Trường THCS Long Biên
Trường THCS Long Biên
Dự giờ dạy học ở Trường Tiểu học Yên Xá
Dự giờ dạy học ở Trường Tiểu học Yên Xá
Hai tuần trước
tôi đến Trường Tiểu học Yên Xá thống nhất với cô Hiệu trưởng Nguyễn Thanh Mai về
thời gian dạy tiết học thử nghiệm tiếng Anh thông qua môn toán và khoa học. Qua
một số tiết học như thế này tôi và Tiến sĩ Que D. Hoang mong muốn rút ra được những
bài học ban đầu cho mô hình “cùng dạy học” (co-teaching) nhằm hoàn thành mục
tiêu Dự án Mù Cang Chải, dự án dạy học tiếng Anh toán và khoa học miễn phí của
EQuest ở một huyện khó khăn nhất của tỉnh Yên Bái. Cô Mai đề nghị “Tiết này bàn
sau, bây giờ nếu không bận mời anh dự tiết chuyên đề dạy học kết hợp của cô
giáo Đặng Thu Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 4A”.
Thật bất ngờ.
Đầu năm học tôi được một số nhà trường, trong đó có trường Tiểu học Yên Xá mời
nói chuyện chuyên đề “Chuyển đổi số giáo dục, hình thức dạy học kết hợp trực tiếp
và trực tuyến, bài học kinh nghiệm chuyển đổi số từ Hoa Kỳ”. Tôi ngỡ còn lâu
các nhà trường công lập mới áp dụng hình thức học tập kết hợp (blended
learning). Không ngờ nhà trường đã tiến hành tổ chức chuyên đề dạy học mới theo
hình thức dạy học ở các nước có nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới.
Cô giáo Đặng
Thu Trang dạy bài “Nhân một số với một hiệu”. Bắt đầu tiết học cô cho học sinh
chơi trò chơi toán học tạo hứng khởi, tâm thế. Tiếp theo cô sử dụng màn hình
tương tác, đưa bài giảng trực tuyến như nội dung bài học có âm thanh, hình ảnh
trong trang web Khan Academy .
Bài học trực
tuyến đẳng cấp quốc tế thật sinh động, hấp dẫn. Các em chăm chú theo dõi. Cô
giáo quan sát bao quát lớp, đi đến một vài học sinh hướng dẫn riêng. Sau khoảng
7 phút lý thuyết, học sinh vận dụng làm các bài tập có sự đánh giá của trí tuệ
nhân tạo trên hệ thống quản lý học tập của trang web có trên 150 triệu bài giảng
cùng hệ thống bài tập cho tất cả các môn học từ lớp 1 đến lớp 12 của Mỹ. Trang web
này được 115 triệu giáo viên và học sinh trên khắp thế giới truy cập trong năm
học qua.
Cô cùng học
sinh hào hứng trải nghiệm học tập, rút ra công thức tổng quát và tiếp tục cho học
sinh làm bài tập, bài tập 1,2,4 trong sách giáo khoa. Khi trò hoàn thành công
việc, cô đặt một số bài làm của các em trước webcam chiếu lên màn hình để học
sinh tự đánh giá. Cuối cùng cô nhận xét, dặn dò học sinh, kết thúc bài dạy.
Trong khi cô
hiệu trưởng khảo sát lớp học, tôi nói với
thầy Phó hiệu trưởng Cung Đức Khuyến: “Theo mình, đây là một tiết dạy học kết hợp
giữa hình thức trực tiếp và trực tuyến theo mô hình “Face to face Driver” (mô
hình giáp mặt chủ đạo) thật nhuần nhuyễn. Nếu là giám khảo, mình cho 20 điểm tối
đa”. Thầy nói với tôi “nếu em dạy tiết này thì em lấy trò chơi trong bài tập của
Khan Academy cho vào phần đầu. Em nghĩ sẽ tạo ra được không khí học tập hơn”.
Tôi đồng ý. Thầy cho tôi biết đang chỉ đạo điểm một số cô giáo “thành lập lớp học
ảo” cho học sinh tự học và làm bài tập theo
Khan Academy ở nhà.
Thật tuyệt vời. Tôi nghĩ nếu như vậy thì việc
chuyển đổi số trong giáo dục theo tinh thần của Thủ tướng Chính phủ và của
ngành giáo dục có lẽ nhà trường sẽ thực hiện được ngay trong năm học này, chứ
không phải chờ đến năm 2025. Thì ra việc chuyển đổi số không khó, cái khó là
khó ở nhận thức, ở tư duy; ở việc nhà trường có quyết tâm bắt tay vào việc hay
không.
Tuần này
chúng tôi đến trường dự 2 tiết học. Tiết học thứ nhất của cô giáo Nguyễn Thị
Bích Phượng, giáo viên chủ nhiệm lớp 3A, tiết học tiếng Anh thông qua bộ môn
toán. Bài Multiplication (phép nhân) đã được số hóa theo hình thức “cùng dạy học”
(co-teaching). Hình thức dạy học này phổ biến ở Hoa Kỳ. Lớp học có 2 giáo viên
cùng hợp tác dạy. Người ta thường áp dụng hình thức dạy học này cho những lớp học
đặc biệt, lớp học song ngữ, lớp học trực tuyến... Trong thời đại số, ở những nước
thiếu giáo viên ngoại ngữ, tin học, STEM giống như Việt Nam, người ta thường vận
dụng hình thức co-teaching, một người dạy trực tuyến, một người dạy trực tiếp
hoặc người dạy trực tiếp thông qua bài giảng số trên lớp.
Cô Phượng
không những tuân thủ theo đúng quy trình bài giảng số của iSMART mà còn thể hiện
rất linh hoạt và sáng tạo. Ở phần từ vựng cô triệt để sử dụng phần phát âm của
người bản ngữ, cho học sinh nghe từ và câu nhiều lần. Học sinh phát âm theo
nhóm, tập thể, cá nhân. Cô cho học sinh lên trước lớp điều khiển các bạn nhắc lại
từ, câu theo nội dung bài giảng số.
Là giáo viên
không chuyên ngoại ngữ, cô có ưu thế riêng, dường như cô hòa nhập cùng với học
sinh kiến tạo kiến thức, chiếm lĩnh kiến thức, chú ý đến cả 4 kỹ năng đọc nghe,
nói, viết. Đặc biệt cô xử lý huống sư phạm thật chuyên nghiệp. Tôi cho anh em
trong đoàn xem kết quả đánh giá xếp loại:19/20 điểm. Có bạn hỏi lại tôi: “Cô dạy
rất hay. Tại sao thầy không cho điểm tối đa”. Tôi trả lời: “Cô giáo cho lớp
nghe người bản ngữ nêu yêu cầu làm từng bài tập. Nếu là giờ học tiếng Việt thì
là đủ. Nhưng vì là giờ học ngoại ngữ, cô nên cho học sinh đọc và nhắc lại yêu cầu
bằng tiếng Anh như phụ đề trên bảng tương tác. Như vậy học sinh sẽ được rèn
thêm kỹ năng đọc và nghe”.
Kết thúc rút
kinh nghiệm bài dạy, tôi hỏi cô Phượng: “Nếu cô cùng dạy với giáo viên iSMART
theo cả hình thức trực tiếp hoặc hình thức trực tuyến, sau một năm học, cô có tự
tin đứng lớp độc lập không”. Cô trả lời “Em tin là mình dạy được”. Cô Mai Hiệu
trưởng thì khẳng định “Em tin là chỉ nửa năm thôi, nhiều giáo viên của em có thể
đảm nhiệm được”.
Tiết dạy thứ
2 của cô Hoàng Thị Hồng Ánh, giáo viên chủ nhiệm lớp 2A. Cô dạy giờ chuyên đề:
“dạy học kết hợp”. Tên bài dạy: “Đường thẳng, đường cong, đường gấp khúc”. Tiết
dạy này không có ý nghĩa nhiều với EQuest, nơi tôi đang công tác. Nó liên quan
đến cá nhân tôi và con gái Nguyen Thi Kieu Van, tác giả cuốn sách “Dạy học kết
hợp trực tuyến và trực tiếp, bài học nâng cao năng lực số từ giáo dục Mỹ”. Vân
mới từ Mỹ về và theo tôi cùng dự giờ.
Phần khởi động
cô Ánh sử dụng phần mềm OLM (OLM.vn là trang web học trực tuyến của Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội. Với trang web này giáo viên có thể tham khảo, học sinh có
thể tự học tập, ôn luyện, bổ sung thêm kiến thức các môn học từ TH đến THPT).
Cô cho học sinh xem một video rất hấp dẫn về điểm, đoạn thẳng. Học sinh được ôn
luyện, trải nghiệm học tập với một hình thức học tập mới mẻ, hấp dẫn nên các em
rất hứng khởi chăm chú theo dõi và phản hồi.
Tiếp theo cô
giáo cho học sinh học trực tuyến từ trang web OLM để nhận biết, hình thành khái
niệm đường thẳng, đường cong, đường gấp khúc. Học sinh được học tập qua hình ảnh
trực quan sinh động, lời giảng giàu sức biểu cảm từ bài học trực tuyến. Cô quan
sát cả lớp, trao đổi với trò, cùng trải nghiệm, kiến tạo kiến thức. Học sinh dễ
dàng nắm được nội dung, mục đích yêu cầu của bài học. Từ đó cô trò thực hành
làm bài tập vận dụng, khắc sâu kiến thức, thực hành trò chơi gắn thẻ lên đường
thẳng, đường cong, đường gấp khúc đã học.
Kết thúc giờ
dạy, cô ra thêm bài tập ở phần mềm OLM (cô đã thành lập lớp học ảo) rồi mời Kiều
Vân lên giao lưu với học sinh trong lớp. Kiều Vân lên bảng vẽ một đường gấp
khúc như những ngọn núi nối tiếp nhau và cùng các em chơi một trò chơi “tưởng
tượng” với đường gấp khúc: “Đố các em biết hình gấp khúc trên là hình ảnh tượng
trưng cho cái gì, con gì”. Học sinh im lặng một lúc rồi đồng loạt giơ tay. Em
thì bảo đó là những ngọn núi, em thì bảo đó là những nóc nhà, em thì bảo đó là
những ngọn cây, em thì bảo đó là hàm răng cá mập… Vân cho học sinh lên bảng vẽ
theo trí tưởng tượng của mình. Không khí lớp học hào hứng, sôi nổi và bùng lên xúc cảm thẩm mỹ
trong giờ học toán.
Có lẽ trong
30 năm làm cán bộ quản lý trường học và hơn 10 năm làm việc “liên quan đến quản
lý trường học”, dự giờ hàng nghìn giờ dạy, kể cả nhiều giờ dạy thi giáo viên giỏi
cấp thành phố, tôi thấy không có nhiều tiết dạy thành công như 3 tiết dạy tôi
được dự ở trường Tiểu học Yên Xá. Tôi rất vui, một niềm vui nghề nghiệp, niềm
vui của người làm công tác quản lý giáo dục. Xin cảm ơn cô Hiệu trưởng Nguyễn
Thanh Mai, thầy Phó hiệu trưởng Cung Đức Khuyến! Xin cảm ơn cô giáo Đặng Thu
Trang, cô giáo Nguyễn Thị Bích Phượng, cô giáo Hoàng Thị Hồng Ánh. Các thầy các
cô đã khiến tôi thêm tin và yêu ngành giáo dục.
Tướng Tăng Văn Miêu
Tướng Tăng Văn Miêu
Vào trung tuần
tháng 11/2022, một số anh em cựu chiến binh Hà Nội chúng tôi về Hải Phòng thăm
Tướng Tăng Văn Miêu. Ông nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 Chủ công, tiểu
đoàn duy nhất của Quân khu Trị Thiên trong thời kỳ chống Mỹ được phong tặng hai
lần Anh hùng. Ông “bị thương” do một tai nạn giao thông, gẫy một dẻ xương chân,
phải bó lá và làm bạn với chiếc xe lăn.
Đa số anh em
cựu chiến binh Trung đoàn 3, Sư đoàn 324 đều biết đến cái tên Tăng Văn Miêu.
Vào năm 1968 ông là một trong những tiểu đoàn trưởng trẻ nhất Quân đội nhân dân
Việt Nam, tham gia nhiều trận đánh lớn như Tổng công kích vào Huế Mậu Thân
(1968), Chiến dịch Delawere đối đầu với Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 (Tia chớp nhiệt
đới), trận đánh trên đồi A Bia (1969) ở A Lưới và những trận đánh trong Chiến dịch
935-Cốc Bai (1970) ở Phong Điền... Ông thường xuyên “được” kẻ địch “réo tên”
trên hệ thống loa tâm lý chiến khi chúng đụng độ với K7.
Tăng Văn Miêu
tốt nghiệp trường sỹ quan pháo binh, được biên chế về một đại đội trước khi
Trung đoàn 29 Kiến Giang thành lập. Đầu năm 1967, khi Quân ủy Trung ương quyết
định mở Mặt trận B5-Đường 9, trực tiếp chỉ huy các trung đoàn độc lập tác chiến
ở Bắc Quảng Trị, anh là chỉ huy đại đội tham gia nhiều trận đánh với các đơn vị
Thủy quân lục chiến Mỹ. Đến tháng 1/1968 anh được bổ nhiệm là Tiểu đoàn phó Tiểu
đoàn 7, trực tiếp chỉ huy tiến công đánh chiếm sân bay Tây Lộc, cống Thủy Quan,
xưởng quân giới trong nội đô Huế.
Sau khi Tiểu
đoàn 7 diệt Đại đội Hắc Báo, phá hủy gần một trăm xe tăng, hàng chục máy bay và
tiêu diệt thêm gần một đại đội ngụy khác, làm chủ sân bay Tây Lộc, xưởng quân
giới, Mỹ ngụy đã sử dụng một lực lượng lớn, trong đó có Lữ Dù điên cuồng phản
kích hòng chiếm lại những vị trí đã mất. Tiểu đoàn 7 đã kiên cường đẩy lùi 7 cuộc
tấn công của kẻ địch, giữ vững trận địa.
Sáng ngày
7/2, Tiểu đoàn phó Tăng Văn Miêu chỉ huy Đại đội 2, Đại đội 3 sử dụng 20 khẩu cối,
DKZ cấp tập hàng trăm quả đạn cối bắn vào đội hình bao vây của kẻ địch. Sau đó
anh quyết định sử dụng 12, 7 ly bắn yểm trợ cho bộ binh xung phong, tiêu diệt gần
một tiểu đoàn Trâu điên ngụy, phá vòng vây kẻ địch, đồng thời chi viện hiệu quả
các trận địa khác trong 25 ngày đêm đánh chiếm thành phố Huế. Tiểu đoàn 7 của
anh xứng đáng được mang danh hiệu “tiểu đoàn thép”. Kết thúc chiến dịch, anh
chính thức trở thành Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn Anh hùng.
Tên tuổi của
Tăng Văn Miêu tiếp tục được khẳng định trên đường 14, đường 12 gắn với các địa
danh A Sầu, A Lưới, Động Tranh-Tà Lương… Tiểu đoàn 7 đã cùng với các đơn vị quần
nhau với kẻ địch từ tháng 2 cho đến tháng 6/1968, phá hủy trăm xe tăng, tiêu diệt
hàng ngàn binh lính Mỹ ngụy; giữ vững địa bàn rừng núi, đánh bại chiến thuật nhảy
cóc chiếm giữ điểm cao, đánh bại thủ đoạn cài thám báo sâu vào hậu cứ. Nhưng có
lẽ cái tên Tăng Văn Miêu mãi mãi đi vào lịch sử của Sư đoàn 324 phải kể đến vai
trò của Tiểu đoàn 7 trong Chiến dịch A Bia…
Đến Hải phòng
thăm Tướng Tăng Văn Miêu lần này tôi và đại tá Đào Quang Đới, người viết Lịch sử
Sư đoàn 324 có nhiều vấn đề muốn hỏi ông trên cương vị là tiểu đoàn trưởng,
nhân chứng cán bộ cấp tiểu đoàn còn sống duy nhất sau 53 năm trận đánh trên đồi
A Bia được Nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Chúng tôi thầm mong tai nạn giao thông không ảnh hưởng
đến sức khỏe của người lính già đã bước qua cái tuổi 80.
Riêng tôi còn
muốn tìm hiểu vì sao ông lại rất quan tâm tới ngày hội truyền thống quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại
Lào từ ngày về hưu. Trong suốt hơn 20 năm qua, dù tuổi cao nhưng năm nào ông
cũng trực tiếp đứng ra tổ chức, thậm chí đích thân đi mời các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan đến tham dự. Tôi biết mình không có quyền “độc chiếm” ông.
Có nhiều đồng đội khác là cán bộ chiến sỹ dưới quyền ông trong thời kỳ
1968-1970, họ còn có “nhiều chuyện” hơn tôi. Vì vậy tôi sắp xếp trình tự những
vấn đề ưu tiên nhất để hỏi. Chẳng hạn như ông đã ém Tiểu đoàn 7 như thế nào khi
được giao nhiệm vụ liên tục vận động tiến công, trục tiếp hỗ trợ Tiểu đoàn 8 giữ
chốt trong hoàn cảnh bom đạn địch ngày
đêm cày xới. Tại sao khi đánh quân Mỹ ở điểm cao 916 mới đầu ông chỉ cử có một
trung đội, trong khi kẻ địch ở trên điểm cao có tới một đại đội. Đặc biệt vào
ngày 16, 17, 18 ông quyết định sử dụng cả 3 đại đội cùng vận động tiến công ở
điểm cao 900, 916, rồi cùng băng qua đồi yên ngựa giải vây cho Tiểu đoàn 8 chốt
trên điểm cao 937 mà không để lại một đơn vị nào làm lực lượng dự bị…
Thực ra cách
đây ba năm, bốn năm tôi đã gặp Tướng Tăng Văn Miêu tại Lễ kỷ niệm 69, 70 năm
ngày truyền thống quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào. Cả hai lần
trước đó, hơn 650 cựu quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào hiện
đang sinh sống và làm việc ở Hải Phòng đã có dịp ôn lại những trang sử
vàng đáng nhớ một thời. Tướng Tăng Văn
Miêu, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 3 thay mặt anh em cựu chiến
binh chia sẻ: “Không có lời nói nào diễn tả hết được tinh thần trách nhiệm cao
cả của bộ đội tình nguyện Việt Nam giúp Lào. Chúng tôi tự hào là cựu chiến binh
của hai dân tộc anh em”. Ông đã tâm sự “buổi gặp mặt này cũng là dịp để anh em
đồng đội tưởng nhớ, được tri ân những đồng đội đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng
chung của hai dân tộc”.
Vây quanh Tướng
Tăng Văn Miêu có nhiều cựu chiến binh người Việt, người Lào và sinh viên Lào.
Tôi không thể chen vào nói chuyện với ông. Tôi vội vàng tặng ông cuốn sách “Đồi
Thịt băm” để tỏ lòng kính trọng một vị chỉ huy, một người anh hùng mà tôi ngưỡng
mộ.
Tôi nhận thấy
các cựu chiến binh ai cũng muốn đến bên ông, nói chuyện với ông, ôn lại những kỷ
niệm cùng ông. Nhiều chiến binh đầu bạc trắng, ngực trễ đầy huân chương ân cần,
tay bắt mặt mừng thể hiện sự yêu quý, tôn trọng ông. Họ là đồng đội cùng một tiểu
đoàn, cùng một trung đoàn thời chiến trận. Nhưng còn các đại diện cựu chiến
binh và các cháu sinh viên Lào thì có quan hệ với ông như thế nào? Tôi không biết.
Chỉ biết sau chiến dịch 935-Cốc Bai, Tiểu đoàn trưởng Tăng Văn Miêu bị thương, ra
Bắc điều trị. Anh không theo Sư đoàn 324 làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào sau năm
1975…
Tướng Miêu và
vợ con tiếp đón chúng tôi thật chu đáo, nồng hậu. Trông ông già đi rất nhiều so
với lần tôi gặp trước. Tuy nhiên ông vẫn tràn đầy năng lượng. Trò chuyện rôm rả
với đoàn một hồi lâu ông giục chúng tôi: “Đến bữa rồi anh em. Vừa rượu, vừa
chuyện, vừa nhớ lại chuyện xưa. Ở lại với tôi chiều tối hãy về”.
Tôi cùng anh
Đới định đẩy chiếc xe ông ngồi vào phòng ăn, ông lắc đầu: “Để tôi tự đi, nếu
không thì sẽ trở thành người tàn phế mất”. Chị Hương, vợ ông cho biết “việc gì
ông cũng muốn tự làm lấy hết”.
Trong bữa tiệc,
tôi được ông cho biết Trung đoàn Kiến Giang nhận lệnh hành quân sang Lào cấp tốc
nhằm giúp bạn ngăn chặn ngụy quân Lào nống lấn ra vùng giải phóng vào giữa
tháng 5/1965. Trước thời điểm này, Tiểu đoàn 7 mang mật danh đoàn 929 đã nằm
vùng ở bên Lào rồi. Tăng Văn Miêu là một trong những cán bộ trung đội, đại đội
của Tiểu đoàn 7 có mặt ở chiến trường làm nhiệm vụ quốc tế trước khi Trung đoàn
Kiến Giang được thành lập.
Anh trực tiếp
giúp bạn huấn luyện, đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung đội, đai đội (một số sau
này trở thành sỹ quan cao cấp trong quân đội Lào có mặt tại lễ kỷ niệm truyền
thống). Đại đội của ông đã phối hợp với các đơn vị Pathét Lào lập tuyến trận địa
phòng ngự, bố trí chướng ngại vật đề phòng quân ngụy Lào và quân đánh thuê Thái
Lan nống ra trước mùa mưa năm 1965. Sau mùa mưa, ông chỉ huy một đại đội, phối
hợp với bạn đánh đồn Tăng Vai, cùng với các tiều đoàn thuộc Trung đoàn Kiến
Giang phát triển vào Đồng Mót, giải phóng Sê Con Cam, Sê Sang Soi thuộc hai tỉnh
Xavannakhet và Khăm Muộn. Trung đoàn Kiến Giang đã giữ vững vùng giải phóng, đảm
bảo thông suốt hành lang vận chuyển Tây Trường Sơn, từ đường 9 đến ngã Đông
Dương.
Sau bữa ăn
ông bảo anh em đi nằm nghỉ. Tôi và anh Đới vẫn ngồi ở phòng khách. Tướng Miêu
nói: “Tôi đã ngủ suốt một tháng nay rồi. Các cậu không cảm thấy mệt thì ngồi lại”.
Ông kể cho anh em chúng tôi bao khó khăn gian khổ trong khoảng 2 năm trên đất bạn.
“Vào mùa mưa, lúc cao điểm cả tiểu đoàn đều sốt rét: Sốt rét li bì, mệt mỏi,
toàn thân đau nhức nhối. Mặt người nào người nấy vàng như nghệ. Tóc rụng từng nắm,
trọc lốc. Tiểu đoàn không có đủ người để nấu cơm. Dân trong bản thương bộ đội
tiếp tế cơm nước, sắc thuốc cho uống. Mới chỉ mùa mưa đầu đã có đến 200 cán bộ
chiến sỹ hy sinh vì sốt rét ác tính…”
Ông im lặng,
chớp chớp đôi mắt, thở dài “Mới đó mà đã 57 năm rồi”. Về những trận đánh trên đất
bạn, ông không còn nhớ chi tiết. Có thể nói những trận đánh trên đất bạn với
ông khá suôn sẻ, gần như là những trận diễn tập giữa các đơn vị hỏa lực, chủ yếu
là cối 60 kết hợp với bộ binh đánh quân ngụy Lào và lính đánh thuê Thái Lan.
Ông hào hứng kể, đôi mắt bừng sáng: “Gần như trận nào ta cũng thắng khá dễ
dàng. Tuy nhiên chúng tôi được cảnh báo về bài học đau đớn trong khâu trinh
sát, đánh giá tình hình địch của trung đoàn bạn, trung đoàn đã thất bại ở trận
Đồng Hến. Những trận đánh “đầu đời” đó đã để lại cho tôi nhiều bài học kinh
nghiệm quý giá trong chiến trận, đặc biệt là việc sử dụng hỏa lực vận động tiến
công kết hợp chốt khi Trung đoàn ra quân đánh Mỹ vào năm 1967”.
Sau đó ông kể
cho chúng tôi nghe về những “chuyến đi thăm lại quê hương”. Với ông, vùng đất
phía bên kia Trường Sơn là quê hương thứ 2, nơi người dân các bản làng đã cưu
mang ông và đồng đội, nơi chứa đựng “tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long”. Ông
nói: “Thế hệ chúng tôi đã có những năm tháng đầy hy sinh, gian khổ với bao niềm
vui và nỗi buồn; mảnh đất chúng tôi đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, mảnh đất đầy
ắp tình cảm quân dân, tình đồng đội, đồng chí”.
Tôi chăm chú
nghe ông, chợt nhớ đến câu thơ “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc” trong bài thơ
Tây tiến của Quang Dũng. Tướng Miêu thuộc lớp thứ hai trong đoàn quân tình nguyện
Việt Nam sang giúp bạn Lào. Tôi có thể tưởng tượng được bao khó khăn gian khổ,
bao hy sinh mất mát trong cuộc chiến sát cánh, vai kề vai giữa hai dân tộc. Tôi
hiểu vì sao ông xúc động khi gặp những nhà lãnh đạo Lào và những người bạn của
ông. “Tất cả các nhà lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ Lào đềù tiếp Đoàn đại
biểu Quân tình nguyện và chuyên gia chúng tôi. Họ còn nghèo! Họ chỉ có tình! Chủ tịch nước Lào
trong buổi tiếp chúng tôi đã bày tỏ, quan hệ đặc biệt vĩ đại giữa hai nước xuất
phát từ 4 chữ tình: Tình đồng chí, tình anh em, tình bạn, tình đoàn kết đặc biệt,
keo sơn gắn bó, thủy chung son sắt...”
Ông được các
nhà lãnh đạo ôm chặt trong vòng tay. Không chỉ những nhà lãnh đạo đương thời,
những lãnh đạo, gia đình các cố lãnh đạo Đảng, Nhà nước bạn cũng dành thời gian
cho đoàn. Ông đã đến thăm gia đình cố Tổng bí thư Cayson Phomvihane, cố Chủ tịch
Souphanouvong, cố Chủ tich Quốc hội Saman Vinhaket… “Ở đâu chúng tôi cũng thấy
như mình trở về nhà, gặp lại những người thân của mình”.
Ông chỉ cho
tôi tấm huân chương treo ở giữa phòng khách, tấm huân chương Đảng và Nhà nước
Lào tặng ông vì những công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Lào. Đến lúc đó
tôi mới hiểu vì sao các cháu lưu học sinh Lào đang theo học ở các trường đại học
ở Hải phòng quây quần bên ông sau bài phát biểu trong lễ kỷ niệm. Trong số họ,
có người là cháu của những người bạn mà ông đã từng đến nhà thăm.
Cuối cùng ông
nhắc anh em chúng tôi: “Tôi và các anh em còn sống ngày nào phải thì còn phải
vun đắp cho tình hữu nghị đặc biệt này, ông nhấn mạnh, chúng ta và Lào là láng
giềng, là tình bạn đặc biệt, rất đặc biệt! Chúng ta không được phép suy nghĩ,
toan tính theo lối thông thường giữa những người hàng xóm bình thường. Hãy nhìn
lên bản đồ địa chính trị Đông Nam Á! Trên đầu chúng ta là ai? lối ra Biển Đông
ai ngăn cản? Dưới chân chúng ta chúng ta là ai? Tôi xin nhắc lời nói cửa miệng
của những nhà lãnh đạo tiền bối hai nước, nếu dãy Trường Sơn là nóc nhà chung
thì Việt-Lào là hai nửa của một mái nhà.”
Tôi hiểu những
gì ông cố gắng làm sau khi đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội cho về nghỉ chế độ.
Thực tế từ đó đến nay ông chưa nghỉ, hết tham gia công tác này đến công tác
khác, nhất là việc tổ chức ngày hội truyền thống Việt-Lào. Ông luôn mời và khuyến
khích đoàn đại biểu của các tỉnh lân cận tổ chức ngày này như ông. Đến thăm ông
lần này chúng tôi hiểu thêm về ông, một con người giàu tình nghĩa. Ông không chỉ
là người anh hùng của Tiểu đoàn 7, cho đến tận hôm nay ông vẫn xứng đáng là người
dẫn dắt, chỉ huy chúng tôi trong cái thế giới chính trị đầy bất ổn này.
Hồi ức và cảm nghĩ khi đọc tác phẩm Dèng, hoa văn Dèng của Kê Sửu
Hồi ức và cảm nghĩ khi đọc tác phẩm Dèng, hoa văn
Dèng của Kê Sửu
Khi nhận được
tác phẩm “Dèng, hoa văn Dèng biểu tượng cuộc sống của người Tà Ôi” của Nhà
Nghiên cứu Văn hóa dân gian Nguyễn Thị Sửu, bút danh Kê Sửu tôi rất vui. Vui bởi
vì nhận được một món quà tinh thần, món quà liên quan đến chuyện nghề dệt thổ cảm
của làng tôi, gia đình tôi từ bao đời nay. Vui còn vì ngoài bộ sưu tập các loại
hoa văn thổ cẩm đặc trưng của vùng Tây Bắc, cuốn sách của chị Sửu chắc sẽ cho
tôi biết thêm một số loại hoa văn đặc sắc của một dân tộc trên đại ngàn Trường
Sơn hùng vĩ.
Quê tôi chuyên
nghề dệt nói chung và dệt thổ cẩm nói riêng. Từ những năm 1960, khi bắt đầu
phong trào hợp tác hóa trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp đến đầu những năm
1990, hàng năm trung bình tổ dệt thổ cẩm của ngôi làng tôi sinh sống đã xuất khẩu
sang khối các nước Xã hội chủ nghĩa không dưới 10.000 tấm khăn thổ cẩm. Đó là
chưa kể đến số hàng thổ cẩm các tiểu tổ sản xuất dệt theo hợp đồng với Bộ Văn
hóa, các nhà hát, sân khấu trên khắp cả nước và một số lượng khá lớn “bán chui”
ở các chợ vùng cao.
Người dân tộc
thường quan niệm khi đến tuổi lấy chồng, con gái bắt buộc phải biết thêu thùa,
dệt vải hay thổ cẩm. Điều này dường như đã trở thành chuẩn mực không thành văn
để đánh giá một cô gái khi bước chân về nhà chồng. Việc kéo sợi dệt vải còn được
coi là thước đo đánh giá phẩm hạnh, sự khéo léo và chăm chỉ của người phụ nữ.
Vì vậy các em gái dân tộc mới 10 tuổi đã bắt đầu biết tự tay dệt nên những tấm
vải, thêu hoa văn, may thành những bộ trang phục truyền thống như váy, áo, yếm,
dải thắt lưng, khăn ngang, khăn vuông, xà cạp… Dường như mỗi một cô gái dân tộc
đều có “tố chất” của một nghệ nhân tài hoa trình diễn những động tác diệu nghệ
trên khung dệt đầy mầu sắc. Và khi đã trở thành chủ nhân của gia đình, người phụ
nữ đã có thể đảm đương việc may mặc cho cả gia đình.
Ở quê tôi thì
trái lại, nghề dệt gần như không phải là công việc của người phụ nữ. Từ nhỏ,
khi mới học lớp 5, lớp 6, cũng vào độ tuổi như các cô gái dân tộc, tôi và các bạn
trai cùng trang lứa “đã phải mặc định” theo nghề truyền thống (nghề dệt của làng
có từ thời Lê Trung Hưng), ngồi vào khung dệt vải, dệt màn, dệt khăn mặt, khăn
tắm, khăn len; được các bậc cha chú hướng dẫn cách đưa luồn con thoi qua hàng
tơ sợi cùng với cách thức dậm chân điều chỉnh bộ “khung go”, dập “bàn cữ” để dệt
một tấm thổ cẩm như thế nào cho đẹp, cho đúng kỹ thuật. Chính nghề dệt đã giúp
một số lượng không nhỏ các hộ gia đình ở làng nghề cổ mấy trăm năm nay có của
ăn của để trong những năm tháng khá gian nan khi Đế quốc Mỹ bắt đầu ném bom miền
Bắc.
Vào học Sư phạm
được vài tháng tôi có quyết định nhập ngũ. Anh em sinh viên chúng tôi được bổ
sung vào Trung đoàn 59, Bộ Tư lệnh Thủ đô, huấn luyện đi B ở Quy Bái thuộc Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Cũng từ
ngày đó tôi mới được tiếp xúc với một số dân tộc anh em trong đại gia đình dân
tộc Việt Nam như người Mường, người Thái, người Mông, người Dao... Ngày ngày được
chứng kiến các “mế”, các “ủn” cần mẫn dệt thổ cẩm.
Nói tới hoa
văn thổ cẩm của người Mường là nói tới một số mô tuýp hoa văn có trên trống đồng.
Từ nhỏ tôi đã được làm quen với hàng chục mô tuýp hoa văn trên áo váy, chủ yếu
là các hoa văn người, chim, hươu, mặt trời trên mặt trống đồng Đông Sơn. Trong
những ngày huấn luyện quân sự tôi biết thêm một số họa tiết được cách điệu từ
hoa lá như hoa dẻ, hoa hồi, quả trám, những thứ gắn liền với thiên nhiên và con
người xứ Mường.
Chủ nhật
không phải ra thao trường tôi thường đến ngôi nhà sàn, nơi anh bạn học cùng lớp
sư phạm “may mắn” được phân ở đó. Không phải tôi đến thăm bạn mà là đến thăm
hai mẹ con cô Nguyễn Thị Huyền dệt thổ cẩm. Có lần anh bạn nháy mắt, ghé vào
tai tôi: “Hình như Huyền ‘mê’ mày thì phải. Tao thấy cô bé luôn hỏi về lai lịch
của mày. Tao thấy mẹ nó cũng có vẻ quý mến mày. Nhưng cẩn thận đấy. Mày mà vi
phạm chính sách dân vận là phải ra tòa án binh đó”.
Cái tên Huyền
rất đẹp, là dây đàn, là trăng non, là kỳ ảo, huyền diệu… Tôi nói với cô bé phải
biết ơn cha mẹ đã đặt cho cái tên đó. Huyền mỉm cười, mặt ửng hồng. Ngồi trong
khung dệt cô rạng rỡ xinh xắn, một cô gái mới mười sáu tuổi, thanh mảnh, ngây
thơ và quyến rũ. Đẹp nhất là đôi mắt trong, sáng; con ngươi hơi nâu, rất cuốn
hút. Nhưng trong đầu óc tôi lúc đó vẫn còn vương vấn hình ảnh những “nàng tiên”
ở trường sư phạm. Tôi chỉ coi Huyền như cô em gái. Tôi đến chơi nhà vì khung dệt
thổ cẩm chứ không phải vì người đẹp. Điều tôi muốn là học được cách dệt thổ cẩm
của người Mường để sau này có dịp hành nghề.
Chỉ sau hai
buổi sáng chủ nhật đến chơi với bạn tôi đã ngồi vào khung dệt và dệt ra được
thành phẩm khá hoàn chỉnh trước sự ngỡ ngàng của hai mẹ con Huyền và đồng đội.
Không những biết dệt, tôi còn chỉ cách cho hai mẹ con, và sau đó là các “mế”,
các “ủn” trong bản cách dệt hoa văn của người Mông, cách sử dụng “go” dệt hoa
văn chân chó của người Hà Nhì. Tôi cũng chỉ ra hàng chục loại mẫu họa tiết, hoa
văn, một thế giới thiên nhiên đa dạng được thể hiện trên nền thổ cẩm của người
Thái; cách người Thái thường sử dụng các gam màu chủ đạo trên vải thổ cẩm như
xanh lá, đỏ, hồng, trắng, vàng; cách sử dụng ba màu liền kề tương tự, nóng lạnh
phối hợp đan xen nhau cân đối, hài hòa.
Tôi cũng vẽ
ra các mẫu hoa văn thổ cẩm của người Dao, người Tày. Hoa văn của hai dân tộc
này thường được thêu hình xoáy ốc, hoa bí hay hoa lá, cây cỏ, chim muông… Tóm lại
là tôi đã “copy” bộ mẫu hoa văn của hợp tác xã dệt thủ công nghiệp và của các
nghệ nhân là giảng viên của Trường Mỹ thuật Công nghiệp ở quê tôi để làm say đắm,
làm mờ mắt các “mế”, các “ủn”.
Hôm đi B rời
bản Mường, tiễn chúng tôi đi trong đêm là chính quyền, dân trong bản. Riêng tôi
còn được hai mẹ con em Huyền mang đến cho một gói bự xôi nếp cẩm. Tôi vội lấy
ra chiếc khăn thổ cẩm bằng tơ tầm, kỷ vật của ông bác tặng cho em. Chiếc khăn
thổ cẩm rộng 0,5 m, dài một 1,5m. Hai bên rìa dọc chiếc khăn là họa tiết những
con chim Lạc. Ở chính giữa là những hoa văn hình mặt trời như trên mặt trống đồng.
Huyền bỗng nắm chặt lấy tay tôi. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được một cô
gái thể hiện tình cảm nồng thắm, có cái gì đó như níu kéo không muốn rời xa.
Ngay tối hôm
đó tôi được thông báo đơn vị hành quân đi B gấp, nếu không tôi sẽ bị kiểm điểm
trước trung đội vì đã quan hệ “quá thân mật” với con gái tuổi vị thành niên.
Tôi và mấy anh bạn sinh viên rất sửng sốt và bực dọc với tiểu đội trưởng và ban
chỉ huy trung đội vì cái kiểu chụp mũ, suy đoán vô căn cứ. Các anh đã từng bắt anh em sinh viên chúng tôi chạy
hàng chục cây số vì đã cùng nhau hát bài Cây thùy dương, một bài hát nổi tiếng
của Nga. Các anh lầm tưởng đó là nhạc Vàng, nhạc của ngụy quyền Sài Gòn; bắt
chúng tôi chạy “bao giờ phọt ra nhạc Vàng thì thôi”. Bởi vì hai tội trên, tội
mê thổ cẩm, hát nhạc Vàng, tôi là người duy nhất trong trung đội khi vào đến
chiến trường vẫn chỉ là B1, “binh bét” .
Chưa hết, khi
hành quân qua Lào vào đất Thừa Thiên, một lần vượt dốc “Cao bồi”, gặp một tốp
chị em người Pa Kô đi tải đạn dừng chân bên suối, tôi đã “sán” ngay đến nói
chuyện; tặng các chị em hết số tư trang như khăn thêu, gương, lược, ảnh (các bạn
gái trong lớp tặng trước khi lên đường) vì vào trận chắc gì còn sống mà giữ làm
kỷ niệm. Chính điều đó đã làm gai mắt tiểu đội trưởng, nhưng anh ấy chưa có cớ
để “bắt tội”. Các cô gái đó rất thích “hàng hóa” của tôi. Các cô soi gương và
chắc lần đầu tiên thấy hình ảnh của mình qua những chiếc gương nho nhỏ bằng bàn
tay nên túm tụm cười nói cái gì tôi không hiểu. Các cô gái Pa Kô đã cho tôi một
ổ trứng gà. Tôi tán “Cho cái bộ đội thì cái bộ đội nhận. Bộ đội thấy thổ cẩm đẹp
quá”. Các cô gái không biết thổ cẩm là cái gì. Tôi phải chỉ vào áo váy và biết
được bộ áo váy có giá như một con trâu.
Tôi ngỡ
ngàng, ngây người đứng ngắm nhìn những bộ trang phục áo váy. Ngắm nhìn chằm chằm
hết cô gái này đến cô gái khác không còn biết đến thời gian. Đúng là cả một thế
giới sắc mầu những họa tiết, hoa văn. Có những họa tiết, hoa văn mang nét
chung, nhưng có rất nhiều họa tiết, hoa văn rất khác lạ, rất đặc biệt mà tôi
chưa từng được biết. Tôi nhận thấy nét đặc biệt nhất trong trang phục của người
con gái Pa Kô là trang trí hoa văn bằng hạt cườm (cụ nội tôi chuyên dùng các hạt
cườm, những hạt nhỏ, tròn, có thể là hình trụ bằng thuỷ tinh, đá hay sứ có màu
sắc đẹp lung linh, xâu thành chuỗi để làm đồ trang sức hoặc trang trí trên tua
rua tơ tằm đi bán ở các chợ phiên).
Trên áo của một
cô gái, tôi thấy có một dải hạt cườm, mỗi mắt đốt có hình quả trám/hình thoi bằng
cườm trông tựa như cái trỉa, dụng cụ của người đi nương tra hạt. Trên áo của một
cô gái khác, tôi thấy có 4 hình tam giác trên bốn cạnh đáy của một hình vuông,
đỉnh hướng ra bên ngoài. Bên trong hình vuông nổi lên hình quả trám/hình thoi với
những hạt cườn trông tựa dáng con ong chúa. Trên nền đen chủ đạo bên ngoài có
hàng loạt những hạt cườm nhỏ sắp xếp trông tựa như một đàn ong thợ. Đặc biệt
trên váy của một cô gái, tôi còn thấy những đường hạt cườm tạo thành đường gấp
khúc hình tam giác lên xuống như những con dốc, kết nối đối xứng với những hình
tam giác ngược. Các khoang ở bên trong nền đen hình quả trám/hình thoi có họa
tiết hình chữ thập giống như 4 khúc củi hướng đầu vào nhau được tạo ra từ 4 đường
cườm trắng tựa như một bếp lửa… Và tất cả những họa tiết, hoa văn trên nằm trong tổng thể của rất nhiều họa tiết,
hoa văn khác trên áo váy quấn mềm mại, duyên dáng quanh người các cô gái. Có thể
nói đó là một thế giới thiên nhiên, thế giới con người của đại ngàn Trường Sơn
nguyên sơ, một cái đẹp đa dạng, tinh tế và rất giàu sức biểu cảm…
Không hiểu được
được hành vi có phần quá thái của tôi, tiểu đội trưởng giật giọng gọi: “Đồng
chí Huệ, lại đây”. Khuôn mặt anh đỏ gay. Anh dằn giọng: “Đồng chí chưa bao giờ
nhìn thấy đàn bà con gái à. Không biết xấu hổ à. Nhìn người ta đến nổ cả con
ngươi, đến thủng cả áo váy”. Bực quá, tôi bật lại ngay: “Báo cáo cán bộ, tôi đã
từng nhìn thấy một biển đàn bà con gái, không chỉ nhìn thấy mà còn sống với cái
biển ấy ở trường sư phạm. Tôi không nhìn các cô gái. Tôi cũng không nhìn thủng
áo váy như đầu óc anh tưởng tượng. Tôi chỉ đang ngắm nhìn những nét hoa văn thổ
cẩm trên áo váy họ. Đó là cái đẹp, cái đẹp mà tôi chưa từng nhìn thấy. Đồng chí
cứ thử ngắm mà xem. Không khéo còn đưa cả tay lên ngực áo người ta”. Cả tiểu đội
phá lên cười vỗ tay, tán thưởng...
Mới đó mà đã
50 năm rồi. Những người có liên quan với tôi về thổ cẩm trong câu chuyện gần
như đã đi về bên kia thế giới. Tiều đội trưởng, Trung đội trưởng và anh bạn học
cùng khóa đã hy sinh anh dũng trong trận đánh ở Thanh Tân, trong trận đánh ở Đắc
Pét, trong trận đánh ở Thượng Đức. Các nghệ nhân dệt thổ cẩm quen biết ở quê
tôi chỉ còn lại một người. 45 năm sau quay trở lại nơi đóng quân huấn luyện,
hai mẹ con em Huyền cũng không còn nữa. Làng nghề dệt thổ cẩm của tôi cùng nhiều
làng nghề khác cũng không còn tồn tại.
Cuốn sách
Dèng, hoa văn Dèng biểu tượng cuộc sống của người Tà Ôi đã thức dậy trong tôi
bao nhiêu điều! Câu chuyện về hoa văn thổ cẩm không phải chỉ của riêng người Tà
Ôi mà còn là câu chuyện thổ cẩm của nhiều dân tộc, câu chuyện của cả đất nước,
câu chuyện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, câu chuyện mà Đảng và Nhà nước đặc
biệt quan tâm.
Tiến sỹ Nguyễn
Thị Sửu, người con của dân tộc Tà Ôi đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu,
tìm hiểu các giá trị văn hóa dân tộc (xin xem bài viết Sử thi A Chất của tôi
trong trang Facebook này), trong đó có những nghiên cứu về trang phục, hoa văn.
Trong một số bài viết, chị Sửu đã miêu tả một số hoa văn trên trang phục của
người Tà Ôi và bước đầu lý giải ý nghĩa của các loại hoa văn đó. Gần đây, chị
cho xuất bản cuốn sách Dèng, hoa văn Dèng. Cuốn sách 188 trang với 3 phần. Phần
1: Vài nét về cuộc sống sinh hoạt của người Ta Ôi. Phần 2: Nhề dệt Dèng và Dèng
của người Ta Ôi. phần 3: Biểu tượng cuộc sống trên hoa văn Dèng.
Cuốn sách là
một công trình khoa học nghiên cứu về nghề dệt Dèng và Dèng của người Tà Ôi. Chị
Sửu là một trong những người đi tiên phong trong việc vận dụng lý thuyết về biểu
tượng để nghiên cứu, tìm hiểu, lý giải ý nghĩa hoa văn một cách khoa học, biện
chứng các loại hoa văn Dèng (thổ cẩm) của người Tà Ôi trong mối liên hệ với thực
tiễn cuộc sống, sinh hoạt của người Tà Ôi.
Chị đã đưa ra
một hệ thống biểu tượng hoa văn Dèng: Biểu tượng cố kết cộng đồng, biểu tượng tổ
tông dòng họ, biểu tượng dụng cụ, phương tiện lao động, biểu tượng sản phẩm lao
động, biểu tượng chiến đấu, biểu tượng ẩm thực, biểu tượng lễ hội, sức mạnh cộng
đồng, biểu tượng truyện cổ, biểu tượng thần linh, siêu nhiên… Đọc xong cuốn
sách người đọc thấy được tinh thần làm việc nghiêm túc, nghiên cứu công phu của
tác giả, và qua đó thấy được sự phong phú, đa dạng hoa văn Dèng của người Tà
Ôi, thấy được phần nào cuộc sống với những giá trị văn hóa truyền thống vô cùng
quý giá của một tộc người trên đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.
Cá nhân tôi
cho rằng ngoài nét đặc sắc trong trang trí trực tiếp hoa văn bằng hạt cườm
trong quá trình dệt, hoa văn Dèng của người Tà Ôi còn cực kỳ đặc biệt ở hệ thống
biểu tượng cố kết cộng đồng, thể hiện qua những nghiên cứu, phát hiện, lý giải
của tác giả về những biểu tượng như “tương hợp, giao hòa”, “đoàn kết một lòng”,
“liên kết tỏa sáng”, “Liên kết bền vững”, “cầu nối đôi”, cầu nối đơn và “bếp lửa
sum vầy”. Đó là những đóng góp to lớn
vào kho tàng hệ thống biểu tượng quý báu trong trang trí thổ cẩm của Việt Nam,
thể hiện truyền thống đoàn kết của không chỉ người Tà Ôi mà của cả cộng đồng
các dân tộc Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết “Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết”.
Dèng của người
Tà Ôi không chỉ đơn thuần là trang phục để mặc mà là “biểu tượng cuộc sống của
người Tà Ôi”, là văn hóa của người Tà Ôi. Nó là tài sản quý báu thể hiện nét
cao quý, giàu sang và vị thế của người sở hữu. Nó là lễ vật hồi môn của nhà gái
dành cho nhà trai. Ngoài ra Dèng còn dùng để trang trí, làm đẹp tổ ấm, làm đẹp
nhà Rông, làm đẹp nơi linh thiêng của gia đình, họ tộc… Cho đến bây giờ tôi mới
biết, trang phục của các cô gái Pa Kô mà ngày nào tôi mê đắm, mê đắm đến mức bị
hủy quyết định lên hạ sĩ trước khi bàn giao cho đơn vị chiến đấu thì ra là sản
phẩm của người Tà Ôi.
Một lần nữa
xin cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thị Sửu về món quà tinh thần vô cùng quý giá. Cảm ơn
chị đã làm sống dậy trong tôi bao kỷ niệm một thời quân ngũ gần như đã nguội lạnh
về thổ cẩm, về nghề dệt thổ cẩm. Mong rằng các cấp chính quyền có kế hoạch bảo
tồn và phát triển nghề dệt thổ cẩm của các dân tộc, trong đó có Di sản Văn hóa
phi vật thể của quốc gia: Dèng và nghề dệt Dèng của người Tà Ôi.
Bước đột phá trong thơ Nguyễn Thi Điệp
Bước đột phá trong thơ Nguyễn Thi Điệp