Meet The Author

NGUYEN DUY HUE

03/06/1952

Hà Nội, Việt nam.

author

Capitol Jeferson, Missouri

Leave a Comment

 Capitol Jefferson, Missouri

Thành phố Jefferson là thành phố thủ phủ bang Missouri, thành phố được mang tên Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ Thomas Jefferson ngay sau khi ông qua đời. Jefferson nằm ở phía bắc cao nguyên Ozark và phía nam sông Missouri, miền trung Missorri, một trong những vùng sản xuất rượu vang nổi tiếng khắp đất nước. Dân số thành phố theo thống kê năm 2020 có trên 43.000 người. Chính quyền thành phố bao gồm Hội đồng Thị trưởng 12 thành viên được bầu theo các khu vực trong thành phố, đứng đầu là một thị trưởng do các cử tri trực tiếp bầu.
Cũng giống như nhiều thành phố thủ phủ bang của Hoa Kỳ, Jefferson là một thành phố nhỏ. Sau khi đi xe lòng vòng ngắm nhìn cảnh quan chung của thành phố du lịch này, chúng tôi thăm tòa nhà mái vòm Capitol, trụ sở làm việc của chính quyền bang Missouri. Đây là tòa nhà được đánh giá có kiến trúc và trang trí nội thất đẹp nhất trong số 50 trụ sở làm việc của chính quyền bang Hoa kỳ.
Kiến trúc chung của tòa nhà cũng giống như kiến trúc chung của Capitol liên bang và của các bang khác. Nhưng tôi rất ngỡ ngàng khi bước vào khu vực này. Tòa nhà nằm hài hòa trong một khung cảnh thiên nhiên xanh vừa rộng vừa thoáng đãng. tôi thấy mình như bước vào một công viên kiến trúc và điêu khắc. Những đài phun nước nghệ thuật đẩy những dòng nước trắng xóa lên bầu trời xanh ngắt. Những dãy tượng đài cao thấp, xa gần nối tiếp nhau. Những ô tiểu cảnh đủ hình dạng. Những hàng cây, vườn hoa đua sắc, khoe mầu... Khung cảnh bên ngoài của một cơ quan công quyền giống như một công viên mênh mông, đẹp như một công trình nghệ thuật.
Đặc biệt hơn là không có một bức tường, không có một hàng rào ngăn cách khu vực công quyền với các khu vực dân sự bên ngoài; không thấy có một bóng dáng cảnh sát, cảnh vệ cầm súng đứng gác như các cơ quan công quyền ở các nước mà tôi từng biết. Người dân ở đây đều có quyền ra vào tự do nơi làm việc của chính quyền. Có cả lối đi dành riêng cho người khuyết tật đi bằng xe lăn.
Tôi thấy hàng đoàn học sinh cấp tiểu học, trung học, hàng đoàn khách du lịch ra vào tự do, không một ai kiểm soát. Ban đầu tôi cứ băn khoăn, chẳng lẽ nơi đây chỉ để cho mọi người tham quan chứ không phải là nơi làm việc chính thức. Nhưng rồi chợt hiểu, đây chính là cơ quan công quyền cao nhất, cơ quan lập pháp của thượng viện, hạ viện bang Missouri, nơi làm việc của chính quyền bang, nơi tiến hành các cuộc họp thông qua những quyết sách về kinh tế-xã hội, nơi quyết định về các chính sách công như an ninh, y tế, giáo dục, giao thông, cơ sở hạ tầng... Nơi đây cũng là nơi làm việc của thống đốc bang, phó thống đốc bang, văn phòng chính quyền bang, kho bạc, kiểm toán và một số cơ quan hành chính của bang.
Toàn bộ tòa nhà Capitol đều làm bằng đá cẩm thạch. Tòa nhà dài 133m, rộng 90 m, mái vòm đặc trưng cao 73 m. Phía trên cùng của mái vòm là bức tượng đồng Ceres, tượng nữ thần nông nghiệp trong thần thoại La Mã. Ở cách xa hàng dặm người ta vẫn có thể trông thấy bức tượng đồng này. Từ dưới nhìn lên, mái vòm ở chính giữa tòa nhà cao vút in trên nền trời xanh, lãng đãng từng chùm mây trắng.
Nhìn tổng thể tòa nhà, người ta cảm nhận nó vừa uy nghi cân đối, vừa hài hòa duyên dáng bởi sáu cột cao 12 m ở chính giữa; lùi xuống một chút là hàng hiên hai bên, mỗi hàng hiên chạy dài 8 cột cao 12m. Qua đài phun nước, qua khoảng sân bê tông xen những ô cỏ vuông vắn, bước lên khoảng mấy chục bậc vào tòa nhà, sừng sững ngự trị lối vào cửa phía nam là bức tượng Tổng thống Thomas Jefferson, người sáng lập ra chính đảng tư sản Hoa Kỳ, nhà chính khách, ngoại giao, luật sư, kiến trúc sư, người soạn thảo Tuyên ngôn Độc Lập Hoa Kỳ năm 1776.
Tầng một của tòa nhà là bảo tàng sưu tập trưng bày 93.000 hiện vật và đối tượng của lịch sử tự nhiên, lịch sử cuộc sống con người, xã hội, lịch sử các nguồn tài nguyên thiên nhiên của bang Missouri. Chúng tôi vừa đi xem vừa quay phim, chụp ảnh. Xã hội và con người, quá khứ và hiện tại của Missouri đa dạng và sống động như một bức tranh lôi cuốn thu hút người tham quan. Từ chiếc búa chim ngày đầu khai phá miền đất Missouri đến cỗ máy xúc hiện đại và chiếc máy in 3D, từ cánh đồng cỏ hoang dại đến những dãy nhà kính nông nghiệp công nghệ cao, từ khẩu súng kíp đến bệ phóng tên lửa... Tất cả đều lôi cuốn. Mọi người liên tục bấm máy ảnh ghi lại những hình ảnh làm kỷ niệm.
Người ra vào nườm nượp, nhưng không khí trong phòng rất trang nghiêm. Ngay cả các em học sinh nhỏ cũng rất trật tự. Chỉ nghe tiếng thuyết minh của nữ nhân viên bảo tàng và thỉnh thoảng có tiếng rì rầm trao đổi riêng nhưng không gây cho người ta cảm giác chú ý. Xem lướt qua bộ sưu tập, điều in đậm nhất trong tâm trí tôi là mấy chục chiếc lá cờ trong những cuộc chiến rách bạc qua hàng trăm năm vẫn còn được đóng khung trang trọng; là hình ảnh những con tàu thời nội chiến cùng với những chiến binh dũng cảm; là mô hình các chiến hạm và tàu sân bay USS Missouri bằng đồng. Nói về các cựu chiến binh, tôi thấy nhân viên của bảo tàng đã dành những lời lẽ tốt đẹp nhất, trân trọng nhất để ngợi ca vai trò của họ trong lịch sử của bang Missouri.
Người thuyết minh cho chúng tôi biết, có một bức tuyệt phẩm đồ sộ của họa sĩ nổi tiếng Thomas Hart Beton vẽ trên bốn bức tường căn phòng Lounge, nơi sử dụng làm Phòng Hội nghị lớn của Nghị viện Missouri trên tầng ba. Có thể nói đó là “Cuốn lịch sử bằng tranh về xã hội Missouri những ngày đầu lập quốc”.
Chúng tôi quyết định vào thang máy để đi lên tầng ba trước. Dọc hành lang vào phòng Lounge, người ta trưng bày tượng các chính khách, các nghệ sĩ, các nhà khoa học, các danh nhân của quốc gia nhưng chủ yếu là của bang Missouri. Tôi không còn đủ thời gian để tìm hiểu những công trình điêu khắc này.
Theo chân một nhóm du khách, chúng tôi bước vào một trong những điểm bây giờ là niềm tự hào của người dân Missouri. Đúng là một bức tranh hoành tráng trên nền đá cẩm thạch phủ kín bốn bức tường của Phòng họp Đại Hội đồng. Người ta kể lại vào giữa những năm 30 của thế kỉ trước, các nghị sĩ đã tranh cãi nhau kịch liệt về nội dung bức tranh, không nhóm nào chịu nhường nhóm nào. Người ta cho rằng tác phẩm quá trần trụi. Nhưng rồi thời gian đã minh oan cho người nghệ sĩ. Theo nhận xét của giới mỹ thuật, đây là một sáng tạo nghệ thuật sáng tạo, phản ánh chân thực cuộc sống thường ngày của người dân Missouri trong một giai đoạn lịch sử.
Bức tranh bắt đầu bằng hình ảnh những người đi tiên phong đến vùng đất Missouri trên con tàu hơi nước Sam Clemen cùng với những chiếc bè mảng, những người định cư đầu tiên với khuôn mặt chai sạn, thân hình vạm vỡ cùng với những thương nhân đầu tiên trong bộ vét sang trọng đang trao đổi hàng hóa. Tiếp đến là hình ảnh những người khai thác gỗ, thợ cơ khí làm bánh xe chở hàng hóa và những ngôi nhà đầu tiên trên vùng đất; những người lao động nô lệ gầy còm khai thác thác khoáng sản trên công trường, trong đó có cảnh người chủ vung roi đánh đập người làm thuê đang ngã khụy xuống; những người đàn ông, đàn bà ở thuê bị đuổi khỏi những ngôi nhà; cảnh sinh hoạt làm việc của nông dân trong trang trại, cảnh người đàn ông xẻ gỗ và người đàn bà nấu cơm; cảnh buổi họp của chính quyền với người dân; cảnh đội quân cưỡi ngựa đuổi tàu cướp và cảnh xử án; cảnh sinh hoạt tắm rửa, cán bột làm bánh; cảnh người công nhân đang lao động, người phụ nữ đánh máy trong xưởng cơ khí; cảnh sinh hoạt khiêu vũ tai câu lạc bộ nhạc Jazz... Đúng là một cuốn lịch sử bằng tranh thật sống động.
Từ bàn chủ tọa, tôi đi xuống từng hàng ghế quan sát những thiết bị dành cho các nghị sĩ. Càng xuống phía cuối, nền và các hàng ghế càng được nâng lên cao. Cuối cùng là những hàng ghế dành cho bất kì ai muốn đến, kể cả học sinh nếu đăng kí vào tham dự kỳ họp của nghị viện, đó là quyền của mọi người. Tôi rất muốn ghi lại hình ảnh về căn phòng này vì nó đem lại cho tôi rất nhiều cảm xúc. Rất tiếc, phòng này theo quy định không ai được phép quay phim chụp ảnh. Dù không có bảo vệ, dù trong phòng không còn một ai, tôi cũng không dám đưa máy ảnh lên.
Chúng tôi tiếp tục đi thăm một số phòng chức năng trên tầng bốn, tầng năm và quay trở lại tầng hai. Đi qua Phòng Thống đốc Jay Nixon, tôi thấy ông đang làm việc trước một chiếc bàn có cắm hai lá cờ nhỏ, một lá cờ của bang, một lá cờ của liên bang. Ông mặc bộ vét màu xanh đen, áo trắng, thắt cà vạt màu tím nhạt. Tôi đoán ông khoảng ngoài sáu mươi. Mái tóc bạc như cước. Gương mặt đầy đặn rạng ngời với cặp kính trắng trông dáng vẻ trí thức hơn là một chính trị gia. Tôi biết, ông là cựu học sinh Trường Luật thuộc Trường Đại học Missouri và từng lấy hai bằng đại học tại trường học này.
Jay Nixon đã kinh qua những cương vị như Thượng Nghị sĩ bang, Tổng Chưởng lí bang. Tôi biết ông vì đã được tham dự một buổi diễn thuyết tranh cử thống đốc bang nhiệm kì hai của ông tại trường Đại học Missouri. Con gái đã giới thiệu cho tôi biết về thân thế sự nghiệp của ông. Thành tích lớn nhất trong nhiệm kì đầu của ông là cải thiện đáng kể tình trạng thất nghiệp và đẩy mạnh chương trình chăm sóc y tế cho người dân. Tranh cử nhiệm kì hai ông cam kết ba điều. Thứ nhất, ông sẽ thúc đẩy chương trình nghị sự của chính phủ có hiệu quả hơn. Thứ hai, ông sẽ tăng cường cải cách y tế làm giảm chi phí chăm sóc sức khỏe người dân. Thứ ba, ông sẽ tạo mọi cơ hội để tất cả học sinh trung học phổ thông tốt nghiệp được vào đại học và cao đẳng.
Một ngày thăm quan tòa nhà Capitol đã để lại trong tôi rất nhiều cảm xúc. Điều tôi vẫn thắc mắc là tại sao không thấy cảnh sát hay nhân viên bảo vệ tòa nhà. Ở cả các trường đại học, trường phổ thông tôi đã từng đến thăm cũng cũng không thấy cảnh sát và bảo vệ. Tôi chia sẻ điều đó với bạn của con gái, cô ấy trả lời: “Từ ngày bọn con sang bên này, bao nhiêu năm rồi cũng chưa nhìn thấy cảnh sát. Có lẽ họ ngồi đâu đó ở văn phòng làm việc. Con chỉ thấy cảnh sát qua phim ảnh của họ mà thôi. Có lẽ cũng vì không có cảnh sát hay bảo vệ nên có một số người bạo loạn, gây rối ở Điện Capitol Mỹ hồi Tổng thống Trumpt thất cử. Và vừa rồi có một kẻ sát nhân 18 tuổi bắn chết bà của mình, rồi vào trường học bắn chết 19 học sinh ở một trường tiểu học ở bang Texas. Đó chính là cái giá của tự do theo kiểu Mỹ”.
Read More

Thành phố San Francisco

Leave a Comment

 Thành phố San Francisco

San Francisco là tên của Thánh Phanxicô, cũng là tên của thành phố và Quận San Francisco (City and County of San Francisco). Thành phố là một trong 4 thành phố lớn của bang Cali (Los Angeles, San Diego, San Jose), là một trung tâm văn hóa, thương mại, tài chính bang Cali, Hoa Kỳ.
Tọa lạc tại miền Bắc Cali, San Francisco có 873.965 dân cư theo số liệu diều tra năm 2020. Thành phố có diện tích khoảng 121 kilômét vuông, chủ yếu nằm ở phía bắc của Bán đảo San Francisco thuộc Khu vực vịnh San Francisco ( Khu vực vịnh San Francisco là một vùng đô thị khoảng 4,7 triệu cư dân, với GDP là 592 tỷ đô la vào năm 2019. Bình quân thu nhập đầu người là 139.405 đô).
San Francisco được thành lập vào năm 1776, khi những người thực dân Tây Ban Nha thành lập Pháo đài San Francisco tại eo biển Golden Gate. Cơn sốt vàng California năm 1849 đã mang lại tốc độ phát triển nhanh chóng, khiến San Francisco trở thành thành phố lớn ở Bờ Tây vào thời điểm đó… Theo Wikipedia, trong chiến tranh thế giới thứ 2, thành phố là bến cảng chính cho các hoạt động vận chuyển binh sĩ và hàng hóa quân sự đến Mặt trận Thái Bình Dương. Sau đó trở thành nơi ra đời của Liên Hợp Quốc vào năm 1945. Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Chiến tranh Việt Nam.
San Francisco là một địa điểm du lịch nổi tiếng, được biết đến với mùa hè mát mẻ, đầy sương mù, những ngọn đồi cùng với những con phố dốc, sự kết hợp đa dạng của nhiều nền kiến trúc khác nhau. Các địa nổi tiếng bao gồm Cầu Cổng Vàng, tàu điện cáp treo, Nhà tù Alcatraz, Bến Ngư Phủ và Khu phố Tàu, cùng với rất nhiều địa điểm văn hóa, khoa học, giáo dục. Du khách có thể dành một vài ngày đến cả một tuần thăm quan, khám phá.
Địa điểm chúng tôi đến thăm đầu tiên là Cầu Cổng Vàng (Golden Gate Bridge). Tôi không ngờ vào mùa hè mà ở đây lại lạnh đến vậy. Đặc biệt là khi đi dọc theo bờ vịnh để lên cầu và ở trên cầu. May mà các con nhắc nhở trước khi đi tôi phải mang áo rét. Cầu Cổng Vàng là cây cầu treo nối giữa San Francisco và hạt Martin Country. Nó được sơn màu đỏ và vàng nổi bật trong lớp sương mù dày đặc mênh mông trên vịnh. Theo chỉ dẫn và lời giới thiệu, cây cầu này mất 7 năm thi công xây dựng, được hoàn thành năm 1937. Cầu Cổng Vàng là cây cầu treo lớn nhất thế giới và nó đã trở thành biểu tượng của thành phố San Francisco đầy sức sống với những dòng ô tô hai chiều đi lại bất tận.
Chỉ có cháu Lâm dẫn tôi đi thăm pháo đài San Francisco, vì bố mẹ cháu đã nhiều lần dẫn người thân, anh em, bạn bè đi thăm khu vực này. Gió biển thổi lồng lộng, lạnh giá. Hai ông cháu phải đội mũ trùm kín đầu. Đây là lần đầu tiên tôi được mục sở thị một pháo đài, nơi ăn chốn ở, kho súng đạn, vị trí bố phòng, súng đại bác, những hỏa điểm… Đúng là một căn cứ quân sự phòng thủ độc đáo, kiên cố, theo kiến trúc đặc trưng của người Tây Ban Nha từ những năm cuối thế kỷ 18. Trải nghiệm này giúp tôi hiểu thêm về lịch sử thời thuộc địa của nước Mỹ; đồng thời gợi cho tôi nhớ lại cuộc Chiến tranh Mỹ-Mexico, người Mỹ đã giành California như thế nào; gợi cho tôi nhớ lại những thương vụ có một không hai trong lịch sử thế giới. Đó là thương vụ sau khi giành được độc lập, người Mỹ đã mua lại vùng đất/lãnh thổ thuộc địa của người Tây Ban Nha (Florida) với giá 5 triệu đô la, thương vụ người Mỹ mua lại vùng đất Lousiana của người Pháp với giá 3.750.000 đô la và thương vụ mua lại vùng đất Alaska của người Nga với giá 7,2 triệu đô la, để nước Mỹ có được một lãnh thổ rộng lớn, từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương, từ Bắc cực đến Trung Mỹ với diện tích 9.525.067 km vuông.
Điểm đến thăm tiếp theo là Công viên Cầu Cổng Vàng. Đây là một công viên đô thị rộng 1017 mẫu Anh, có cối xay gió, khu động thực vật hoang dã, khu bảo tàng và cả một khu sinh thái ẩn dấu bao điều quyến rũ. Nếu đi thăm và khám phá kỹ càng, tôi nghĩ phải dành cả một ngày, nhưng thời gian không cho phép. Đành để những lần sau.
Sau cầu Cổng Vàng thì đường hoa Lombard là một trong những điểm được du khách ưa thích nhất khi du lịch San Francisco. Đường hoa Lombard nổi tiếng với độ dốc đặc biệt. Ngắm nhìn Lombard tôi thấy giống như làn sóng lượn lên cao dần với một rừng hoa rực rỡ. Vào mùa xuân và suốt cả mùa hè, con đường Lombard luôn luôn đầy màu sắc. Không biết có bao nhiêu loài hoa đua nhau nở trên khắp đường phố. Hoa ở kín lòng đường chỉ chừa một lối; một con phố hoa mà người ta khó có thể hình dung nếu không tận mắt chứng kiến.
Bến tàu ngư phủ Fisherman's Wharf cũng là một trong những địa điểm nổi tiếng của thành phố. Đây là điểm thu hút khách du lịch khắp nơi trên thế giới. Trong hàng thế kỉ qua, dọc theo con sông lịch sử, nơi mà các đội tàu đánh cá của San Francisco luôn tụ tập. Cho đến ngày nay, ở đây vẫn còn một loạt các nhà hàng hải sản nổi tiếng. Nơi đây còn có một số bảo tàng, cửa hàng lưu niệm, những tòa nhà lịch sử, danh lam thắng cảnh vừa sầm uất vừa náo nhiệt. Đặc biệt là âm nhạc đường phố. Đi một đoạn ta lại thấy một ban nhạc với rất nhiều nhạc cụ khác nhau. Có cảm giác như ở đây người ta say sưa chơi đến hết mình, tận hưởng niềm vui đến bất tận. Một không khí lễ hội đắm say đến nao lòng! Tôi đã trải nghiệm cái cảm giác này ở phố Ngọc Trai, Longmon, Colorado khi chứng kiến những chàng trai, cô gái yêu kiều say sưa đánh đàn piano, kéo đàn violon và ca hát trong những đêm cuối tuần, nhưng cái cảm xúc dâng trào đến kỳ lạ thì ở đây mới thấy.
Thời gian còn lại trong ngày chúng tôi đến thăm bảo tàng tàu biển. tôi và con rể cùng hai cháu Lâm, Bách leo lên một con tàu dài 168 m, con tàu chuyên chở hàng quân nhu và binh lính trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2. Đây là lần thứ hai tôi được trực tiếp ngắm nhìn và khám phá một con tàu lớn như vậy. Lần thứ nhất là ở Bảo tàng Khoa học và công nghiệp ở thành phố Chicago. Một con tàu ngầm khổng lồ dài trên 160 m được người ta đưa vào phòng trưng bày.
Mặc dù tôi được học và biết người Mỹ đã đến với chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào. Họ tuyên chiến với Nhật như thế nào. Họ mở mặt trận thứ 2 ở Tây Âu như thế nào. Nhưng chỉ khi đến bảo tàng tôi mới hiểu biết một cách cụ thể, rõ ràng về cuộc chiến vô cùng ác liệt trên Đại Tây Dương giữa người Đức và người Mỹ, một cuộc chiến cam go sinh tử trên Thái Bình Dương giữa người Nhật với người Mỹ. Khách tham quan nườm nợp đi xung quanh con tàu, đắm mình trong phim ảnh của cuộc chiến trên biển cả qua hàng chục màn hình quanh con tàu, được khám phá con tàu, được ngồi trước những màn hình mô phỏng lái tàu lặn xuống lòng nước sâu của đại dương tránh máy bay của quân phát xít, được ngồi ghế mô phỏng phóng ngư lôi vào tàu chiến địch. Hai cháu nhỏ nhà tôi, chưa đến tuổi đến trường, cứ ngồi lì trước phòng lái mô phỏng hành trình chuyến đi, không chịu dời đi chỗ khác…
Chuyến đi này, tôi lại được khám phá một chiến hạm hậu cần, một chiến hạm 3 tầng, tìm hiểu và khám phá phòng chỉ huy, phòng tác chiến, phòng ngủ, phòng ăn, phòng giải trí và phòng vận hành của đoàn thủy thủ, phòng phóng ngư lôi và những khẩu đại bác, pháo phòng không. Và lần này tôi cũng vẫn phải giục các cháu đi nhanh nhanh để kịp thời gian theo lịch trình…
Chỉ một ngày thôi tôi đã thấy San Francisco quả là một thành phố ẩn chứa bao điều kỳ lạ.
Nguyen Bich Thuy, Nguyễn Lê Duyên và 141 người khác
59 bình luận
2 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Thăm Berkeley

Leave a Comment

 Thăm Berkeley

Bang California (Cali) là bang đông dân nhất (trên 39,5 triệu người), có GDP lớn nhất (3,4 nghìn tỉ USD) trong số 50 bang của Hoa Kỳ. Nếu xếp riêng Cali như một quốc gia thì bang này đứng vào hàng thứ 6 trong số các quốc gia có GDP tính theo đầu người giàu có nhất thế giới. Với người Mỹ, Cali gắn liền với biểu tượng văn hóa, kinh đô điện ảnh Hollywood và tổ hợp vui chơi giải trí nổi tiếng nhất thế giới Walt Disney ở thành phố Los Angeles. Nói đến Cali người Mỹ cũng thường nói tới Thung lũng Silicon, nơi hội tụ hàng trăm công ty và tập đoàn công nghệ cao, được ví như bộ não của nhân loại, nơi đề ra những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật mang tính toàn cầu (xin xem bài viết “Đôi điều về Thung lũng Silicon” ở trong trang Facebook này). Nói đến Cali người ta cũng thường nói tới một bang có trên 300 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 4 trường đại học được xếp trong top 10 trường đại học danh tiếng nhất thế giới và hai hệ thống đại học: Hệ thống đại học California (UC) và Hệ thống Đại học bang California (USC), hai hệ thống đại học với 43 cơ sở trải khắp bang được xếp hạng tốt nhất thế giới (xin xem bài viết “Thăm Trường Đại học Stanford” cũng trong trang Facebook này).
Trong bài viết này tôi xin giới thiệu với các bạn, anh em đồng nghiệp về Trường Đại học Berkeley, một trường đại học danh giá nằm trong hệ thống đại học California. Tôi đã đến thăm ngôi trường đại học này cách đây ba năm và tiếp tục đến thăm trong chuyến đi này.
Trường Đại học California, Berkeley (University of California, Berkeley) là trường đại học công lập có uy tín, tọa lạc tại khu vực phía đông vịnh San Francisco thuộc thành phố Berkeley, bang California, một trong những thành phố tự do nhất của Hoa Kỳ. Berkeley được thành lập năm 1868, có khuôn viên lâu đời nhất trong hệ thống Đại học California, thường được gọi tắt là UC Berkeley hay Berkeley.
Theo cá nhân tôi, Trường Đại học Berkeley là một trong những trường đại học đẹp nhất của Mỹ. Nếu khách thăm theo tour, từ trên những ngọn đồi với những building, những phòng thí nghiệm ở độ cao nhất của Đại học Berkeley nhìn xuống, chiều rộng khoảng gần 2km với 453 tòa nhà nhấp nhô mang rất nhiều phong cách kiến trúc, như ẩn hiện trong cánh rừng trải dài gần 3km xuống bờ biển Thái Bình Dương xanh ngắt. Đúng là một công trình kiến trúc hoàn mỹ.
Theo Wikipedia, Berkeley có gần 2000 cán bộ, giáo viên và nhân viên, xấp xỉ 31.000 sinh viên đại học, hơn 11.500 sinh viên sau đại học. Trường được các tổ chức xếp hạng có uy tín của Mỹ và thế giới nhiều năm xếp hạng đứng thứ 5 trong số 6 trường đại học danh giá nhất thế giới trong bảng xếp hạng toàn cầu. Một minh chứng làm nên danh tiếng của nhà trường, từ khi thành lập đến nay, các giảng viên, cựu sinh viên và nghiên cứu sinh của nhà trường đã giành được 107 giải thưởng Nobel, 14 giải thưởng Field, 19 giải Pulitzer và rất nhiều các loại giải thưởng danh giá khác.
Trong quá trình phát triển, Berkeley đã có rất nhiều đóng góp trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học. Chẳng hạn như phát hiện về bản chất tia laser, khám phá ra mối liên quan giữa sự giãn nở của vũ trụ và vật chất tối, phát hiện ra 17 nguyên tố hóa học (trong số đó có Plutonium), giải thích nguyên lý quang hợp, xây dựng công nghệ chỉnh sửa gien, điều trị ung thư… Đặc biệt nhà trường đã xây dựng một số phòng thí nghiệm vật lý nổi tiếng từ những năm 40 của thế kỷ trước, đi tiên phong trong vật lý hạt nhân, tham gia nhóm khoa học phát triển dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử và bom khinh khí của Mỹ trong và sau chiến tranh thế giới thứ 2. Và hiện nay nhà trường đang nghiên cứu về những giải pháp khoa học, công nghệ đột phá trong nhiều lĩnh vực. Berkerley trong mấy thập niên gần đây còn tự hào là nơi khai sinh ra những tập đoàn công nghệ khổng lồ nghìn tỷ đô như Apple, Intel, Tesla…
Berkerley không chỉ đạt được nhiều thành tựu trong khoa học mà còn là cái nôi của nhiều giải thưởng văn học, âm nhạc, nhất là về thể thao. Các sinh viên của nhà trường đã đạt nhiều danh hiệu quốc gia trong các môn thể thao như bóng bầu dục, bóng rổ nam, bóng chày, bóng nước… Sinh viên của trường đã giành được 207 huy chương vàng, bạc, đồng trong các kỳ thế vận hội Olympic diễn ra gần đây.
Chúng tôi ở lại trong trường trọn một ngày. Thăm, khám phá các phòng truyền thống, những phòng thí nghiệm, giảng đường, thư viện, con đường với dãy tượng của các giáo sư, các nhà khoa học, cựu sinh viên của trường đạt các giải thưởng lớn. Đặc biệt con đường này còn để một khoảng trống dài hàng trăm m để chờ đợi các giáo sư, nhà khoa học, sinh viên được nhận các giải danh giá trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội và con người sẽ tiếp tục vinh danh trong tương lai vào một ngày nào đó.
Thăm Trường Đại học Berkerley và những trường đại học hàng đầu của Mỹ, tận mắt thấy những điều mà người ta không thể nghĩ đến và tưởng tượng nổi. Một trường mà có tới 107 giải thưởng Nobel, 14 giải Field… Ấy vậy mà trường Berkerley cũng không thể so sánh được với Trường Đại học Stanford, ngôi trường luôn đứng thứ nhất thứ nhì trong bảng xếp loại toàn cầu cách đó không xa. Chính hai trường đại học này, cùng với hệ thống đại học Canifornia và hệ thống đại học bang California đã đóng góp một lực lượng lao động hùng hậu cho sự phát triển của Thung lũng Silicon, đóng góp một nguồn ngân sách khổng lồ vào GDP 3,4 nghìn tỷ của bang.
Trên đường ra về tôi đưa ra câu hỏi với các con vì sao Berkeley lại đạt được nhiều thành tựu đến như vậy. Cô con gái đầu cho tôi biết, một trong những nguyên nhân để Berkeley cũng như các trường đại học nghiên cứu của Hoa Kỳ đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu là nhờ vào sự nỗ lực của bản thân cá nhân những nhà khoa học, các giáo sư xuất sắc trong các trường đại học. Đặc biệt là nhờ vào nguồn ngân sách dồi dào nuôi dưỡng cho nghiên cứu khoa học. Nguồn ngân sách này phụ thuộc vào nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài nhà trương. Ở mỗi giai đoạn phát triển, mỗi nhân tố đóng một vai trò quan trọng riêng. Đi sâu nghiên cứu thì có rất nhiều điều đáng phải bàn. Chỉ biết rằng ngân sách nghiên cứu ở các trường đại học rất lớn, từ nhiều nguồn trong xã hội mang tính đặc thù của Hoa Kỳ: Nguồn thứ nhất là sự ủng hộ hào phóng của các nhà hảo tâm và các quỹ tài trợ nghiên cứu cho nghiên cứu khoa học (năm cao nhất lên đến 2,6 tỷ đô la). Thứ hai là nguồn tài chính của ngành công nghiệp phát triển dành cho nghiên cứu ở trường đại học với tư cách là đối tác và hợp tác cùng nghiên cứu, cũng như ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ (năm cao nhất lên đến hàng chục tỷ đô). Thứ ba là nguồn ngân sách to lớn của nhà nước liên bang dành cho nghiên cứu khoa học ở đại học Mỹ (năm cao nhất lên tới 36 tỷ đô la). Cuối cùng là ngân sách kinh phí của bang và chính quyền địa phương dành cho nghiên cứu ở đại học. Từ các nguồn ngân sách trên, có thể nói không một quốc gia nào trên thế giới có được ưu thế như các trưởng đại học nghiên cứu của Hoa Kỳ. Cộng thêm vào đó là chính sách thu hút ưu đãi đội ngũ trí thức khiến Hoa Kỳ như một thỏi nam châm thu hút nhân tài. Đó cũng chính là lý do giải thích vì sao hầu hết những phát minh quan trọng, những phát minh đột phá về khoa học, công nghệ, kỹ thuật đều bắt nguồn từ Hoa Kỳ. Và Berkeley chỉ là một trong những ví dụ điển hình về giá trị hàng đầu của các trường đại học ở xứ cờ hoa này.
Read More

Cảm nghĩ về một chuyến bay

Leave a Comment

 Cảm nghĩ về một chuyến bay

Trước hôm xuất cảnh sang Mỹ phải xét nghiệm vi-rút COVID-19. Đây là điều bắt buộc đối với tất cả hành khách từ hai tuổi trở lên nếu đi bằng phương tiện đường hàng không. Hành khách phải kiểm tra chuỗi phân tử phản ứng polymerase (PCR) sau 6 đến 8 tiếng mới có kết quả. Theo quy định, giấy chứng nhận song ngữ chỉ có giá trị trong 24 giờ. Thật quá gấp gáp khi 3 giờ chiều tôi phải lên máy bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Thế là 10 giờ đêm trước ngày bay phải đi đến bệnh viện cách xa nhà gần chục km xét nghiệm.
Sáng sớm hôm khởi hành dậy sớm đến bệnh viện lấy kết quả xét nghiệm. Thật sốc vì bộ phận văn phòng bệnh viện không in được kết quả do lỗi phần mềm. Chờ đợi hơn một tiếng bộ phận IT của bệnh viện vẫn không xử lý được. Khách ùn ùn tập trung ở phòng lấy kết quả. Không chỉ có người Việt, còn có cả người Hàn, người Nhật, người Trung Quốc… Tất cả đều bức xúc, ngao ngán. Một số người to tiếng vì đã đến giờ họ phải ra sân bay.
Ba nhân viên của bệnh viện nháo nhào, ra sức thanh minh. Và cuối cùng phải dừng việc xét nghiệm. Nếu người nào đó muốn xét nghiệm, bệnh viện không đảm bảo có kết quả nếu vẫn lỗi hệ thống phần mềm. Một số người phải bỏ đi đến bệnh viện khác. Riêng tôi thì chịu chết. Không thể nhờ ai giúp đỡ được. Vì nếu có đến bệnh viện nào đó thì cũng quá giờ bay mới có kết quả. Vé máy bay thì không thể thay đổi được nữa. Chắc bệnh viện họ cũng không chịu trách nhiệm hoàn trả vì lý do bất khả kháng. Nhưng điều quan trọng hơn là nếu lui lại, tôi không thể đi thăm các cháu trong năm nay.
Mọi người đã ra về hết. Chỉ còn lại một mình tôi chờ đợi trong tâm trạng tuyệt vọng. Buồn hơn, cũng trong buổi sáng nay, anh em cựu chiến binh Trung đoàn 3 của tôi cũng khởi hành chuyến đi thăm lại chiến trường xưa. Anh em đồng đội trước đó vẫn mong muốn tôi tham dự và tôi cũng rất muốn đi cùng. Việc không có giấy xác nhận của bệnh viện khiến tôi lâm vào tình cảnh “xôi hỏng, bỏng không”.
May đến 8 giờ máy in bệnh viện chạy. Tôi là người đầu tiên lấy được giấy xét nghiệm. Vội vã trở về nhà, chuẩn bị thêm một só thứ cần thiết, ăn cơm và ra sân bay. Không chỉ giấy xét nghiệm mà còn phải có giấy xác nhận đã tiêm ít nhất đủ hai mũi COVID. Thật may tôi đã tiêm 3 mũi, lại xin được giấy xác nhận của cơ sở y tế. Nếu không thì cũng không chắc qua được cửa sân bay.
Các cháu nhà tôi đã mua vé bay thẳng từ thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố San Francisco, không quá cảnh qua Hàn, Nhật hay ở Trung Quốc như những lần trước mặc dù giá vé quá cảnh qua những nước đó rẻ gần một nửa; các cháu sợ rằng quá cảnh ở 3 nước trên vài tiếng nếu dính dịch thì quá nguy hiểm.
Đúng là là một ngày không may mắn. Máy bay xuống sân bay Tân Sơn Nhất chậm gần một tiếng vì thời tiết xấu không hạ cánh được do mưa dông có sét. Tôi phải vừa đi vừa chạy từ cảng nội địa đến cảng quốc tế. Vội vã làm xong bao thủ tục phiền phức từ hộ chiếu, vé đến cởi giày, thắt lưng, khám xét… Vậy mà qua cửa máy vẫn phát ra tiếng kêu. Cán bộ hải quan gắt lên với tôi. Thì ra còn chiếc bút máy cài trên túi áo ngực chưa bỏ ra…
Chưa hết, qua cảng hàng không quốc tế, hành khách chúng tôi phải đứng ở dưới mái tôn nóng hầm hập đến hơn 10 phút mới có ô tô đến đón ra máy bay. Mồ hôi thấm đẫm áo trong áo ngoài. Tôi nhiều lần bay ra nước ngoài trong hơn chục năm qua, nhưng chưa bao giờ tôi thấy cập rập, vất vả và ức chế như lần này. Thật thất vọng về chuyến bay thẳng mà tôi đã từng mong mỏi trong bao nhiêu năm nay.
Ngồi trên máy bay, bao nỗi bực dọc chợt tan biến khi tôi lướt qua dòng thời sự quốc tế về chiến tranh Nga-Ucraina và dịch bệnh COVID ở Trung Quốc, Triều Tiên trên màn hình ipad. Những điều khó chịu trong ngày của tôi chẳng có nghĩa lý gì, chẳng thấm tháp gì so với nỗi đau khổ, mất mát và tuyệt vọng mà hàng chục triệu con người trên thế giới đang phải chịu. Quả thật cái tâm chấp trước của cá nhân còn quá lớn.
Tôi nhớ sau năm 1991, khi học một chuyên đề với các giáo sư quan hệ quốc tế trong ngoài nước về hệ thống quan hệ quốc tế đơn cực, một thế giới bước vào thời kỳ toàn cầu hóa mới. Các thầy đều cho rằng hòa bình là dòng chảy chính của thời đại. Vậy mà đã xảy ra gần 40 cuộc chiến tranh kể từ đó đến nay. Và trong những ngày này một cuộc chiến trên quy mô toàn cầu vẫn đang treo lơ lửng ở cái khu vực văn minh đã từng diễn ra hai cuộc thế chiến cướp đi cuộc sống của hàng trăm triệu con người, khi mà dịch COVID-19 vẫn chưa kết thúc. 6,27 triệu người đã chết vì vi-rút. Đúng là một thế giới đầy biến động, không ai có thể biết ngày mai còn xảy ra cái gì nữa. Và cá nhân mỗi người chỉ là một hạt bụi trong cõi trần gian. Phải biết chấp nhận tất cả.
Read More

Lễ hội Chử Đòng Tử-Tiên Dung, huyền thoại về một tình yêu bất tử

Leave a Comment

 Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, huyền thoại về một tình yêu bất tử

Cách đây hai mươi năm, tôi cùng với một người bạn lần đầu đến dự lễ hội ở xã Đa Hòa thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Lễ hội này là một trong 16 lễ hội lớn nhất cả nước, gắn liền với câu chuyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một tình yêu đầy lãng mạn giữa chàng trai nghèo họ Chử và cô con gái Vua Hùng thứ 18. Ngoài việc theo thú đam mê “hội hè đình đám” cùng với hy vọng mong manh gặp lại cố nhân, tôi còn muốn tìm hiểu về điệu múa bồng ở nơi này, cũng như tôi đã đi tìm hiểu điệu múa bồng ở lễ hội Cầu Đơ (cặp múa là một nam một nữ), múa bồng ở lễ hội Nhật Tân (cặp múa là hai nữ), múa bồng ở Hào Nam (cặp múa là đôi nam)…
Tôi được biết trong gần 100 ngôi đình, đền, miếu thờ Chử Đồng Tử- Tiên Dung ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, đa số người dân các địa phương thường ngưỡng vọng, tôn Đức Thánh Chử là thành hoàng làng, một vị thần bảo hộ tâm linh cho cả cộng đồng. Một số nơi suy tôn Đức Thánh như một vị tổ nghề trồng lúa, chăn tằm, vị tổ nghề thuốc nam, vị tổ nghề chài lưới, thậm chí là tổ nghề buôn bán. Nhưng thẳm sâu trong tâm thức dân gian, thiên tình sử giữa chàng trai nơi sông nước xứ Đông và cô công chúa vùng trung du đất Tổ đã thể hiện niềm mong ước ngàn đời của dân gian và được sùng tín hơn cả.
Chử Đồng Tử và Tiên Dung là mẫu hình để cho nam nữ vượt qua cách trở giàu nghèo, địa vị xã hội, để xây dựng cuộc hạnh phúc ấm no. Đó cũng là niềm tin cho biết bao đôi nam nữ dám bước qua những rào cản quan niệm xã hội để đến với nhau. Mạch nguồn xúc cảm từ bao đời ấy cứ âm thầm chảy mãi trong huyết quản người dân châu thổ, thỉnh thoảng lại ánh lên qua những câu chuyện về những chàng trai nghèo với những cô con gái nhà quyền quý, khá giả. Dù cuộc sống thường nhật biết bao ngang trái, nhưng họ không cam lòng ngậm ngùi đau buồn như chàng Trương Chi với cô gái Mỵ Nương …
Theo Lĩnh Nam chích/trích quái, vào thời Hùng Vương đời thứ 18 ở làng Chử Xá, cạnh sông Cái có người đàn ông tên là Chử Cù Vân sinh hạ được Chử Đồng Tử. Nhà nghèo, hai cha con chỉ có một chiếc khố che thân nên phải thay nhau mặc đi làm ăn. Khi người cha già sắp mất, ông căn dặn con: “Cha chết, con táng trần cho bố, còn cái khố giữ lấy để dùng”. Không nỡ để cha chết trần, Chử Đồng Tử lấy khố đóng cho cha rồi mới chôn. Từ đấy chàng sống ở các bụi lau dọc bờ sông, xa nơi có cư dân để câu cá kiếm sống qua ngày.
Vua Hùng có người con gái tên là Tiên Dung xinh đẹp. Dù đã đến tuổi cập kê nhưng nàng vẫn thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của công chúa đi qua vùng đó. Nghe tiếng trống, đàn sáo, và thấy người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi thấy cảnh đẹp với bãi sông rộng lớn bèn sai người quây màn tắm, đúng ngay chỗ Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử trên cát. Tiên Dung e ngại hỏi han sự tình. Thấy duyên trời đã định nên nàng xin được kết duyên vợ chồng. Họ đã ở lại nơi đó cùng những người dân nghèo khai hoang, mở mang làng xóm đồng ruộng, mở bến chợ bán buôn.
Một hôm Chử Đồng Tử đi làm xa gặp Tiên ông, học đạo phật và các phép tiên, được ban chiếc gậy thần và chiếc nón lá. Chàng về quê truyền lại phép thuật cho vợ. Cả hai vợ chồng cùng đắc đạo. Họ cùng nhau đi khắp vùng, dùng gậy thần để giúp đỡ dân lành chữa bệnh... Một hôm trời tối khuya mà không có chỗ nghỉ, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy, úp nón lên trên cùng nằm nghỉ. Bỗng nửa đêm chỗ đó biến thành cung điện, nhà cửa san sát với đầy đủ người hầu kẻ hạ.
Nghe tin Chử Đồng Tử và Tiên Dung có cung điện, vua ngờ rằng hai người có ý mưu loạn nên sai quân đến đánh. Chàng và vợ không kháng cự lại cha mình. Đêm hôm ấy cả lâu đài và họ đã bay về trời sau trận cuồng phong, bão lớn để lại một vùng đất đầm lầy. Đời sau gọi là đầm Dạ Trạch...
Từ đấy cứ vào ngày 10 đến hết tháng 2 âm lịch hàng năm (có năm đến đầu tháng 3), người dân trong vùng lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn của họ. Sau chuyến điền dã ban đầu, tôi đã nhiều lần đến đền Hóa xã Dạ Trạch và đền Đa Hòa xã Bình Minh, hai địa điểm diễn ra lễ hội. Lần thì cùng bạn đi qua cầu Gia Lâm, dọc theo đường đê sông Hồng đến lễ hội. Lần thì tới Vạn Phúc, Thanh Trì đi đò qua sông. Lần thì đi xe máy đến Thường Tín rẽ trái và qua phà.
Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung được mở màn bởi các làng thuộc tổng Mễ rước kiệu thánh từ đình làng mình về đền Đa Hoà (theo nhà sưu tầm và nghiên cứu Toan Ánh, xưa kia có 8 làng). Đi đầu đoàn rước là con rồng dài trên 20 mét được vài ba chục thanh niên vạm vỡ thay nhau múa theo điệu trống thúc liên hồi . Điệu múa rồng này cũng như ở các địa phương khác không chỉ là biểu hiện tâm linh cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an mà còn bao hàm cả nội dung giáo dục tinh thần thượng võ, cầu mong phồn vinh, thịnh vượng. Múa rồng ở đây khá hoành tráng với nhiều động tác, tạo hình biến hóa sinh động như rồng chào, rồng phục, rồng chầu, rồng bay cao, hạ thấp, rồng cuộn, rồng lượn, rồng uốn khúc, rồng đuổi ngọc, ngậm ngọc...
Vào sáng ngày 11/2 âm lịch, sau khai hội một hôm, ngay từ sáng sớm các cụ phụ lão trong làng khăn áo chỉnh tề ra đền thắp hương làm lễ. Đúng giờ quy định thì đoàn rước kiệu khởi hành ra bến sông Hồng lấy nước. Theo sau là đoàn “rước du” đưa kiệu thờ các đức Thánh lên thuyền rồng dạo trên sông với nhiều nghi thức tế lễ, múa hát trên thuyền. Dọc bờ sông có các đội múa hát, chiêng trống, cờ quạt, võng lọng theo hầu. Sau khi nghi lễ lấy nước, rước nước, rước du kết thúc, chóe nước thiêng và kiệu Thánh được rước trở lại đền thì ban lễ hội tổ chức lễ dâng hương. Theo tục lệ, nước được dùng trong lễ mộc dục và để cúng phải là nước ở giữa sông Hồng, hội đủ khí âm dương. Người đại diện cho dân làng lấy nước là một cụ già và các thiếu nữ dịu dàng có đức độ trong làng. Dâng nước là hình thức tâm linh cầu nguyện cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu. Tiếp theo sau các đoàn rước là hai hàng các bà, các chị, các cô trang phục đủ sắc màu rực rỡ tay cầm cờ hội, chống chiêng, cùng ngựa hồng, ngựa bạch, gươm trường bát bửu, cặp múa bồng, đội múa sinh tiền, đội múa nón, đội nhạc lễ… Cả một vùng quê rộng lớn rộn ràng, nườm nượp người qua lại.
Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như chọi gà, bịt mắt bắt dê, bịt mắt đập niêu, đi cầu kiều, cờ tướng. Nhiều hoạt hoạt động văn nghệ đặc sắc như hát chèo, hát văn, hát ca trù, hát trống quân mang đậm nét văn hoá của xứ Đông. Mỗi năm chúng tôi đều hòa mình vào một loại hình văn hóa. Có lẽ tôi thích nhất là điệu múa bồng ở lễ hội. Các cặp nam giả nữ chít khăn mỏ quạ, xiêm áo sặc sỡ, hóa trang đích thực là những cô gái e lệ vừa đong đưa ẻo lả, vừa lúng liếng uốn éo gợi tình. Suốt dọc đường đi những động tác cách điệu nhí nhảnh đến đĩ thõa, xen vào là động tác chớt nhả, tinh nghịch của đám Thanh đề, giống như tổng hợp của nghệ thuật phô diễn quyến rũ, gợi dục. Đúng là hiện thân của tín ngưỡng phồn thực. Nó như thỏi nam châm cuốn hút nam thanh nữ tú. Ai cũng mỉm cười, kín đáo che dấu cảm xúc!
Tôi cho rằng lễ hội Chử Đồng Tử, Tiên Dung chứa đựng nhiều trầm tích văn hoá, có phong tục, tập quán văn hoá bản địa, có màu sắc Nho, Phật, Lão giao thoa, tiếp biến hoà quyện vào nhau tạo nên một tổng phổ những sắc màu văn hoá, có những hình tượng lung linh đẹp mãi tỏa rạng đến hôm nay. Vẻ bên ngoài của lễ hội là nhằm tôn vinh ca ngợi lòng hiếu thảo, thể hiện ước mơ về một cuộc sống công bằng, hạnh phúc. Lễ hội tình yêu này có lẽ bản chất ban đầu là lễ hội cầu mưa, mà ảnh xạ của nó chính là hình tượng múa rồng, nghi thức lấy nước, rước nước giữa dòng sông Hồng về cúng lễ. Theo thời gian, lớp văn hóa này chìm đi và mang một diện mạo mới khiến cho lễ hội này rất độc đáo, lễ hội của TÌNH YÊU nằm trong số tràn ngập lễ hội thờ người anh hùng chống giặc ngoại xâm của các làng xã Việt Nam.
Tóm lại, cái hay, cái đẹp của lễ hội là gắn liền với câu chuyện về nhân vật Chử Đồng Tử. Và thật trùng hợp, anh bạn tôi cũng mang họ Chử. Ở làng Vạn Phúc Thanh Trì Hà Nội còn có cả một dòng họ Chử… Câu chuyện tình Chử Đồng Tử Tiên Dung mang một số yếu tố sáng tác và tư duy nghệ thuật khá đặc sắc. Trong đó những yếu tố của tư duy cổ tích pha trộn với những yếu tố của tư duy thần thoại, Phật thoại, tiên thoại. Truyện Chử Đồng Tử có thể nói có mầu sắc huyền ảo bậc nhất trong các truyện cổ tích Việt Nam. Có nhà nghiên cứu còn coi Chử Đồng Tử là một người anh hùng văn hoá xây dựng xóm làng, khai phá đầm lầy ở châu thổ sông Hồng. Trong tâm thức dân gian của vùng đồng bằng này, Thánh Chử mãi là một trong tứ bất tử của điện thần Việt Nam. Và chính những yếu tố đó càng làm cho lễ hội ở Đa Hòa thêm hấp dẫn.
Tien Nguyen, Hoàng Điệp và 109 người khác
43 bình luận
4 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Read More

Blog Archive

About this blog

Được tạo bởi Blogger.