vua ngờ rằng hai người có ý mưu loạn nên sai quân đến đánh. Chàng và vợ không kháng cự lại cha mình. Đêm hôm ấy cả lâu đài và họ đã bay về trời sau trận cuồng phong, bão lớn để lại một vùng đất đầm lầy. Đời sau gọi là đầm Dạ Trạch...
Từ đấy cứ vào ngày 10 đến hết tháng 2 âm lịch hàng năm (có năm đến đầu tháng 3), người dân trong vùng lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn của họ. Sau chuyến điền dã ban đầu, tôi đã nhiều lần đến đền Hóa xã Dạ Trạch và đền Đa Hòa xã Bình Minh, hai địa điểm diễn ra lễ hội. Lần thì cùng bạn đi qua cầu Gia Lâm, dọc theo đường đê sông Hồng đến lễ hội. Lần thì tới Vạn Phúc, Thanh Trì đi đò qua sông. Lần thì đi xe máy đến Thường Tín rẽ trái và qua phà.
Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung được mở màn bởi các làng thuộc tổng Mễ rước kiệu thánh từ đình làng mình về đền Đa Hoà (theo nhà sưu tầm và nghiên cứu Toan Ánh, xưa kia có 8 làng). Đi đầu đoàn rước là con rồng dài trên 20 mét được vài ba chục thanh niên vạm vỡ thay nhau múa theo điệu trống thúc liên hồi . Điệu múa rồng này cũng như ở các địa phương khác không chỉ là biểu hiện tâm linh cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an mà còn bao hàm cả nội dung giáo dục tinh thần thượng võ, cầu mong phồn vinh, thịnh vượng. Múa rồng ở đây khá hoành tráng với nhiều động tác, tạo hình biến hóa sinh động như rồng chào, rồng phục, rồng chầu, rồng bay cao, hạ thấp, rồng cuộn, rồng lượn, rồng uốn khúc, rồng đuổi ngọc, ngậm ngọc...
Vào sáng ngày 11/2 âm lịch, sau khai hội một hôm, ngay từ sáng sớm các cụ phụ lão trong làng khăn áo chỉnh tề ra đền thắp hương làm lễ. Đúng giờ quy định thì đoàn rước kiệu khởi hành ra bến sông Hồng lấy nước. Theo sau là đoàn “rước du” đưa kiệu thờ các đức Thánh lên thuyền rồng dạo trên sông với nhiều nghi thức tế lễ, múa hát trên thuyền. Dọc bờ sông có các đội múa hát, chiêng trống, cờ quạt, võng lọng theo hầu. Sau khi nghi lễ lấy nước, rước nước, rước du kết thúc, chóe nước thiêng và kiệu Thánh được rước trở lại đền thì ban lễ hội tổ chức lễ dâng hương. Theo tục lệ, nước được dùng trong lễ mộc dục và để cúng phải là nước ở giữa sông Hồng, hội đủ khí âm dương. Người đại diện cho dân làng lấy nước là một cụ già và các thiếu nữ dịu dàng có đức độ trong làng. Dâng nước là hình thức tâm linh cầu nguyện cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu. Tiếp theo sau các đoàn rước là hai hàng các bà, các chị, các cô trang phục đủ sắc màu rực rỡ tay cầm cờ hội, chống chiêng, cùng ngựa hồng, ngựa bạch, gươm trường bát bửu, cặp múa bồng, đội múa sinh tiền, đội múa nón, đội nhạc lễ… Cả một vùng quê rộng lớn rộn ràng, nườm nượp người qua lại.
Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như chọi gà, bịt mắt bắt dê, bịt mắt đập niêu, đi cầu kiều, cờ tướng. Nhiều hoạt hoạt động văn nghệ đặc sắc như hát chèo, hát văn, hát ca trù, hát trống quân mang đậm nét văn hoá của xứ Đông. Mỗi năm chúng tôi đều hòa mình vào một loại hình văn hóa. Có lẽ tôi thích nhất là điệu múa bồng ở lễ hội. Các cặp nam giả nữ chít khăn mỏ quạ, xiêm áo sặc sỡ, hóa trang đích thực là những cô gái e lệ vừa đong đưa ẻo lả, vừa lúng liếng uốn éo gợi tình. Suốt dọc đường đi những động tác cách điệu nhí nhảnh đến đĩ thõa, xen vào là động tác chớt nhả, tinh nghịch của đám Thanh đề, giống như tổng hợp của nghệ thuật phô diễn quyến rũ, gợi dục. Đúng là hiện thân của tín ngưỡng phồn thực. Nó như thỏi nam châm cuốn hút nam thanh nữ tú. Ai cũng mỉm cười, kín đáo che dấu cảm xúc!
Tôi cho rằng lễ hội Chử Đồng Tử, Tiên Dung chứa đựng nhiều trầm tích văn hoá, có phong tục, tập quán văn hoá bản địa, có màu sắc Nho, Phật, Lão giao thoa, tiếp biến hoà quyện vào nhau tạo nên một tổng phổ những sắc màu văn hoá, có những hình tượng lung linh đẹp mãi tỏa rạng đến hôm nay. Vẻ bên ngoài của lễ hội là nhằm tôn vinh ca ngợi lòng hiếu thảo, thể hiện ước mơ về một cuộc sống công bằng, hạnh phúc. Lễ hội tình yêu này có lẽ bản chất ban đầu là lễ hội cầu mưa, mà ảnh xạ của nó chính là hình tượng múa rồng, nghi thức lấy nước, rước nước giữa dòng sông Hồng về cúng lễ. Theo thời gian, lớp văn hóa này chìm đi và mang một diện mạo mới khiến cho lễ hội này rất độc đáo, lễ hội của TÌNH YÊU nằm trong số tràn ngập lễ hội thờ người anh hùng chống giặc ngoại xâm của các làng xã Việt Nam.
Tóm lại, cái hay, cái đẹp của lễ hội là gắn liền với câu chuyện về nhân vật Chử Đồng Tử. Và thật trùng hợp, anh bạn tôi cũng mang họ Chử. Ở làng Vạn Phúc Thanh Trì Hà Nội còn có cả một dòng họ Chử… Câu chuyện tình Chử Đồng Tử Tiên Dung mang một số yếu tố sáng tác và tư duy nghệ thuật khá đặc sắc. Trong đó những yếu tố của tư duy cổ tích pha trộn với những yếu tố của tư duy thần thoại, Phật thoại, tiên thoại. Truyện Chử Đồng Tử có thể nói có mầu sắc huyền ảo bậc nhất trong các truyện cổ tích Việt Nam. Có nhà nghiên cứu còn coi Chử Đồng Tử là một người anh hùng văn hoá xây dựng xóm làng, khai phá đầm lầy ở châu thổ sông Hồng. Trong tâm thức dân gian của vùng đồng bằng này, Thánh Chử mãi là một trong tứ bất tử của điện thần Việt Nam. Và chính những yếu tố đó càng làm cho lễ hội ở Đa Hòa thêm hấp dẫn.
Tien Nguyen, Hoàng Điệp và 109 người khác
43 bình luận
4 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Dạy học trực tuyến và kết hợp, kinh nghiệm từ Canada

Leave a Comment

 Dạy học trực tuyến và kết hợp, kinh nghiệm từ Canada

Vài nét tổng quan

 Ca-na-đa là quốc gia trên 35 triệu dân, diện tích lớn thứ hai trên thế giới, nằm ở cực bắc của Bắc Mỹ. Canada là nhà nước liên bang, bao gồm 10 tỉnh và 3 vùng lãnh thổ, trải dài từ Đại Tây Dương ở phía đông sang Thái Bình Dương ở phía tây. Phía bắc giáp Bắc Băng Dương, phía nam  giáp Hoa Kỳ.

 Về giáo dục, Canada không có chính sách quốc gia hoặc cơ quan quản lý có thẩm quyền trên toàn quốc. Theo quy định, các tỉnh và các vùng lãnh thổ của Canada hoàn toàn chịu trách nhiệm về giáo dục. Có thể nói mỗi một tỉnh và vùng lãnh thổ  đều có một “bộ giáo dục” chịu trách nhiệm về giáo dục phổ thông và giáo dục sau phổ thông. Độ tuổi bắt buộc đến trường từ 5 đến 18 tuổi. Tỷ lệ người trưởng thành biết chữ trên 99%. Tỷ lệ người hết phổ thông trung học, trình độ cao đẳng và đại học vào hàng cao nhất của thế giới.  Quốc gia này được xếp hạng là một trong số các quốc gia chi tiêu cho giáo dục lớn nhất trên thế giới.

 Mặc dầu vậy, vẫn có sự tương đồng trong chính sách và cấu trúc giáo dục giữa 13 tỉnh và vùng lamhx thổ. Kinh phí giáo dục được cung cấp thông qua nguồn thuế của các tỉnh. Mọi trường học trong tỉnh hoặc vùng lãnh thổ đều nhận được cùng một khoản tài trợ cơ bản gần như giống nhau cho mỗi học sinh khi đăng ký vào trường học, thông qua cơ quan giáo dục địa phương chẳng hạn như học khu hoặc nhà trường. Năm học ở Canada thường bắt đầu từ tháng Chín đến tháng Sáu.  Hầu hết các tỉnh đều có hệ thống từ mẫu giáo đến lớp 12. Ngoại trừ tỉnh Québec, có hệ thống giáo dục chính thức từ mẫu giáo đến lớp 11 với học sinh tùy chọn tiếp tục việc giáo dục của họ thông qua trường nghề, bao gồm thêm hai năm phổ thông hoặc ba năm giáo dục kỹ thuật trước khi vào cao đẳng hoặc đại học.

 Do vị trí địa lý rộng lớn và bối cảnh nhiều nơi xa trung tâm, Canada giống như các quốc gia có diện tích địa lý lớn nhưng dân số ít, quốc gia này đã có một lịch sử trên 100 năm trong lĩnh vực giáo dục từ xa qua thư từ và ba chục năm gần đây là hình thức học tập trực tuyến và hình thức học tập kết hợp từ mẫu giáo tới lớp 12 (K-12). Giáo dục từ xa và dạy học trục tuyến ban đầu hình thành ở Canada chủ yếu là để phục vụ cho học sinh ở các cộng đồng nông thôn và vùng sâu vùng xa. Nhìn chung các chương trình học tập trực tuyến và kết hợp K-12 đều bắt nguồn từ mô hình giáo dục từ xa truyền thống, phát triển từ giáo dục qua thư từ đến hình thức học tập trực tuyến hoặc thông qua mô hình kết hợp giữa hình thức trực tuyến và hình thức trực tiếp.

 Ở Canada thuật ngữ  học tập trực tuyến cũng như  học tập điện tử (Electronic Learning, E-Learning) được sử dụng để mô tả cả hình thức giáo dục từ xa cũng như hình thức học tập trực tuyến và kết hợp. Hội đồng Canada về Học tập đã định nghĩa học tập điện tử E-Learning là “việc ứng dụng công nghệ máy tính vào giáo dục. E-learning có thể có nhiều hình thức. Nó có thể sử dụng hình thức học trực tiếp trong lớp học, như một phần của các hoạt động bắt buộc hoặc hoạt động đột xuất (ví dụ: thảo luận trực tuyến), hoặc để cung cấp một khóa học trực tuyến hoàn toàn. E-learning còn có thể bao gồm cả giáo dục từ xa cũng như hình thức giáo dục truyền thống trên lớp.

 Hiện tại, mỗi tỉnh và vùng lãnh thổ của Canada đều có những trường học học theo hình thức hoàn toàn trực tuyến đáp ứng nhu cầu học sinh học trực tuyến trong tỉnh, do chính quyền tỉnh thành lập và cấp kinh phí (ở Hoa Kỳ là cấp bang và học khu). Điều cần lưu ý là động lực chính cho việc học tập trực tuyến K-12 ở Canada là ở chính quyền tỉnh, không phải do các tập đoàn độc lập cung cấp dịch vụ giáo dục cho các trường trực tuyến hay bán công trực tuyến như ở Hoa Kỳ. Các tập đoàn cung cấp dịch vụ giáo dục trực tuyến (nền tảng công nghệ, phần mềm quản lý học tập, quản lý nội dung bài dạy, các công cụ học tập và thiết kế bài dạy…) ở Canada chỉ là các nhà thầu cung cấp nội dung, công nghệ và các dịch vụ do chính quyền tỉnh quyết định.

 Vào năm 1919, một trường trung học tại tỉnh British Columbia thành lập theo hình thức dạy học từ xa với số lượng là 86 học sinh, sau tăng lên hơn 600 học sinh vào năm 1929. Gần sáu thập kỷ rưỡi sau, việc học tập từ xa được hỗ trợ bởi công nghệ cũng bắt đầu ở tỉnh British Columbia với sự ra đời của Trường Định hướng Mới trong Đào tạo Từ xa và Học viện EBUS. Cả hai cơ sở giáo dục trên đều được thành lập vào năm 1993. Mô hình học tập này nhanh chóng được mở rộng ra các tỉnh khác như Manitoba, Ontario, Alberta, Newfoundland và Labrador…

 Trường học trực tuyến/ảo đầu tiên được thành lập ở Canada là Trung tâm Giáo dục Từ xa Avon Maitland, được thành lập bởi Hội đồng Trường Quận Avon Maitland ở tỉnh Ontario vào năm học 1994-1995.  Sau đó một số trường ảo tiếp theo được thành lập bắt đầu cung cấp nhiều khóa học, chẳng hạn Mạng Giáo dục Điện tử Từ xa ở Ontario và một chương trình dựa trên trường học ảo do Trường Garden Valley Collegiate ở Manitoba tiến hành trong năm học 1995-1996. Tiếp theo có một số liên hiệp học khu cung cấp các chương trình học trực tuyến cho khối K-12 ở tỉnh Alberta, nơi từ năm 1995 đến 1999 có 23 chương trình học trực tuyến được triển khai. Trong thập kỷ tiếp theo, tỉnh Alberta tiếp tục phát triển các chương trình học trực tuyến ở các học khu và đa học khu. Sau đó các học khu ở Newfoundland và Labrador tiếp tục thành lập và mở rộng các trường học ảo như hiện nay…

 Canada là một trong số những quốc gia có tỷ lệ học sinh, sinh viên đăng ký tham gia các khóa học và chương trình trực tuyến cao nhất trên thế giới và là một trong những quốc gia đầu tiên sử dụng Internet để cung cấp các khóa học đào tạo từ xa cho sinh viên. Với 5,1 triệu học sinh theo học các chương trình giáo dục ở Canada trong năm học 2015-2016, ước tính số học sinh tham gia học trực tuyến K-12 trong năm học này là 293.401 học sinh, chiếm 5,7% tổng số học sinh K-12. Mức độ học tập trực tuyến cao nhất, dẫn đầu cả nước theo tỷ lệ học sinh tham gia là tỉnh British Columbia. Một số khu vực của tỉnh báo cáo trên 12% học sinh K-12 học trực tuyến. Cá biệt ở một vài khu vực có mức độ học sinh tham gia học trực tuyến lên tới trên 20%.

 Cũng theo thống kê của các tỉnh ở Cannada, ngoài học trực tuyến, năm học 2015-2016 có 405.319 học sinh, chiếm 7,9% học sinh K-12 tham gia vào hình thức học tập kết hợp, trong đó ít nhất có một phần hướng dẫn học trực tuyến diễn ra trong lớp học, một phần học trực tuyến không diễn ra trong lớp học, cả hai hình thức trên kết hợp với một số yếu tố lựa chọn trong việc học tập của học sinh. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích tổng hợp các nghiên cứu về hình thức học tập kết hợp (Blended Learning) và khẳng định rằng môi trường học tập kết hợp đang chứng tỏ mức độ hiệu quả cao hơn so với môi trường học tập trực tuyến hoàn toàn hoặc học tập trực tiếp hoàn toàn. Ngoài ra, họ phát hiện ra rằng khi các khóa học trực tuyến do giáo viên hướng dẫn hoặc có một số yếu tố hỗ trợ kết hợp, thì hiệu quả của hình thức/phương pháp này sẽ cao hơnHọc tập kết hợp, kết hợp các yếu tố tốt nhất của hình thức học trực tuyến và hình thức học trực tiếp có thể sẽ trở thành mô hình giảng dạy chủ đạo trong tương lai ở Canada.

 Về chính sách và quy định quản lý về học tập trực tuyến

Hiện tại, tất cả mười tỉnh và ba vùng lãnh thổ của Canada đều có các trường học trực tuyến ở cấp độ K-12. Có hai tỉnh sử dụng một chương trình giáo dục trực tuyến qua cổng giáo dục trực tuyến duy nhất trên toàn tỉnh. Bốn tỉnh chủ yếu dựa vào các chương trình trực tuyến ở cấp huyện. Bốn tỉnh khác có sự kết hợp một chương trình toàn tỉnh và một số chương trình cấp huyện. Ba vùng lãnh thổ và một tỉnh chủ yếu dựa vào các dịch vụ giáo dục trực tuyến do các tỉnh khác cung cấp. 

 Chế độ quản lý đối với giáo dục trực tuyến K-12 có nhiều hình thức khác nhau. Một vài  tỉnh có các điều khoản trong Đạo luật Giáo dục hoặc Đạo luật Trường học liên quan đến chính sách và việc quản lý giáo dục từ xa, giáo dục trực tuyến.  Tuy nhiên, hầu hết các tỉnh đều có một số quy định chính sách và quản lý riêng. Một số tỉnh điều hành, quản lý theo các Chỉ thị của người đứng đầu ngành giáo dục, các văn bản chính sách do ngành giáo dục tỉnh ban hành . Một số tỉnh điều hành, quản lý theo các thỏa thuận được ký kết giữa bộ giáo dục (cấp tỉnh) và các hội đồng trường, trong khi các thỏa thuận khác đưa các nội dung cụ thể vào thỏa ước thương lượng tập thể giữa chính quyền và công đoàn giáo viên…

 Phương thức tài trợ kinh phí cho các cơ sở giáo dục trực tuyến và các chương trình trực tuyến thuộc quy định của cấp tỉnh. Ví dụ các chương trình học tập điện tử ở các tỉnh thuộc khu vực Đại Tây Dương của Canada hoạt động theo quy định của các cơ quan giáo dục tỉnh và do đó, được tài trợ như một phần của hoạt động giáo dục chung. Québec là tỉnh duy nhất của Canada có chương trình học tập điện tử được tài trợ thông qua nhiều nguồn dự án riêng lẻ. Một số tỉnh còn lại, các chương trình trực tuyến chủ yếu do các học khu quản lý và được tài trợ trong nội bộ học khu. Một số tỉnh, cơ quan giáo dục cung cấp hỗ trợ cho các hoạt động học tập trực tuyến. Ví dụ ở tỉnh Ontario và Manitoba, cơ quan giáo dục tài trợ cho chương trình học tập trực tuyến cấp tỉnh, trong khi ở các tỉnh khác, cơ quan giáo dục không tài trợ cho các chương trình dựa trên học khu. Nhưng chung quy lại, các cơ sở giáo dục trực tuyến đều nhận được kinh phí tài trợ của chính quyền tỉnh. Nó chỉ khác nhau ở hình thức phân phối, điều hành.

 Mức độ và nguồn tài trợ cụ thể khác nhau giữa các tỉnh có tác động tới hiệu quả của các chương trình giáo dục trực tuyến; có khả năng ảnh hưởng khác nhau tới việc cung cấp các dịch vụ giáo dục, cho phép cung cấp cơ sở dữ liệu cấp tỉnh về các nguồn tài nguyên giáo dục có sẵn cho các nhà trường và học sinh trong quá trình học tập trực tuyến và kết hợp. Nói tóm lại, hầu hết các chương trình giáo dục trực tuyến trên đất nước Canada đều được cơ quan giáo dục cấp tỉnh tài trợ thông qua các cơ quan quản lý giáo dục địa phương hoặc các khu học chánh hoặc cơ sở tự vận hành chương trình học tập trực tuyến. Do đó, bản chất của các dịch vụ và chương trình là tập trung vào các nhu cầu cụ thể của huyện hoặc tỉnh, hoặc bị hạn chế do phân bổ kinh phí cho các chương trình và nhiệm vụ khác của huyện hoặc tỉnh.

 Cho tới thời điểm này ở Canada chưa có hình thức tiêu chuẩn nào được đưa ra như một phần của cơ chế quản lý về việc học trực tuyến. Ngoài ra, cũng không có bất kỳ tiêu chuẩn chất lượng  về học tập trực tuyến cụ thể nào. Khác với Hoa Kỳ, có quá nhiều tiêu chuẩn, từ cấp quốc gia đến cấp bang, từ cấp vùng đến cấp hiệp hội để đo lường chất lượng của nội dung khóa học trực tuyến và giảng dạy trực tuyến. Ví dụ Hiệp hội Quốc tế về Học tập Trực tuyến K-12 (iNACOL) của Mỹ, chỉ một hiệp hội thôi cũng đã ban hành  một bộ “tiêu chuẩn quốc gia” của riêng họ, tập trung vào việc thiết kế khóa học trực tuyến, giảng dạy trực tuyến, công nghệ và phương pháp sư phạm giảng dạy trực tuyến.

 Hỗ trợ học tập trực tuyến

 Các chương trình học tập trực tuyến thành công đòi hỏi phải có đầu tư ban đầu vào các nguồn  lực như tài nguyên kỹ thuật số, phần mềm quản lý học tập, quản lý nội dung bài giảng, khóa học,  hướng dẫn triển khai hiệu quả các tài nguyên cùng với cơ sở hạ tầng công nghệ để phân phối… Cuối cùng là đội ngũ giáo viên có kỹ năng sử dụng công nghệ và sư phạm trực tuyến để hướng dẫn học sinh tương tác với công nghệ học tập kỹ thuật số, tài nguyên và khóa học, đồng nghiệp và giáo viên. Hầu hết các cơ quan quản lý giáo dục Canada trong mấy chục năm qua đã phải vật lộn để cung cấp đầy đủ nguồn lực cho các chương trình học tập trực tuyến do tính phức tạp và chi phí cơ sở hạ tầng và chi phí cho nội dung và công nghệ. Do đó, nhiều tỉnh ở Canada đã phát triển nhiều hiệp hội khác nhau để giải quyết hỗ trợ việc học trực tuyến.

 Các hiệp hội liên kết với nhau dựa trên lợi ích chung và lợi ích riêng chẳng hạn như Hiệp hội vận động chính sách; Hiệp hội chia sẻ thông tin, mua chung, phát triển nội dung và phát triển nghề nghiệp.  Một số mô hình liên kết bao gồm liên kết tự nguyện của các tổ chức khác nhau để tạo thành một hiệp hội lớn dựa trên nhu cầu chung và mô hình chia sẻ nguồn lực, trong đó các tổ chức chia sẻ các nguồn lực bao gồm chuyên môn, tài nguyên học tập, công nghệ. Trên thực tế, phần lớn ở các tỉnh đã hình thành các mô hình liên kết sẻ tài nguyên giáo dục.

 Mặc dù một số bộ/sở giáo dục cấp tỉnh và vùng lãnh thổ hiện đang đầu tư vào hình thức học tập trực tiếp với các chương trình riêng hoặc thông qua các chiến lược tài nguyên và công nghệ tập trung để hỗ trợ học tập trực tuyến trong khu vực của họ, cấp cơ quan giáo dục địa phương vẫn có kế hoạch riêng chia sẻ những cái mới về công nghệ mạng, tài nguyên và đào tạo hỗ trợ giáo viên trong việc phát triển và triển khai các chiến lược học tập trực tuyến.  Do đó, một số liên minh đã xuất hiện trên khắp Canada để giải quyết các nhu cầu cụ thể về học tập trực tuyến trong phạm vi quyền hạn của tỉnh.

 Ví dụ tại British Columbia, một trong những liên minh học tập trực tuyến đầu tiên được thành lập là Hiệp hội Học tập Trực tuyến, hay Trường COOL School. Trường này ban đầu là một nhóm gồm bốn học khu bắt đầu bằng cách chia sẻ hệ thống quản lý học tập (LMS) thông qua trường cao đẳng cộng đồng trong khu vực. Sau đó, khi bộ giáo dục tỉnh thành lập tổ chức độc lập của riêng mình để triển khai các chương trình trực tuyến ở cấp tỉnh, các thành viên đã xây dựng tổ hợp COOL School ban đầu thành mạng lưới học tập trực tuyến BC Learning Network. Liên minh này đã mở rộng ra 51 khu học chánh của British Columbia.

 Các liên minh khác cũng xuất hiện ở Canada khi các chương trình học tập trực tuyến tiếp tục xuất hiện và mở rộng. Ví dụ tại tỉnh Alberta, hai nhóm liên minh đã xuất hiện trong lĩnh vực học tập trực tuyến: nhóm kết hợp Alberta và Alberta Moodle Hub. Liên minh này bắt đầu như một nhóm tình nguyện gồm các giáo viên và quản trị viên của Alberta tổ chức hội nghị chuyên đề hàng năm để thúc đẩy học tập trực tuyến và kết hợp thông qua đối thoại và chia sẻ. Nhóm này gần đây đã đăng ký và nhận được tư cách là một tổ chức phi lợi nhuận của tỉnh Alberta (Hiệp hội học tập kết hợp  Alberta) và nhận được tài trợ từ Bộ Giáo dục Alberta . Các thành viên chủ yếu đến từ Alberta, những người chia sẻ các khóa học được xây dựng trên nền tảng hệ thống quản lý học tập mã nguồn mở (LMS) và thường xuyên gặp gỡ nhau để chia sẻ các chiến lược liên quan đến việc triển khai các khóa học về hệ thống quản lý học tập.

 Do sự phát triển mạnh mẽ của hình thức học tập trực tuyến và kết hợp, Hiệp hội quốc gia Canada về học trực tuyến mới được thành lập vào tháng 7 năm 2013, CANeLearn, với sứ mệnh “cung cấp năng lực lãnh đạo, sự thành công của việc học tập bằng cách hỗ trợ các tổ chức và nhà giáo dục liên quan đến việc học trực tuyến và kết hợp thông qua mạng lưới, cộng đồng và các nghiên cứu cơ hội ” (Canada eLearning Network, 2016, trang 3). CANeLearn, được đăng ký dưới tên Corp Canada với tư cách là một tập đoàn phi lợi nhuận của Canada, là một mạng lưới các chương trình trực tuyến và kết hợp ở khắp Canada, với mục tiêu hỗ trợ, cộng tác và chia sẻ chương trình như một quá trình học tập chuyên nghiệp, nghiên cứu về học tập trực tuyến và kết hợp, chính sách và tiêu chuẩn nghề nghiệp. CANeLearn bắt đầu phát triển như một mạng lưới của quốc gia từ năm 2014 đến nay, và mở rộng trên toàn quốc khi các thành viên gặp nhau trong khu vực tại các sự kiện cấp tỉnh cũng như toàn quốc hàng năm vào mùa hè.

 Hai năm qua giáo dục Canada cũng như các nước đều bị ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Khối K-12 cũng nằm trong tình trạng chung. Đặc biệt khu vực học sinh và sinh viên quốc tế phải đối mặt với một tác động động tiêu cực về mặt kinh tế. Số lượng học sinh và sinh viên quốc tế giảm 17% so với trước đại dịch. Tuy nhiên, một trong những điểm sáng đáng chú ý là sự gia tăng mạnh mẽ của hình thức học trực tuyến. Đại dịch buộc các cơ sở giáo dục phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi học trực tuyến và kết hợp, để duy trì tính cạnh tranh và điều chỉnh các hạn chế đi lại và hoàn cảnh  rủi ro mà học sinh, sinh viên quốc tế của họ phải đối mặt. Với bề dày truyền thống trên 100 học tập từ xa và gần 30 năm kinh nghiệm phong phú về học tập trực tuyến và kết hợp, tổ chức quốc gia như CANeLearn nói riêng và hình thức học tập trực tuyến và kết hợp ở các tỉnh , vùng lãnh thổ của Cannada đã và đang có những bước phát triển ngoạn mục, có những đóng góp rất đáng trân trọng cho một hình thức học tập mới của nhân loại.

Đề xuất và kết luận

Từ kinh nghiệm của Canada và Mỹ (năm học 2021-2022 ở Mỹ có 40 bang /50 có trường học trực tuyến hoàn toàn; có trên 1000 trường học trực tuyến và kết hợp với 70.000 học sinh K-12 đăng ký đầu nămhọc), cùng với 60% các nước trên thế giới có trường học trực tuyến hoàn toàn (ở Đông Nam Á tiêu biểu là Singapore), chúng tôi cho rằng đã đến lúc Việt Nam thành lập một số học trực tuyến. Hoặc chí ít nên thành lập một trường học trực tuyến trực thuộc Bộ Giáo dục và một số trường học theo hình thức kết hợp ở một số tỉnh và thành lớn, với mục đích:

1, Tập trung nghiên cứu vế chương trình học tập trực tuyến và kết hợp, hướng tới sự đổi mới về hình thức dạy học/ phương pháp giảng dạy ở các trường công lập trong thời đại kỹ thuật số và trong môi trường dịch bệnh học sinh phải nghỉ học như trong đại dịch COVID-19.

2, Tạo nguồn tài nguyên giáo dục mở quốc gia theo tinh thần của Liên hợp quốc, bao gồm tài nguyên sách giáo khoa mở theo cải cách giáo dục, tài liệu giảng dạy và tham khảo, phần mềm quản lý học tập và quản lý nội dung bài giảng trực tuyến… làm cơ sở dữ liệu chung cho việc dạy học trực tuyến và kết hợp ở khối phổ thông.

3, Thành lập các tổ chức mới và hỗ trợ các tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện, nghiên cứu các chương trình nghiên cứu dài hạn để đánh giá, rút kinh nghiệm từ các trường học trực tuyến và kết hợp, cũng như việc triển khai học tập trực tuyến và kết hợp ở các trường công lập.

4, Nghiên cứu, phát triển các quy trình, công thức phân bổ kinh phí mới dựa trên chi phí thực tế của việc vận hành các trường học trực tuyến và kết hợp.

5, Xây dựng, hướng dẫn cơ chế quản lý để đảm bảo các trường học trực tuyến và kết hợp là hình thức dạy học tiên tiến của kỷ nguyên kỹ thuật số, có kết quả cao theo dòng chảy chung của giáo dục trực tuyến và kết hợp của quốc tế.

6, Thực hiện chương trình giảng dạy trực tuyến và kết hợp có chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn của quốc tế; tiến tới sử dụng và hội nhập với nguồn tài nguyên giáo dục mở của nhân loại.

7, Xác định tiêu chuẩn, đào tạo, chứng nhận các yêu cầu có liên quan đến các vấn đề như chính sách, quản lý, giáo viên dạy học trực tuyến và kết hợp; yêu cầu các chuyên gia dựa trên nghiên cứu phát triển các tiêu chuẩn sư phạm,công nghệ, nội dung, phương pháp dạy học trực tuyến và kết hợp để thúc đẩy việc dạy học trực tuyến và kết hợp ở khối phổ thông.

 Hơn 2 năm đại dịch COVID-19 các trường học Việt Nam gần như đều tiến hành dạy học trực tuyến. Tất cả những khó khăn, thách thức cũng như những cơ hội ngành giáo dục đều cảm nhận được. Ở các nước tiên tiến, ngành giáo dục của họ cũng gặp phải khó khăn và thách thức như chúng ta. Nhưng từ ba thập kỷ trước họ đã phát triển hình thức học tập trực tuyến và kết hợp. Qua đợt dịch này có thể họ sẽ hoàn thiện hình thức học tập trực tuyến và kết hợp ở khối K-12. Hy vọng rằng Việt Nam chúng ta sẽ học hỏi được đôi điều về việc tổ chức, vận hành hình thức học tập trực tuyến và kết hợp của một cường quốc giáo dục hàng đầu thế giới như Canada.

 

Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.